Năng suất chăn nuôi lợn của các trang trại hiện nay còn khá khiêm tốn so với năng suất chăn nuôi lợn của các nước như Thái Lan, Đan Mạch, Anh… Như vậy, để hình thành và phát triển các tr
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2011 – 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2011 – 2015 GVHD: TS Nguyễn Thu Quyên
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá tình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học Được sự giúp đỡ, giảng dạy nhiệt tình của các Thầy cô giáo khoa Chăn nuôi – Thú y, Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
đã tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu thực hiện đề tài Nhân dịp hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới:
Ban Giám hiệu Nhà trường, các thầy, cô giáo khoa Chăn nuôi – Thú y cùng tất cả bạn bè đồng nghiệp và người thân đã động viên, tạo điều kiện tốt nhất giúp tôi thực hiện đề tài và hoàn thiện cuốn khóa luận này
Tôi xin cảm ơn tới Cấp ủy, chính quyền xã Ba trại, Ba Vì, Hà Nội, chủ trại chăn nuôi Nguyễn Thanh Lịch, Ba Vì, Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn TS Nguyễn Thu Quyên đã dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn chỉ bảo tận tình, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành cuốn khóa luận này
Một lần nữa tôi xin gửi tới các Thầy giáo, cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp lời cảm ơn và lời chúc sức khỏe, cùng mọi điều tốt đẹp nhất
Xin trân trọng cảm ơn!
Sinh viên
Phạm Thị Hường
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng của quá trình đào tạo tại trường Đây là giai đoạn sinh viên tiếp xúc với thực tiễn, củng cố lại những kiến thức đã học trên giảng đường Bên cạnh đó, giúp sinh viên vận dụng, học hỏi những kinh nghiệm trong sản xuất để nâng cao trình độ cũng như các phương pháp tổ chức và tiến hành nghiên cứu Tạo điều kiện cho bản thân có tác phong làm việc nghiêm túc, đúng đắn, có cơ hội vận dụng sáng tạo vào thực tế sản xuất, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước, làm cho đất nước ngày càng phát triển
Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sự đồng ý của cô giáo hướng dẫn và tiếp nhận
của cơ sở, em tiến hành đề tài: “Thực trạng bệnh sinh sản ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại trang trại Nguyễn Thanh Lịch huyện Ba Vì thành phố Hà Nội và biện pháp phòng trị”
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, thời gian và năng lực bản thân còn hạn chế nên trong bản khóa luận này không tránh khỏi những sai sót Vì vậy, em mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy giáo,
cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp để khóa luận hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Lịch sát trùng trại lợn nái 41
Bảng 4.2: Lịch phòng bệnh tại trại lợn nái 42
Bảng 4.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 45
Bảng 4.4: Thực trạng mắc bệnh sinh sản ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại 46
Bảng 4.5: Thực trạng mắc bệnh sinh sản theo lứa đẻ 49
Bảng 4.6: Thực trạng mắc bệnh sinh sản theo tháng 52
Bảng 4.7: Một số triệu chứng lâm sàng của bệnh 55
Bảng 4.8: Hiệu quả điều trị bệnh sinh sản trên lợn nái ngoại 56
Bảng 4.9: Chi phí thuốc điều trị bệnh của hai phác đồ 57
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ mắc bệnh sinh sản ở đàn lợn nái ngoại 47Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh sinh sản theo lứa đẻ 50Biểu đồ 4.3: Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh sinh sản theo tháng 53
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Cs: Cộng sự Nxb: Nhà xuất bản TT: Thể trọng STT: Số thứ tự
Trang 8MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứ u 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm sinh sản của lợn nái 3
2.1.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục cái 3
2.1.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 8
2.1.3 Một số bệnh sinh sản thường gặp 12
2.1.4 Phòng bệnh sinh sản ở lợn nái 27
2.1.5 Thành phần hóa học và cơ chế tác dụng của thuốc sử dụng chữa bệnh 28
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 28
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 30
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 33
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 35
3.2 Thờ i gian và địa điểm nghiên cứu 35
3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 35
3.3.1 Nội dung nghiên cứu 35
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 35
3.4 Phương pháp tiến hành nghiên cứu 35
3.4.1 Phương pháp theo dõi thu thập thông tin 35
3.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 36
Trang 93.4.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 37
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 37
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38
4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 38
4.1.1 Công tác chăn nuôi 38
4.1.2 Công tác thú y 40
4.1.3 Công tác khác 45
4.2 Kết quả nghiên cứu 46
4.2.1 Thực trạng bệnh sinh sản ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại trang trại 46
4.2.2 Thực trạng mắc bệnh sinh sản ở đàn lợn nái ngoại theo lứa đẻ 49
4.2.3 Thực trạng bệnh sinh sản ở đàn lợn nái ngoại theo tháng theo dõi 52
4.2.4 Một số triệu chứng lâm sàng khi nái mắc bệnh sinh sản 54
4.2.5 Hiệu quả điều trị bệnh sinh sản trên lợn nái ngoại 56
4.2.6 Hạch toán chi phí thuốc điều trị 57
Phần 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Tồn tại 60
5.3 Đề nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
I Tài liệu tiếng việt 61
II Tài liệu trên internet 61
II Tài liệu nước ngoài 62
Trang 10Chăn nuôi lợn theo mô hình trang trại đang được tạo thuận lợi về vốn vay, đất đai và cơ chế thông thoáng hơn Chăn nuôi lợn phát triển đã góp phần quan trọng trong việc triển khai các chính sách về nông nghiệp của chính phủ Việt Nam về chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, giúp tăng thu nhập và làm giàu cho người chăn nuôi
