Giáo trình viết: “Những cải cách của Khúc Hạo đã tạo điều kiện cho chính quyền trung ương có khả năng kiểm soát một cách trực tiếp các địa phương trong nước, góp phần quan trọng củng cố
Trang 1(LƯU HÀNH NỘI BỘ)
Quảng Bình – 01/2016
Trang 22
NỘI DUNG HỌC PHẦN 1.1 Hướng dẫn học tập và bài tập
1.1.1 Phương pháp học tập
Trên cơ sở năm được kiến thức cơ bản sinh viên biết so sánh với lịch sử thế giới trong cùng thời kỳ (so sánh đồng đại) để nắm được bản chất của các sự kiện, hiện tượng nhân vật lịch sử, thấy được mối liên hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữ chúng, rút ra quy luật, bài học lịch sử Bên cạnh việc đọc giáo trình, nghe giảng sinh viên phải chủ động đọc thêm nhiều tài liệu tham khảo rèn luyện các kỹ năng tư duy như suy luận lôgich, nhận xét đánh giá, so sánh để tìm ra sự tiến bộ, phát triển kết hợp rèn luyện các kỹ năng thực hành bộ môn như: sử dụng bản đồ, lược đồ, lập niên biểu vẽ sơ đồ, sử dụng các đồ dùng trực quan, thiết bị dạy học
1.1.2 Tài liệu học tập và tham khảo
+ Tài liệu học tập: Trương Hữu Quýnh - Nguyễn Cảnh Minh (1999), Lịch sử Việt
Nam từ nguồn gốc đến 1858, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
+ Tài liệu tham khảo:
[1] Dự án đào tạo giáo viên THCS, (2003), Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến 1858,
NXB Đại học Sư phạm
[2] Nhiều tác giả; (1998), Đại cương lịch sử Việt Nam , tập 1, NXB Giáo dục, H N
[3] Nguyễn Quang Ngọc (cb), (2001), Tiến trình lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục, HN [4] UBKHXH, (1976), Lịch sử Việt Nam, tập 1, NXB Khoa học Xã hội
[5] Trần Bá Đệ (cb), (2002), Một số chuyên đề lịch sử việt Nam, NXB ĐH Quốc gia
Trang 33
CHƯƠNG 1 BƯỚC ĐẦU XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ QUỐC GIA PHONG KIẾN
ĐỘC LẬP TỰ CHỦ - NƯỚC ĐẠI CỒ VIỆT (THẾ KỶ X)
1.1 Bước đầu xây dựng và bảo vệ nền tự chủ của đất nước 1.1.1 Họ Khúc dựng nền tự chủ
Năm 905, Khúc Thừa Dụ khôi phục được quyền tự chủ xưng là Tiết độ sứ Năm
906, nhà Đường buộc phải thừa nhận và phong cho Khúc Thừa Dụ làm Tỉnh hải Tiết độ
sứ Đồng binh chương sự có quyền nắm cả việc quân sự, chính trị, kinh tế, tài chính Tuy
dưới danh nghĩa là một chức quan của nhà Đường nhưng trên thực tế Khúc Thừa Dụ đã
bắt tay xây dựng một nhà nước tự chủ
Năm 907 Khúc Thừa Dụ mất con trai ông là Khúc Hạo lên thay, tiếp tục xưng là
Tiết độ sứ Nhà Hậu Lương (đã thay thế nhà Đường) cũng phải thừa nhận Khúc Hạo là
“An Nam Đô hộ sung Tiết độ sứ”
Tuy đất nước đã khôi phục được quyền tự chủ song hậu quả mà hơn 1000 năm đô
hộ của phong kiến phương Bắc để lại hết sức nặng nề Nguy cơ ngoại xâm đe dọa nền
độc lập tự chủ từ phương Bắc vẫn là vấn đề thường trực Mặt khác để tạo cơ sở vững
chắc cho chính quyền tự chủ thì yêu cầu cấp thiết của lịch sử lúc này là phải tiến hành
công cuộc cải cách đất nước Nhận thức được yêu cầu thực tế đó, Khúc Hạo đã tiến hành
cuộc cải cách đầu tiên trong lịch sử nước ta
a Cải cách hành chính
Trước hết Khúc Hạo bãi bỏ bộ máy hành chính đô hộ cũ của nhà Đường, chia lại
đơn vị hành chính Hệ thống hành chính cấp quận huyện được thay thế bằng các đơn vị
lộ, phủ, châu; các hương bên dưới được tổ chức lại và đổi gọi là Giáp Mặt khác ông còn
đặt thêm những giáp mới, tổng cộng có 314 giáp (nhà Đường chia làm 159 hương) Ở các
giáp Khúc Hạo đặt các chức chánh, tá lệnh trưởng và giáp trưởng trông coi nhằm tăng
cường sự quản lý trực tiếp của chính quyền trung ương đối với các đơn vị hành chính cơ
sở, đồng thời xác lập quyền tự chủ của đất nước Mặt khác Khúc Hạo còn cho lập sổ hộ
khẩu, bắt dân đinh phải “kê rõ họ tên, quê quán” giao cho giáp trưởng coi giữ
b Cải cách kinh tế
Chính sách tô thuế cống nạp mà nhà Đường đặt ra đối với nhân dân ta rất nặng nề
Do đó Khúc Hạo đã bãi bỏ và ban hành chính sách mới Theo sách “Khâm định Việt sử
thông giám Cương mục” ghi chép về nội dung chính sách cải cách đó như sau: “Bình
quân thuế ruộng tha bỏ lực dịch…” 1
Cải cách về kinh tế của Khúc Hạo “đã xoá bỏ được chế độ bóc lột nặng nề của
Trang 44
chính quyền đô hộ nhà Đường, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân lúc bấy giờ Do
đó, có tác dụng tích cực củng cố mối quan hệ gắn bó giữa nhà nước với nhân dân Một nhân tố quan trọng trong công cuộc xây dựng và vảo vệ nhà nước, quốc gia độc lập, tự chủ non trẻ vừa mới thành lập…” 2
Đánh giá ý nghĩa tác dụng cải cách của Khúc Hạo Giáo trình viết: “Những cải cách của Khúc Hạo đã tạo điều kiện cho chính quyền trung ương có khả năng kiểm soát một cách trực tiếp các địa phương trong nước, góp phần quan trọng củng cố sự thống nhất lãnh thổ, bước đầu xoá bỏ chế độ áp bức bóc lột của chính quyền đô hộ, giúp cho nhân dân ta có điều kiện ổn định cuộc sống, tích cực tham gia lao động sản xuất, xây dựng nước nhà”
Mặc dù có những hạn chế nhất định nhưng cải cách của Khúc Hạo đã thể hiện rõ tinh thần của một quốc gia độc lập, có quyền tự chủ Nó mở ra một thời kỳ phát triển mới của xã hội Việt Nam mà các triều đại sau đó sẽ kế tục.
1.1.2 Cuộc kháng chiến của Dương Đình Nghệ, nền tự chủ được khôi phục
Mặc dù đã phong cho Khúc Hạo làm Tiết độ sứ song nhà Hậu Lương vẫn không
từ bỏ tham vọng khôi phục lại ách đô hộ ở Âu Lạc cũ
Năm 908, nhà Hậu Lương phong cho Lưu Ẩn là Tiết độ sứ ở Quảng Châu làm Nam bình vương kiêm Tỉnh Hải Quân tiết độ sứ An Nam đô hộ với ý đồ buộc nước ta phụ thuộc vào chính quyền họ Lưu
Năm 911 Lưu Ẩn chết, em là Lưu Nham (3) lên thay Năm 917, Lưu Nham tự xưng là Hoàng đế đặt quốc hiệu cho đất Quảng Châu mà y cai quản là nước Nam Hán Đây là một trong 10 nước cát cứ thời “Ngũ đại thập quốc” ở Trung Hoa
Sau khi đánh bại cuộc tấn công của nước Sở, ổn định phía Bắc, Lưu Nham bắt đầu thực hiện âm mưu bành trướng xuống phía Nam mà mục tiêu đầu tiên là nước ta Năm
930, viện cớ Khúc Thừa Mỹ thần phục nhà Hậu Lương có ý chống Nam Hán, Lưu Nham sai Lý Thủ Dung và Lương Khắc Trinh đem quân xâm lược nước ta Do thiếu chuẩn bị lại chênh lệch lực lượng bởi quân xâm lược mạnh hơn nên Khúc Thừa Mỹ không chống nổi quân Nam Hán Tháng 10 năm 930, thành Đại La bị địch chiếm, Khúc Thừa Mỹ bị quân Nam Hán bắt đem về Quảng Châu, nước ta lại rơi vào tay nhà Nam Hán Nhà Nam Hán cử Lý Tiến sang làm Thứ sử Giao Châu Tuy nhiên chính quyền ngoại bang chỉ kiểm soát được thành Đại La và vùng phụ cận trung tâm Ở các nơi xa, các đơn vị hương giáp,
xã vẫn nằm ngoài vòng kiểm soát của chúng Nhân dân ta với ý thức độc lập tự chủ lại tập hợp dưới ngọn cờ của Dương Đình Nghệ
Trang 55
Năm 931, Dương Đình Nghệ (là tướng cũ của Khúc Hạo) vốn là Hào trưởng, quê
ở làng Ràng (Dương Xá, Thiệu Hoá, Thanh Hoá) có thế lực mạnh ở châu Ái (Thanh Hoá) sau một thời gian chuẩn bị lực lượng đã tiến quân ra Giao châu bao vây và tiến công thành Đại La Vua Nam Hán vội vã sai Trình Bảo đem quân sang cứu viện Viện quân địch chưa tới kịp thì Dương Đình Nghệ đã hạ được thành Đại La Tướng giặc là Lương Khắc Trinh bị giết Thứ sứ Lý Tiến chạy thoát về nước
Sau khi tạm ổn định tình hình trong thành, Dương Đình Nghệ mang quân ra ngoài đón đánh quân Trình Bảo Quân giặc rối loạn tan vỡ, tướng Trình Bảo bị giết
Kháng chiến thắng lợi, quyền tự chủ của đất nước được khôi phục, Dương Đình Nghệ vẫn tự xưng là Tiết độ sứ, phong thưởng cho những người có công Đinh Công Trứ được phong làm thứ sử châu Hoan, Ngô Quyền được phong làm thứ sử châu Ái, Ngô Mân làm thứ sử châu Đường Lâm…
Năm 937, Kiều Công Tiễn, một nha tướng của Dương Đình Nghệ giết chủ để đoạt quyền Tiết độ sứ, nhân dân cũng như nhiều tướng lĩnh hết sức bất bình Vua Nam Hán lại nhân cơ hội đó xua quân xâm lược nước ta Người lĩnh sứ mạng lãnh đạo cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập, tự chủ của dân tộc chính là Ngô Quyền
1.1.3 Cuộc kháng chiến của Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938
a) Ngô Quyền diệt Kiều Công Tiễn và chuẩn bị KC chống quân Nam Hán
Ngô Quyền là con thứ của Ngô Mân và là con rễ của Dương Đình Nghệ, ông đã từng theo Dương Đình Nghệ đánh đuổi quân Nam Hán năm 931 Sau thắng lợi, Ngô Quyền được Dương Đình Nghệ phong làm thứ sử châu Ái Ngô Quyền vốn có sức khoẻ hơn người, có tài trị nước nên rất được quân sĩ và nhân dân quý mến
Nghe tin Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ cướp chính quyền, Ngô Quyền
đã tập hợp lực lượng đưa quân từ châu Ái ra Bắc, tiến công Đại La để diệt trừ Kiều Công Tiễn Trước thế mạnh của lực lượng Ngô Quyền, Kiều Công Tiễn sợ hãi sai người sang cầu cứu vua Nam Hán Chớp cơ hội, vua Nam Hán đã phong cho con trai là Thái tử Hoằng Tháo làm Tĩnh hải Tiết độ sứ, (sau đó đổi làm Giao vương với ý đồ lấy đất Giao Châu phong ấp cho Hoằng Tháo) chỉ huy một đạo binh thuyền lớn sang xâm lược nước
ta Vua Nam Hán là Lưu Cung cũng tự làm tướng đem hậu quân đóng ở Hải Môn, sát biên giới nước ta để làm thanh viện cho Hoằng Tháo
Mùa đông năm 938 Ngô Quyền đã cùng quân sĩ tiêu diệt Kiều Công Tiễn trước khi quân Nam Hán tiến vào nước ta Mối hoạ bên trong đã được loại bỏ, Ngô Quyền cùng quân sĩ gấp rút chiẩn bị cho cuộc kháng chiến Được biết quân Nam Hán do Hoằng Tháo chỉ huy sẽ kéo vào xâm lược nước ta qua cửa sông Bạch Đằng Ngô Quyền đã tuyên bố
Trang 66
“… Bọn chúng có lợi ở chiến thuyền, ta không phòng bị thì thế được thua chưa biết ra sao Nếu ta sai người đem cọc lớn vạt nhọn đầu bịt sắt đóng ngầm ở trước cửa biển, thuyền của bọn chúng theo nước biển lên vào trong cọc thì sau đó ta dễ bề chế ngự, không cho chiếc nào ra thoát” Kế hoạch của Ngô Quyền vạch ra được mọi người nhất
trí tán thành và hăng hái triển khai Theo tinh thần đó quân sĩ và nhân dân ngày đêm đằn
gỗ đẽo cọc, rèn sắt làm mũi nhọn bịt ở đầu cọc Ngô Quyền chọn vùng hạ lưu cửa biển Bạch Đằng làm vùng trận địa quyết chiến với giặc Với quyết tâm tiêu diệt quân giặc, Ngô Quyền đã huy động một lực lượng chiến đấu lớn với nhiều tướng giỏi như: Đinh Công Trứ, Ngô Xương ngập, Dương Tam Kha, Đỗ Cảnh Thạc (hào trưởng Đỗ Động), nữ tướng Dương Phương Lan (vợ Ngô Quyền)
b Chiến thắng Bạch Đằng
Sau khi Ngô Quyền bố trí xong trận địa thì cũng vừa lúc quân Nam Hán do Hoằng Tháo chỉ huy đến ngoài cửa sông Bạch Đằng Ngô Quyền cử Ngô Tất Tố chỉ huy một đội binh thuyền nhẹ tiến ra chặn địch Khi nước triều lên ngập trận địa cọc, Ngô Tất Tố giả
