Trong khi chính quyền trung ương suy yếu thì nhiều phe phái phong kiến đã mạnh lên: phái Trịnh Tuy và phái Nguyễn Hoằng Dụ.. Nhà Mạc đã thành lập, nhưng sự tranh chấp của các thế lực ph
Trang 1Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 65 -
CHƯƠNG III: THỜI KỲ KHỦNG HOẢNG CỦA CHẾ ĐỘ
PHONG KIẾN ĐẠI VIỆT
(Từ đầu thế kỷ XVI đến nửa sau thế kỷ XVIII)
I Thời kỳ Lê – Mạc và nội chiến Nam – Bắc triều
Đầu thế kỷ 16, triều Lê bắt đầu suy yếu Vua, quan suy đồi, bắt đầu từ đời
Hiến Tông Lê Uy Mục và Lê Tương Dực là những ông vua sa đọa, bệnh hoạn
Nạn chiếm đoạt ruộng đất của địa chủ gia tăng Mâu thuẫn giai cấp giữa nông
dân và địa chủ phong kiến trở nên sâu sắc Khởi nghĩa nông dân lan rộng Trong
khi chính quyền trung ương suy yếu thì nhiều phe phái phong kiến đã mạnh lên:
phái Trịnh Tuy và phái Nguyễn Hoằng Dụ
Trong bối cảnh hỗn loạn cuốỉ triều Lê sơ, thời Chiêu Tông, một phe phái
phong kiến do Mạc Đăng Dung cầm đầu đã trỗi dậy, phế truất Vua Lê (Cung
Hoàng), lập ra nhà Mạc (năm 1527)
Mạc Đăng Dung sinh ngày 23-11-1483, người làng Cổ Trai (Nghi Dương -
Hải Hưng), vốn là dòng dõi Mạc Đĩnh Chi đời Trần
Triều Mạc ra đời trong bối cảnh gặp sự chống đối mạnh mẽ của cựu thần
triều Lê nên chỗ dựa chủ yếu là quân sĩ Chính vì thế, triều Mạc tích cực tổ chức
Khoa thi để bổ sung bộ máy quan liêu
Nhà Mạc đã thành lập, nhưng sự tranh chấp của các thế lực phong kiến vẫn
tiếp diễn Một nhân vật là Nguyễn Kim, con của Nguyễn Hoằng Dụ đã chiếm
giữ vùng Thanh Hóa, lấy danh nghĩa phù Lê, tôn một người Hoàng tộc là Lê
Duy Ninh lên làm vua, chống đối nhà Mạc Lịch sử thường gọi nhà Mạc đóng đô
ở Thăng Long là Bắc Triều và nhà Lê - mà thực chất quyền hành từ năm 1545
đã lọt vào tay Trịnh Kiểm (con rể Nguyễn Kim)- là Nam Triều, tức triều Lê
Trung Hưng
Cuộc nội chiến Nam- Bắc triều dẫn đến tình trạng đất nước bị khủng hoảng
trong hơn nửa thế kỷ Nhà Mạc thậm chí đã đầu hàng nhà Minh, đem dâng một
phần đất đai phía Bắc của tổ quốc cho ngoại bang
Cuộc nội chiến Nam - Bắc triều kéo dài từ năm 1539 đến năm 1592 mới cơ
bản kết thúc bằng sự thắng lợi của họ Trịnh Tuy vậy, tàn quân của nhà Mạc
vẫn còn cố thủ ở Cao Bằng và cuộc xung đột Trịnh - Mạc còn kéo dài đến cuối
thế kỷ 17
-Thế thứ thời cường thịnh của triều Mạc
1 Mạc Thái Tổ (1527 – 1529); họ, tên : Mạc Đăng Dung, sinh năm Qúy
Mão (1483)
Trang 2Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 66 -
2 Mạc Thái Tông (1530 – 1540); họ, tên : Mạc Đăng Doanh
3 Mạc Hiến Tông (1540 – 1546); họ, tên : Mạc Phúc Hải
4 Mạc Tuyên Tông (1546 – 1561); họ, tên : Mạc Phúc Nguyên
5 Mạc Mậu Hợp (1562 – 1592)
-Thế thứ thời suy tàn của nhà Mạc
II Nội chiến Trịnh - Nguyễn và cục diện chia cắt Đàng Trong - Đàng Ngoài
Sau khi nhà Mạc bị đánh đổ, nguy cơ nội chiến vẫn tiềm tàng bởi sự hình
thành một vùng cát cứ mới ở xứ Thuận - Quảng (Bình-Trị-Thiên và Quảng Nam)
của Nguyễn Hoàng, con thứ hai của Nguyễn Kim