Mặc dù chăn nuôi lợn nước ta đã đạt được những tiến bộ nhất định nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, đòi hỏi các cấp các ngành cần đầu tư hơn nữa Năng suất chăn nuôi lợn của các trang trại hiện nay còn khá khiêm tốn so với năng suất chăn nuôi lợn của các nước như Thái Lan, Đan Mạch, Anh…
Như vậy, để hình thành và phát triển các trang trại chăn nuôi tập trung quy mô lớn, đạt hiệu quả kinh tế, cung cấp lợn thịt đảm bảo chất lượng cao ra thị trường thì phải đổi mới và nâng cao kỹ thuật và công nghệ chăn nuôi, thực hiện các biện pháp phòng bệnh tổng hợp, các biện pháp an toàn sinh học để loại trừ các khả năng bệnh dịch xâm nhập từ bên ngoài và ngăn chặn các yếu
tố làm nẩy sinh dịch bệnh từ bên trong và nhất thiết phải cải tạo con giống tốt Tuy nhiên, thực tế cho thấy các trang trại chăn nuôi lợn nái sinh sản của nước
ta hiện nay đang gặp phải rất nhiều khó khăn do yếu tố dịch bệnh và các bệnh
Trang 11liên quan đến đường sinh sản của gia súc đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến năng xuất cũng như chất lượng của đàn con
Xuất phát từ thực tế sản xuất tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng bệnh sinh sản ở đàn lợn nái ngoại đang nuôi tại trang trại Nguyễn Thanh Lịch huyện Ba Vì thành phố Hà Nội và các biện pháp phòng trị”
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá được thực trạng các bệnh sinh sản thường gặp trên đàn lợn nái ngoại đang nuôi tại trang trại Nguyễn Thanh Lịch – Ba Vì – Hà Nội
- Trên cơ sở dữ liệu nghiên cứu đề xuất phương pháp phòng, trị bệnh hiệu quả
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa hoc
- Củng cố kiến thức các môn học, áp dụng các kiến thức đã được học vào thực tế sản xuất
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là thông tin khoa học về tình hình mắc bệnh sinh sản trên đàn lợn nái ngoại nuôi theo quy mô trang trại
- Bổ sung thêm thông tin khoa học về tình hình mắc bệnh sinh sản ở lợn nái nuôi tại Việt Nam
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả thu được là cơ sở khoa học để đưa ra các giải pháp kỹ thuật thích hợp nhằm nâng cao khả năng sản xuất của đàn lợn tại trại
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh sản của lợn nái
2.1.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục cái
Cũng giống như các loại gia súc khác, cơ quan sinh dục của lợn nái gồm
bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong Theo Đặng Quang Nam (2002)[14] cho biết:
2.1.1.1.Bộ phận sinh dục bên ngoài
Bộ phận sinh dục bên ngoài là những bộ phận có thể nhìn thấy, sờ thấy và quan sát được Bao gồm: Âm môn, âm vật và tiền đình
- Âm môn (Vulva)
Âm môn hay còn gọi là âm hộ (Vulva) nằm dưới hậu môn Phía ngoài
âm môn có hai môi (Labia pudendi) Hai môi được nối với nhau bằng hai mép
âm môn (Rima vulva)
Trên hai môi của âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến tiết mồ hôi
- Âm vật (Clitoris)
Âm vật giống như dương vật được thu nhỏ lại Trong cấu tạo âm vật cũng
có các thể hổng như con đực Trên âm vật có nếp da tạo ra mu âm vật
(Praepatium clitoridis), giữ âm vật bẻ gấp xuống dưới
- Tiền đình (Vestibulum vaginae sinus progenitalis)
Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo, nghĩa là qua tiền đình mới vào âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, phía trước màng trinh là âm môn, phía sau màng trinh là âm đạo, màng trinh có các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do hai
lá niêm mạc gấp thành một nếp Sau màng trinh có lỗ niệu đạo Trong tiền đình
Trang 13có một số tuyến, tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật (Trần Tiến Dũng, 2006[5])
2.1.1.2 Bộ phận sinh dục bên trong
Bằng những phương pháp gián tiếp, người ta có thể quan sát, sờ nắn những bộ phận bên trong của cơ quan sinh dục cái bao gồm: Âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng, buồng trứng
- Âm đạo (Vagina)
Theo Đặng Quang Nam (2002)[14], âm đạo là ống đi từ cổ tử cung đến
âm hộ Đầu trước âm đạo dính vào cổ tử cung, đầu sau thông ra tiền đình, có màng trinh đậy ở lỗ âm đạo
Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối đồng thời là bộ phận cho thai ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ tử cung
Âm đạo có cấu tạo gồm ba lớp:
Tử cung lợn thuộc loại tử cung kép Gồm hai tử cung trái và phải mỗi bên đều có một cổ tử cung Hai cổ tử cung thông vào đầu trước của âm đạo
+ Sừng tử cung dài như một đoạn ruột (50 - 100 cm) thông với ống dẫn trứng + Thân của tử cung rất ngắn (3 - 5cm)
Trang 14+ Cổ tử cung dài (10 - 18cm) có thành dày có những u thịt xen kẽ khép lại với nhau theo lối cài răng lược
Vách tử cung gồm ba lớp từ ngoài vào trong: lớp tương mạc, lớp cơ trơn, lớp nội mạc
+ Lớp tương mạc: là lớp màng sợi dai, chắc, phủ mặt ngoài tử cung và nối tiếp vào hệ thống dây chằng
+ Lớp cơ trơn: có chức năng chủ yếu trong việc đảm bảo sự phát triển và dinh dưỡng bào thai có vai trò quan trọng trong việc đẩy thai ra ngoài Đây là một lớp cơ dày và rất khỏe trong cơ thể và có cấu tạo phức tạp Bên trong lớp cơ trơn là các sợi liên kết đàn hồi, có nhiều tĩnh mạch lớn Các lớp cơ đó đan vào nhau làm cho tử cung chắc và có sự đàn hồi lớn
Theo Trần Thị Dân (2004)[2], trương lực cơ càng cao khi có nhiều Oestrogen trong máu và trương lực cơ giảm khi có nhiều Progesterone trong máu + Lớp nội mạc: là lớp liên niêm mạc màu hồng phủ lên trên bằng một tế bào biểu mô hình trụ xen lẫn với những tuyến tiết chất nhày Nhiều tế bào biểu
mô lại kéo dài thành lông rung Khi lông rung hoạt động thì gạt những chất nhày tiết ra về phía cổ tử cung Lớp nội mạc tử cung có tác nhiệm vụ tiết ra các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di chuyển đến ống dẫn trứng
- Buồng trứng (Ovarium)
