1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhu cầu đối với hoạt động công tác xã hội trong nâng cao đời sống tinh thần cho người khuyết tật tại phường nghĩa đô, quận cầu giấy, thành phố hà nội (Tóm tắt, trích đoạn)

42 428 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 513,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------ TRẦN HOÀNG HÀ NHU CẦU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG NÂNG CAO ĐỜI SỐNG TINH THẦN CHO NGƯỜI KHUYẾT

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

TRẦN HOÀNG HÀ

NHU CẦU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG NÂNG CAO ĐỜI SỐNG TINH THẦN CHO NGƯỜI

KHUYẾT TẬT TẠI PHƯỜNG NGHĨA ĐÔ,

QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Mã số: 60.90.01.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Thu Hương

Hà Nội- 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành đề tài luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc

tới PGS.TS Hoàng Thu Hương là người hướng dẫn đã luôn tận tình giúp đỡ,

chỉ bảo và động viên trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân phường Nghĩa

Đô, cán bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, các cán bộ ban ngành đoàn

thể của phường đã luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất về cơ sở vật chất cung

như cung cấp thông tin, số liệu hữu ích trong thời gian tôi nghiên cứu và thực

hiện các hoạt động phục vụ cho đề tài

Tôi cũng xin cảm ơn những thành viên là NKT đã phối hợp, hỗ trợ nhiệt

tình trong quá trình thực hiện đề tài

Xin trân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 12 năm 2016

Học viên

Trần Hoàng Hà

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Tổng quan nghiên cứu 7

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 12

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 13

5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 13

6 Câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu 14

7 Phương pháp nghiên cứu 14

NỘI DUNG CHÍNH 18

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 18

1.1 Khái niệm công cụ 18

1.1.1 Người khuyết tật 18

1.1.2 Nhu cầu 20

1.1.3 Công tác xã hội 22

1.1.4 Đời sống tinh thần của người khuyết tật 24

1.1.5 Nhu cầu đối với hoạt động công tác xã hội trong nâng cao đời sống tinh thần cho người khuyết tật 25

1.2 Một số lý thuyết áp dụng 27

1.2.1 Thuyết nhu cầu 27

1.2.2 Lý thuyết hệ thống 30

1.3 Khái quát về một số vấn đề của người khuyết tật hiện nay 31

1.3.1 Chăm sóc đời sống người khuyết tật 32

1.3.2 Chăm sóc sức khỏe, chỉnh hình, phục hồi chức năng 33

1.3.3 Học văn hoá đối với người khuyết tật 33

1.3.4 Học nghề và tạo việc làm của người khuyết tật 34

1.3.5 Tiếp cận văn hóa, thể thao và công trình công cộng 36

1.4 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 37

Trang 5

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 37

CHƯƠNG 2 NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG VÀ NGHE NHÌN TẠI PHƯỜNG NGHĨA ĐÔ: ĐẶC ĐIỂM VÀ THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG TINH THẦN 40

2.1 Sơ lược về tình hình người khuyết tật tại phường Nghĩa Đô 40

2.2 Đặc điểm NKT vận động và nghe nhìn tại phường Nghĩa Đô 41

2.2.1 Về độ tuổi 41

2.2.2 Tình trạng hôn nhân 43

2.2.3 Trình độ chuyên môn và việc làm 45

2.2.4 Nguyên nhân dẫn đến khuyết tật 48

2.3 Điều kiện sống của người khuyết tật vận động nghe và nhìn 50

2.3.1 Về người chăm sóc 50

2.3.2 Về tình trạng nhà ở 52

2.4 Đời sống tinh thần của người khuyết tật vận động và nghe nhìn tại phường Nghĩa Đô 53

2.4.1.Đánh giá Tình trạng sức khỏe tinh thần của người khuyết tật 53

2.4.2 Đối tượng chia sẻ, giúp đỡ khi người khuyết tật gặp phải vấn đề về sức khỏe 54