vờ thua rút chạy nhữ quân giặc đuổi theo, thuyền địch tiến sâu vào trong bãi cọc đúng trận địa mà Ngô Quyền và các tướng lĩnh đã dự kiến Quân ta vừa đánh vừa rút lui chờ cho nước triều xuống thì phối hợp tấn công quyết liệt vào binh thuyền giặc Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Ngô Quyền; đại quân ta từ 3 phía, đánh chặn đầu kết hợp với quân thuỷ
bộ mai phục hai bên bờ sông đánh vào binh thuyền giặc Quân Nam Hán bị đánh bất ngờ không kịp chống đỡ, phải quay thuyền đua nhau tháo chạy ra biển Đúng lúc nước thuỷ triều rút, trận địa cọc gỗ của ta nhô lên đâm thủng thuyền giặc Số lớn thuyền giặc bị cọc bịt đầu sắt đâm thủng, một số va vào nhau mà chìm đắm Hàng vạn quân giặc trong đó có chủ tướng là Hoằng Tháo bị tử trận Trận chiến diễn ra trong một ngày đã kết thúc, quân của Hoằng Tháo bị quân ta tiêu diệt gọn Đội quân Nam Hán do Lưu Cung chỉ huy vừa mới đến sát biên giới nước ta nghe tin quân Hoằng Tháo đại bại cũng tan vỡ Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nam Hán của quân và dân ta kết thúc thắng lợi vẻ vang Tham vọng trở lại đô hộ nước ta của vua Nam Hán sụp đỗ hoàn toàn
c Ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Bạch Đằng năm 938
Chiến thắng Bạch Đằng đã bảo vệ và củng cố vững chắc nền độc lập tự chủ của dân tộc ý chỉ xâm lược của bọn phong kiến phương Bắc bị bẻ gãy Chiến thắng Bạch Đằng
đã ghi vào lịch sử nước ta một “vũ công cao cả vang dội đến nghìn thu” của cha ông Chiến thắng Bạch Đằng chính là thành quả của hơn 30 năm làm chủ đất nước của nhân dân ta Chiến thắng này còn thể hiện tài năng quân sự lỗi lạc và ý chí quyết chiến quyết thắng của người anh hùng dân tộc - Ngô Quyền Nó còn để lại nhiều bài học kinh
Trang 77
nghiệm, bổ ích về đường lối chiến lược, chiến thuật đầy mưu trí, sáng tạo cho các cuộc
kháng chiến ở các giai đoạn sau
1.2 Các triều đại Ngô, Đinh và Tiền Lê củng cố độc lập và xây dựng
đất nước
1.2.1 Ngô Quyền xưng vương và thành lập nhà nước
Sau chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền bỏ bộ máy cai trị cũ của họ Khúc, lên
ngôi vua lập ra triều đình nhà Ngô Vua đứng đầu trông coi mọi việc về chính trị, quân
sự, ngoại giao Dưới vua có 2 ban văn, võ Ở địa phương, Ngô Quyền cử các tướng trông
coi các châu quan trọng: Đinh Công Trứ làm thứ sử châu Hoan; Kiều Công Hãn làm Thứ
sử Phong Châu… Ngô Quyền chọn thành Đại La làm kinh đô Tài năng và uy tín cá nhân
đã giúp Ngô Quyền duy trì được một chính quyền quân chủ tập trung, mặc dù vẫn tồn tại
nhiều thế lực của các hào trưởng địa phương có xu hướng cát cứ
Sau 5 năm cai trị, Ngô Quyền mất (944) các con của Ngô Quyền là Ngô Xương
Ngập (con trưởng) và Ngô Xương Văn không đủ uy tín và sức mạnh để duy trì chính
quyền quân chủ tập trung Dương Tam Kha (em vợ Ngô Quyền) đã cướp ngôi vua, tự
xưng là Bình vương Ngô Xương Ngập phải trốn khỏi kinh thành đến nương nhờ tại nhà
Phạm Lệnh Công ở Trà Hương (Nam Sách, Hải Dương) Dương Tam Kha nhiều lần sai
người đi đánh mà không bắt được Ngô Xương Ngập Chính việc làm của Dương Tam
Kha đã đẩy các dòng họ đến mâu thuẫn và khiến lòng người ly tán, dẫn tới tình trạng đất
nước loạn lạc
Năm 950, Ngô Xương Văn - con thứ của Ngô Quyền đã cùng các tướng Đỗ Cảnh
Thạch và Dương Cát Lợi sau khi đi đánh dẹp cuộc nổi dậy của 2 thôn Đường, Nguyễn ở
Ba Vì đã quay về Cổ Loa lật đỗ Dương Tam Kha giành lại chính quyền Xương Văn
xưng là Nam Tấn vương cho đón anh là Ngô Xương Ngập tức Thiên Sách vương về cùng
coi việc nước Thiên Sách vương thâu tóm quyền hành đã làm nội bộ nhà Ngô bất hoà
Năm 954 Ngô Xưng Ngập chết, Nam Tấn vương Xương Văn một mình cầm quyền đã sai
sứ sang xin thần phục chúa Nam Hán nhận chức Tinh hải quân Tiết độ sứ kiêm Đô hộ
Mâu thuẫn nội bộ cùng thái độ bạc nhược của Ngô Xương Văn lúc này đã tạo điều
kiện cho các thổ hào địa phương nổi dậy Sau khi Xương Văn chết (965) đất nước rơi vào
thế hỗn loạn, các Hào trưởng chiếm lĩnh các địa phương, sử gọi là loại 12 sứ quân
- Phú Thọ có các sứ quân: Kiều Công Hãn, Nguyễn Khoan
- Hà Nội có Nguyễn Siêu
- Hà Tây có Ngô Nhật Khánh, Kiều Thuận, Đỗ Cảnh Thạc
- Bắc Ninh có Lý Khuê, Nguyễn Thủ Tiệp
Trang 88
- Hưng Yên có Lữ Đường, Phạm Bạch Hỗ
- Thái Bình có Trần Lãm (sau liên kết với Đinh Bộ Lĩnh)
- Thanh Hoá có Ngô Xương Xí (con Ngô Xương Ngập)
Cùng thời gian này (năm 960) ở Trung Quốc nhà Tống thành lập, chấm dứt thời Ngũ đại thập quốc và bắt đầu mở rộng thế lực xuống phía Nam
- Nguy cơ ngoại xâm lại đe dọa vận mệnh dân tộc, mặt khác cuộc chiến tranh tương tàn giữa các sứ quân gây nhiều đau khổ tang tóc cho nhân dân Do đó yêu cầu lúc này là phải nhanh chóng loại trừ các thế lực cát cứ củng cố sự thống nhất quốc gia để đối phó với nguy cơ ngoại xâm trở nên hết sức cấp bách đối với lịch sử dân tộc Đinh Hoàn (tức Đinh Bộ Lĩnh) đã xuất hiện gánh vác sứ mệnh lịch sử, dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước củng cố nền độc lập tự chủ
1.2.2 Đinh Hoàn dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước
Đinh Hoàn là con trai của Đinh Công Trứ người làng Đại Hoàng (nay là xã Gia
Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình) Sau khi Đinh Công Trứ mất, Đinh Hoàn cùng
mẹ là Đàm Thị đem theo gia nhân về quê nhà Đinh Hoàn là người có ý chí lại có tài tập hợp và lãnh đạo quần chúng Thấy cảnh đất nước rối loạn, ông được sự ủng hộ của nhân dân và bạn bè đã tổ chức lực lượng chiếm giữ miền Hoa Lư Sau một thời gian cố thủ ở Hoa Lư (từ 951 - 965) Đinh Hoàn đã liên kết với sứ quân Trần Lãm tạo nên một thế lực hùng mạnh Ông còn tập hợp dưới trướng của mình những tướng lĩnh tài ba như: Lê Hoàn, Nguyễn Bặc, Phạm Cự Lạng, Phạm Hạp, Trịnh Tú, Đinh Điền
Đinh Bộ Lĩnh đã liên kết hàng phục được các sứ quân Trần Lãm, Phạm Bạch Hổ,
Đỗ Cảnh Thạc, Nguyễn Siêu, Kiều Công Hãn, Nguyễn Thủ Tiệp, Kiều Thuận, Lý Khuê Sau 2 năm dẹp loạn, Đinh Bộ Lĩnh thu phục được các sứ quân và thống nhất đất nước
1.2.3 Nước Đại Cồ Việt thời Đinh - Tiền Lê (968- 1009)
1.2.3.1 Tình hình chính trị
Năm 968 sau khi thống nhất đất nước Đinh Hoàn lên ngôi Hoàng đế tức Đinh Tiên Hoàng, đặt quốc hiệu nước ta là Đại Cồ Việt, chọn Hoa Lư làm kinh đô Năm 970 ông bỏ không dùng niên hiệu Trung Quốc tự đặt niên hiệu là Thái Bình và sai sứ sang giao hảo với nhà Tống, việc làm này thể hiện lòng tự tôn dân tộc chứng tỏ sự lớn mạnh của quốc gia sánh vai với phong kiến trung Hoa
a Tổ chức bộ máy nhà nước
Nhà nước từ thời Ngô đến Đinh- Tiền Lê đều được tổ chức theo thể chế quân chủ tập quyền, tuy nhiên nó vẫn còn sơ sài và mang tính quân sự vì từ Ngô Quyền, Đinh Hoàn, đến Lê Hoàn đều xuất thân từ những tướng lĩnh quen trận mạc là tổng chỉ huy tối
Trang 99
cao quân đội nắm mọi quyền bính Năm 978, Đinh Tiên Hoàng lập con nhỏ là Hạng Lang làm Thái tử, phong con thứ Đinh Toàn làm vệ vương Đinh Liễn (con cả) có nhiều đóng góp trong quá trình thống nhất đất nước chỉ được phong là Nam Việt vương Đội ngũ quan lại trong triều gồm 3 bộ phận:
- Ban võ do Lê Hoàn giữ chức Thập đạo tướng quân đứng đầu
- Ban văn do Định quốc công Nguyễn Bặc đứng đầu
- Tăng sư do Tăng thống Ngô Châu Lưu - Khuông Việt Đại sư đứng đầu
Ngoài ra còn có các chức như: Hồng Hiến làm Thái sư; Lưu Cơ giữ chức Đô hộ phủ sĩ sư coi việc hình án, Trịnh Tú làm Sử quan
Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị viên quan hầu là Đỗ Thích giết hại Đinh Toàn mới 6 tuổi, lên nối ngôi Thập đạo tướng quân Lê Hoàn được cữ làm phụ chính Các tướng lĩnh trong triều chia thành phe phái đánh nhau Vì nghi ngờ Lê Hoàn có
ý định cướp ngôi, các tướng cũ của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp đưa quân về kinh định giết Lê Hoàn Kết quả giao chiến các tướng Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp đều bị Lê Hoàn giết chết
Nhân cơ hội đó nhà Tống ở phương Bắc lại lăm le xâm lược nước ta Năm 980, trước sự đe doạ của nhà Tống, được sự suy tôn của Dương Thái hậu và theo đề nghị của Phạm Cự Lạng, Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế Nhà Lê được thành lập (sử cũ thường gọi là nhà Triều Lê), Lê Hoàn đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chống Tống xâm lược năm 981 thắng lợi
Dưới thời Lê Hoàn tổ chức bộ máy nhà nước thời Đinh tiếp tục được giữ nguyên, Hoa Lư vẫn được chọn làm kinh đô
Kinh đô Hoa Lư thời Đinh - Tiền Lê được xây dựng khá đàng hoàng “Hoa Lư là một vùng đất hẹp xung quanh có nhiều đồi núi Nhà Đinh cho xây tường thành nối các đồi thành khu vực: thành nội và thành ngoại Trong thành có cung điện của nhà vua và nhiều nhà ở của các quan lại, binh sĩ; có chùa Nhất Trụ, tháp Báo Thiên… nhà cửa các cột dưới dát vàng, bạc”
Chính quyền trung ương thời Tiền Lê vẫn gồm 3 bộ phận: Văn, Võ, Tăng quan và Đạo sĩ giúp vua trị nước Năm 982, Lê Hoàn phong Dương Thái hậu làm Đại thắng minh hoàng hậu cùng 4 hoàng hậu khác Những người có công phò tá nhà vua lên ngôi và chống ngoại xâm đều được Lê Hoàn phong thưởng Phạm Cự Lạng, Hồng Hiếu được trao chức Thái uý Từ Mục được ban tước hầu giữ chức Tổng quản coi việc quân dân (vai trò giống Tể tướng) Ngoài ra trong triều còn có các chức Đô hộ phủ sĩ sư, Tả hữu Điện tiền chỉ huy sứ, Chi hậu…
Trang 1010
Tăng quan có các chức: Đại sư (Ngô Chân Lưu), Tăng lục (Trương Ma Ni) Sùng chân uy nghi (Đặng Huyền Quang)… Họ giữ vai trò tham mưu giúp vua trị nước vừa là người cùng vua bàn kế đánh giặc và giao tiếp sứ giả khi cần
Hệ thống hành chính và chính quyền địa phương thời Đinh - Tiền Lê được tổ chức đầy đủ Thời Đinh cả nước chia làm 10 đạo Lê Hoàn đổi đạo thành lộ, dưới lộ có phủ, châu, giáp - xã Các lộ, châu đều có Quản giáp, Thứ sử, Trấn tướng trông coi… Hầu hết quan lại đều là võ tướng Để bảo vệ quyền lực dòng họ thời Tiền Lê, vua cử các hoàng tử đi trấn trị các nơi và phong tước vương cho họ Các vương triều Đinh - Tiền Lê đều chú trọng xây dựng quân đội mạnh
Nhận xét: Nhà nước Đinh - Tiền Lê tuy còn rất đơn giản, chưa có quy cũ rõ ràng, còn mang nặng tính chất quân sự song cũng đã là một nhà nước Quân chủ trung ương tập quyền, đặt cơ sở cho chế độ Quân chủ chuyên chế sau này
d Ngoại giao
+ Đối với Trung Quốc