Buồng trứng ở động vật có vú lưu lại trong xoang bụng, phát triển thành một cặp nằm đối nhau qua cột sống Chức năng của buồng trứng là: sản xuất tế
bào sinh dục cái (trứng), sản xuất ra một số kích dục tố (hormon) để tham gia
vào việc điều hòa chức năng sinh sản của gia súc cái Buồng trứng là cơ quan được hình thành trong giai đoạn phôi thai hoặc vào lúc con vật mới được sinh ra Hình dáng và kích thước của buồng trứng biến đổi tuỳ giai đoạn của chu kỳ sinh dục Tuổi, đặc điểm cá thể, chế độ dinh dưỡng… có ảnh hưởng nhất định đến
Trang 15hình dáng và kích thước của buồng trứng biến đổi tuỳ từng giai đoạn của chu kỳ sinh dục
+ Cấu tạo: Phía ngoài buồng trứng được bao bọc bởi một màng liên kết sợi chắc là màng dịch hoàn Phía trong buồng trứng được chia làm hai miền là miền vỏ và miền tuỷ Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng
Miền vỏ bao gồm ba thành phần: Tế bào trứng nguyên thuỷ, thể vàng và
tế bào hình hạt Tế bào trứng nguyên thuỷ hay còn gọi là trứng non
(fulliculooophoriprimari) nằm dưới lớp màng của buồng trứng Khi các noãn
nang chín các tế bào bao quanh tế bào trứng và phân chia thành nhiều tầng tế
bào có hình hạt (Strarum glanulosum) Noãn bào ngày càng phát triển thì các
tế bào nang tiêu tan tạo ra xoang có chứa dịch Các tầng tế bào cong lại phát triển lồi lên tạo thành một lớp màng bao bọc, ở ngoài có chỗ dày lên để chứa trứng (Trần Thị Dân, 2004 [2])
- Ống dẫn trứng (Ovidustus)
Theo Đặng Quang Nam (2002)[14], cho biết ống dẫn trứng được treo bởi màng treo, đó là một nếp gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng rộng Chức năng của ống dẫn trứng: là nơi để tế bào sinh dục đực (tinh trùng) và tế bào sinh dục cái (trứng) gặp nhau, ống dẫn trứng có khả năng co bóp dưới ảnh hưởng của hormon Oxytocin nhằm giúp cho tinh trùng thuận lợi hơn trong việc thụ tinh
2.1.1.3.Cấu tạo tuyến vú
- Tuyến vú (Mamma)
Theo Đặng Quang Nam và cs (2002)[14], tuyến vú có hình chùm nho phức tạp và có nguồn gốc từ ngoại bì Ở động vật, con đực con cái đều có tuyến vú Vị trí, số lượng của tuyến vú ở mỗi loài động vật khác nhau là khác nhau: có loài tuyến vú ở ngực, có loài lại ở vùng bẹn, có loài có nhiều hoặc có
Trang 16loài lại chỉ có 1 - 2 đôi vú Tuyến vú phát triển mạnh ở con cái khi đến tuổi thành thục về tính, và nó phát triển to nhất ở thời kì chửa, đẻ
- Cấu tạo vú bao gồm: bầu vú và núm vú
+ Bầu vú: Là nơi sinh sản và chứa sữa, ngoài cùng là lớp da mỏng mịn tùy theo vị trí mà lớp da này do da ngực, da nách hay da bụng bẹn kéo đến, tiếp đến là lớp cơ Trong cùng có hai phần cơ bản là bao tuyến và ống dẫn, xen kẽ giữa phần cơ bản ở trong là tổ chức mỡ, tổ chức liên kết, hệ thống mạch quản thần kinh bao vây và chia vú thành nhiều thùy nhỏ, trong đó có nhiều sợi đàn hồi Bao tuyến là nơi sản sinh ra sữa, giống như một cái túi, từ túi đó sữa theo ba loại ống dẫn: nhỏ, trung bình, lớn rồi đổ vào xoang sữa ở đáy tuyến và thông ra đỉnh ở đầu vú Để hình thành 1 lít sữa cần 540 lần lít máu đi qua tuyến vú, vì vậy sự cung cấp máu cho tuyến vú rất phong phú, mao mạch bao quanh bao tuyến dày đặc
+ Núm vú: Một vú có một núm vú, cấu tạo từ ngoài vào trong: da, tổ chức liên kết, cơ, ống dẫn sữa Lợn có từ 2-3 ống dẫn sữa Ở đầu núm vú sợi
cơ trơn xếp thành vòng tạo thành cơ vòng đầu vú và giữ cho đầu vú ở trạng thái khép kín khi không thải sữa
- Sự sinh triển và phát dục của tuyến vú theo giai đoạn và có liên quan đến sự phát triển và trạng thái chức năng của nó trong hoạt động sinh sản và được chia ra thành các giai đoạn:
+ Giai đoạn còn non: tuyến vú chưa phân hoá và phát triển nên tuyến vú
ở con đực, cái giống nhau về hình thể, chỉ khác nhau ở cơ quan sinh dục bên ngoài + Giai đoạn phát triển và thành thục sinh dục: mô liên kết, mô mỡ, phát triển chiếm ưu thế hơn mô tuyến, bầu vú tăng dần về thể tích
+ Khi thành thục về tính: hệ thống ống dẫn bắt đầu phát triển mạnh, nói chung bao tuyến vẫn chưa phát triển Qua các chu kỳ động dục bầu vú phát triển to đần ra, thấy rõ ở giai đoạn động dục, sau động dục có xu thế nhỏ lại
Trang 17+ Theo Trần Thị Dân (2004)[2] khi có chửa: hệ thống ống dẫn tiếp tục phát triển nhanh, gia tăng số lượng ống dẫn, bao tuyến bắt đầu hình thành và phát triển mô tuyến thay dần mô liên kết, mô mỡ chiếm ưu thế Hoạt động tiết sữa xuất hiện vào cuối thời kỳ có chửa, sữa được hình thành gọi là sữa non
Sự phát dục của tuyến vú hoàn tất khi kết thúc giai đoạn chửa, ngay sau khi
đẻ gia súc bắt đầu tiết sữa để nuôi con non
2.1.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
2.1.2.1 Sự thành thục về tính
Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể con cái đặc biệt là cơ quan sinh dục đã phát triển cơ bản hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết, con vật xuất hiện các phản xạ về sinh dục, khi đó trên buồng trứng có khả năng thụ thai, tử cung cũng sẵn sàng cho thai làm tổ, biểu hiện của con vật là lông mượt, tai thính, thường xuyên phá chuồng và nhảy lên lưng những con khác
Sự thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào: giống, tính biệt và các điều kiện ngoại cảnh như chăm sóc nuôi dưỡng
- Giống:
Các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau: những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giống thuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống
có tầm vóc lớn
Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003)[3] cho rằng: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng khi khối lượng đạt từ 20 -25kg Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn sơ với lợn nội thuần, ở lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng
cơ thể đạt 50 - 55kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là lúc động dục 6 - 7 tháng khi lợn có khối lượng 60 - 80kg Tuỳ theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau
Trang 18Lợn ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 -