2.4.3 Hoạt động văn hóa, thể dục – thể thao, giải trí của người khuyết tật 56

2.4.4 Các hoạt động trong thời gian rảnh rỗi 60

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 64

CHƯƠNG 3: CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG VIỆC HỖ TRỢ NÂNG CAO ĐỜI SỐNG TINH THẦN CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT 65 3.1 Vai trò của công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ người khuyết tật trong nâng cao đời sống tinh thần 65

3.1.1 Lý do lực chọn công tác xã hội nhóm 65

3.1.2 Cơ sở đề xuất biện pháp can thiệp bằng phương pháp công tác xã hội nhóm 67

Trang 6

3.1.3 Xây dựng quy trình vận dụng biện pháp can thiệp công tác xã hội nhóm 69 3.1.4 Qui trình hình thành nhóm 70

3.2 Thực hành đề xuất xây dựng mô hình Công tác xã hội nhóm vào nâng cao đời sống tinh thần cho người khuyết tật 82 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 93 KẾT LUẬN 94 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

8 LĐTBXH Lao động Thương binh và xã hội

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

1 Danh mục các bảng

Bảng 1.1 Cơ cấu mẫu trong nghiên cứu (n= 120)

Bảng 2.1 Sơ lược tình trạng NKT của phường Nghĩa Đô

2 Danh mục các biểu đồ

Biểu 2.1: Cơ cấu mẫu khảo sát theo độ tuổi

Biểu 2.2: Tình trạng hôn nhân theo mức độ khuyết tật của NKT

Biểu 2.3: Tỷ lệ trình độ chuyên môn của NKT phân theo dạng tật

Biểu 2.4: Tỷ lệ việc làm của NKT theo dạng tật

Bảng 2.5: Nguyên nhân dẫn đến khuyết tật của NKT

Biểu 2.6: Tỷ lệ người chăm sóc NKT

Biểu 2.7: Tình trạng nhà ở của NKT

Biểu 2.8: Các triệu chứng tâm lý của NKT trong tuần qua

Biểu 2.9: Đối tượng hỗ trợ NKT khi gặp phải vấn đề về sức khoẻ

Biểu 2.10: Tỷ lệ NKT tham gia vào các hoạt động TDTT

Biểu 2.11: Những hoạt động vui chơi, giải trí của NKT khi có thời gian rảnh rỗi

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vấn đề khuyết tật và người khuyết tật (NKT) là mối quan tâm toàn cầu, theo đánh giá của Liên Hợp Quốc, ước tính có khoảng 10-15% dân số thế giới (tức là khoảng 700 triệu cho đến một tỷ người) là NKT và 80% trong số họ đang sống ở các nước đang phát triển NKT chiếm 20% trong số người nghèo nhất trên thế giới và rất khó khăn trong tiếp cận giáo dục, việc làm, chăm sóc sức khỏe và dịch vụ trợ giúp xã hội khác [1,tr.2] Tại Việt Nam, ước tính của

tổ chức Y tế thế giới (WHO) NKT Việt Nam chiếm khoảng 10% dân số, tương đương 8,6 triệu người, trong đó khoảng 2 triệu là trẻ em [5, tr.3] Tỉ lệ khuyết tật trên dân số dự kiến sẽ còn tiếp tục tăng lên do những nguyên nhân xuất phát từ ảnh hưởng hệ quả của quá trình phát triển xã hội, tai nạn, ô nhiễm môi trường, do bom mìn còn sót lại sau chiến tranh hoặc do thất lạc vũ khí, NKT phải đối mặt với những khó khăn đáng kể khi hòa nhập đời sống xã hội bởi sự kỳ thị và phân biệt; thiếu các dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK)- phục hồi chức năng (PHCN); không tiếp cận được với các phương tiện giao thông, các công trình công cộng, cũng như công nghệ thông tin(CNTT), truyền thông Kết quả, NKT có sức khỏe kém hơn, kết quả học tập thấp hơn,

có ít cơ hội tham gia các hoạt động kinh tế, tỷ lệ đói nghèo cao hơn và các quyền cơ bản chưa được đảm bảo đầy đủ, bình đẳng so với các nhóm cộng đồng dân cư khác trong xã hội