Thời Đinh, sau khi thống nhất đất nước, năm 970 Đinh Tiên Hoàng sai sứ sang giao hảo với nhà Tống Năm 973 vua Tống phong Đinh Tiên Hoàng là Giao Chỉ Quận vương và phong cho Đinh Liễn làm Tỉnh hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ Năm 975 vua Tống lại sai sứ sang phong cho Đinh LIễn làm Giao Chỉ Quận vương Quan hệ giữa hai triều Đinh và Tống hoà hiếu tốt đẹp trong nhiều năm Nhưng từ năm 979 nhân triều Đinh lâm vào cảnh rối loạn, nhà Tống biết được tình hình nước ta nên đã theo đề nghị của viên Tri châu Ung là Hầu Nhân Bảo xua quân sang xâm lược nước ta Năm 981 cuộc xâm lược của nhà Tống bị quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Lê Hoàn đánh bại Quan
hệ Đại Cồ Việt - Tống căng thẳng một thời gian ngắn Năm 982 Lê Hoàn chủ động cho
sứ giả sang Trung Quốc đặt lại quan hệ hoà hiếu Năm 983 nhà Tống cho sứ sang giao hảo và phong tước cho Lê Hoàn Năm 986 nhà Tống cử sứ bộ sang phong cho Lê Hoàn chức Khu tứ quang lộc đại phu kiêm hiệu Thái uý An Nam Đô hộ Tỉnh hải quân Tiết độ
Trang 1111
sứ Để tỏ thiện ý, Lê Hoàn đã trao trả cho nhà Tống hai viên tướng là Quách Quân Biện
và Triệu Phụng Huân bị bắt trong cuộc xâm lược trước đó Từ đó quan hệ bang giao giữa Đại Cồ Việt với nhà Tống nhìn chung tốt đẹp Lê Hoàn thi hành chính sách đối ngoại mềm dẻo mà kiên quyệt nhằm nâng cao vị thế của đất nước Năm 988 nhà Tống phong cho Lê Hoàn tước “Khai quốc công” Năm 990, vua Tống lại sai sứ sang phong cho Lê Hoàn hai chữ “Đặc tiến” Nhà vua cho bày quân thuỷ, chiến cụ ra khoe, gióng trống, hò reo ra ngoài thành đón sứ giả Nhà vua nhận chiếu đặt lên điện không lạy mà lấy cớ là đau chân do ngã ngựa khi đi đánh giặc Man Trong bữa tiệc thiết đãi sứ giả Tống Cảo, Lê Hoàn nói: “Sau này nếu có quốc thư thì nên giao nhận ở đầu địa giới, khỏi phiền sứ giả đến kinh đô” Trong quan hệ với nhà Tống, Lê Hoàn nhiều lần tỏ thái độ bình đẳng, song các vua Tống lẫn sứ giả đều rất nể trọng Lê Hoàn Sử sách nhà Tống gọi Lê Hoàn là người “Vác núi, lấp biển” Có lần vua Tống cho sứ sang phàn nàn việc quân Đại Cồ Việt
sang cướp phá ở trấn Như Hồng thì Lê Hoàn nói đại ý là: “Việc trấn Như Hồng bị cướp
phá, hẵn vua Tống biết không phải là quân của Đại Cồ Việt Bởi vì nếu Đại Cồ Việt mà
có ý làm phản thì không chỉ đánh vào trấn Như Hồng mà còn đánh vào tới Trung Nguyên”
Năm 993, nhà Tống lại sai sứ sang phong Lê Hoàn làm Giao Chỉ quận vương, năm 997, lại gia phong cho Lê Hoàn là “Nam Bình vương”
Sau khi Lê Hoàn mất, các con tranh chấp ngôi vua nội bộ lục đục Các viên quan địa phương của Trung Quốc dò biết dâng sớ xin đem quân xâm lược Đại Cồ Việt đều bị vua Tống khước từ Lê Long Đỉnh nối ngôi vẫn được nhà Tống phong làm Giao chỉ quận vương và đúc ấn ban cho
+ Đối với Chăm pa ở phía Nam
Quan hệ giữa Đại Cồ Việt với Chăm pa nhìn chung khá căng thẳng, mặc dù các triều đại Đinh - Tiền Lê đều có thiện ý trong quan hệ Do vua Chăm thần phục nhà Tống nên đeo đuổi chính sách thù địch với Đại Cồ Việt
Năm 979 nhân hai cha con vua Đinh bị sát hại, quân Chăm theo sự dẫn đường của tên bán nước Ngô Nhật Khánh với gần hơn 1000 chiếc thuyền chiến chia làm 2 mũi vượt biển định tiến vào Hoa Lư song chẳng may gặp bão, thuyền lật, quân lính bị chết đuối, trong đó có cả Ngô Nhật Khánh, cuộc tấn công xâm lược không thành
Sau khi kháng chiến chống Tống thắng lợi năm 981, Lê Hoàn đã sai sứ sang Chămpa đặt quan hệ hoà hiếu song bị Chămpa khước từ, bắt giam sứ giả Trước hành động ngang ngược đó của vua Chăm, năm 982, Lê Hoàn tự làm tướng đem quân trừng phạt Chămpa Quân đội nhà Tiền Lê đánh vào đất Chămpa, quân Chăm đại bại, Lê Hoàn
Trang 1212
chiếm kinh đô cho quân san phẳng kinh thành thu nhiều của cải, bắt cung nữ, kỹ nữ cùng nhiều tù binh Sau khi đại bại, Chămpa phải thần phục và triều cống Đại Cồ Việt Tuy nhiên, mỗi khi nội tình Đại Cồ Việt lục đục, suy yếu thì Chămpa lại phái quân sang xâm lấn Mặt khác Chămpa còn dựa vào uy thế của nhà Tống để gây sự với Đại Cồ Việt khi
Nhà Tiền Lê cũng thi hành chính sách trọng nông, chăm lo phát triển nông nghiệp Hàng năm vua Lê thường đi cày ruộng Tịch điền để khuyến khích nhân dân sản xuất Mặt khác, nhà nước cũng cho đào nhiều kênh ngòi để lấy nước tưới ruộng (năm 1003 Lê Hoàn cho quân dân nạo vét kênh Đa Cái ở Nghệ An)
Về ruộng đất: Nhà vua nắm quyền sở hữu tối cao về ruộng đất trên cả nước Các vua Đinh Tiền Lê đã tiến hành phong cấp đất đai cho các hoàng tử, quý tộc và quan lại Nhà Đinh phong cho Trần Lãm thực ấp ở Sơn Nam Lạc Đạo; phong cho hào trưởng
Lê Lương thái ấp ở châu Ái Nhà Tiền Lê củng phong đất cho các hoàng tử,
giao cho họ quyền cai quản và thu thế địa phương mà họ trấn trị
Nhờ sự chăm lo của nhà nước và tinh thần lao động cần cù sáng tạo của nhân dân nên nền kinh tế dần dần được phục hồi và phát triển, nhiều năm được mùa, đời sống nhân dân ổn định
b Thủ công và thương nghiệp
- Thủ công nghiệp
Thời Đinh- Tiền Lê tiếp tục phát triển trên cơ sở các ngành nghề thủ công truyền thống Thủ công nghiệp gồm 2 bộ phận: thủ công nghiệp nhà nước và thủ công nghiệp nhân dân
Nhà Đinh - Tiền Lê đã cho xây dựng một số Quan xưởng(xưởng thủ công của nhà nước) để đúc tiền, làm đồ dùng cho vua quan, chế tạo vũ khí và xây dựng cung điện nhà cửa, chùa chiền…
Các nghề thủ công dân gian cổ truyền như: kéo tơ, dệt lụa, làm gốm, rèn sắt, đúc đồng, làm giấy, phát triển nghề đóng thuyền, làm đồ vàng bạc xuất hiện nhiều nơi với trình độ kỹ thuật ngày càng cao
- Thương nghiệp: Nông nghiệp, thủ công nghiệp phát triển đã thúc đẩy các hoạt
Trang 1313
động thương nghiệp trở nên nhộn nhịp
Tiền tệ ra đời đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc buôn bán, trao đổi trong nước
và với nước ngoài Nhà Đinh cho đúc tiền “Thái Bình”, nhà Lê lại cho đúc tiền “Thiên Phúc” Ngoài các trung tâm lớn như: Đại La, Long Biên, Luy Lâu, Hoa Lư,… việc trao đổi, buôn bán còn diễn ra ở các chợ địa phương
Từ năm 976, việc buôn bán với nước ngoài của Đại Cồ Việt được bắt đầu diễn ra Thuyền buôn các nước láng giềng đã đến xin buôn bán Nhu cầu của việc trao đổi, lưu thông hàng hoá đòi hỏi mở mang giao thông, thuỷ bộ Đường sá được sửa, đắp nối kinh
đô với các vùng phía Bắc và phía Nam Từ năm 982 - 1009, Lê Hoàn và Lê Long Đỉnh
đã cho đào nhiều kênh ở Thanh Hoá, Nghệ An nối liền các sông và lấy nước tưới ruộng Năm 992, Lê Hoàn sai Ngô Tử An đem 3 vạn người đắp đường từ cửa Nam Giới (Hà Tĩnh) vào đến Địa Lý (Quảng Bình)
Sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp, thủ công và thương nghiệp đã góp phần củng cố thêm cơ sở cho chính quyền trung ương, nâng cao đời sống của nhân dân,
để đất nước có đủ tiềm lực trong việc xây dựng đất nước độc lập tự chủ và chống ngoại xâm thắng lợi
1.2.3.3 Cuộc kháng chiến chống quân xâm lƣợc Tống ở thế kỷ X
Năm 979 sau khi cha con Đinh Tiên Hoàng bị giết hại, vua mới lên ngôi còn nhỏ tuổi, triều đình Hoa Lư rối loạn Viên quan nhà Tống ở Ung Châu dò biết được đã tâu về triều đề nghị vua Tống cho đưa quân sang xâm lược Đại Cồ Việt
+ Diễn biến
Mùa thu năm 980, vua Tống sai Hầu Nhân Bảo làm Giao châu lộ thuỷ lục kế độ chuyển vận sứ Tổng chỉ huy Tôn Toàn Hưng làm phó tướng cùng các tướng Lưu Trừng, Giả thực, Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân họp quân tiến vào nước ta theo 2 đường thuỷ, bộ
Trước tình hình đó, được sự tôn phò của triều đình và Dương Thái hậu, Lê Hoàn lên ngôi vua tổ chức kháng chiến Lê Hoàn sai quân đóng cọc nhọn ở cửa sông Bạch Đằng theo kế của Ngô Quyền để chặn quân thuỷ Ngoài ra Lê Hoàn cũng đặt một số đồn quân đóng ở vùng biên giới Đông Bắc Phía đường bộ Lê Hoàn cũng đã chuẩn bị chiến trường để đợi giặc
Tháng 4 năm 981 quân Tống theo 2 đường thuỷ, bộ tiến vào nước ta Quân bộ do Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng, Trần Khâm Tộ chỉ huy tiến vào theo đường Lạng Sơn Quân thuỷ do Lưu Trừng, Giả Thực chỉ huy tiến về phía sông Bạch Đằng Lê Hoàn cho quân chặn đường thuỷ, rồi nhữ địch vào trận địa mai phục đánh cho tan tành
Trang 1414
Hầu Nhân Bảo chỉ huy cánh quân tiến vào nước ta theo sông Thương, vừa đến Chi Lăng chưa kịp đề phòng Hầu Nhân Bảo bị Lê Hoàn cho quân trá hàng rồi lợi dụng sơ sở bất ngờ đánh úp, Hầu Nhân Bảo bị giết tại trận Quân Tống đại bại, Trần Khâm Tộ nghe tin rút chạy về nước dọc đường bị Lê Hoàn truy kích, quá nữa số quân của Trần Khâm Tộ
bị giết, các tướng Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân bị bắt Tôn Toàn Hưng, Lưu Trừng, Giả Thực chạy thoát về nước đều bị vua Tống chém hoặc tống ngục đến chết
1.2.3.4 Nhà Tiền Lê suy vong
Năm 1005 Lê Hoàn mất, các hoàng tử đưa quân đánh nhau giành ngôi vua Sau 3 tháng nội chiến, Thái tử Long Việt lên ngôi, chỉ được 3 ngày thì bị em là Lê Long Đỉnh giết và cướp ngôi Lê Long Đỉnh làm vua được 5 năm (1005 - 1009) Dưới thời Long Đỉnh trị vì, đất nước cũng có sự phát triển nhất định ở một số mặt như mở mang giao thông với việc hoàn chỉnh các con đường thuỷ, bộ từ Hoa Lư qua châu Ái, châu Hoan; đào sông đắp đường từ cửa sông Chi Long (Ngọc Sơn - Thanh Hoá) đến sông Vũ Lũng Vua sai Phòng át sứ Hồ Thủ Ích đem 5000 quân vào sửa đắp con đường nối liền Hà Tĩnh với Quảng Bình (con đường này được Ngô Tử An cùng 3 vạn người đắp từ năm 992 thời
Lê Hoàn)
Ngoài ra, Long Đỉnh còn mang quân đi đánh dẹp các cuộc nổi dậy của các thế lực địa phương ở những vùng xa Quan hệ giao hảo với nhà Tống dưới thời Long Đỉnh tiếp tục được mở mang Vua Tống phong cho Long Đỉnh làm “Giao Chỉ quận vương” năm
1009, Lê Long Đỉnh chính thức đặt quan hệ thông thương với chân Liêm và Trấn Như Hồng (nam Quảng Tây và Quảng Đông)
Dù làm được một số việc, song Long Đỉnh là một ông vua bạo ngược sớm đi vào con đường ăn chơi sa đoạ, sau mắc bệnh trĩ phải nằm hội chầu với các quan nên thường được gọi là “Lê Ngoạ Triều” Vua có kiểu hành hình tù binh hay tội nhân rất tàn nhẫn như quấn cỏ quanh người rồi lấy lửa đốt, dùng dao cùn róc thịt cho chết, thả người xuống biển cho chết dần, bắt người trèo lên cây cao rồi chặt cây đổ cho chết, róc mía trên đầu sư cho chảy máu… Lúc coi chầu thì vua thích nghe bọn hoạn quan pha trò hơn là lời tâu bày của triều thần Sự bạo ngược của nhà vua khiến lòng người chán ghét năm 1009
Trang 1515
Lê Long Đỉnh chết con còn quá nhỏ, triều đình đã tôn Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ
Lý Công Uẩn lên ngôi vua Triều Tiền Lê chấm dứt, triều Lý thành lập
Câu hỏi ôn tập chương
1 Trình bày nội dung và đánh giá cải cách của Khúc Hạo
2 Trình bày diển biến của trận Bạch Đằng chống quân Nam Hán năm 938 ý nghĩa của chiến thắng này
3 Cuộc k/chiến chống Tống năm 981 do Lê Hoàn lãnh đạo? ý nghĩa lịch sử?
4 Tình hình kinh tế nước ta thời Đinh- Tiền Lê
5 Chính sách nội trị ngoại giao thời Đinh - Tiền Lê
Trang 1616
CHƯƠNG 2 ĐẠI VIỆT THỜI LÝ, TRẦN, HỒ (TK XI - CUỐI TK XIV)
2.1 Nhà Lý (1010 - 1225)
5.1.1 Nhà Lý thành lập
Tháng 11 năm 1009, Lê Long Đỉnh chết, triều thần oán ghét nhà Tiền Lê, sư Vạn Hạnh cùng quần thần đứng đầu là Chi hậu Đào Cam Mộc đã vận động, suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi vua lập ra vương triều Lý
Lý Công Uẩn là người trung nghĩa có học vấn, đạo đức cao lại nhân từ, khoan thứ, hoà nhã, tinh tế nên được các triều thần nhà Lê rất quý trọng Lý Công Uẩn lên ngôi, xuống lệnh đại xá thiên hạ, lấy năm 1010 làm năm Thuận Thiên thứ nhất Nhà Lý thành lập, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam - thời kỳ xây dựng một nhà nước Quân chủ tập quyền chính quy độc lập, tự chủ
5.1.2 Kinh đô ở Thăng Long
Sau khi lên ngôi, nhận thấy Hoa Lư đất hẹp, giao thông cách trở, kinh tế nông, công thương còn thấp kém không đủ làm chỗ ở của đế vương nên Lý Công Uẩn muốn dời đi chỗ khác Sau khi đi quan sát, tìm hiểu nhiều nơi Lý Công Uẩn đã chọn thành Đại
La làm địa điểm để xây dựng kinh đô mới Đầu năm 1010 Lý Công Uẩn viết “Chiếu dời đô” Bài chiếu có đoạn: “…Chỉ vì muốn đóng đô ở trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính
kế muôn đời cho con cháu, trên tuân mệnh trời, dưới theo ý dân… cho nên vận nước lâu dài phong tục, phồn thịnh… thành Đại La, đô cũ của Cao vương ở giữa khu vực trời đất được cái thể rồng cuộn, hổ ngồi, chính giữa Nam - Bắc - Đông - Tây tiện nghi núi sông sau trước Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, cư dân không khổ thấp, trũng tối tăm… Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở”
Tháng 8/1010 Lý Công Uẩn cho dời đô từ Hoa Lư về Đại La Khi tạm đỗ thuyền dưới chân thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự nên vua đổi tên Đại La thành Thăng Long
Việc Lý Công Uẩn dời đô đã chứng tỏ được tầm nhìn chiến lược của ông về tương lai của nước Việt, vừa chứng tỏ sự trưởng thành của dân tộc về mọi mặt Từ đây Thăng Long trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của đất nước
Kinh thành Thăng Long thời Lý gồm 2 phần là Hoàng thành và Kinh thành, có 2 vòng thành bao bọc.Vòng ngoài là La Thành của Cao Biền được giữ nguyên Qua dấu vết còn lại đến nay của La Thành người ta có thể phác hoạ như sau: Phía Đông là đoạn đê
Trang 1717
sông Hồng lên tới hồ Tây, tiếp là đoạn đường Hoàng Hoa Thám rồi chạy theo bờ tả ngạn
sông Tô Lịch từ Bưởi đến Ô Chợ Dừa, Kim Liên rồi thẳng đường Đại Cồ Việt và Trần
Khát Chân cho đến Ô Đồng Mác lại gặp sông Hồng, có độ dài 30km La Thành thời Lý là
vòng thành khép kín chủ yếu theo địa hình tự nhiên, thành bằng đất ngoài thành là sông
Hồng, sông Tô Lịch và nhiều đầm hồ
Vòng thành Trong được xây đắp bắt đầu từ khi Lý Công Uẩn định đô kéo dài mấy
chục năm sau Thành chủ yếu được đắp bằng đất ngoài có hào bao quanh Thành mở 4
cửa lớn là Tường Phù ở phiá Đông, Quảng Phúc ở phía Tây, Đại Hưng ở phía Nam, Diệu
Đức ở phía Bắc Về cơ bản thành nằm trên địa bàn quận Ba Đình ngày nay Nằm phía
trong thành Trong là Hoàng thành - nơi làm việc của triều đình và nơi ở của vua
Trong Kinh thành, bao bọc bên ngoài Hoàng thành là khu vực các phố phường của
nhân dân và quan lại ở Trong Hoàng thành lại có một khu vực gọi là Cấm thành, có
tường xây kiên cố, lính gác nghiêm ngặt là nơi vua cùng các hoàng hậu, cung tần ở Vị trí
trung tâm và quan trọng nhất là điện Càn Nguyên, nơi vua và triều thần hội họp, bàn việc
chính sự
Đặc biệt kiến trúc Hoàng thành được tiến hành theo một quy hoạch lớn, hoành tráng
Nơi đây xây dựng hàng loạt cung điện lỗng lẫy Chỗ làm việc của vua có điện Càn
Nguyên, điện Tập Hiền, điện Giảng Võ Chỗ vua nghĩ ngơi có điện Long An, điện Long
Thụy Nơi phi tần ở thì có cung Thuý Hoá, cung Long Thuỵ
Nhà Lý là một triều đại sùng Phật, vì thế chùa tháp được xây dựng khá nhiều Đó là
các chùa Hưng Thiên, Vạn Tuế, Diên Hựu (Một Cột)… Chùa Thiên phật được xây dựng
rất rộng, lớn đủ bày 1000 pho tượng và có chỗ để mở hội Năm 1054 nhà Lý đổi tên nước
thành Đại Việt. 2.2 Nhà Trần (1225 - 1399)
Nhà Lý tồn tại 215 năm (từ 1010 đến 1225), truyền được 8 đời vua Đầu thế kỷ XIII
nhà Lý suy yếu, đất nước rối loạn, họ Trần giúp nhà Lý dựng lại triều chính, đàn áp các
thế lực chống đối rồi thâu tóm mọi quyền hành và cuối cùng bức Lý Chiêu Hoàng
nhường ngôi cho Trần Cảnh Nhà Trần thành lập và tồn tại 175 năm truyền được 12 đời
vua Dưới thời Lý - Trần quốc gia phong kiến Đại Việt phát triển mạnh mẽ về mọi mặt,
bộ máy nhà nước quân chủ trung ương tập quyền được xây dựng và hoàn thiện dần mang
tính chính quy; khối đoàn kết dân tộc được củng cố Hai nhà Lý, Trần đã đánh bại 4 cuộc
chiến tranh xâm lược của các triều đại phong kiến phương Bắc (1 lần chống Tống, 3 lần
chống Mông - Nguyên) đó là chưa kể các cuộc chiến tranh chống Chămpa ở phía Nam
Trang 1818
Với thắng lợi vẻ vang trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nền độc lập được bảo vệ và củng cố, cương giới ở phía Bắc được giữ vững, phía Nam được mở rộng
2.2.1 Xây dựng và củng cố nhà nước quân chủ trung ương tập quyền
(quân chủ quí tộc) thời Lý - Trần
2.2.1.1 Tổ chức chính quyền
a Chính quyền trung ương
Nhà nước Lý - Trần được tổ chức theo mô hình nhà nước Quân chủ trung ương tập quyền (còn được gọi là nhà nước quân chủ quý tộc)
Tính chất quân chủ tập quyền được thể hiện rõ, ngay từ khi mới lên ngôi Lý Thái
Tổ đã tiến hành xây dựng một bộ máy chính quyền nhằm tập trung quyền hành vào tay hoàng đế Vua nắm cả vương quyền (sở hữu toàn bộ thần dân và ruộng đất, định đoạt mọi vấn đề quan trọng) lẫn thần quyền (vua xưng là thiên tử - con trời chỉ có vua mới được quyền làm lễ tế trời) Vua chỉ đứng dưới Ngọc Hoàng thượng đế - còn đứng trên tất cả các thần linh trong nước, có quyền phong thần và lập miếu bắt nhân dân phải thờ cúng Ngôi vua được thực hiện theo chế độ thế tập - cha truyền con nối
Giúp vua trị nước có bộ máy quan lại gồm nhiều cấp bậc Dưới vua có các chức: đứng đầu bách quan là Thái sư, Thái phó, Thái bảo (tam thái) dưới là Thái uý nắm giữ việc chính trị, quân sự trong nước về sau chức này là Tể tướng Tiếp đến là các chức Tư không, Thiếu phó, Thiếu bảo, Thiếu uý (phụ trách cấm quân), Nội điện Đô tri sự, Ngoại điện Đô tri sự, Kiểm hiệu bình chương sự Để giúp vua quản lý mọi mặt của đất nước còn
có các cơ quan chuyên trách như Trung thư sảnh, Khu mật sứ, Ngự sử đài, Hành khiển, Thượng thư sảnh, Nội thị sảnh, Đình uý, Hàn lâm học sĩ
Thời Lý chế độ lương bổng chưa được đặt định Riêng quan coi hình ngục từ năm
1067 được cấp bỗng hàng năm theo chế độ Các quan Đô hộ phủ sĩ sư mỗi người mỗi năm được cấp 50 quan tiền, 100 bó lúa và cả muối mọi thứ Với Ngục lại mỗi người 20 quan tiền và 100 bó lúa để nuôi đức liên khiết
Các thân vương, công thần được cấp Thái ấp các quan võ cao cấp được cấp thực
hộ Đây là biểu hiện của tính chất Quân chủ quý tộc Mặt khác con bình dân nếu đỗ đạt vẫn không được bổ dụng làm quan Ví dụ: Nguyễn Phi Khanh thời Trần đỗ Thái học sinh tương đương Tiến sĩ nhưng nhà Trần không sử dụng
+ Quan chế Thời Lý quan lại được tuyển lựa chủ yếu theo chế độ Nhiệm tử và
tuyển cử (Chế độ Nniệm tử là quan lại nếu được Tập ấm thì con mới được làm quan) Về sau có thêm chế độ khoa cử để tuyển lựa quan lại song không thật phổ biến Năm 1075, nhà Lý cho mở khoa thi Minh kinh bác học và Nho học tam trường Thời nhà Trần tuy
Trang 1919
vẫn duy trì hình thức tuyển lựa qua khoa cử (tuy thế những người xuất thân bình dân vẫn không được bổ dụng) Tất cả các chức vụ trong triều đều giao cho vương hầu, quý tộc nắm giữ Nhà Trần còn đặt ra quy định “nội tộc hôn” để bảo vệ quyền lợi của dòng họ (con cái họ Trần chỉ được lấy người trong họ) Năm 1097, nhà Lý cho biên soạn và ban hành Hội điển quy định phép tổ chức bộ máy quan lại Các quan có nhiều công lao động ban Thực ấp và Thực phong Nhà nước cho phép quan lại cấp cao, quý tộc quyền thu tô thuế (phong đất không phong người) Thực ấp chỉ có danh không có thật nhằm khẳng định công lao của người được phong Sang thời Trần tổ chức bộ máy quan lại ở trung ương được hoàn thiện hơn Nhà Trần đặt ra chế độ Thái thượng hoàng, các vua sớm truyền ngôi cho con trai trưởng (Hoàng thái tử) và cùng với vua (con) trông coi chính sự Trong triều đình đứng đầu các quan là các chức tam Thái (Thái sư, Thái phó, Thái bảo) Chức Thái uý đổi thành Tả hữu Tướng quốc Bình chương sự Giúp việc cho Tướng quốc
có thêm các chức Hành khiển nằm trong cơ quan Mật viện, bên võ có cái chức: Phiêu kỵ tướng quân, Đại tướng, Đô tướng, Tướng quân; Lúc có chiến tranh đặt thêm chức Tiết
chế tổng chỉ huy toàn quân
Nhìn chung bộ máy quan lại ở trung ương thời Lý - Trần cấu trúc theo 3 cấp: trung ương, hành chính trung gian, hành chính cơ sở, thời Trần có tính quy cũ hơn, bộ máy được hoàn thiện thêm một bước
b Chính quyền địa phương
Năm 1010, Lý Thái Tổ đổi 10 đạo thời Đinh - Lê thành 24 lộ và phủ Một số châu, trại đổi làm phủ, các vùng xa gọi là châu; dưới lộ phủ có huyện, hương Ở các châu đặt các chức Tri châu, Thông phán, Tổng quản để trông coi Các châu biên giới đặt chức Châu mục đứng đầu, ở phủ có các chức Tri phủ, Tri phủ sự, Phán phủ sự phụ trách
Nhà Trần đổi 24 lộ và phủ thời Lý làm 12 Lộ (1442) Dưới lộ là phủ, châu, huyện,
xã Đứng đầu lộ là An phủ sứ, ở các phủ là Tri phủ, Trấn phủ rồi đến các viên chức Thông phán, Thiêm phán, Tào, Vận lệnh… Châu do Chuyển vận sứ, Thông phán quản lý,
ở huyện do Lệnh uý, Chủ bạ coi giữ Chế độ Xã quan có các viên Đại tư xã (từ ngũ phẩm trở lên - xã to) và Tiểu tư xã (từ lục phẩm trở xuống - xã nhỏ); dưới đại tiểu tư xã có chức
Xã trưởng, Xã giám giúp việc sổ sách
Nhà Trần còn đặt thêm cơ quan phụ trách về dòng họ nhà vua gọi là Tông chính phủ Năm 1230, nhà Trần ban hành bộ “Thông chế ” gồm 20 quyển lại cho soạn sách
“Quốc triền thường lễ ” ghi chép công việc lễ nghi của triều đình Nhà Trần thực hiện chế
độ ban phong thái ấp cho vương hầu, tôn thất; họ được quyền lập phủ đệ riêng
Trang 2020
c Quân đội
Nhà nước Lý - Trần đều chủ trương xây dựng lực lượng quốc phòng vững mạnh,
tổ chức quân đội có quy cũ, chặt chẽ, thi hành chính sách “Ngụ binh ư nông” Thời Lý quân đội gồm có: Quân triều đình (Cấm quân còn gọi là Thiên tử quân) bảo vệ triều đình.ở địa phương có Lộ quân hay Sương quân lấy các hoàng nam (đinh nam từ 18 tuổi trở lên) ở các lộ, phủ Trong làng xã còn có dân binh, hương binh Quân đội triều đình có
kỹ luật nghiêm minh, huấn luyện chu đáo Khu Giảng Võ đường phía Tây kinh thành Thăng Long là nơi huấn luyện giảng dạy về quân sự cho tướng lĩnh và binh lính Trần Quốc Tuấn đã biên soạn 2 cuốn sách giáo khoa làm tài liệu học tập cho tướng lĩnh(Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư )
Trong thời chiến nhà Trần con cho phép các vương hầu được mộ dân làm gia thuộc gia đồng lập thành đội quân riêng gọi là quân đội Vương hầu Đội quân này cùng các đội dân binh của các dân tộc miền núi đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc
d Luật pháp
Thời Đinh - Lê, nhà nước chưa có luật pháp thành văn Thời Lý, năm 1040 Lý Thái Tông xuống chiếu: “Từ nay về sau phàm nhân dân trong nước, cứ có việc kiện tụng thì giao cho Thái tử xét xử trước khi trình lên vua quyết định” Năm 1042 nhà Lý sai Trung thư san định luật lệnh chấn chỉnh cho thích dụng với thời thế, làm thành sách gọi
là “Hình thư” Đây là bộ luật thành văn được biết đến đầu tiên trong lịch sử Việt Nam Năm 1230, nhà Trần cho ban hành bộ “Thông chế ” gồm 20 quyển lại cho soạn sách Quốc triều thường lễ nhờ đó việc quản lý, cai trị đất nước thời Lý - Trần có quy chế rõ ràng đây là một bước tiến so với thời Khúc - Ngô - Đinh -Tiền Lê