158 ngày tuổi) các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần đầu muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi
- Điều kiện nuôi dưỡng, quản lý:
Cùng một giống nhưng nếu điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý tốt thì gia súc phát triển tốt, sự thành thục về tính sớm hơn và ngược lại
- Điều kiện ngoại cảnh:
Khí hậu và nhiệt độ cũng có ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính gia súc, những giống lợn nội nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính sớm
Trong điều kiện chăn thả chung giữa gia súc đực và gia súc cái cũng ảnh hưởng tới tính thành thục sớm của gia súc cái Theo Paul Highes và Tilton (1996)[26], nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn đực 2 lần/ ngày với thời gian 15 - 20 phút thì 83% lợn cái ngoài 90kg động dục là 165 ngày tuổi
Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu dài hơn lợn nuôi chăn thả Vì lợn nuôi chăn thả sẽ tăng cường trao đổi chất, tổng hợp được sinh tố và có được tiếp xúc với lợn đực nhiều hơn nên có tuổi động dục lần đầu sớm hơn
- Tuổi thành thục về tính của gia súc:
Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi
Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [3] cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy
đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần
bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống
Trang 192.1.2.2 Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp
lý Các biến đổi lặp đi lặp lại theo chu kỳ như trên được gọi là chu kỳ động dục (chu kỳ tính)
Theo Nguyễn Thiện và cs (1993)[23], chu kỳ tính của lợn nái thường diễn ra trong phạm vi 19 - 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dài khoảng 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịu đực (phối giống), giai đoạn sau chịu đực (kết thúc)
+ Giai đoạn trước khi chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, chưa cho phối và lợn chưa chịu đực Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trên đối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35 - 40h, với lợn nội là 25 - 30h
+ Giai đoạn chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lên lưng gần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28 - 30h
+ Giai đoạn sau chịu đực: Lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở, đuôi cụp và không chịu đực
Trang 20- Thời điểm phối giống thích hợp:
Thời điểm phối giống thích hợp: Trứng rụng tồn tại trong tử cung 2- 3h Tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30 - 48h Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục
Đối với lợn nái nội hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ
3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu (Nguyễn Thiện và cs, 1993[23])
2.1.2.3 Sinh lý đẻ
- Quá trình sinh đẻ:
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2006)[5], gia súc cái mang thai trong một thời gian ngắn tùy từng loại gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ dưới tác động của hệ thống thần kinh- thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn đẻ, đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi
là quá trình sinh đẻ
Khi gần đẻ con cái sẽ có triệu chứng biểu hiện: trước khi đẻ 1 tuần, nút niêm dịch ở cổ tử cung, đường sinh dục, lỏng, sánh, dính và chảy ra ngoài Trước đẻ 1 - 2 ngày, cơ quan sinh dục bắt đầu có những thay đổi, âm môn phù
to, nhão ra và sung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu căng to, sữa bắt đầu tiết
- Giai đoạn tiết sữa và nuôi con:
Khả năng tiết sữa của lợn nái phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng thức ăn giống lợn và số lượng lợn con, lợn nái thường tiết sữa nhiều nhất vào tuần thứ
2 - 3 Ở những giống lợn khác nhau thì khả năng tiết sữa khác nhau Sự tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ do những kích thích vào đầu vú gây nên, phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra
Trang 21sau Thần kinh giữ vai trò chủ đạo trong quá trình tiết sữa, khi lợn con thúc
bú, những kích thích này chuyển lên vỏ não, từ vỏ não lại chuyển xuống vùng Hypothalamus từ đó các luồng xung động tác động vào tuyến yên và tuyến yên tiết ra kích tố Oxytocin, kích tố Oxytocin đến tuyến bào kích thích làm cho lợn nái tiết sữa
Qua theo dõi, sản lượng sữa và chất lượng sữa ở các vị trí vú khác nhau cũng không giống nhau, các vú phía trước ngực sản lượng sữa cao, phẩm chất tốt, các vú phía sau nhìn chung kém hơn Theo Trương Lăng (2000)[8], cho biết: Vú phía trước lượng sữa tiết nhiều hơn (nên cố định cho lợn con sơ sinh
có khối lượng kém bú), vì Oxytocin theo máu đến tuyến vú phía trước sớm hơn, kéo dài hơn lên vú trước nhiều sữa hơn
Sản lượng sữa của lợn nái phụ thuộc vào số lợn và chất lượng thức ăn vì thế trong giai đoạn lợn nái nuôi con thì thức ăn cho lợn nái cần đủ chất dinh dưỡng Chăm sóc lợn nái ăn với khẩu phần đẩy đủ chất dinh dưỡng không những nâng cao sản lượng sữa mà còn giảm tỷ lệ hao mòn của lợn nái
Ở lợn không có bể sữa do đó không thể đo lượng sữa bằng cách vắt sữa
mà chỉ có thể đo lượng sữa của lợn nái qua khối lượng đàn con
Theo Trương Lăng, (2003)[9], sữa lợn nái là nguồn thức ăn có đầy đủ chất dinh dưỡng, không có loại thức ăn nào có thể so sánh bằng và thay thế được Do đó để tăng năng suất của lợn con phải thoả mãn nhu cầu tối đa trong thời gian bú sữa
2.1.3 Một số bệnh sinh sản thường gặp
* Bệnh viêm tử cung
Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Lợn nái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng, các khu thực vật ở mỗi vùng là khác nhau Khi gia súc sinh đẻ nhất là trong trường hợp đẻ khó
Trang 22phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, bị tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… thường gây viêm tử cung (Đỗ Quốc Tuấn, 2005 [19])
- Nguyên nhân:
Bệnh viêm tử cung ở lợn thường xảy ra sau khi đẻ, có thể xảy ra ở những lợn nái sau khi phối giống, xảy ra cả với những lợn nái hậu bị Bệnh do những nguyên nhân chính sau:
+ Trong quá trình chửa, lợn nái chửa ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, ít
vận động hoặc nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: Leptospirosis (lợn nghệ), Brucellosis (sảy thai truyền nhiễm), Pavrovirus và một số bệnh nhiễm
khuẩn khác… làm cho cơ thể lợn nái yếu dẫn đến việc đẻ khó, hay sảy thai, thai chết lưu gây viêm tử cung Trong quá trình đẻ, điều kiện vệ sinh kém, sự can thiệp đỡ đẻ không đúng kỹ thuật, nhau thai bị sót lại là nguyên nhân dẫn đến lợn nái bị viêm dạ con (Nguyễn Đức Lưu và cs, 2004 [10])
+ Theo Trương Lăng (2000)[8]: Do vi trùng Streptococcus và Colibacillus nhiễm qua cuống rốn, đẻ khó, sảy thai, sót nhau hay qua dụng cụ
thụ tinh nhân tạo cũng gây xây sát, tạo các ổ viêm nhiễm trong âm đạo và tử cung Trong tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng đã đưa các vi khuẩn gây viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn nái, do lợn đực nhảy trực tiếp mà niệu quản và dương vật bị viêm cũng là nguyên nhân dẫn đến viêm tử cung của lợn nái
+ Lê Hồng Mận (2006)[12], cho biết khi lợn đẻ, cổ tử cung, mép âm hộ
bị rách, bị nhiễm trùng kế phát gây viêm Chuồng đẻ nền bẩn, dây rốn lợn con
và nhau thai nhiễm trùng rồi co thụt vào gây viêm tử cung
+ Đoàn Thị Kim Dung và cs (2002)[4] còn cho biết thêm nguyên nhân
gây viêm tử cung chủ yếu do tụ cầu vàng (Staphylococcus và Aureus), liên
Trang 23cầu dung huyết (Staphylococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebsiella, dung huyết E coli, trùng roi (Trichomonas) và do nấm Candida albicans
+ Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thanh (2007)[20], có thể khẳng định rằng việc dùng tay móc thai khi lợn đang đẻ nhằm rút ngắn thời gian xổ thai của lợn mẹ là nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm tử cung ở đàn nái nuôi theo mô hình trang trại hiện nay
- Triệu chứng:
Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày cá biệt tới 6 - 7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang vàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màu đen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:
+ Thể cấp tính: Con vật sốt 41 - 420C trong vài ngày đầu âm môn sưng tấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ lờ + Thể mãn tính: Không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy
ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo
tử cung lan sang thai làm chết thai
Trang 24+ Viêm tương mạc tử cung: Là quá trình viêm xảy ra ở lớp ngoài cùng,
là thể viêm nặng nhất (Nguyễn Văn Thanh, 2007[20])
- Chẩn đoán:
Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2004)[10]: Dựa vào những triệu chứng lâm sàng để chẩn đoán bệnh, ngoài ra ta thấy lợn nái có những biểu hiện mất sữa, âm đạo có những dịch tiết không bình thường, ở âm đạo sẽ thấy những miếng nhau thai sót hoặc thai chết lưu, ở tử cung mùi hôi thối đặc biệt khi kiểm tra qua trực tràng có thể cảm thấy một hoặc hai sừng tử cung sưng to, thành tử cung dày, khi sờ vào phản ứng co lại của sừng tử cung yếu Nếu trong tử cung có tích nước thẩm xuất thì sờ vào thấy có vỗ sóng
và thuốc bổ bằng cách tiêm, cho uống hay bơm vào tử cung
+ Điều trị cục bộ: Thụt rửa tử cung bằng các dung dịch như: nước muối 0,9%, KmnO4 0,1% hoặc rivanol 0,1% Sau đó thụt vào tử cung một trong các loại kháng sinh sau: Penicillin, Streptomycin, Tetramycin…
+ Điều trì toàn thân: Có thể dùng một số loại kháng sinh tổng hợp như: Ampisep, Genorfcoli, Gentamycin, Lincomycin, Hanoxylin 10%, Ampicillin Kết hợp với thuốc trợ lực: Vitamin C, B-complex
Trang 25- Hậu quả:
Theo Lê Văn Năm và cs (1999)[15], viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh và rối loạn chức năng của cơ quan sinh dục vì quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng tạo ra độc tố có hại
cho tinh trùng như: Spermilosin (độc tố làm tiêu tinh trùng), các loại độc tố
làm tiêu tinh trùng, các dạng đại thực bào tích cực gây bất lợi cho tinh trùng Ngoài ra, nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường bất lợi như thế cũng bị chết non Quá trình viêm sinh ra trong quá trình có chửa là do biến đổi bệnh lý trong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo niêm mạc, thoái hoá niêm mạc…) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và dạ con nên qua các chỗ tổn thương vi khuẩn cũng như các độc tốt do chúng tiết ra làm cho bào thai phát triển không bình thường
Theo nghiên cứu của Nguyễn Như Pho (2002)[17], thì bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng Những lợn nái mắc bệnh thường lười chăm sóc con làm lợn con còi cọc, dễ mắc bệnh tiêu chảy, tỷ lệ chết cao Kết quả khảo sát hệ vi sinh khuẩn trên nền chuổng và hệ vi khuẩn gây bệnh viêm tử cung có sự giống nhau có nghĩa là chính các vi khuẩn cơ hội có mặt trên nền chuồng là nguyên nhân gây nhiễm trùng tử cung sau khi sinh
* Bệnh viêm vú
- Nguyên nhân:
Theo Nguyễn Như Pho (2002)[17], khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng
cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn, mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn
đường ruột xâm nhập gây ra viêm vú
Một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau
Trang 26vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn
xâm nhập gây viêm như: E coli, Staphylococus, Klebsiella spp
Theo Trương Lăng (2000)[8]: Lợn con mới đẻ có răng nanh mà không bấm khi bú làm xây sát vú mẹ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các
ổ viêm nhiễm trên bầu vú Lợn nái ăn thức ăn nhiều đạm sinh nhiều sữa, lợn con bú không hết sữa ứ đọng tạo thành môi trường cho vi trùng sinh sản nhiều + Lợn chỉ cho con bú một hàng vú, hàng còn lại căng sữa quá nên viêm + Do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá, thức ăn khó tiêu hoặc cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng
- Triệu chứng:
Nguyễn Như Pho (2002)[17]: Viêm vú ở lợn nái thường xảy ra vào những ngày đầu tiên sau khi đẻ, cũng có thể xảy ra trong thời kỳ mang thai và sau khi tách con Bệnh có thể xảy ra ở dạng cấp tính, mãn tính và cận mãn tính Bầu vú bị viêm sưng, sung huyết, khi sờ thấy nóng và đau Sữa của bầu
vú viêm loãng, đôi khi có màu hồng hoặc có cục casein như bã đậu Nái ăn ít, yếu, nhiệt độ cơ thể tăng cao
- Bệnh tích:
+ Viêm tiết dịch đặc trưng, quá trình viêm ở mô liên kết của tuyến vú, sữa thay đổi Khi bị viêm tiết dịch cata hoặc viêm cata, quá trình viêm lan đến niêm mạc khoang vú, đường tiết và dẫn sữa Trong trường hợp này sữa loãng chứa nhiều cục casein Viêm mủ đặc trưng chảy mủ khi vắt sữa, gốc vú viêm cứng hoặc có nhiều hạch di động khi sờ (hạch vú bị cứng)
+ Khi bị viêm dạng cấp tính vú bị viêm một bầu hoặc vài bầu vú bị viêm sờ thấy cứng, đau, sưng, thành phần sữa thay đổi Tình trạng này kéo dài khoảng 4 ngày Lợn con chết khoảng 30 - 100% do thiếu sữa và bú sữa nhiễm trùng gây tiêu chảy
Trang 27+ Theo Lê Văn Năm và cs (1999)[15]: Dạng viêm vú mãn tính kéo dài
từ 7-21 ngày sau khi đẻ, triệu chứng giống như viêm cấp tính nhưng ở mức độ nhẹ hơn Khi bị viêm mãn tính trong vú sẽ phát triển tăng sinh các mô liên kết, thông thường những chỗ này về sau sẽ hình thành các ổ áp xe
Bình thường bệnh viêm vú thường xảy ra ngay sau khi đẻ 4 - 5 giờ đến 7 -
10 ngày có con cho đến một tháng
Theo Ngô Nhật Thắng (2006)[21], viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú, vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng, ấn vào lợn nái có phản ứng đau
Lợn nái giảm ăn, nếu bị nặng lợn bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 420
C kéo dài trong suốt thời gian viêm Sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú
Lợn con thiếu sữa kêu la, chạy vòng quanh mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy,
xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% (Lê Hồng Mận, 2007[13])
Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn
hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện các cụ casein màu vàng, xanh lợn con lợn cợn
có mủ đôi khi có máu
Bệnh lúc đầu ở một vú bị viêm sau đó lan nhanh sang các vú khác Bệnh
có thể kéo dài 4 - 6 ngày Nếu bệnh chuyển sang thể mãn tính có thể kéo dài
7 - 9 ngày, biểu hiện bệnh nhẹ hơn
- Chẩn đoán:
Dựa vào triệu chứng lâm sàng: bằng mắt thường quan sát thấy bầu vú sưng đỏ, khi xoa bầu vú ta thấy cảm giác nóng và hơi cứng, khi vắt sữa thấy không có sữa, lợn nái có cảm giác đau và chỉ thấy nhiều dịch trong hay sữa đặc như bã đậu Một số trường hợp bầu vú chuyển sang thâm đen rất nguy hiểm cho con vật, đó là viêm thối rữa rất khó điều trị Lợn nái thường nằm úp
và cho con bú ít, lợn con bú ít kêu la, gầy yếu, ỉa chảy…
Trang 28Kiểm tra qua kính hiển vi tìm vi khuẩn: nếu trong sữa có nhiều liên cầu,
tụ cầu trùng và các vi trùng khác có thể xác định là bệnh viêm vú cata có mủ, chuỗi vi trùng dài hay ngắn phụ thuộc vào thời kỳ bệnh: bệnh cấp tính thì chuỗi vi trùng ngắn, bệnh mãn tính chuỗi vi trùng dài
- Điều trị:
Trong nhiều trường hợp viêm vú do nhiều nguyên nhân gây ra nên việc điều trị cần phải tiến hành kết hợp giữa kháng sinh và phong bế giảm đau Theo Trương Lăng và cs (2003) [9], điều trị viêm vú bằng cách: Rửa và chườm đá vào đầu vú viêm để giảm sưng, giảm sốt Ngày hai lần xoa bóp nhẹ cho vú mềm dần, mỗi ngày vắt cạn sữa vú 4 - 5 lần để tránh lây lan sang vú khác Cho lợn uống Sulphat Magie với liều nhẹ 20 - 30g/con Vú bị viêm chưa có mủ chỉ điều trị 2 - 3 ngày sẽ mềm trở lại, lợn khỏi bệnh và cho sữa bình thường Nếu 2 - 3 ngày không khỏi phải dùng:
Penicillin: 10.000UI/kg TT
Streptomycin: 10mg/kg TT
Mỗi ngày tiêm một lần, tiêm quanh vú bị viêm cho đến khi hết Tiêm dung dịch Terramycin vào vú viêm theo lỗ sữa sau khi đã vắt cạn sữa viêm Theo Nguyễn Huy Hoàng (1996)[6], có thể điều trị viêm vú bằng sự kết hợp giữa điều trị toàn thân và điều trị cục bộ:
+ Điều trị toàn thân: Tiêm thuốc Septotryl (hoặc Sulphamid) 15kg TT/ngày/lần, liên tục 3- 5 ngày hoặc Benzyl Penicillin (hoặc Ampicillin) 2- 3 triệu UI/nái 120kg TT tiêm bắp ngày 2 lần, tiêm đến khi khỏi bệnh, nên tiêm kèm với Vitamin C 1000g/nái
1ml/10-+ Điều trị tại vú viêm: Dùng ống hút sữa viêm chứa mủ, máu, hút lúc lợn mẹ cho con bú lúc đó mới có sữa Tiêm kháng sinh vào vú 100.000 UI Penicillin cho 1 vú, vị trí tiêm giữa hai gốc vú hoặc tiêm tại vú với kim thật nhỏ (số 24) không đâm mạnh mà vừa se vừa ấn sâu khoảng 1cm bơm thuốc là
Trang 29được Chườm nóng rồi chườm lạnh 15 phút, thay đổi nóng lạnh nhiều lần để
vi trùng khó phát triển
* Hiện tượng đẻ khó
Theo Đỗ Quốc Tuấn (2005) [19], khi gia súc sinh đẻ thì thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy ra ngoài Hiện tượng này do nhiều nguyên nhân gây ra , gây tổn thất kinh tế trong chăn nuôi Nó không những gây bệnh cho
cơ quan sinh dục dẫn đến hiện tượng vô sinh mà có thể làm cho cả nái lẫn con chết Vì vậy, việc đề phòng các trường hợp đẻ khó kịp thời đúng kỹ thuật và có hiệu quả là điều vô cùng cần thiết Để quyết định phương pháp can thiệp thích hợp, trước hết cần phải tiến hành chẩn đoán kịp thời và chính xác
Đỗ Quốc Tuấn (2005) [19] cho biết: Đẻ khó còn do nguyên nhân như là bào thai quá to không phù hợp với xoang chậu, chiều hướng tư thế của thai không bình thường, thai dị hình hay quái thai Những nguyên nhân và loại hình đẻ khó có thể xảy ra đơn độc cũng có thể kết hợp lại với nhau Có trường hợp không những đầu thai đã quay sang một bên mà chân trước thì một chân thẳng, một chân gấp khúc
Trang 30- Triệu chứng:
Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2004) [10]: Lợn nái rặn nhiều lần, thời gian lâu mà không đẻ được, cơn co bóp rặn đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi, khó chịu, nước ối tiết ra nhiều có lẫn cả máu (màu hồng nhạt), có những trường hợp lợn nái đã đẻ được một con rồi nhưng vẫn khó đẻ con tiếp sau Khi kiểm tra thấy thai vướng ngay ở khung xương chậu không qua được - Chẩn đoán: Theo dõi chặt chẽ ngày phối giống, ngày đẻ, cơn co thắt, rặn đẻ, nếu 1-2 giờ lợn nái rặn đẻ liên tục mà không đẻ được, cơn rặn thưa dần, lợn nái mệt, uống nhiều nước, nhịp thở, nhịp tim tăng hơn bình thường
- Điều trị:
Nguyễn Huy Hoàng (1996) [6], khuyến cáo trước tiên phải rửa bộ phận ngoài của lợn nái, lau khô, cắt móng tay, rửa sạch bằng xà phòng hoặc cồn, lau khô, bôi trơn, bôi vào tay thuận nhất từ cùi trỏ trở xuống, chúm các ngón tay lại, ngón út nằm ở giữa để tránh lọt vào lỗ tiểu gây viêm đường liệu Khi lợn nái rặn không đẩy tay vào, chờ ngừng rặn đẩy tay từ từ vào, khi nào đụng vào lợn con, xoay lại cho đúng tư thế Nắm hai răng nanh lợn con kéo ra hoặc nắm hàm dưới má kéo ra theo nhịp rặn của lợn mẹ Trường hợp thò tay vào đụng đuôi lợn con phải cố gắng tìm cho được hai chân sau, kẹp hai chân sau lợn con giữa các ngón tay của ta rồi kéo ra
Nguyễn Đức Lưu và cs (2004) [10] cho biết: Những trường hợp đã vượt quá thời gian rặn đẻ cho phép, cần phải tiêm Oxytoxin 40 - 50UI/nái Nếu cần
có thể tiêm nhắc lại sau 30 phút và tiêm tĩnh mạch là tốt nhất Trong trường hợp không có kết quả cần phải can thiệp bằng tay hoặc phẫu thuật để lấy thai
ra Sau khi can thiệp, phải thụt rửa âm đạo bằng Han- Iodine 5% (50ml pha 2,5l nước) hay dung dịch Rivanol 0,1% và sau đó đặt viên đặt tử cung Han-V.T.C, đặt 2 - 3 ngày và tiêm một mũi Hanoxylin LA hay Hanmolin LA để
Trang 31chống viêm nhiễm tử cung âm đạo Có thể tiêm trong các kháng sinh sau để chống viêm nhiễm:
Ampicillin: 10mg/kg TT tiêm bắp ngày 2 lần
- Nguyên nhân:
Trịnh Đình Thâu và cs (2010)[22]: Sau khi dẻ tử cung co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động thỏa đáng Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca và P Hoặc tử cung bị
sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức
+ Kế phát sau các bệnh khó đẻ khác
+ Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh
truyền nhiễm đặc biệt bệnh Brucellaloes (sẩy thai truyền nhiễm), hoặc do cấu
tạo của nhau
- Triệu chứng:
Căn cứ vào mức độ sát nhau người ta chia ra làm 2 loại:
+ Sót nhau hoàn toàn: Toàn bộ nhau thai nằm lại trong tử cung Khi mắc thường là có một phần treo lơ lửng ở mép âm môn
Trang 32+ Sót nhau không hoàn toàn: Ở động vật đơn thai một phần màng nhau còn dính lại trong tử cung con mẹ Đối với động vật đa thai một số nhau ra ngoài, một số nhau còn sót lại trong tử cung con mẹ
Theo Đỗ Quốc Tuấn (2005)[19]: Biểu hiện triệu chứng khi lợn nái bị sót nhau: Con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống nước, sản dịch chảy ra màu nâu Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ đẻ cho lợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm
số nhau ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn con có sót nhau hay không
- Chẩn đoán:
Từ cơ quan sinh dục của nái luôn thải ra dịch màu hồng tím Quan sát
kỹ thấy có màng mỏng nằm trong âm đạo, treo lòng thòng ở mép âm môn (Trịnh Đình Thâu và cs, 2010[22])
- Điều trị:
Can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn
sẽ gây ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránh những tổn thương Tiêm Oxytoxin dưới da để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục (Trịnh Đình Thâu và cs, 2010[22])
* Bệnh bại liệt sau đẻ
- Nguyên nhân:
Bệnh xuất hiện do thai quá to, tư thế và chiều hướng thai không bình thường, chế độ dinh dưỡng chưa đảm bảo trong quá trình mang thai và quá trình đẻ, do kỹ thuật đỡ đẻ không tốt nhất là móc lợn khi lợn đẻ khó làm ảnh hưởng khớp bán động háng, thần kinh toạ (Đỗ Quốc Tuấn, 2005[19])
Trang 33- Triệu chứng:
Con vật lười vận động, khi đứng dậy chân run run như sắp ngã, Nếu nặng con vật bị liệt hai chân sau không đi được, trong trường hợp liệt do gãy xương con vật đau đớn và có hiện tượng sốt do nhiễm trùng (Đỗ Quốc Tuấn, 2005[19])
- Điều trị:
Theo Trần Thị Dân (2004)[2], sau khi lợn nái đẻ xong giúp lợn nái trở mình hoặc đứng dậy, tăng cường bổ sung thêm nguyên tố vi lượng trong khẩu phần ăn cho nái nhất là Canxi và Photpho, kết hợp xoa bóp mạnh 2 chân sau cho nái đẻ
Gluconat canxi hay Chlorua canxi 20%: Tiêm vào tĩnh mạch cho con vật với liều 200ml/kg thể trọng Tiêm chậm và tiêm liên tục trong vài ngày
Trợ tim mạch: tiêm Cafein và vitamin B1 Nếu con vật hạ nhiệt độ thì tiêm long não nước
Hộ lý: Để gia súc nằm yên tĩnh, giữ gìn vệ sinh nơi gia súc nằm Chăm sóc gia súc sau khi đứng dậy, đi lại được Đặc biệt tăng lượng canxi trong khẩu phần ăn hàng ngày, cho ăn 200g cốm canxi/ngày
* Thai khô (Thai gỗ)
- Nguyên nhân:
Virut gây bệnh thai khô, chết thai ở lợn là một loại Parvovirus dạng trần, không vỏ bọc chứa ADN có kích thước nhỏ 20nm (trong khi đó virut gây bệnh PRRS có kích thước lớn hơn và chứa ARN) Khi vào cơ thể, virut gây sảy thai ký sinh ở trong nhân tế bào ký chủ và lấy ADN của tế bào lợn điều tiết quá trình sinh sản cho chính virut Cơ quan thích hợp nhất để chúng phát triển là não, hạch lâm ba, gan, thận, phổi, amidal, bào thai và nhau thai (Nguyễn Huy Hoàng, 2012[29])
Trang 34Virut dễ nuôi cấy trên các tổ chức tế bào khác nhau của cơ thể lợn và tạo nên hiện tượng “Bệnh tích tế bào” (Cito - pathogen effect - CPE) và các biến đổi trong nhân tế bào ký chủ Virut có sức sống kém đối với các chất như nước vôi 5%, Foocmol 0,8%- 1%, Vinadin 10% …
- Triệu chứng:
Nái đẻ ít, hoặc đẻ ra nhiều thai khô (thai chết ở nhiều giai đoạn khác nhau), nhiều trường hợp lợn con chết ngay sau khi sinh Nái có các dấu hiệu rối loạn sinh sản, không động dục, động dục phối nhiều lần không đậu, chậm động dục sau cai sữa Chết phôi, tiêu thai, sảy thai và tăng số thai khô hoặc đẻ non, đến thời kỳ đẻ nhưng lợn không có phản xạ đẻ (Nguyễn Huy Hoàng, 2012[29])