NKT bình đẳng và hòa nhập xã hội thể hiện ở chỗ NKT có quyền tham gia mọi hoạt động của đời sống xã hội NKT cần được khuyến khích tham gia mọi hoạt động trong gia đình, trong cộng đồng giống như mọi thành viên khác Chẳng hạn, một thanh niên khuyết tật ngoài chăm sóc bản thân, chung sức với các thành viên khác trong gia đình họ còn có thể làm nội trợ, chăn nuôi gia súc, hoặc các hoạt động có thu nhập khác…cũng cần có các hoạt

Trang 10

động vui chơi, giải trí, thể dục, thể thao Gia đình, bạn bè, cộng đồng, xã hội cần tạo mọi điều kiện để NKT có thể tiếp cận và tham gia các hoạt động này Hiện nay, các hoạt động hỗ trợ NKT ở Việt Nam chủ yếu trên 9 nhóm hoạt động chính: (1) công tác xác định mức độ khuyết tật, (2) CSSK, chỉnh hình và PHCN, (3) Giáo dục, (4) Dạy nghề và việc làm, (5) văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch, (6) nhà chung cư, công trình, giao thông công cộng, (7) CNTT và truyền thông, (8) bảo trợ xã hội (BTXH) và (9) các mô hình, tổ chức của NKT với sự chủ trì, tham gia thực hiện của nhiều bộ, ngành

và các tổ chức khác nhau Nhiều nghiên cứu, báo cáo chỉ ra rằng, tuy các hoạt động hỗ trợ NKT ở Việt Nam đã được triển khai trên diện rộng và bao phủ hầu hết các vấn đề liên quan đến NKT, tuy nhiên tính liên kết chưa cao, còn manh mún, chưa có cơ chế phối hợp, tổ chức thực hiện hiệu quả và đồng bộ Phường Nghĩa Đô là phường có số NKT cao nhất quận Cầu Giấy, tuy nhiên hiện nay hoạt động liên quan đến NKT mới chỉ đừng là ở các hoạt động thông báo các thông tin liên quan đến dạy nghề khi có lớp; tổ chức khám chữa bệnh cho NKT (chỉ chọn 50 NKT/năm) [24]; tặng quà cho NKT đặc biệt nặng vào dịp tết; cấp phát thẻ BHYT miễn phí; theo dõi, làm hồ sơ xác nhận mức

độ khuyết tật

Với những lý do trên việc nghiên cứu "Nhu cầu đối với hoạt động công tác xã hội trong nâng cao đời sống tinh thần người khuyết tật tại phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội” là rất cần thiết Tác giả mong

muốn nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn trong việc chăm sóc đời sống tinh thần cho NKT

2 Tổng quan nghiên cứu

2.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Năm 2011 trong một báo cáo của Liên Hợp Quốc (UN) và Tổ chức lao động quốc tế ILO đã chỉ ra có khoảng 5 tỷ người (khoảng 75% dân số thế giới) không được hưởng các chế độ an sinh xã hội phù hợp Báo cáo của UN

Trang 11

và ILO cho thấy, có khoảng 38% dân số thế giới (tương đương 2,6 tỷ người) không được hưởng các hệ thống chăm sóc sức khỏe thỏa đáng và 884 triệu người không được dùng nước sạch Thêm vào đó, có khoảng 1,4 tỷ người vẫn phải sống ở mức dưới 1,25 USD/ ngày Báo cáo cũng đề xuất các nguồn trợ cấp xã hội công cộng dành cho những gia đình nghèo, trong đó bao gồm trợ cấp cho những người già cả, người khuyết tật và khoản trợ cấp dành cho trẻ em và những người thất nghiệp Bên cạnh đó, chăm sóc y tế, giáo dục, nước sạch và vệ sinh dịch tễ cũng nên được đảm bảo cho tất cả mọi người [30]