Từ khi Nguyễn Kim bị ám sát (1545), nội bộ Nam triều bắt đầu chia rẽ
Quyền hành ở Nam Triều lọt vào tay Trịnh Kiểm Trịnh Kiểm âm mưu loại trừ
thế lực họ Nguyễn, giành quyền thế tập
Trước tình hình đó, Nguyễn Hoàng vận động xin vào trấn thủ vùng Thuận -
Quảng từ năm 1558, thực chất để tránh sự kiểm soát của họ Trịnh Đến năm
1614, họ Nguyễn đã xây dựng được thế lực, chính thức li khai khỏi chính quyền
họ Trịnh Quan hệ của hai tập đoàn phong kiến càng ngày càng gay gắt dẫn đến
cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn bùng nổ năm 1627 và kéo dài gần nửa thế kỷ
(1627 - 1672)
Sau bảy lần giao tranh bất phân thắng bại vào các năm 1627, 1630, 1643,
1648, 1655, 1661 và 1572, họ Trịnh và họ Nguyễn đi đến giảng hòa, lấy sông
Linh Giang (sông Gianh) làm giới tuyến Phía bắc sông Gianh là phần đất thuộc
họ Trịnh, lịch sử gọi là Đàng Ngoài Phía nam sông Gianh gọi là đất Đàng
Trong, thuộc chúa Nguyễn
Cả hai tập đoàn phong kiến cùng âm mưu củng cố thế lực của mình nhằm
biến hai miền thành hai quốc gia riêng biệt
Như vậy là, tiếp theo sau sự suy yếu của triều Lê, các cuộc thoán đoạt, cát
cứ và xung đột giữa các phe phát phong kiến diễn ra liên miên Đây chính là
biểu hiện của sự khủng hoảng của chế độ phong kiến Việt Nam từ thế kỷ 16 đến
Trang 3Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 67 -
III Công cuộc khai phá vùng đất đàng Trong
Cho đến thế kỷ XVl, vùng Thuận - Quảng còn rất hoang vắng Từ rất sớm,
dân nghèo các tỉnh phía bắc đã di cư vào đây sinh sống, làm ăn Những lớp dân
di cư này lập ra nhiều xóm làng, bên cạnh các đồn điền của nhà nước phong
kiến
Sau khi được cử trấn trị vùng này, họ Nguyễn đã có mưu đồ cát cứ lâu dài
Do các cuộc nội chiến, nhân dân lưu tán, làn sóng di cư từ phía Bắc vào ngày
càng lớn Họ Nguyễn lợi dụng thành quả khai khẩn của lớp người này bằng cách
đề ra chính sách “khẩn hoang, lập làng" Ruộng đất mới khai phá được sung làm
ruộng công của làng xã, đặt dưới quyền sở hữu tối cao của chúa Nguyễn
Cuối thế kỷ 18, diện tích ruộng canh tác ở Thuận - Quảng tăng lên 265.507
mẫu Đất Thuận - Quảng dần dần trở thành một vùng trù phú
Mặt khác, nhân sự suy yếu của Vương quốc Chăm Pa, chúa Nguyễn dần
dần lấn chiếm các vùng Phú Yên(1611), Khánh Hòa, Phan Rang(1653) Đến
năm 1693, Họ Nguyễn chiếm Bình Thuận, Vương quốc ChămPa từ đó không
còn tên trên bản đồ nữa
Nhân dân Chăm đã nhiều lần sát cánh với nhân dân ở Đàng Trong chống lại
bọn thống trị triều Nguyễn Trải qua các biến động lịch sử, người Chăm đã trở
thành một bộ phận của đại gia đình các dân tộc Việt nam
Đối với Chân Lạp, chúa Nguyễn cũng thi hành chính sách xâm lấn Năm
1698, lãnh thổ xứ Đàng trong đã mở rộng đến Gia Định Đối với các vùng đất
mới, chúa Nguyễn giao cho địa chủ vùng Thuận - Quảng chiêu mộ dân lưu tán
khai khẩn và cấp cho làm ruộng tư Bọn địa chủ dựa vào chính quyền chúa