* Sốt sữa
- Nguyên nhân:
Nguyên nhân cơ bản là do lợn mẹ bị sót nhau, nhau còn tồn lại trong tử
cung tiết ra Folliculin cản trở sự phân tiết Prolactin làm cho tuyến vú không
sản sinh sữa Lợn nái bị viêm tử cung hay viêm vú, sốt cao dẫn tới mất sữa họăc do lợn mẹ bị sụt can xi huyết Do đẻ khó làm quá trình sinh đẻ kéo dài tiêu hao mất nhiều năng lượng mà năng lượng ấy lại được lấy từ chất bột đường, chất bột đường được chuyển hoá thành chất đạm, từ đạm chuyển
Trang 35thành sữa, khi khẩu phần ăn bị thiếu chất bột đường, khi chất bột đường bị cạn thì tuyến vú tuy căng nhưng không có sữa Thiếu Vitamin - C để đồng hoá chất bột đường, đường giúp đạm chuyển hoá thành sữa do đó khi thiếu
Vitamin - C sẽ gây viêm vú và mất sữa (Nguyễn Văn Hưng, 2015[30])
- Triệu chứng:
Theo Nguyễn Ngọc Sơn (2008)[31], bệnh thường phát sinh sau khi lợn
đẻ 4-5 ngày, lợn nái đột nhiên bỏ ăn, đi lại liêu xiêu, thân nhiệt hạ dưới mức bình thường Bầu vú căng to nhưng không có sữa, lợn con bú luôn miệng mà không no, kêu liên tục, càng ngày càng gầy sút Nái nằm ẹp bụng xuống, giấu
bú, không cho con bú, lợn con chạy xung quanh sàn kêu liên tục vì đói Nái bị
nặng nếu không điều trị kịp thời lợn nái sẽ bị chết trong vòng 3 - 4 ngày
- Điều trị:
Bệnh này trước hết phải tìm đúng nguyên nhân để điều trị mới có hiệu quả Nếu là do sót nhau thì dùng biện pháp dùng Gluconatcanxi 10% với liều 50ml/con tiêm tĩnh mạch tai, Oxytocin 20UI/1kg TT hay Ergotin 0.5mg/con tiêm bắp Nếu là do viêm tử cung thì tuỳ thuộc vào mức độ viêm mà có thể dùng 1 trong các phương pháp sau đây:
+ Phương pháp 1: tiến hành thụt rửa tử cung bằng dung dịch Rivanol 0,1% hay thuốc tím 0,1% ngày 1 lần sau khi thụt rửa đợi hay kích thích cho dung dịch thụt rửa đẩy hết ra ngoài, dùng Neomycin 12mg/kg thể trọng thụt vào tử cung ngày 1 lần liệu trình điều trị từ 3 - 5 ngày
+ Phương pháp 2: dùng PGF2a hay các dẫn xuất của nó như Etrumat,
Oestrophan, Prosolvin, Hanprost tiêm dưới da với liều 25mg tiêm 1 lần sau đó thụt vào tử cung 200ml dung dịch Lugol thụt ngày 1 lần liệu trình điều trị từ 3 - 5 ngày
+ Phương pháp 3: dùng Oxytoxin 6 ml tiêm dưới da, Lugol 200ml,
Neomycin 12mg/kg thể trọng thụt tử cung, Ampecilline 3 - 5gr tiêm bắp hay tĩnh mạch tai ngày 1 lần liệu trình điều trị từ 3 - 5 ngày
Trang 36+ Phương pháp 4 dùng PGF2a hay các dẫn xuất của nó tiêm dưới da
2ml (25mg) tiêm 1 lần, Lugol 200ml, Neomycin 12mg/kg thể trọng thụt vào
tử cung, Ampecilline 3 - 5gr tiêm bắp hay tĩnh mạch tai ngày 1 lần liệu trình điều trị từ 3 - 5 ngày
Có thể dùng nước sinh lý mặn ngọt 300ml kết hợp với Vitammin C truyền tĩnh mạch tai Nếu vú đã trở lại bình thường mà vẫn ít sữa thì tiêm Thyroxin với liều 1ml/con/ngày để thúc đẩy quá trình đạm biến thành sữa (Nguyễn Ngọc Sơn, 2008[31])
2.1.4 Phòng bệnh sinh sản ở lợn nái
Biện pháp hữu hiệu nhất để phòng bệnh sinh sản ở lợn nái là thực hiện
vệ sinh tốt trong thời gian lợn nái đẻ cũng như khi phối giống Ngoài việc tuân thủ theo quy trình tắm rửa và vệ sinh cho lợn nái trước ngày đẻ, cần lưu
ý giữ vệ sinh chuồng trại khu lợn nái đặc biệt là khu nái đẻ Chỗ ở của lợn nái luôn được giữ gìn sạch, phân được thu gom liên tục sàn chuồng luôn giữ khô ráo Khi can thiệp bằng tay, cho các trường hợp đẻ khó, kỹ thuật viên cần tuân thủ đầy đủ các quy trình vệ sinh, sát trùng và dụng cụ sản khoa đảm bảo các thủ thuật không gây nhiễm bẩn vào đường sinh dục của lợn nái
Trong phòng bệnh sinh sản ở lợn nái có thể sử dụng kháng sinh có tác dụng kéo dài để tiêm vài ngày trước khi lợn đẻ, việc dùng kháng sinh trong phòng và điều trị lợn nái cần phải căn cứ vào kết quả kiểm tra kháng sinh đồ
để có thể lựa chọn được những loại có độ mẫn cảm cao
Ngoài việc vệ sinh chuồng trại và dùng kháng sinh bổ sung, người ta còn tìm cách kích thích cho lợn nái vận động, đứng dậy ngay sau khi đẻ, không để lợn nái nằm nhiều Vận động với lợn nái chửa có tác dụng rất tốt trong việc phòng đẻ khó và sót nhau
Việc thụt rửa đường sinh dục của lợn nái để đề phòng và điều trị viêm nhiễm là một thủ thuật cần được làm một cách thận trọng Ngoài việc lựa
Trang 37chọn dung dịch đúng cần biết cách pha đúng tỷ lệ, khi pha nồng độ cao các chất thụt rửa có thể gây kích thích và tổn thương niêm mạc đường sinh dục và như vậy có thể làm nặng thêm diễn biến bệnh Các chất thông dụng hiện nay
là Biocid, Pemanganat Kali… Sau khi thụt rửa xong cần tiêm một 1 liều 10 -
20 UI Oxytoxin nhằm làm tử cung co bóp tốt hơn để đẩy hết chất bẩn trong tử cung ra ngoài
Theo Lê Hồng Mận (2006) [12], để phòng bệnh thì chuồng trại phải luôn khô ráo sạch sẽ, 7 - 10 ngày trước khi lợn đẻ phải sát trùng kỹ chuồng, thiết bị dụng cụ Lợn nái sắp đẻ phải được tắm rửa, sát trùng toàn bộ bầu vú,
bộ phận sinh dục Khi lợn đẻ xong bơm rửa tử cung bằng nước muối sinh lý 0,9% hoặc thuốc tím 0,1% rồi bơm hoặc đặt vào tử cung kháng sinh: Penicillin 2 - 3 triệu UI hoặc Tetracylin, Sulphamid 2 - 5g, Clorazol 4 - 6 viên
để chống viêm nhiễm
Trương Lăng và cs (2003) [9], cho biết: Trước khi lợn đẻ cần tắm, lau sạch cho lợn nái, đẻ xong rửa sạch bằng nước ấm hai chân sau, hai hàng vú và những nơi bẩn, bấm nanh cho lợn con, cố định đầu vú và trực cho lợn con bú sữa đầu càng sớm càng tốt Giảm bớt chất lượng đạm và số lượng khẩu phần thức ăn trước khi đẻ một ngày và sau khi đẻ vài ba ngày
2.1.5 Thành phần hóa học và cơ chế tác dụng của thuốc sử dụng chữa bệnh
Vetrimoxin L.A (Lọ 100ml)
- Thành phần: trong 100ml Vetrimoxin L.A có 15gam Amoxycillin
- Cơ chế tác dụng: Amoxycillin hoạt động bằng cách ngăn cản sự tổng hợp mucopeptide trên thành tế bào vi khuẩn
Amoxycillin có hiệu lực diệt khuẩn thay đổi theo thời gian trên các vi
khuẩn Gram (+) như: Staphylococci, Streptococci, Corynebacteria và vi khuẩn Gram (-) như: E coli, Samonella, Pasteurella…