Công ước của Liên hợp quốc về quyền của NKT (2006) cũng đã xác định được những quyền cơ bản của NKT, trong dó đề cập đến các quyền cơ bản về chăm sóc sức khỏe, học tập, việc làm, thu nhập, an sinh xã hội, nguyên tắc chống phân biệt đối xử, bảo vệ phụ nữ và trẻ em khuyết tật Việt Nam cũng đã ký kết tham gia thực hiện công ước [11]

Trên tạp chí nghiên cứu người khuyết tật NewZealand, năm 1996 đã đăng bài viết về một nghiên cứu lịch sử Nghiên cứu này khảo sát về nhu cầu của NKT và đáp ứng nhu cầu của họ Khảo sát chi ra rằng hiện nay NKT phải đối mặt với các rào cản khác nhau để được sống một cuộc sống bình thường

và tham gia hoạt động xã hội Vì cậy để trợ giúp cho NKT cần có những thay đổi trong chính những suy nghĩ của họ về khuyết tật cũng như thay đổi thái độ của cộng đồng đối với khuyết tật Nghiên cứu cũng đưa ra nhiều vấn đề cần thay đổi trong suy nghĩ về khuyết tật đối với NKT như: cần phải thay đổi suy nghĩ cho rằng khuyết tật là vấn đề của cá nhân NKT, cần nhìn thấy thế mạnh của họ hơn là khuyết tật mà họ đang có, không chỉ người hoạt động về lĩnh vực khuyết tật mà người dân cũng cần hiểu về khuyết tật cũng như đặc điểm, nhu cầu và quyền của người khuyết tật [14]

Nghiên cứu “Hiện đại hóa, biến đổi văn hóa và sự duy trì những giá trị văn hóa truyền thống” của Ronald Inghart và Waye E.Baker xuất bản năm

Trang 12

(2000), do Bùi Lưu Phi Khanh dịch Tác giả đã phân tích về sự biến đổi văn hóa nói chung, sự biến đổi đời sống tinh thần nói riêng của con người dưới sự tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa [27]

2.2 Các nghiên cứu trong nước

Trong những năm gần đây, có rất nhiều tác giả, các bộ, ngành nghiên cứu về lĩnh vực NKT Báo cáo của liên hợp quốc về người khuyết tật (2002) chỉ ra rằng người khuyết tật chiếm trên 10% dân số thế giới, cuộc sống của họ

đa phần gặp khó khăn cả về kinh tế và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Ngày 15 tháng 7 năm 2009, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã đưa ra báo cáo số 62/BC-LĐTBXH tổng kết 10 năm thực hiện pháp lệnh về người tàn tật và các văn bản pháp luật liên quan [3]

Năm 2010, Nguyễn Ngọc Toàn đã có đề tài nghiên cứu về “Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở cộng đồng Việt Nam” [15] Tác giả đã có viết một phần về NKT; chỉ ra số lượng NKT (2008) trên cả nước và phạm vi phân

bổ NKT, dạng khuyết tật và nhu cầu của NKT Kết quả nghiên cứu phát hiện nhu cầu trợ giúp tương đối đông, tính chung 16,22% dân số cần trợ giúp xã hội Các nhu cầu trợ giúp (đời sống, sức khỏe, giáo dục) là khác nhau, tùy thuộc vào nhóm đối tượng cụ thể