Năm 1241, nhà Trần cho biên soạn bộ Hoàng triều đại điển và khảo đính bộ Hình luật để ban hành Pháp luật thời Lý - Trần mang tính chất đẳng cấp phong kiến, bảo
vệ hoàng cung, trừng trị nặng tội mưu phản, cho tầng lớp quý tộc được chuộc tội bằng tiền Mặt khác luật pháp cũng bảo vệ trật tự xã hội, chống hà lạm thuế má, giải quyết các vấn đề tranh chấp, cầm chuộc, mua bán ruộng đất, đảm bảo sức kéo cho nông nghiệp Ở các làng xã vẫn tồn tại luật tục (tập quán pháp) được mọi thành viên tuân theo
Nét đặc sắc của pháp luật thời Lý - Trần là tinh thần pháp trị ngày càng được đề cao nhưng cái gốc của đạo trị nước là nhân đức vẫn được chú trọng trong thực thi pháp luật
2.2.1.2 Chính sách đối với các dân tộc thiểu số miền núi
Mặc dù nhà nước Lý - Trần được xây dựng theo chế độ Quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, nhưng ở các vùng xa nhất là ở miền núi, ảnh hưởng của chính quyền vẫn
Trang 2121
chưa sâu đậm Chính quyền trên thực tế vẫn nằm trong tay tầng lớp thống trị người địa phương đó là các tù trưởng của các sách, động theo chế độ cha truyền con nối Do đó, các nhà Lý - Trần đều thi hành chính sách “vừa cương, vừa nhu” một mặt gả công chúa cho các tù trưởng để kết thân ràng buộc họ Mặt khác thì sẵn sàng đem quân đàn áp nếu các tù trưởng có ý chống lại triều đình Nhờ chính sách vừa mềm dẽo vừa kiên quyết này mà các vương triều Lý, Trần đã buộc các tù trưởng quy phục Nhân dân miền núi đã góp nhiều công sức cho công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm
2.2.1 2 Chính sách đối ngoại
a) Đối với các vương triều phong kiến phương Bắc
Các vương triều Lý - Trần đều thi hành chính sách ngoại giao chủ động giao hảo,
do đó quan hệ Lý - Tống trong 60 năm đầu triều Lý nhìn chung tốt đẹp Hàng năm nhà
Lý đều có cống phẩm, khi vua mới lên ngôi thì xin nhà Tống phong vương Vua Tống sẵn sàng nhận Cống phẩm và phong vương cho các vua Lý Đến đầu thập kỷ 70 của thế
kỷ XI, khi Vương An Thạch lên làm Tể tướng nhà Tống bị bọn quan lại ở vùng Hoa Nam xúi dục; mặt khác để giải quyết mâu thuẫn nội bộ triều đình và sự uy hiếp của 2 nước Liêu, Hạ phía Bắc, nhà Tống đã phá vỡ quan hệ hoà hiếu giữa hai nước gây thành cuộc chiến tranh xâm lược Do đó quan hệ Lý, Tống căng thẳng trong một thời gian
Sau khi kháng chiến thắng lợi, nhà Lý vẫn chủ động nối lại giao hảo như cũ Nhà
Lý vẫn giữ mối quan hệ thân thuộc (nhận tước mệnh, chịu nộp cống) tranh thủ mở rộng quan hệ buôn bán, nhưng trong vấn đề biên giới giữa 2 nước, nhà Lý cương quyết không chịu nhường một mảnh đất, một người dân Xem thêm Trương Hữu Quýnh - Nguyễn Đức Nghinh: Lịch sử Việt Nam thế kỷ X - 1427, quyển 1 - tập II (sách bồi dưỡng giáo viên Nxb GD - 1977 - trang 62, 63)
Thời Trần, nhà Trần tiếp tục giữa mối quan hệ hoà hiếu với nhà Tống và cùng kiên trì thi hành chính sách ngoại giao chủ động tích cực khéo léo nhưng kiến quyết Khi nhà Mông-Nguyên lớn mạnh họ âm mưu thôn tính Đại Việt làm bàn đạp tấn công các nước khác thì quan hệ giữa nhà Trần với nhà Mông- Nguyên trở nên căng thẳng nhà Trần phải
3 lần tổ chức kháng chiến chống xâm lược Quan hệ Trần- Mông, Nguyên thường xuyên căng thẳng do nhà Mông- Nguyên luôn áp đặt các điều kiện hết sức ngang ngược và nước lớn đòi Đại Việt phải thần phục Tuy nhiên nhà Trần đã kiên quyết khước từ những yêu sách phi lý và xúc phạm đến chủ quyền của Đại Việt
b) Đối với Champa
Trong những năm đầu triều Lý, quan hệ Việt - Chăm tương đối tốt đẹp, nhưng do chính sách giao hảo với các láng giềng của vua Chămpa nhìn chung là hiếu chiến nên
Trang 2222
quan hệ Việt - Chăm trở nên căng thẳng Quân Chăm nhiều lần kéo vào quấy phá vùng biên cảnh của Đại Việt Do đó, các vua Lý phải huy động quân đội đánh trả Các năm
1028, 1044, 1069 các vua Lý phải đích thân đưa quân đánh thẳng vào lãnh thổ Chămpa
để trừng trị Một số vua Chăm bí mật liên kết và dựa vào nhà Tống để phối hợp đánh Đại Việt, nhà Lý buộc phải đem quân đánh dẹp Năm 1069, quân Lý dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt đánh thẳng vào kinh đô Chămpa bắt được vua Chăm là Chế Củ, để được tha tội chết Chế Củ buộc phải cắt đất 3 châu (Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh) cho nhà Lý để chuộc tội Sau chiến thắng này, biên giới Việt - Chăm tạm yên một thời gian, các vua Chăm phải thần phục Đại - Việt Năm 1003 quân Chăm lại tiến sang đòi lại đất 3 châu đã mất Năm 1004 Lý Thường Kiệt đã đánh bại quân Chăm, buộc vua Chăm phải thần phục
và triều cống đều đặn Từ 1129 đến đầu thế kỷ XIII quan hệ Việt - Chăm có phần phức tạp hơn vì Chăm phải chịu sức ép của Chân Lạp ở phía Nam Có năm Chân Lạp lôi kéo
cả người Chăm cùng ra cướp phá Đại Việt ở Nghệ An
Thời Trần quan hệ Việt - Chăm trước năm 1258 nhìn chung vẫn phức tạp do các hành động cướp phá của Chămpa Từ 1258 đến đầu thế kỷ XIV quan hệ Việt - Chăm là hoà hiếu hữu nghị do 2 nước đã đoàn kết cùng nhau chống quân xâm lược Mông - Nguyên Sau thắng lợi của các cuộc kháng chiến, quan hệ Việt - Chăm phát triển thành láng giềng tốt và là thông gia Năm 1304, vua Trần gả công chúa Huyền Trân cho vua Chăm là Chế Mân Vua Chăm đã cắt 2 châu Ô và Ri (Quảng Trị và Thừa Thiên) cho Đại Việt làm sính lễ cưới Huyền Trân Cuối thời Trần quan hệ Việt - Chăm lại trở nên căng thẳng do Chăm pa thường xuyên cho quân cướp phá lãnh thổ Đại Việt hòng giành lại những vùng đã mất Ở thập kỷ 70 (1371, 1376, 1369) Cham pa 3 lần mang quân đánh ra tận kinh đô Thăng Long cướp phá rồi rút về Các vua Trần ở thời kỳ này bất lực và nhà Trần suy yếu dần Qua các cuộc chiến tranh với người Chăm và diệt trừ Dương Nhật Lễ,
Hồ Quý Ly nắm được quyền lực về quân sự, tạo uy thế để dần dần nắm chính quyền
2.3 Xây dựng và phát triển kinh tế độc lập tự chủ
2.3.1 Nông nghiệp
Ruộng đất là bộ phận hết sức quan trọng của sản xuất nông nghiệp, tình hình ruộng đất thời Lý - Trần diễn biến như thế nào ? Các nhà nước Lý - Trần đã có những chính sách gì để quản lý ruộng đất và phát triển nông nghiệp ?
a Tình hình ruộng đất thời Lý - Trần
Thời Lý - Trần về danh nghĩa ruộng đất thuộc quyền sở hữu tối cao của Nhà nước còn trên thực tế thì bao gồm 2 hình thức sở hữu chính là ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước
Trang 2323
và ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân
+ Ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước gồm:
- Ruộng quốc khố: Ruộng của Nhà nước, hoa lợi thu về dự trữ trong kho của triều đình để dùng riêng cho vua và hoàng cung Ruộng này do phạm nhân cày cấy được gọi là Cảo điều nhi hay Cảo điền hoành Đến thời Trần loại ruộng Quốc khố vẫn tồn tại
- Ruộng Sơn Lăng: Hoa lợi dùng vào việc cúng giỗ, tu bổ lăng tẩm dòng họ nhà vua Ruộng của nhà Lý ở châu Cổ Pháp (Từ Sơn - Bắc Ninh) Thời nhà Trần các vua được chôn ở nhiều nơi nên ruộng Sơn Lăng có ở nhiều nơi như ở hương Tức Mặc (Nam Định), Thái Đường, Thâm Động (Thái Bình); Yên Sinh (Quảng Ninh) Tổng diện tích ruộng Sơn Lăng, Quốc Khố nhìn chung không lớn lắm nên không có tác động đáng kể đến sự phát triển của chế độ ruộng đất nói chung
- Ruộng Tịch điền: Ruộng Tịch điền thường được duy trì ở những nơi mà các triều đại trước đã chọn như ở Đọi Sơn, Bàn Hải Ruộng này để vua làm lễ cày ruộng đầu xuân; hoa lợi thu về cho nhà vua
- Ruộng đồn điền: Từ thời Lý, nhà nước cho tù binh và dân bị tù tội đi khai hoang lập làng, lập đồn điền Thời Trần nhà nước bắt đầu thực hiện chính sách đồn điền Năm
1344 nhà Trần cho đặt các chức Chánh, Phó Đồn điền sứ ở ty Khuyến nông chuyên mộ dân khai hoang
- Ruộng đất công làng xã: Đây là bộ phận lớn nhất tuy về danh nghĩa là của nhà nước nhưng trên thực tế do làng xã trực tiếp quản lý và phân phối cho nông dân Nó có tên
“quan điền” Nhà nước có quyền lấy để bán, cấp cho quan lại nhưng việc phân chia ruộng công làng xã là do các làng đảm nhận Nhà nước đặt ra chế độ tô thuế cho ruộng đất công làng xã Dân đinh được chia ruộng này phải chịu mọi nghĩa vụ đối với nhà nước (nộp tô thuế, đi sưu dịch cho nhà nước), ngoài ra dân đinh còn phải nộp một phần hoa lợi cho làng xã chi dùng vào các công việc của làng xã Đây cũng là cơ sở để nhà nước thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” Mức tô thuế được nhà Trần quy định vào năm 1242 là:
“nhân đinh có ruộng đất công từ 1- 2 mẫu thì nộp 1 quan tiền, có 3- 4 mẫu thì nộp 2 quan tiền, từ 5 mẫu trở lên nộp 3 quan tiền, tô ruộng mỗi năm một mẫu nộp 100 thăng thóc”
- Ruộng Thang Mộc ấp: Là ruộng vua ban cho vương hầu, quý tộc, quan lại cao cấp
để lấy hoa lợi làm quà biếu khi vào kinh dự nghi lễ Nhà nước Người được phong chỉ thu
tô còn ruộng thuộc quyền sở hữu của nhà nước
- Ruộng Thái ấp (vẫn là sở hữu nhà nước) Đây là hình thức vua Trần cấp bỗng lộc cho vương hầu quý tộc Chủ Thái ấp ngoài quyền thu tô thì còn được quyền chi phối thân thể những người cày ruộng này biến họ thành nông nô, nô tỳ, lộ ông Người dân trong
Trang 2424
Thái ấp bị lệ thuộc vào chủ Thái ấp, bị biến thành, nông nô, nô tỳ Ruộng Thái ấp nhà Trần chỉ phong cho người họ Trần (tôn thất) Đây là một biểu hiện của nhà nước Quân chủ quý tộc Nhìn chung quy mô thái ấp thời Trần không lớn khoảng 1 - 2 làng Việc xây dựng dinh thự của các vương hầu ở thái ấp như là biến nó thành một làng riêng của người chủ thái ấp Chủ thái ấp chỉ sở hữu một đời sau khi người chủ chết thì ruộng đất lại thuộc
về làng xã
+ Ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân
Thời Trần, bộ phận ruộng đất tư phát triển một bước cao hơn thời Lý Một số chính sách, biện pháp của nhà Trần đã thể hiện sự phát triển này: Năm 1247 do sự phát triển của việc mua bán tranh chấp ruộng đất, nhà Trần quy định rõ việc điềm chỉ lên các giấy
tờ, văn khế mua bán ruộng đất, của cải của tư nhân Năm 1248, khi tiến hành đắp đê, Nhà nước phải quy định nếu đắp vào ruộng của dân thì phải bù tiền Năm 1254 nhà Trần thực hiện chủ trương bán ruộng quan cho dân làm ruộng tư với giá 1 diện 5 quan
Cuối thời Trần, hiện tượng mua bán ruộng đất phát triển mạnh, đã có trường hợp làm giấy tờ giả mạo, Trần Minh Tông đã xuống chiếu trừng phạt những hiện tượng này Ruộng đất tư hữu gồm các loại sau:
- Ruộng đất tư hữu của địa chủ: Chế độ sở hữu lớn về ruộng đất ra đời từ những thế
kỷ trước thời Lý - Trần Sang thời Trần nó phát triển một bước cao hơn Trong cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên đời Trần, nhà Trần đã kêu gọi nhà giàu nộp thóc để cung cấp quân lương Có phú ông ở Nghệ An ruộng liền trăm mẫu Các cung tần, mỹ nữ của vua củng nhờ có ruộng phong cấp mà tích luỹ gia tăng của cải, mua thêm ruộng đất trở thành địa chủ, nhiều quan lại quý tộc cũng mua thêm nhiều ruộng đất
- Ruộng đất tư hữu của nông dân: Bộ phận ruộng đất sở hữu nhỏ của nông dân có từ lâu và chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việc khẩn hoang mở rộng diện tích canh tác hay xây dựng làng mới tạo điều kiện phát triển chế độ sở hữu nhỏ này.Một số văn bia cho biết việc cúng ruộng vào chùa của nông dân từ 1 - 5 sào, đó là sở hữu nhỏ của nông dân và một số người không phải quan chức Thời Trần chế độ sở hữu nhỏ của nông dân trở thành phổ biến
- Ruộng nhà chùa: Do sự sùng Phật của các triều đại Lý - Trần nhân dân cũng rất tôn sùng Phật giáo, do đó mà các tầng lớp cư dân đều cúng ruộng cho nhà chùa Nhà chùa sở hữu nhiều ruộng đất cũng bóc lột nông dân, do đó cũng trở thành địa chủ lớn Sư Huyền Quang được vua Trần Minh Tông bán cho tới 150 mẫu 5 sào làm tự điền Chùa Thánh Ân
ở Gia Lương (Bắc Ninh) được các vua Trần cúng tặng nhiều ruộng đất và nô tỳ (khoảng
2760 mẫu với hàng ngàn nô tỳ) Thời Trần ruộng nhà Chùa chiếm một diện tích đáng kể,
Trang 2525
góp phần quan trọng vào sự phát triển của chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất nói chung
và sự phân hoá hàng ngũ nông dân Tuy nhiên sự phát triển của chùa chiền đã dẫn đến việc thu hút đông đảo dân đinh trốn việc quan đi ở chùa, theo Lê Văn Hưu thì “thời Trần dân quá nữa là sư sải”
b Các chính sách khuyến nông của nhà nước
Các vua Lý - Trần khi lên ngôi thường ban chiếu Khuyến nông, lệnh cho những người đào vong phải trở về bản quán nhận ruộng để sản xuất Các vua Lý - Trần vẫn duy trì việc cày ruộng tịch điền Hằng năm nhiều lần đích thân nhà vua đi xem cấy, gặt để khuyến khích sản xuất Những năm hạn hán, thiệt hại, bảo lụt mất mùa vua tự thân đi cầu đảo, giảm thuế, mở kho phát chẩn, cho dân nợ thuế…