Nguyễn, không những bóc lột sức lao động của nông dân và nô tỳ mà còn trắng
trợn chiếm đoạt cả ruộng đất của người Chăm, người Khơ Me và di dân cũ ngườt
Việt Một tầng lớp đại địa chủ ở Nam Bộ ra đời Thực chất chính sách khai
hoang của họ Nguyễn giai đoạn này nhằm làm giàu cho giai cấp địa chủ và
củng cố cơ sở xã hội Chính vì vậy, bọn đại địa chủ Nam bộ là chỗ dựa trung
thành của họ Nguyễn ở Đàng Trong
Tình hình đó dẫn đến thực trạng, từ Phú Yên trở vào Nam, ruộng tư hữu
chiếm tỷ lệ cao hơn ruộng công nhà nước
IV Tình hình chính trị - xã hội
ở Đàng Trong, từ năm 1614, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên cải tổ lại chính
quyền Đơn vị hành chính Đàng Trong chia thành 12 dinh Riêng Thừa Thiên
gọi là Chính Dinh Chính Dinh có Tam ti giúp việc Dưới Dinh có phủ, huyện,
tổng, xã
Trang 4Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 68 -
ở Đàng Ngoài, bên cạnh triều đình vua Lê (bù nhìn), chúa Trịnh lập phủ
Chúa, giúp việc có 6 phiên, trông coi mọi việc Họ Trịnh duy trì một đội quân
thường trực lớn gồm hai loại: quân túc vệ và ngoại binh Đơn vị hành chính
Đàng Ngoài chia thành các trấn, đứng đầu là trấn thủ, giúp việc có ti Hiến và ti
Thừa
Sự chiếm đoạt và tập trung ruộng đất của giai cấp địa chủ, sự bóc lột thâm
tệ của nhà nước phong ktến, sự sa đọa của bộ máy thống trị là những nguyên
nhân chính dẫn đến sự suy vong của chế độ phong kiến Việt Nam thế kỷ 18 ở
Đàng Trong, tình hình tạm thời ổn định hơn nhưng sự tập trung ruộng đất của địa
chủ cũng diễn ra rất mạnh mẽ ở Đàng Ngoài, do hậu quả của chiến tranh, nhân
dân chịu gánh nặng lao dịch, lại thêm tô thuế nặng nề và nạn cường hào nên đời
sống khổ cực Số dân phiêu bạt ngày càng lớn
Những tệ nạn này làm cho mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ phong kiến
trở nên gay gắt Ngoài ra, phải kể đến mâu thuẫn của tầng lớp thương nhân, thợ
thủ công, nhân dân các dân tộc thiểu số với chính quyền cai trị
Những mâu thuẫn đó đã làm bùng nổ phong trào đấu tranh của nhân dân
đầu thế kỷ 18
Ơ Đàng Ngoài, có một số cuộc khởi nghĩa lớn của Nguyễn Danh Phương
(1740), Nguyễn Hữu Cầu (1741), Nguyễn Dương Hưng (1737), Hoàng Công
Chất (1739) Đáng chú ý nhất là cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật (1738) có qui
mô lớn, rộng hơn cả
Ơ Đàng Trong, ngoài một số cuộc khởi nghĩa nhỏ của thương nhân, Hoa
Kiều, người Chăm, người Khơ-me, đáng chú ý có cuộc khởi nghĩa của Lía ở Qui
Nhơn
Tất cả các cuộc khởi nghĩa nửa đầu thế kỷ 18 đều thất bại Phong trào nổ ra
tuy rầm rộ - nhất là ở Đàng Ngoài- nhưng tự phát, rời rạc, phân tán ở từng địa
phương, chưa đạt tới sự lãnh đạo thống nhất Mặt khác, chính quyền Trịnh-
Nguyễn tuy thốt nát nhưng lực lượng quân sự còn khá mạnh, đủ sức để đàn áp
từng cuộc khởi nghĩa
Phong trào đấu tranh nông dân tuy bị dập tắt nhưng nó là khúc nhạc mở màn
cho một cuộc chiến tranh nông dân to lớn nhất trong lịch sử nước ta - phong trào