Năm 2007, Nguyễn Hải Hữu đã có ý nghiên cứu về thực trạng trợ giúp

xã hội và ưu đãi xã hội ở nước ta năm 2001 – 2007 và khuyến nghị đến năm

2015 [16] Tác giả đã đến cập đến các đối tượng bảo trợ xã hội trong đó có người khuyết tật và các trợ giúp xã hội mà người khuyết tật được hướng đến Đưa ra các kiến nghị, giải pháp tiếp tục hoàn thiện các chính sách trợ giúp xã hội khám chữa bệnh, giáo dục, tiếp cận các công trình giao thông công cộng cho các đối tượng bảo trợ xã hội nói chung và người khuyết tật nói riêng Năm 2012, tác giả Nguyễn Hải Hữu đã chủ biên sách “Giáo trình nhập môn an sinh và xã hội” [17] Đồng thời nghiên cứu đề tài về “Thực trạng trợ giúp xã hội và ưu đãi xã hội ở nước ta năm 2001 – 2007 và khuyến nghị tới

Trang 13

năm 2015” [16]

Năm 2013, Ban điều phối các hoạt động hỗ trợ NKT tại Việt Nam đã có báo cáo năm 2013 về hoạt động trợ giúp NKT tại Việt Nam [2] Năm 2014, tác giả Nguyễn Thị Thu Hà biên soạn tập bài giảng “Công tác xã hội với Người khuyết tật” [5]

Cuốn sách “Những vấn đề thời sự văn hóa” của Huỳnh Khái Vinh, Nxb Văn hóa thông tin, năm 1998, là công trình tổng hợp nhiều bài viết của tác giả được đăng trên các tạp chí, các báo trong nước Các bài viết đã bàn đến nhiều lĩnh vực của văn hóa tinh thần như: tư tưởng, đạo đức, lối sống, khoa học, giáo dục, văn học nghệ thuật,…; phân tích làm rõ chức năng, vai trò của văn hóa và các lĩnh vực của văn hóa tinh thần, đường lối chính sách phát triển văn hóa và xây dựng con người, thực trạng và giải pháp xây dựng và phát triển các lĩnh vực đa dạng của văn hóa tinh thần [9]

Cuốn sách “Văn hóa trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay” do Trần Văn Bính chủ biên, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1998, đã phân tích những biến đổi trong đời sống văn hóa tinh thần của con người dưới sự tác động của quá trình đô thị hóa ở nước ta, chỉ ra hiện trạng quản lý văn hóa

đô thị trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đề xuất một số giải pháp xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của con người trong quá trình

đô thị hóa hiện nay [32]

Đề tài “Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay” của Trần Chí Mỹ, Luận án tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 2002, đã tập trung phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng đời sống văn hóa tinh thần

ở thành phố Hồ Chí Minh; trên cơ sở đó đã xác định phương hướng và đề xuất một số giải pháp tiếp tục xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế [33]

Cuốn sách “Phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kì công nghiệp

Trang 14

hóa, hiện đại hóa” của Phạm Minh Hạc, Nguyễn Khoa Điềm, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2003, phân tích làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển con người, về mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển trong thời kỳ mới, về phát triển toàn diện con người và xây dựng lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị mới; đồng thời các tác giả cũng đã

đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp cho các vấn đề nêu trên [21]

Đề tài “Nhân tố văn hóa tinh thần trong nền kinh tế thị trường Việt Nam” của Vũ Đức Khiển, Luận án tiến sĩ triết học, Viện Khoa học xã hội vùng Đông Nam bộ, năm 2005 Tác giả đã phân tích làm rõ những điều kiện hình thành giá trị văn hóa tinh thần truyền thống Việt Nam, hệ thống hóa các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống cơ bản của dân tộc Việt Nam, ảnh hưởng và vai trò của văn hóa tinh thần đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đề xuất một số giải pháp góp phần giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa tinh thần trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay [40]

Cuốn sách “Văn hóa và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc tế” của Hoàng Chí Bảo, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2010, đã phân tích khá sâu sắc ý nghĩa và tầm quan trọng của sự nghiệp xây dựng văn hóa đối với sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam cũng như đối với sự phát triển bền vững của dân tộc Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế [8]