Nhà nước áp dụng chính sách “ngụ binh ư nông” trong quân đội để đảm bảo sức lao động nông nghiệp Pháp luật thời Lý - Trần nghiêm cấm và trừng trị nặng tôi giết trộm trâu bò
Nhà Trần (năm 1228) đặt cơ quan Hà đê chánh phó sứ phụ trách việc sửa đắp đê điều ở các lộ phủ để ngăn lũ, làm thuỷ lợi và trị thuỷ Các chính sách trên có tác dụng thúc đẩy nông nghiệp phát triển
Công tác thủy lợi: Năm 1077, nhà Lý ra lệnh đắp đê sông Như Nguyệt Năm 1108, lại cho đắp đê Cơ Xá (đê sông Hồng) Đê hữu ngạn sông Chu được đắp vào đời Lý Nhân Tông Năm 1029, Lý Thái Tông cho đào sông Đản Nãi (Yên Định - Thanh Hoá); năm
1051, Lý Thánh Tông cho đào kênh Lãm (Yên Mộ - Ninh Bình) Năm 1192, nhà Lý cho khơi rộng thêm sông Tô Lịch Nhờ những chính sách tích cực nói trên đời sống nhân dân
ổn định, kinh tế nông nghiệp có bước phát triển
Thời Trần, việc xây dựng các công trình thuỷ nông được nhà nước đặc biệt chú ý Ở Thanh Hoá, Nghệ An có nhiều công trình thuỷ nông: năm 1231, vua Trần Thái Tông sai Nguyễn Bang Cốc đào kênh từ Thanh Hoá đến Diễn Châu (Nghệ An) Năm 1248, vua Nhân Tông sai đào sông Mã, sông Lê
Chính sách khuyến nông của nhà nước đã có tác dụng quan trọng thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển Nhiều năm được mùa, đời sống nhân dân ổn định giúp cho các vương triều Lý, Trần tạo được tiềm lực quốc gia vững mạnh, đảm bảo cho các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thắng lợi Dưới thời Lý, có các năm được mùa lớn như:
1030, 1044, 1079, 1120, 1123, 1131 Thời Trần năm 1291, sứ giả nhà Nguyên sang nước
ta cũng cho biết: “Giao Chỉ một năm lúa chín tới 4 lần” Nhà thơ Bùi Công Quán ca ngợi:
“Đứng mãi nào hay chiều đã muộn Khắp đồng lúa chín tựa mây xanh”
Trang 2626
c Thủ công nghiệp
Thời Lý - Trần thủ công nghiệp gồm 2 bộ phận đều có bước phát triển nhất định
+ Thủ công nghiệp nhà nước: Còn gọi là cục Bách tác, Quan xưởng là những
xưởng thủ công của nhà nước chuyên chế tạo các đồ binh khí, đồ dùng cho cung vua, đồ
trang sức, đóng thuyền, đúc tiền, đúc chuông, xây cung điện, đền đài, lăng tẩm cho nhà
nước Các thợ thủ công làm việc trong các quan xưởng này phải lao động theo chế độ
Công tượng gần như lao động không công cho nhà nước Làm việc ở các quan xưởng
phần lớn là tù binh hoặc các thợ thủ công giỏi trong dân gian bị nhà nước trưng tập
Chính sách Công tượng hà khắc đã hạn chế sự phát triển của thủ công nghiệp Những thợ
tài hoa không dám phát huy hết tài năng vì sợ bị nhà nước trưng tập vào làm trong các
xưởng thủ công của nhà nước
+ Thủ công nghiệp dân gian: Gồm nhiều loại hình như các làng, phường thủ công
quanh các thị trấn lớn và các nghề phụ gia đình Nghề chăn tằm ươm tơ dệt lụa, làm gốm,
xây dựng đền đài, nhà cửa rất phát triển Ngoài ra, nghề làm đồ trang sức bằng vàng, bạc,
làm giấy, rèn sắt, đúc đồng, nhuộm vải… Ngoài ra, có một số nghề mới ra đời như nghề
khắc in, bản gổ, khai mỏ, bước đầu có sự phát triển
Thời Lý - Trần, Đại Việt có 4 công trình to lớn thể hiện lao động sáng tạo là
niềm tự hào của người thợ thủ công Đại Việt và của dân tộc là: Chuông Quy Điền, vạc
Phổ Minh, tượng Phật chùa Quỳnh Lâm và tháp Bảo Thiên, chúng cũng thể hiện bước
phát triển của thủ công chuyên nghiệp
d Thương nghiệp
Việc buôn bán trong nước và nước ngoài cũng khá phát đạt Các nhà nước Lý -
Trần đều cho đúc tiền đồng để tiện việc trao đổi Ngoài ra, các đơn vị đo lường cũng
được thống nhất Việc đắp đường, làm cầu, nạo vét sông ngòi được tiến hành tạo điều
kiện cho giao thông và buôn bán Giữa lái buôn Trung Quốc và Việt Nam hình thành các
địa điểm để buôn bán gọi là Bạc dịch trường (ở trại Vĩnh Bình và Hoành Sơn) Vân Đồn
trở thành một cảng sầm uất Thuyền buôn các nước Giava, Lộ Lạc, Xiêng La, Hồi Hột
(người Tân Cương) đã đến buôn bán ở Đại Việt
2.3 Sự khủng hoảng của xã hội Đại Việt ở cuối thế kỷ XIV
2.3.1 Sự khủng hoảng xã hội nửa cuối thế kỷ XIX
Từ nửa sau thế kỷ XIV, nhà Trần không còn chăm lo đến thuỷ lợi, đê điều và các
chính sách khuyến nông, mặt khác lại tăng cường vơ vét tiền của, thóc gạo của nhân dân
Nhiều lần nhà nước quyên góp tiền thóc trả bằng phẩm tước, kho tàng trống rỗng Tình
trạng mất mùa đói kém xảy ra, nhiều năm lũ lụt lớn vỡ đê (1348, 1350, 1352, 1355, 1359,
Trang 2727
1360, 1378, 1393…) hạn hán 11 lần Tình hình đó đưa tới hậu quả là sức sản xuất bị đình trệ phá hoại nặng nề, nông dân bỏ làng đi lưu vong chạy vào các điền trang làm nô tỳ cho các Thế gia Chế độ điền trang, chế độ nông nô, nô tỳ ngày càng mở rộng thì nông dân tự
do càng bị nông nô hoá Nông nô, nô tỳ trong các điền trang, dinh thự của các quý tộc Trần bị bóc lột và khổ cực nhất, mâu thuẫn xã hội trở nên hết sức gay gắt
Bị dồn vào con đường khốn cùng, nông dân nghèo, nông nô và nô tỳ đã nổi dậy khởi nghĩa, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của Tề, Ngô Bệ Phong trào nông dân, nông
nô, nô tỳ khởi nghĩa kéo dài ở nửa sau thế kỷ XIV là biểu hiện cụ thể của sức sản xuất bị kìm hãm, phá loại nghiêm trọng Mặt khác, nó cũng thể hiện sự bất lực của nhà nước Quân chủ quý tộc Sự suy yếu của nhà Trần còn biểu hiện ở sự bất lực của họ trước các cuộc xâm lược của nước ngoài Chiêm Thành ba lần tấn công, cướp phá tận kinh thành Thăng Long mà nhà Trần bó tay, vua tôi phải bỏ kinh đô chạy trốn Nguy cơ xâm lược của nhà Minh đang đến gần
Như vậy cuộc khủng hoảng xã hội ở nữa sau thế kỷ XIV thực chất là sự khủng hoảng của nhà nước Quân chủ quý tộc Trần với quan hệ bóc lột nông nô, nô tỳ rất tàn bạo lỗi thời Xu hướng phân tán, ly tâm ngày càng phát triển lan rộng trong giới quý tộc Trần Trần Nguyên Đán là một trí thức tôn thất có tài cũng từ quan về dạy học, bỏ mặc triều chính, đưa con gửi cho Hồ Quý Ly Trước nguy cơ mất nước, nhà Trần đã chứng tỏ sự bế tắc và suy yếu của mình không còn đủ khả năng điều hành đất nước Vì vậy lịch sử đặt ra yêu cầu bức thiết là phải có một nhà nước trung ương tập quyền vững mạnh, đủ khả năng thực hiện một cuộc cải cách sâu rộng và lãnh đạo nhân dân đánh thắng ngoại xâm Để thực hiện được yêu cầu đó trước hết cần gạt bỏ những quý tộc Trần bảo thủ khỏi bộ máy điều hành đất nước, xoá bỏ kinh tế điền trang, giải phóng sức lao động của nông nô, nô tỳ (bộ phận lạc hậu), đồng thời xoá bỏ nền chuyên chế Quý tộc không còn phù hợp nữa để xây dựng nhà nước Quân chủ quan liêu
Từ giữa thế kỷ XIV đã xuất hiện các tư tưởng cải cách của một số quan liêu nho sĩ như Lê Quát, Phạm Sư Mạnh song đã bị các vua Trần là Dụ Tông và Nghệ Tông bác bỏ Mặc dầu vậy, cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng QCQT với Quân chủ quan liêu của tầng lớp nho sĩ mà tiêu biểu là Hồ Quý Ly vẫn diễn ra dai dẵng khi âm thầm, khi quyết liệt vào 30 năm cuối thế kỷ XIV
2.3.2 Nhà Hồ và cải cách Hồ Qúy Ly
a) Vài nét về tiểu sử Hồ Quý Ly
Hồ Quý Ly là dòng dõi Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, có hai người cô làm hoàng hậu nhà Trần nên ông trở thành quý tộc Ngoại thích Sau khi cùng với vua Trần dẹp loạn
Trang 2828
Dương Nhật Lễ lại có mối quan hệ thân cận với nhà vua, Hồ Quý Ly tiến nhanh trên đường họan lộ Năm 1371, Hồ Qúy Ly được phong chức Khu mật Đại sứ trông coi cấm quân Năm 1075, Hồ Quý Ly được phong làm Tham mưu quân sự Năm 1379, ông được thăng làm Tiểu tư không kiêm Khu mật Đại sứ Năm 1380, ông giữ chức Nguyên nhung hải tây Đô thống chế Năm 1387, ông lại được Nghệ Tông thăng lên chức Đồng binh chương sự quyền như Tể tướng Năm 1398, Hồ Quý Ly phế vua Trần Thuận Tông đưa Trần Thiếu Đế (là cháu ngoại) lên ngôi Năm 1395, Nghệ Tông mất, Quý Ly được phong Nhập nội Phụ chính Thái sư bình chương Quân Quốc trọng sự, tước Tuyên trung vệ quốc Đại vương
Năm 1397, Hồ Quý Ly cho xây kinh đô mới ở An Tôn (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá) Năm
1399, ông tiêu diệt họ hàng cùng thân thuộc họ Trần hơn 370 người Năm 1400, Hồ Quý
Ly ép vua Trần nhường ngôi và lên làm vua lập ra nhà Hồ Từ khi thâu tóm được quyền lực Hồ Quý Ly đã đẩy mạnh các cải cách về kinh tế, xã hội
b) Nội dung của cải cách Hồ Quý Ly
* Cải cách về hành chính và quân sự
+ Về hành chính: Từ năm 1375, Hồ Quý Ly đã tiến hành gạt các tôn thất nhà Trần
ra khỏi các cương vị chủ chốt trong triều lẫn quân đội, đưa lực lượng trẻ vào Năm 1378, trong số 16 chỉ huy các đạo quân trung ương thì 12 người không phải tôn thất nhà của nhà Trần Năm 1397, Hồ Quý Ly đặt quy chế hệ thống quan lại địa phương thống nhất quản lý từ trung ương đến địa phương Các chức An phủ sứ ở các lộ phải quản lý từ lộ đến phủ, huyện, châu trong lộ Lộ trực tiếp chịu trách nhiệm trước Nhà nước trung ương Tầng lớp quý tộc Trrần bị Hồ Quý Ly loại bỏ dần thay bằng tầng lớp nho sĩ trí thức
có tư tưởng cải cách (đưa Nguyễn Đa Phương làm tướng quân, Phạm Cự Luận làm Đô
sự, giết các tướng lĩnh tôn thất nhà Trần như Trần Ngọc Cơ, Trần Ngọc Kiên, Trần Khát Chân, ) Hồ Quý Ly ra sức tuyển chọn đề bạt và tổ chức thi cử đễ nhanh chóng đào tạo
hệ thống quan liêu mới cho nhà Hồ
+ Về quân sự: Hồ Quý Ly định lại binh chế, chỉnh đốn quân đội, tổ chức lại quân
Túc vệ, đặt thêm các hiệu quân, tăng cường kỹ luật, loại các tướng già, bất tài, sức yếu thay bằng những người khoẻ mạnh, am hiểu võ nghệ Quân đội được biên chế thành: quân, đội, vệ; đứng đầu có Đại tướng, Đô tướng, Phó đô tướng quân Ở các đơn vị đặt các chức Đại đội trưởng, Đại đội phó, Đô đốc, Đô thống, Tổng quản, Cấm quân có 20 vệ
Hồ Quý Ly còn cho làm sổ hộ tịch để kiểm kê dân số toàn quốc ghi tên tất cả con trai từ 2 tuổi trở lên cấm ẩn lậu nhân đinh nhằm tăng cường quân số với ý định xây dựng đạo quân một triệu người Ông cũng chủ trương cải tiến vũ khí và trang bị, thực hiện
Trang 2929
nhiều biện pháp cần thiết như mở xưởng rèn đục vũ khí, tuyển thợ giỏi vào các quân xưởng nên chế tạo được những vũ khí mới lợi hại như súng Thần cơ là loại đại bác đầu tiên ở nước ta, các loại pháo nhỏ, súng bắn đạn ghém, đạn lửa, máy bắn đá Trong quân đội đã có bộ phận pháo binh Nhà Hồ còn mở xưởng đóng thuyền sắt để đối phó với sự xâm lược của nhà Minh Đặc biệt thời Hồ đóng được loại Cổ lâu thuyền tải lương nhưng cũng là một dạng thuyền chiến rất lớn gồm 2 tầng Hồ Quý Ly chủ trương xây dựng hệ thống phòng thủ quốc gia với nhiều công trình kỹ thuật quân sự khá lớn như thành Tây
Đô, thành Đa Bang với công trình phòng thủ dài gần 400 km từ núi Tản Viên đến sông Thái Bình
*Cải cách kinh tế tài chính và xã hội
Năm 1396, Hồ Quý Ly cho phát hành tiền giấy gọi là “Thông bảo hội sao” lệnh cho đổi tiền đồng thay bằng tiền giấy để tiêu dùng; đồng thời quy định xử tử người nào phạm tội làm tiền giả
Năm 1397, Hồ Quý Ly ban hành chính sách Hạn điền Nhà nước quy định: trừ Đại vương và Trưởng công chúa, còn lại tất cả mọi người không được sở hữu quá 10 mẫu, người nào nhiều ruộng được phép đem chuộc tội, nếu không cũng bị sung công Năm 1401, nhà Hồ ban hành chính sách Hạn nô Mỗi người theo phẩm tước được nuôi một số lượng gia nô theo quy định, số thừa phải sung sông, Nhà nước trả cho chủ mỗi gia nô 5 quan
Năm 1402, nhà Hồ ban hành chính sách thuế khoá mới định lại biểu thuế ruộng Thuế đinh không áp dụng đồng đều (như thời Trần) mà căn cứ theo số lượng ruộng đất
mà chủ sở hữu Người 5 sào thu 5 tiền, người 2 mẫu 3 sào trở lên thu 3 quan, người không có ruộng, trẻ mồ côi, đàn bà goá bụa không đánh thuế
*Cải cách văn hoá giáo dục
Tư tưởng cải cách văn hoá giáo dục được Hồ Quý Ly thể hiện khi ông viết sách Minh đạo (con đường sáng) Năm 1395, ông dịch thiên Vô Dật trong Kinh Thư ra chữ Nôm để dạy cho cung phi và cung nhân; định lại phép thi cử bỏ lối ám tả, cổ văn, quy định nội dung và hình thức cho mỗi kỳ thi Năm 1397, ông chủ trương mở trường học ở các lộ, châu, phủ, cử các quan Giáo thụ trông coi, cấp ruộng học cho các địa phương Năm 1396 Hồ Quý Ly bắt tất cả các sư dưới 50 tuổi phải hoàn tục, số còn lại phải qua sát hạch, ai thông hiểu đạo Phật mới được làm sư
Đánh giá tác dụng và hạn chế của việc cải cách (G/ viên hướng dẫn s/v tự đánh giá.)