nông dân Tây Sơn
V Tình hình Kinh tế – văn hóa
Cuối thế kỷ thứ 18, trên nền tảng nền kinh tế tự nhiên, kinh tế kinh tế hàng
hóa đã có bước phát triển Mạng lưới chợ quê phổ biến ở nông thôn đóng vai trò
là những trung tâm trao đổi, buôn bán Ngoài hình thức trao đổi trực tiếp giữa
Trang 5Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 69 -
người sản xuất, đã xuất hiện tầng lớp thương nhân, hoạt động đôi khi vượt giới
hạn địa phương
Hoạt động buôn bán giữa các miền xuất hiện Phương tiện vận chuyển thời
đó khá thô sơ, chủ yếu dựa vào đường thủy Tiền tệ được lưu hành phổ biến,
vàng, bạc cũng được sử dụng trong thương mại
Quan hệ sản xuất hàng hóa - tiền tệ đã thúc đầy việc mở rộng thị trường địa
phương, dần dần hình thành thị trường cả nước Một số thành thị trở nên sầm uất
như Thăng Long, Phố Hiến, Hội An, Gia Định
Phần tô thuế thu bằng tiền ngày càng lớn Tô tiền lôi kéo người nông dân
vào quỹ đạo của kinh tế hàng hóa, đẩy phần đông trong số họ bước nhanh vào
con đường bần cùng hóa Tầng lớp thương nhân và cho vay nặng lãi trở nên
đông đảo Hình thức bao mua đã xuất hiện Dấu hiệu của mầm mống tư bản chủ
nghĩa đã ra đời tuy còn lẻ tẻ, chưa trở thành một thành phần kinh tế độc lập
Mầm mống đó chưa đủ sức tạo ra một quan hệ sản xuất mới nhưng kết hợp với
nhiều nhân tố khác, báo trước sự suy vong của chế độ phong kiến Việt Nam
Về phương diện ý thức hệ, từ thế kỷ 15, Nho giáo vẫn chiếm địa vị thống trị
trong xã hội Trong giai đoạn này, một tôn giáo mới truyền bá vào nước ta, đó là
Đạo Thiên Chúa Đạo Thiên Chúa du nhập vào nước ta trước hết do hoạt động
của các giáo sĩ Bồ Đào Nha, sau đó là các giáo sĩ người Pháp
Hoạt động truyền đạo của các giáo sĩ nhằm mục đích mở đường cho sự xâm
lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây Trong quá trình truyền đạo, các giáo sĩ
phương Tây phải học tiếng Việt và họ đã dùng chữ cái La Tinh để ghi âm tiếng
Việt Dần dần họ đã chỉnh lý thành một hê thống kí hiệu ghi âm thống nhất
Giữa thế kỷ 16, một cố đạo người Pháp tên là Alexandre de Rhodes xuất bản ở
Rome một cuốn từ điển Việt - Bồ - Latinh Đó là một đóng góp lớn cho sự ra
đời của chữ quốc ngữ Chữ quốc ngữ ra đời do nhu cầu của việc truyền đạo nên
lúc đầu chỉ được lưu hành hạn chế trong giới hành đạo Đạo Thiên Chúa mặc dù
bị cấm vẫn tiếp tục phát triển, số giáo dân ngày càng tăng lên
Sang thế kỷ 18, cùng với sự suy vong của chế độ phong kiến, ý thức hệ Nho
giáo bắt đầu rạn nứt, Phật giáo và Đạo giáo được phục hồi
Giáo dục, khoa cử thời kỳ này vẫn theo lối học cử nghiệp Nội dung học
nghèo nàn xoay quanh mấy bộ Tứ thư, Ngũ kinh, chú trọng hình thức Qui chế
thi cử gò bó, tiêu cực Tệ mua quan bán tước trở nên phổ biến
Tầng lớp trí thức lúc này bày tỏ sự bất mãn với chính quyền phong kiến
thông qua các sáng tác mang màu sắc thoát tục Nghệ thuật thế kỷ 17-18 mang