Công trình “Xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế” do Dương Phú Hiệp làm chủ nhiệm, chương trình Khoa học Công nghệ cấp Nhà nước, mã số KX.03/06-10, năm

2010, đã đánh giá thực trạng xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong hơn hai mươi năm đổi mới; xác định những yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao nguồn nhân lực và xây dựng nhân cách văn hoá của con người Việt Nam trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, của toàn

Trang 15

cầu hoá và hội nhập quốc tế; cung cấp luận cứ khoa học, cơ sở thực tiễn để xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới

và hội nhập kinh tế quốc tế; đề xuất hệ quan điểm, các chính sách, giải pháp

và lộ trình xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI [7]

Toạ đàm “Phương pháp luận đánh giá thực trạng đời sống văn hoá tinh thần ở nước ta trong 30 năm đổi mới” là hoạt động khoa học nằm trong đề án

“Đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân các tầng lớp, các vùng, miền trong

cả nước” được tổ chức tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hà Nội vào tháng 01 năm 2012 Các ý kiến tại buổi tọa đàm đã tập trung phân tích các vấn đề về phương pháp tiếp cận và phương pháp luận nghiên cứu đánh giá thực trạng đời sống văn hoá tinh thần, khái niệm và cấu trúc các thành tố

cơ bản của đời sống văn hoá tinh thần, xây dựng các tiêu chí đánh giá thực trạng đời sống văn hoá tinh thần ở nước ta hiện nay, những vấn đề đặt ra trong đời sống văn hoá tinh thần của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, cùng với đó là các giải pháp xây dựng, phát triển đời sống văn hoá tinh thần ở nước

Trang 16

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu nhằm xác định, làm sáng tỏ các nhu cầu đối với hoạt động CTXH trong nâng cao đời sống tinh thần cho NKT tại phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Mô tả đặc điểm NKT trên địa bàn phường Nghĩa Đô;

- Xác định, đánh giá thực trạng đời sống tinh thần của NKT;

- Tìm hiểu hoạt động CTXH trợ giúp NKT tại phường Nghĩa Đô;

- Phân tích các nhu cầu của NKT về các hoạt động CTXH hỗ trợ nâng cao đời sống tinh thần

- Sử dụng phương pháp CTXH nhóm để hỗ trợ NKT phường Nghĩa Đô nâng cao đời sống tinh thần

5 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu: Nhu cầu đối với hoạt động CTXH trong

nâng cao đời sống tinh thần cho NKT

5.2 Khách thể nghiên cứu: NKT tại phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy,

thành phố Hà Nội; cán bộ Lao động- Thương binh và Xã hội phường Nghĩa Đô; tổ trưởng tổ dân phố, công tác viên dân số của tổ, hội phụ nữ tổ dân phố

có NKT sinh sống

5.3 Phạm vi nghiên cứu:

Chủ đề về NKT là chủ đề nóng đã và đang được các nhà nghiên cứu tìm hiểu rất nhiều Với thời gian và nguồn lực có hạn nên tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài như sau:

Theo Luật Người khuyết tật Việt Nam (2010) tại Điều 3 quy định về phân loại dạng khuyết tật thì có 6 dạng khuyết tật bao gồm: (1) Khuyết tật vận động; (2) Khuyết tật nghe, nói; (3) Khuyết tật nhìn; (4) Khuyết tật thần kinh, tâm thần; (5) Khuyết tật trí tuệ; (6) Khuyết tật khác, vì mỗi dạng khuyết tật

Trang 17

có những đặc điểm và cách thức hỗ trợ khác nhau, nghiên cứu sử dụng phương pháp CTXH nhóm để hỗ trợ nâng cao đời sống tinh thần cho NKT Các hoạt động hỗ trợ nâng cao đời sống tinh thần cho NKT tập trung vào các hoạt động văn, giải trí, thể dục thể thao do đó tác giả tập trung vào nghiên cứu đối với 3 dạng khuyết tật bao gồm: (1) Khuyết tật vận động; (2) Khuyết tật nghe, nói; (3) Khuyết tật nhìn

6 Câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu

6.1 Câu hỏi nghiên cứu

 Đời sống tinh thần của NKT tại phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy hiện nay như thế nào?