Trang 30
30
2.4 Các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm
4.2.1 Cuộc kháng chiến chống Tống của nhà Lý ở thế kỷ XI
Sau thất bại năm 981, nhà Tống vẫn chưa từ bỏ mưu đồ xâm lược nước ta Năm
1068 Tống Thần Tông lên ngôi vua, Vương An Thạch được cử làm tể tướng Để vượt qua những khó khăn chồng chất về đối nội (tài chính nguy ngập, ngân khố trống rỗng, nội
bộ mâu thuẫn), về đối ngoại Tống bị hai nước Liêu, Hạ thường xuyên uy hiếp Tống Thần Tông và Vương An Thạch đã tiến hành chính sách Tân pháp trong đó có chủ trương tiến hành xâm lược Đại Việt với âm mưu: “Sau khi Giao Chỉ thua hãy đặt thành quận huyện mà cai trị và hãy sung công của cải” Thắng được Đại Việt thì “thế Tống sẽ tăng
và các nước Liêu, Hạ sẽ phải kiêng nể” Xuất phát từ mục đích đó, nhà Tống đã tích cực chuẩn bị xâm lược Đại Việt (tăng cường lực lượng gần biên giới), xây dựng các cứ điểm làm bàn đạp cho cuộc tiến quân, tích trữ lương thảo chuẩn bị chọn, cử các tướng tá am hiểu tình hình Đại Việt làm tướng chỉ huy đạo quân xâm lược; cắt đứt quan hệ bang giao với Đại Việt để giữ bí mật công cuộc chuẩn bị xâm lược Nhà Tống còn xúi giục Champa đánh phá vùng biên giới phía nam Đại Việt
Trước nguy cơ xâm lược của nhà Tống, triều đình Đại Việt đã chủ động đối phó bằng biện pháp tích cực nhất, theo sáng kiến của Lý Thường Kiệt triều đình dùng sách lược “tiên phát chế nhân” tức ngồi im đợi giặc không bằng đem quân ra trước chặn thế mạnh của giặc Nhà Lý chủ động tiến công vào đất Tống để tiêu diệt địch ở các cứ điểm xuất phát của giặc khi chúng chưa hoàn tất việc chuẩn bị Cuộc kháng chiến chống Tống của nhân dân ta diễn ra qua hai giai đoạn
Giai đoạn 1: Chủ động tiến công để tự vệ (1075 - 1076)
Nhà Lý huy động lực lượng khá lớn, khoảng hơn 10 vạn quân gồm có quân chủ lực của triều đình và dân binh các bộ tộc miền núi do các tù trưởng chỉ huy như quân của Tông Đản, Vi Thủ An, Thân Cảnh Phúc Lý Thường Kiệt nắm quyền tổng chỉ huy toàn
bộ các lực lượng này
Ngày 27/10/1075 cánh quân đầu tiên của Lý Thường Kiệt tiến vào Trung Quốc bao vây thành Cổ Vạn, tiếp đó các cánh khác do các tù trưởng miền núi chỉ huy đánh phá các trại Vĩnh Bình, Thái Bình, Hoành Sơn, Châu Lộc, Tây Bình…
Quân chủ lực do Lý Thường Kiệt chỉ huy chiếm Khâm Châu ngày 30/12/1075, chiếm Liêm Châu ngày 02/01/1076 Ngày 18/01/1076, Quân Tông Đản và Lý Thường Kiệt cùng phối hợp tiến đến bao vây Ung Châu Sau hơn một tháng bao vây quân Lý Thường Kiệt hạ được thành Ung Châu và đánh bại viện binh địch Sau 42 ngày chiến đấu
ác liệt, quân đội nhà Lý đã hoàn thành thắng lợi các mục tiêu vạch ra Lý Thường Kiệt
Trang 3131
cho san phẳng thành trì, lấy đá lấp cửa sông và rút quân về nước Sau khi rút quân về Lý Thường Kiệt hạ lệnh cho các địa phương chuẩn bị chống xâm lược, mai phục đường biên giới, cản đường tiến của quân giặc Đặc biệt Lý Thường Kiệt còn cho xây dựng phòng tuyến bên bờ nam sông Như Nguyệt (sông Cầu) dài 100km từ chân núi Tam Đảo trở xuống và trực tiếp chỉ huy việc bảo vệ phòng tuyến
Giai đoạn 2: Cuộc kháng chiến chống Tống trên đất Đại Việt (1076 - 1077)
Ngày 18/8/1076, quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy ồ ạt tiến vào nước ta và hội quân ở phía Bắc sông Cầu nhưng không vượt qua được sông Cầu để tiến vào Thăng Long Cánh quân thuỷ do Hà Mâu chỉ huy bị quân Lý do Lý Kế Nguyên chỉ huy đánh tan không tiếp ứng được cho Quách Quỳ Quân địch đã tổ chức vượt sông bằng cầu phao chọc thủng chiến tuyến song bị rơi vào ổ mai phục của quân ta Quân giặc thua tan tác, phần lớn số vượt sông bị tiêu diệt Sau đó Quách Quỳ còn tổ chức vượt sông 2 lần nữa nhưng đều bị quân ta đẩy lui và tiêu diệt, do đó Quách Quỳ không dám nghĩ đến tiến công nữa; Y quyết định phải chờ thuỷ binh và ra lệnh ai bàn đánh sẽ chém
Quân ta dùng chiến thuật du kích quấy rối địch liên tục Quân địch ngày càng bị tiêu hao về số lượng Lý Thường Kiệt cử 2 hoàng tử Hoằng Chân và Chiên Văn đem 400 chiếc thuyền chở 2 vạn quân mở cuộc tiến công doanh trại quân Quách Quỳ Mặt khác nhân đêm tối Lý Thường Kiệt dẫn đại quân vượt sông đánh úp doanh trại phó tướng giặc
là Triệu Tiết Địch không kịp trở tay nên đại bại, quân số mười phần bị chết năm, sáu phần Trước thất bại đó, quân Quách Quỳ lâm vào nguy cơ bị ta tiêu diệt nhưng rút lui thì mất thể diện của Thiên triều Biết rõ ý chí xâm lược của kẻ thù đã bị đè bẹp, Lý Thường Kiệt đã chủ động đưa ra đề nghị “giảng hoà” thực chất là mở lối thoát cho quân Tống Đó
là chủ trương kết thúc chiến tranh mềm dẽo của Lý Thường Kiệt (dùng biện sĩ bàn hoà, không nhọc tướng tá, khỏi tốn xương máu mà bảo tồn được tông miếu)
Như chết đuối vơ được cọc, lập tức tháng 3/1077 quân Tống bí mật rút lui vào ban đêm vì sợ ta tập kích Quân giặc rút đến đâu Lý Thường Kiệt cho quân theo sát lấy lại đất đai đến đấy Riêng châu Quảng Nguyên (Cao Bằng) có nhiều tài nguyên nhà Tống có âm mưu chiếm giữ nhưng rồi bằng biện pháp đấu tranh ngoại giao kiên quyết nhà Lý cũng lấy lại được vào năm 1079
+ Kết quả: Cuộc xâm lược của 30 vạn quân Tống vào nước ta bị dập đập tan, ý chí
xâm lược của Nhà Tống bị bẻ gảy, nền độc lập dân tộc được củng cố Quân Tống thiệt hại lớn với hơn 10 vạn lính khi đi, lúc về chỉ còn khoảng hơn 2 vạn và 8 trên 20 vạn phu
bỏ mạng Toàn bộ chi phí chiến tranh của Tống tiêu phí và 5.100.000 lạng vàng
+ Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử (GV hướng dẫn SVphân tích)
Trang 32cơ ngày 29/01/1258 quân Trần phản công đánh tan quân giặc ở Đông Bộ Đầu, số còn lại
bị đánh bật khỏi Thăng Long phải tháo chạy về nước Cuộc kháng chiến lần thứ nhất kết thúc thắng lợi
b Cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285)
Thất bại trong việc đe doạ, dụ dỗ Đại Việt thuần phục, nhà Nguyên lại tổ chức lực lượng phát động cuộc chiến tranh xâm lược Ngày 27 tháng 1 năm 1285, 50 vạn quân Nguyên do Thoát Hoan và Aric-kha-ja (A lí Hải nha) thống lĩnh chia làm hai cánh tiến vào nước ta
Ngày 2/2/1885, cánh phía Tây theo đường Khâu Ôn đánh chiếm ải Chi Lăng Cánh phía Đông theo đường Khâu Cáp đánh vào Khả Lý rồi tấn công vào Nội Bàng Trần Quốc Tuấn cho quân chặn đánh cánh phía Tây rồi rút về Vạn Kiếp (Chí Linh - Hải Hưng) Sau một số trận giao chiến nhằm tiêu hao bớt sinh lực địch, quân Trần rút lui khỏi Thăng Long và thực hiện kế “vườn không nhà trống”
Ở phía Nam đạo quân của Toa Đô từ Chăm pa đánh ra Nghệ An, bị Trần Quang Khải chặn đánh
Một đạo quân khác ở phía Bắc từ Vân Nam theo sông Chảy tiến vào nước ta Đạo quân này bị quân của Trần Nhật Duật chặn đánh, nhưng trước thế giặc mạnh sau một
số trận giao chiến quân của ông phải rút về Bạch Hạc và hợp với quân chủ lực của
triều đình
Quân địch 3 cánh phía Bắc đánh xuống, một cánh từ phía Nam đánh ra dùng thế gọng kìm hòng tiêu diệt quân ta Trần Quốc Tuấn và vua Trần lui quân ra miền biển rồi
Trang 3333
thực hiện cuộc rút lui ngoạn mục vào chiếm giữ Thanh Hoá Kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của địch thất bại chúng phải chiếm đóng lâu càng lâm vào khó khăn vì thiếu lương thực, ốm đau cả người lẫn ngựa Mặt khác quân Nguyên liên tục bị quân dân ta tập kích tiêu hao
Nắm được thời cơ quân địch lâm vào khó khăn, ta bắt đầu phản công Các trận chiến ác liệt diễn ra ở Tây kết, Hàm Tử, Chương Dương ta tiêu diệt một lực lượng lớn quân địch Ngày 10/6/1285 quân giặc tháo chạy bị quân ta truy kích Thoát Hoan phải chui vào ống đồng mới thoát chết Toa Đô bị quân ta chém đầu Cuộc kháng chiến của quân và dân ta giành thắng lợi
c Cuộc kháng chiến lần thứ ba (1287 - 1288)
Sau lần hai thất bại nặng nề, nhục nhã; vua Nguyên hết sức căm giận, từ bỏ ý định tấn công Nhật tập trung lực lượng với hàng chục vạn quân, hàng trăm chiến thuyền để tiến hành xâm lược Đại Việt lần thứ ba Thoát Hoan lại được cử làm Tổng chỉ huy Lần này quân địch thận trọng hơn Tháng 12/1287, quân Nguyên chia làm ba đạo tiến vào nước ta:
- Đạo thứ nhất do Ái Lỗ chỉ huy theo đường từ Vân Nam tiến vào
- Đạo chủ lực do Thoát Hoan chỉ huy tiến vào qua đường Lạng Sơn
- Đạo thứ ba là quân thuỷ do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy cùng đoàn thuyền lương do Trương Văn Hổ phụ trách theo sau Đạo này từ Khâm Châu vượt biển tiến vào phía cửa sông Bạch Đằng, Trần Khánh Dư chỉ huy một đạo quân Trần chặn đánh nhưng
bị thua Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp vượt qua để về Vạn Kiếp hội quân với Thoát Hoan Trần Khánh Dư củng cố lại lực lượng mai phục ở Vân Đồn và đánh tan đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ Quân giặc vào chiếm đóng nước ta lại bị thiếu lương thực trong lúc quân dân ta dùng kế “vườn không nhà trống” nên địch càng lúng túng; chúng tìm cách đánh cướp lương thực song đi đến cũng bị quân dân ta chặn đánh quyết liệt Địch ngày càng khốn đốn, thiếu lương, lâm vào thế tiến thoái lưỡng nam buộc phải quyết định rút quân Tháng 4/1288 đoàn quân thuỷ do Ô Mã Nhi chỉ huy có kỵ binh hộ tống rút lui theo sông Bạch Đằng mắc kế quân ta Đạo quân thuỷ bị tiêu diệt, Ô Mã Nhi bị bắt sống
Đạo quân bộ của Thoát Hoan tháo chạy cũng bị quân ta truy kích đánh cho tan tác Thoát Hoan phải chui vào ống đồng cho lính khiêng về nước mới thoát chết
* Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử
(Giảng viên hướng dẫn sinh viên phân tích.)