đậm chất dân gian cổ truyền Kiến trúc, điêu khắc thời Lê - Mạc có bố cục tự
do phóng khoáng, lấy đề tài từ cuộc sống bình dị cuả nhân dân lao động
Trang 6Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 70 -
-Thế thứ các đời chúa Trịnh
1 Trịnh Kiểm (1545 – 1569)
2 Trịnh Cối (1569 – 1570)
3 Trịnh Tùng (1570 – 1623)
10 Trịnh Giang (1729 – 1740)
11 Trịnh Doanh (1740 – 1767)
-Thế thứ các đời chúa Nguyễn
1 Nguyễn Hoàng (1558 – 1613); sinh vào tháng 8 năm Ất Dậu (1525)
2 Nguyễn Phúc Nguyên (1613 - 1635); sinh vào tháng 7 năm Qúy Hợi
(1563)
(1601)
(1620)
(1649)
(1675)
(1696)
Trang 7Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 71 -
8 Nguyễn Phúc Khoát (1738 – 1765); sinh vào tháng 8 năm Giáp Ngọ
(1714)
Tuất (1754)
Trang 8Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 72 -
CHƯƠNG IV: TRIỀU TÂY SƠN VÀ TRIỀU NGUYỄN
I Phong trào Tây Sơn và công cuộc thống nhất đất nước, bảo vệ độc lập dân
tộc
Tây Sơn là vùng đất thuộc phủ Qui Nhơn cũ, nay thuộc tỉnh KonTum Tổ
tiên ba anh em Tây Sơn quê ở Hưng nguyên (Nghệ an) Trong cuộc nội chiến
Trịnh - Nguyễn, do bầt bình với chế độ phong kiến, lại sinh trưởng ở khu
vực có mâu thuẫn giai cấp gay gắt nhất Đàng Trong, vì vậy, năm 1771, Nguyễn
Nhạc cùng hai em là Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ dựng cờ khởi nghĩa, lấy ấp
Tây Sơn làm căn cứ xuất phát
Đầu năm 1773, nghĩa quân đã chiếm được miền núi Qui Nhơn để từ đó phát
triển ra Quảng Ngãi, Quảng Nam
Năm 1774, nghĩa quân đã kiểm soát vùng đất rộng lớn từ Quảng Ngăi đến
Bình Thuận
Nhân sự suy yếu của họ Nguyễn, họ Trịnh đã cử tướng Hoàng Ngũ Phúc
đem quân vượt sông Gianh, âm mưu thôn tính Đàng Trong Cuối năm 1774, quân
Trịnh tiến đánh Phú Xuân
Quân Nguyễn bị ép hai mặt, nhanh chóng tan rã, thành Phú Xuân bị chiếm,
Chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Thuần phải vượt biển trốn vào Gia Định Quân
Trịnh tiếp tục vượt đèo Hảì Vân tiến vào Quảng Nam Từ phía nam, quân
Nguyễn đã chiếm lại Phú Yên và tiếp tục gây sức ép với thành Quy Nhơn
Nghĩa quân Tây Sơn lâm vào tình thế hiềm nghèo, bị kẹt giữa hai thế lực thù
địch Trong hoàn cảnh đó, Nguyễn Nhạc thay đổi sách lược, chủ động tạm giảng
hòa với quân Trịnh Yên được mặt bắc, nghĩa quân Tây Sơn dồn lực lượng tiến
công quân Nguyễn ở phía nam, chiếm lại Phú Yên Tới năm 1777, Tây Sơn tấn
công Gia Định, giết chết Nguyễn Phúc Thuần Riêng Nguyễn ánh chạy thoát
Quân Trịnh vì chinh chiến xa, đã mệt mỏi, lại bị tổn thất quá nửa quân số,
trước sự lớn mạnh của quân Tây sơn, bất đắc dĩ phải rút quân về Bắc
Từ năm 1776 đến năm 1783, nghĩa quân Tây Sơn do sự chỉ huy của Nguyễn
Huệ và Nguyễn Lữ đã bốn lần tiến đánh Gia Định Đến lần thứ tư, Nguyễn ánh
đại bại trốn ra đảo Phú Quốc
Lúc này, Nguyễn Nhạc đã lên ngôi Hoàng Đế, đóng đô ở thành Đồ Bàn cũ
thuộc phủ Qui Nhơn (thành này cũng còn gọi là thành Hoàng Đế )
- Cuộc kháng chiến chống Xiêm