 Những nhu cầu cơ bản nào cần được đáp ứng nhằm hỗ trợ nâng cao đời sống tinh thần cho NKT tại phường Nghĩa Đô?

 Sử dụng phương pháp CTXH nào phù hợp với hoạt động nâng cao đời sống tinh thần cho NKT tại phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy ?

6.2 Giả thuyết nghiên cứu:

 NKT tại phường Nghĩa Đô hiện nay chưa có câu lạc bộ nào dành riêng cho NKT và đa số NKT sinh sống tại phường cũng không tham gia bất kì câu lạc bộ nào khác trên địa bàn thành phố Hà Nội

 NKT cần được đáp ứng nhu cầu cả về vật chất lẫn tinh thần như những người không khuyết tật khác để làm cơ sở hỗ trợ họ vươn lên trong cuộc sống

 Sử dụng cách thức tiếp cận dựa vào cộng đồng để xây dựng các hoạt động liên kết các hệ thống nguồn lực nhằm hỗ trợ nâng cao đời sống tinh thần cho NKT tại phường Nghĩa Đô

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Đây là phương pháp chính sử dụng trong quá trình nghiên cứu của tác giả Phân tích các tài liệu liên quan tới mô hình chăm sóc đời sống tinh thần

Trang 18

dành cho NKT nhằm mục đích làm rõ vị trí vai trò của mô hình trợ giúp đối với NKT trong hệ thống trợ giúp xã hội hiện này của Việt Nam Đặc biệt phân tích nguồn số liệu từ báo cáo tổng hợp số liệu NKT phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

7.2 Phương pháp trưng cầu ý kiến

Phương pháp này được sử dụng nhằm mục đích tổng quan được tình hình NKT trên địa bàn phường Nghĩa Đô về đặc điểm nhân khẩu học, về tình trạng tật, về việc làm, về thực trạng cũng như nhu cầu của NKT về vấn đề chăm sóc đời sống tinh thần Từ đó có cơ sở xây dựng mô hình trợ giúp về vấn đề chăm sóc đời sống tinh thần cho NKT

Số lượng phiếu phát ra: 120 phiếu

Số lượng phiếu thu về: `120 phiếu

Bảng 1.1 Cơ cấu mẫu trong nghiên cứu (n= 120) Đặc điểm về nhân khẩu

Trang 19

7.3 Phương pháp quan sát

Để thu thập được những thông tin cần thiết, đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp quan sát Quát sát trong nghiên cứu xã hội được hiểu là quá trình tri giác và ghi chép mọi yếu tố

có liên quan đến đối tượng nghiên cứu phù hợp với đề tài và mục tiêu nghiên cứu Đây cũng là một phương pháp nhằm kiểm tra tính xác thực của những thông tin thu được trước đó hoặc những thông tin thu được từ những phương pháp khác nhau

Phương pháp này được tác giả sử dụng có kế hoạch trong các buổi làm việc với đối tượng tại chính nhà của họ, nơi sinh hoạt nhóm hoặc nơi trò chuyện, giao tiếp Sử dụng phương pháp quan sát nhằm mục đích giúp tác giả thu thập được các thông tin về đối tượng như: hoàn cảnh, điều kiện sống (quan sát môi trường xung quanh đối tượng); tâm lý, hành vi của đối tượng (quan sát thái độ, cử chỉ, nét mặt của đối tượng khi giao tiếp)