Trang 3434
2.5 Văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần - Hồ
2.5.1 Điều kiện ra đời
Nhờ đất nước có độc lập tự chủ, giai cấp phong kiến ở thời kỳ đang lên nên họ
đủ sức gánh vác sứ mệnh lịch sử lãnh đạo dân tộc xây dựng và bảo vệ Quốc gia phong kiến độc lập Về cơ bản đất nước được thanh bình, độc lập, ổn định về chính trị; ý thức dân tộc được đề cao là điều kiện thuận lợi cho văn hoá phát triển Mặt khác trong quá trình xây dựng nhà nước theo hướng chính quy, thời Lý - Trần mặc dù Phật giáo được đề cao như là Quốc giáo Song do nhu cầu xây dựng nhà nước mà Nho giáo cũng bắt đầu được chú ý và dần dần phát triển ngày một có xu hướng lấn át Phật giáo Bên cạnh việc xây dựng đất nước độc lập tự chủ trong thời kỳ này, nhân dân ta còn phải tiến hành 5 cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và 4 lần thắng lợi vẻ vang Hoàn cảnh đó có ảnh hưởng đến tư tưởng chủ đạo của nền văn hoá, đó là tư tưởng yêu nước, ý thức dân tộc tự chủ mạnh mẽ tạo nên hào khí Đông A
Việc dời đô về Thăng Long là một bước tiến mới thể hiện sự trưởng thành của ý thức dân tộc của giai cấp phong kiến Thăng Long trở thành trung tâm chính trị, kinh tế
và cũng là trung tâm của văn hoá Đại Việt thời kỳ này và cả về sau
Mặt khác nền văn hoá Đại Việt lúc này được kế thừa từ những giá trị văn hoá, văn minh Văn Lang- Âu Lạc và của thời kỳ Bắc thuộc do đó càng có điều kiện phát triển trong hoàn cảnh đất nước hoà bình
5.5.2 Những thành tựu tiêu biểu
Cùng với sự lớn mạnh về kinh tế và chính trị, thời Lý Trần Hồ văn hóa nước ta phục hưng và phát triển lên một trình độ mới Đây được xem là một thời kỳ phát triển thịnh đạt của văn hóa Đại Việt mà Thăng Long là trung tâm Các thành tựu của văn hóa của Đại Việt lúc này rất phong phú đặc sắc vươn tới tầm cao mới qua một quá trình tiếp biến và tích hợp giữa các yếu tố văn hóa
“Trên cơ sở cốt lõi của nền văn hóa Việt cổ, các vương triều Lý, Trần đã tự nguyện, chủ động tiếp thu và cải biến các yếu tố văn hóa Đông Á Trung Hoa và văn hóa Chăm pa vốn chịu nhiều ảnh hưởng cuả văn hóa Ấn Độ, tích hợp vào văn hóa dân tộc Tuy nhiên lúc này những ảnh hưởng của văn hóa ngoại sinh du nhập còn ở mức độ hạn chế, được gạn lọc hợp luyện thành những yếu tố nội sinh”
Trong việc tiếp thu các yếu tố văn hóa ngoại sịnh, văn hóa nước ta thời Lý- Trần-Hồ thể hiện sự pha trộn giữa văn hóa Nam Á với Đông Á trong một vị thế cân bằng
Sự cân bằng đó thể hiện trong tính đối trọng lưỡng nguyên và đan xen giữa Phật giáo với
Trang 3535
Nho giáo và Đạo giáo, giữa văn hóa dân gian làng xã với văn hóa quan liêu cung đình
Xu hướng phát triển là từ yếu tố vượt trội của văn hóa dân gian Phật giáo trong thời kỳ đầu chuyển dần sang sắc thái văn hóa Đông Á quan liêu Nho giáo trong giai đoạn cuối
Nghề gốm, làm gạch ngói cũng đạt trình độ cao; gốm men trắng, men lục, men ngọc thời Lý rất nổi tiếng; các loại gạch ngói được dùng để xây dựng cung điện là những sản phẩm mỹ nghệ cao cấp Nghề đúc đồng chuyển hẵn sang sản xuất đồ dùng gia đình,
đồ trang sức, chuông, khánh Năm 1035 nhà Lý phát 6000 cân đồng để đúc chuông chùa Trùng Quang Năm 1056 Lý Thánh Tông phát 1200 cân đồng để đúc chuông ở chùa Sùng Khánh - Báo Thiên Các nghề làm trang sức như khảm vàng bạc ngày càng phát triển Nghề làm giấy của Trung Hoa được nhân dân ta tiếp thu và phát triển, được cải tiến và nâng lên trình độ cao Nhân dân ta sản xuất được các loại giấy độc đáo như giấy Ngũ lương, giấy Đại phượng, giấy Điệp, giấy Trầm hương Thủ công nghiệp đạt được những thành tựu đáng tự hào với 4 hiện vật văn hoá nổi tiếng đã trở thành biểu tượng văn hoá và niềm tự hào dân tộc được gọi là Tứ đại khí (tháp Bảo Thiên, chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh, tượng Phật chùa Quỳnh Lâm)
b Văn hoá tinh thần
+ Khoa học và kỹ thuật: Thế kỷ XIV nhiều lĩnh vực khoa học phát triển Toán học
(hình học và số học) được sử dụng đẻ đo đạc ruộng đất và xây dựng Thiên văn học gắn với tên tuổi Đặng Lộ và Trần Nguyên Đán Đặng Lộ chế tạo được dụng cụ đo động đất là
“Lung linh nghi”, Trần Nguyên Đán là người dày công nghiên cứu lịch pháp và biên soạn quyển “Bách thế thông khảo” khảo cứu từ những thế kỷ trước công nguyên đến thế kỷ XIV ghi rõ những ngày nhật thực, nguyệt thực, thời tiết trong năm và vị trí các ngôi sao
- Y học: Thời Trần đã có những thành tựu quan trọng về y dược dân tộc Nhiều loại
Trang 3636
cây thuốc nam dùng để chữa bệnh có hiệu quả Trần Quốc Tuấn và Thái y viện nhà Trần
đã coi trọng việc sử dụng cây thuốc trong nước để chữa bệnh Trần Quốc Tuấn đã có một khu vực dành đễ trồng cây thuốc khá rộng Nhà y học Nguyễn Bá Tĩnh (tức Tuệ Tĩnh) quê Cẩm Giằng - Hải Dương, đỗ tiến sĩ thời Trần không làm quan mà chuyên nghiên cứu thuốc nam và chữa bệnh Ông có tác phẩm nổi tiếng “Nam dược thần liệu” trong đó nghiên cứu 580 vị thuốc và 3873 phương thuốc điều trị
- Sử học: Thời Trần nhà nước đã thành lập Quốc sử viện chuyên lo chép sử quốc gia, triều đại, cử các trí thức giỏi đảm nhận chức Sử quan như Lê Văn Hưu, Vũ Quỳnh,
Hồ Tông Thốc Lê Văn Hưu là người hoàn thành bộ sử thành văn đầu tiên của nước ta có tên là Đại Việt sử ký gồm 30 tập, viết sử nước ta từ Triệu Vũ Đế (207 trước công nguyên) đến đời Lý Chiêu Hoàng Bộ sử này ngày nay không còn nữa Thời Trần, ngoài các bộ sử của nhà nước còn có các bộ sử của cá nhân như: Việt sử lược (không rõ tác giả
có lẽ đây là cuốn sử cỗ nhất còn lại đến nay), An Nam chí lược của Lê Tắc…
- Quân sự: Lĩnh vực khoa học quân sự đạt đến trình độ cao với 2 tác phẩm của Trần Hưng Đạo là “Binh thư yếu lược” và “Vạn kiếp tông bí truyền thư” Về kỹ thuật quân sự
ở đầu thế kỷ XV, Hồ Nguyên Trừng đã sáng chế ra súng Thần cơ là loại pháo binh xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam
+ Giáo dục, khoa cử: Ở thời kỳ đầu của quốc gia phong kiến độc lập, Nho giáo và chữ
Hán chưa phát triển mấy, tuy nhiên chúng đã tồn tại trong xã hội Cùng với sự phát triển của chế độ phong kiến nhu cầu xây dựng một nhà nước Quân chủ chính quy mà Nho giáo ngày càng được các vương triều phong kiến đề cao Chế độ giáo dục, khoa cử theo tinh thần Nho giáo cũng theo đó phát triển Để đào tạo nhân tài và tuyển chọn quan lại cho bộ máy nhà nước, năm 1070 nhà Lý cho dựng Văn Miếu đúc tượng Khổng Tử, Chu Công để thờ Văn Miếu trở thành nơi học tập của Hoàng, Thái tử Về sau nhà Trần cho phép con
em vương hầu quý tộc cũng được vào học
Năm 1070, nhà Lý mở khoa thi Minh kinh Bác sĩ và Nho học tam trường Đây là khoa thi đầu tiên trong lịch sử khoa cử Việt Nam Năm 1195, nhà Lý mở kỳ thi Tam giáo Tuy nhiên, thời Lý việc thi cử chưa có nề nếp, chỉ khi nào nhu cầu bổ sung đội ngũ quan lại mới được tổ chức Sang thời Trần việc thi cử được nhà Trần chú ý tổ chức chu đáo
Cứ 7 năm có một kỳ thi Hội, nhà Trần trong kỳ thi đầu tiên năm 1232 đã chia những người đỗ Thái học sinh làm 3 giáp Từ năm 1247 bắt đầu thực hiện lệ lấy tam khôi (ba người đỗ đầu trong kỳ thi) là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa Thời Trần, bên cạnh Quốc tử viện là trường Nho học cao cấp còn có một số trường Nho học khác Năm 1397, triều đình theo chủ trương của Hồ Quý Ly đã đặt chức học quan và mở trường ở các lộ,
Trang 3737
phủ, lập ruộng công để chi phí cho việc dạy và học
Đời Trần, nhà nước tổ chức được 14 khoa thi lấy đổ 282 người đại khoa Có một thời gian nhà Trần đặt hai loại Trạng nguyên, Trại trạng nguyên dành cho khu vực Thanh Nghệ trở vào, Kinh trạng nguyên lấy ở phần còn lại phía Bắc
Qui trình khoa cử đời Trần được chia làm 4 kỳ lần lượt là: ám tả, Cổ văn, Kinh nghĩa và thơ phú, Chế, Chiếu, Biểu và Văn sách; ngoài ra nhà Trần còn tổ chức kỳ thi Hương ở địa phương Thời Hồ, tiếp tục cải cách thi cử bỏ thi ám tả, Cổ văn, thêm vào các môn thi toán và viết chữ
+ Văn học, nghệ thuật
- Văn học thời Lý, Trần phản ánh tư tưởng, tình cảm của con người thời đại, nhìn chung mang yếu tố tích cực, lạc quan của những vương triều đang lên Cơ sở tư tưởng của nó là Phật giáo và Nho giáo Có 2 dòng văn học chính là văn học Phật giáo và văn học yêu nước trong phần văn học chữ Hán
Văn học chữ Hán
* Bộ phận văn học Phật giáo, chủ yếu là tư tưởng của phái Thiền tông Nó bao gồm cả tư tưởng triết học tiêu biểu là sáng tác của các nhà sư, tuy là sư nhưng họ vẫn rung động trước thiên nhiên và không phủ nhận thực tại Sư Viên Chiếu viết:
“Xuân dệt hoa như gấm thu thêu là đốm vàng”
Hay “Theo gió tiếng tù luồn trúc đến
Cõng trăng bóng núi vượt tường qua”
Sư Không Lộ nổi tiếng với câu thơ:
“Trường khiến nhất thanh hàm đại thư”
Tức “Một tiếng chim kêu lạnh cả trời”
Các nhà sư không lánh đời thoát tục mà nhập thế, đầy lạc quan, dạt dào niềm tin ở ngày mai, ở mùa xuân: “Mãn vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”
* Thơ văn chữ Hán với chủ đề yêu nước, niềm tự hào dân tộc, tiêu biểu có thơ Lý Thường Kiệt, văn Lý Công Uẩn, Văn Trần Quốc Tuấn, thơ Trần Thánh Tông, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trương Hán Siêu…
* Thời Hồ có thơ thế sự của Đặng Dung
“Quân thù vị báo đầu thu bạch
Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma”
Dịch nghĩa: “Bạc đầu chưa báo được thù nước
Mài gươm mấy bận bóng trăng tàn”
Trang 3838
+ Văn học chữ Nôm
Chữ Nôm xuất hiện từ thời Bắc thuộc nhưng chưa phổ biến Thời Lý có thể tìm thấy dấu vết ở một số chuông đồng (ở chùa Văn bản - Đồ Sơn), văn bia (chùa Bảo Ân - Vĩnh Phúc) Đến thế kỷ XIII, chữ Nôm được phổ biến với các giai thoại về Nguyễn Thuyên viết bài văn tế cá sấu Một số tác giả khác cũng sáng tác thơ bằng chữ Nôm như: Nguyễn Sĩ Cố, Trần Nhân Tông, Mạc Đĩnh Chi, Chu Văn An, Hồ Quý Ly Chữ Nôm cũng được phổ biến trong dân gian như một số câu vè châm biếm việc Huyền Trần Công chúa kết duyên với Chế Mân (vua Chăm), hoặc việc Trần Nguyên Đán kết
giao với Hồ Quý Ly
- Nghệ thuật
Thời Lý - Trần - Hồ để lại nhiều công trình nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc hoành tráng Thời Lý kiến trúc qui mô, thời Trần - Hồ lại có tính thực dụng, khỏe khoắn Tinh thần Phật giáo thấm đượm trong các công trình Tiêu biểu là các công trình như chùa Quỳnh Lâm, tháp Bảo Thiên, tháp Phổ Minh, chùa Một Cột, kinh thành Thăng Long, thành nhà Hồ ở Thanh Hoá (thành Tây Đô)…
Điêu khắc và đúc tạo hình có các loại tượng, chuông, vạc, các bức phù điêu, ví dụ tượng phật chùa Quỳnh Lâm, tượng Khổng Tử, Chu Công, Tứ Phối, chuông đồng chùa Sùng Khánh, Báo Thiên, chuông Quy Điền, vạc đồng ở chùa Phổ Minh Các phù điêu hình hoa sen, lá đề, sóng nước rất phong phú ở kinh thành Thăng Long
Thời kỳ này văn hoá Đại Việt phát triển thịnh đạt trên cơ sở kế thừa và phát triển văn hoá bản địa, có kết hợp với tiếp thu một số yếu tố văn hoá Trung Hoa, Ấn Độ, Champa…
- Đạo đức: Thời Lý- Trần- Hồ tư tưởng yêu nước thương dân là chuẫn mực đạo đức
cao nhất để đánh giá con người và các hoạt động xã hội Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên phát triển với việc thờ cúng các anh hùng vĩ nhân Các đền thờ trống đồng, Hai Bà Trưng, Phùng Hưng Thời Lý-Trần cho xây dựng đền thờ các danh tướng Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn Họ còn được nhân dân cả nước xây dựng và tôn thờ ở nhiều nơi Các truyền thống đoàn kết, trọng người già, ngay thẳng, liêm khiết được xã hội đề cao, ca ngợi
- Tôn giáo: Mặc dù Phật giáo đóng vai trò chủ đạo song Đạo giáo, Nho giáo cũng
được tự do phát triển
- Tín ngưỡng: Thờ cúng tổ tiên, thờ thành hoàng, anh hùng trở nên phổ biến Nền
văn hoá Đại Việt là một nền văn hoá nông nghiệp trồng lúa nước đậm đà bản sắc dân tộc, yêu nước và thương dân mà tinh thần quán xuyến là nhân ái, hoà hợp giữa con người với thiên nhiên, con người với con người, gia đình - làng - nước
Trang 3939
Câu hỏi ôn tập chương 2
1 Những chính sách củng cố và xây dựng chính quyền của các vương triều Lý - Trần?
2 Các hình thái sở hữu ruộng đất và chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, công thương nghiệp thời Lý - Trần ?
3 Tại sao nói: nhà nước Lý - Trần là nhà nước Quân chủ quí tộc ?
4 Phân tích nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thời Lý- Trần
5 Những thành tựu tiêu biểu, phân tích đặc điểm của văn hoá thời Lý - Trần - Hồ
6 Trình bày nội dung, đánh giá mặt tích cực, hạn chế của cải cách Hồ Quý Ly
* BÀI TẬP 3 TIẾT
+ Đánh giá vai trò lịch sử của Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Hoàn
+ Đánh giá vai trò lịch sử của Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt
+ Đánh giá vai trò lịch sử của Trần Thủ Độ, Trần thánh tông, Trần Quốc Tuấn,
Hồ Qúy Ly
Trang 4040
CHƯƠNG 3 ĐẠI VIỆT TRONG THẾ KỶ XV ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XVI
3.1 Cuộc kháng chiến chống quân Minh do nhà Hồ lãnh đạo
6.1.1 Nhà Minh xâm lược nước ta
Cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, xã hội Đại Việt trải qua những biến động sâu sắc Chế độ phong kiến quý tộc khủng hoảng Nhà Trần suy yếu và sụp đỗ Nhà Hồ thành lập đã tiến hành cải cách nhưng gặp phải khó khăn do sự chống đối của quý tộc Trần, tâm
lý ly tâm trong xã hội của nhân dân Các biện pháp cải cách tuy nhìn chung là tiến bộ nhưng việc thực thi kém hiệu quả lại vấp phải một số hạn chế, sai lầm nên uy tín của nhà
Hồ suy giảm trong nhân dân
Ở Trung Quốc cuộc khởi nghĩa nông dân do Chu Nguyên Chương lãnh đạo giành thắng lợi (năm 1368) lật đổ nhà Nguyên, nhà Minh được thành lập Đến thời Minh Thành Tổ (1402 - 1424), nhà Minh đạt đến giai đoạn cực thịnh và đẩy mạnh việc bành trướng thế lực ra nước ngoài, trong đó có Đại Việt
Năm 1405, lấy cớ trước đây nước ta chiếm Lộc Châu của chúng, vua Minh sai người sang đòi Hồ Quý Ly đã phải cắt 59 thôn trả lại Năm 1406, nhà Minh sai 2 tướng Hàn Quang và Hoàng Trung đem hơn 5000 quân hộ tống Trần Thiêm Bình về nước làm vua Quân Minh vừa đến Lạng Sơn thì bị quân nhà Hồ do tướng Hồ Vấn chỉ huy đánh tan, chúng phải nộp Thiêm Bình để được bình yên trở về
Tháng 10/1406, nhà Minh huy động một LL lớn gồm hơn 20 vạn bộ binh, thuỷ binh cùng hàng chục vạn dân phu dưới sự chỉ huy của các tướng Chu Năng, Trương Phụ, Mộc Thạnh, Lý Bân, Trần Húc chia làm 2 cánh tiến vào xâm lược Đại Việt
Cánh thứ nhất do Trương Phụ chỉ huy theo đường Bằng Tường (Quảng Tây) tiến vào Lạng Sơn Cánh thứ hai do Mộc Thạnh chỉ huy theo đường Vân Nam tiến xuống Nhà Minh còn xúi dục Chăm pa phối hợp tấn công phía Nam Một số quan chức quý tộc
cũ của nhà Trần đã phản lại tổ quốc dẫn đường chỉ điểm cho giặc, làm rối loạn hàng ngũ kháng chiến
6.2.2 Cuộc kháng chiến và thất bại của nhà Hồ
a Diễn biến và kết quả của cuộc kháng chiến
Trước âm mưu xâm lược của giặc Minh, nhà Hồ kiên quyết kháng chiến và tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến Từ 1403 - 1404 nhà Hồ đã chủ trương phòng vệ từ
xa, củng cố biên giới, xây dựng các công trình phòng thủ: Lấy xích sắt ngăn cửa sông lớn, di dân khai hoang bảo vệ, lập xưởng chế tạo vũ khí, tăng cường lực lượng bằng việc tuyển thêm quân Nhà Hồ còn cho xây dựng hệ thống phòng thủ chính là phòng tuyến ở