Trang 20

7.4 Phương pháp phỏng vấn sâu

Phương pháp này được sử dụng kết hợp với các phương pháp khác như quan sát, phân tích tài liệu… để có được những thông tin chiều sâu, đặc biệt là trong việc khai thác thông tin liên quan đến nhu cầu, mong muốn của đối tượng, hay những khó khăn của họ gặp phải trong cuộc sống… Phương pháp này còn được sử dụng để thu thập thông tin về tiểu sử của NKT Đồng thời, quá trình phỏng vấn sâu còn giúp tác giả hiểu được bản chất của vấn đề, từ đó có định hướng cho việc đưa ra các giải pháp, mô hình hỗ trợ phù hợp với điều kiện và nguyện vọng của đối tượng, của địa bàn nghiên cứu

Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu 09 người, trong đó có 6 NKT và 3 người hỗ trợ NKT Những buổi phỏng vấn này được sắp xếp và hẹn trước Địa điểm phỏng vấn tại nhà và tại hội trường nhà văn hóa nơi sinh hoạt nhóm

- Tác giả tiến hành làm việc trong 8 buổi, trong đó: 02 buổi làm việc với lãnh đạo UBND phường , hội trưởng hội NKT phường và các tổ trưởng tổ dân phố tại tổ có NKT cư trú được chọn là thành viên của nhóm thân chủ; 06 buổi làm việc trực tiếp với nhóm thân chủ

- Khó khăn: NVCTXH chưa độc lập tổ chức được các buổi làm việc với

thân chủ, hầu hết các buổi làm việc đều là kết hợp với các hoạt động khác của phường hoặc hoạt động liên tổ khác

Trang 21

NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Khái niệm công cụ

1.1.1 Người khuyết tật

Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm NKT Hiện có hai quan điểm chính đó là quan điểm khuyết tật cá nhân và quan điểm khuyết tật

xã hội

Quan điểm khuyết tật cá nhân hay quan điểm khuyết tật dưới góc độ y tế

đề cập đến tình trạng thể chất nội tại của cá nhân có thể làm gây những hạn chế, gây bất lợi trong cuộc sống Mô hình y tế xem xét khuyết tật dưới góc độ

là một vấn đề khiếm khuyết của con người do bệnh tật, chấn thương, hoặc các

lý do khác, điều này đòi hỏi NKT phải được duy trì chăm sóc y tế và cung cấp các hình thức điều trị cá nhân để có thể giữ ổn định hoặc cải thiện tình trạng khuyết tật Trong mô hình y tế, quản lý của tình trạng tàn tật là nhằm mục đích "chữa trị", hay điều chỉnh và thay đổi hành vi của cá nhân mà có thể dẫn đến chữa bệnh hiệu quả Trong mô hình y tế, chăm sóc y tế được xem như là vấn đề chính, và ở góc độ quản lý nhà nước, phạm vi chủ yếu là của các chính sách về NKT là sửa đổi, cải cách y tế

Do đó, Nhà nước và xã hội nên đầu tư vào chăm sóc y tế và dịch vụ liên quan để chữa bệnh tật, cho phép NKT có một cuộc sống bình thường “Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, có ba mức độ suy giảm là: khiếm khuyết, khuyết tật và tàn tật Khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc sinh lý Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết Còn tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của

họ Như vậy mô hình cá nhân hay y tế nhìn nhận NKT như người có vấn đề

về thể chất và cần được chữa trị Điều này đẩy những NKT vào thế bị động

Ngày đăng: 11/05/2017, 12:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Cơ cấu mẫu trong nghiên cứu (n= 120)  Đặc điểm về nhân khẩu - Nhu cầu đối với hoạt động công tác xã hội trong nâng cao đời sống tinh thần cho người khuyết tật tại phường nghĩa đô, quận cầu giấy, thành phố hà nội (Tóm tắt, trích đoạn)
Bảng 1.1. Cơ cấu mẫu trong nghiên cứu (n= 120) Đặc điểm về nhân khẩu (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w