Trang 9Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 73 -
Sau nhiều lần thất bại, Nguyễn ánh trốn sang Băng Cốc cầu cứu vua Xiêm
Nước Xiêm La từ lâu đã nhòm ngó vùng đất Gia Định, vì vậy, vua Xiêm cử một
đạo quân hai vạn người và 300 chiến thuyền đổ bộ lên Gia Định Một đạo quân
khác gồm ba vạn người đóng ở Chân Lạp rồi tiến xuống phối hợp với cánh quân
ở Gia định
Năm 1784, quân Xiêm chiếm đưọc Kiên Giang, Sa đéc, Cần Thơ và quá
nửa đất Gia Định Sau đó quân Xiêm chuẩn bị đánh thành Mỹ Tho
Tháng 1- 1785, thủy quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ tiến vào đóng ở Mỹ
Tho Nguyễn Huệ quyết định chọn khúc sông Mỹ Tho, đoạn từ Rạch Gầm đến
Xoàt Mút để quyết chiến với quân thù Bằng một trận mai phục lớn, quân Tây
Sơn đã đánh tan toàn bộ quân Xiêm cùng với đoàn chiến thuyền, chỉ còn vài
ngàn quân Xiêm sống sót Nguyễn ánh cùng một nhóm tàn quân chạy thoát
Chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút giải phóng hoàn toàn đất Gia Định, về
cơ bản đánh đổ chính quyền họ Nguyễn, giành quyền kiểm soát xứ Đàng Trong
- Vào nửa cuối thế kỷ thứ 18, chính quyền họ Trịnh ngày càng suy đồi Các
phe phái phong kiến xung đột kịch liệt Nạn kiêu binh lộng hành, tàn phá kinh
thành Thăng long Nhân tình hình rối loạn ở Bắc Hà, sau khi chiếm Phú Xuân,
Nguyễn Huệ cùng Nguyễn Hữu Chỉnh kéo quân ra Bắc theo hai đường thủy, bộ
Trước sức tấn công vũ bão của quân Tây Sơn, quân Trịnh đại bại, kiêu binh tan
rã, Chúa Trịnh Khải bị bắt sống
Ngày 21-7-1786, đại quân Nguyễn Huệ chiếm thành Thăng Long Thế lực
họ Trịnh bị xóa bỏ, thời kỳ đất nước bị chia cắt đã chấm dứt Cũng từ đó,
Nguyễn Nhạc tự xưng là Trung ương Hoàng đế, đóng ở Qui Nhơn Nguyễn Lữ
cai quản vùng Gia Định, Nguyễn Huệ cai quản từ đèo Hải Vân trở ra Bắc Giữa
Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ bắt đầụ nảy sinh mâu thuẫn và xung đột Sự chia
rẽ đó đã làm suy yếu lực lượng Tây Sơn
- Cuộc kháng chiến chống xâm lược Mãn Thanh
Sau khi âm mưu chống Tay Sơn không thành, Nguyễn Hữu Chỉnh bị bắt, Lê
Chiêu Thống chạy thoát lên Trung Quốc
Thoát sang được Quảng Tây, vua tôi Lê Chiêu Thống vội đến cầu cứu tuần
phủ Quảng Tây là Tôn Vĩnh Thanh và viết thư cho tổng đốc Lưỡng Quảng là
Tôn Sỹ Nghị Cả hai, mặc dầu có ý sợ quân Tây Sơn “một phen ra tay đã đánh
đổ được triểu đình 300 năm”, vẫn tỏ thái độ sẵn sàng giúp vua Lê “phục tồn” để
nhân đó “đặt thú binh giữ lấy An Nam”, làm một việc mà được hai công Tôn Sỹ
Nghị đã dâng sớ lên vua Thanh Càn Long nói rõ ý định đó Sau khi kiểm tra cẩn
thận, vua Càn Long đã đồng ý, hạ lệnh điều động binh mã bốn tỉnh Quảng
Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu tất cả 29 vạn người (bao gồm cả dân
phụ), do Tôn Sỹ Nghị làm tổng chỉ huy, chia làm 4 đạo tiến sang nước ta:
Trang 10Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 74 -
Đạo thứ nhất đi theo đường Lạng Sơn, do Tôn Sỹ Nghị chỉ huy
Đạo thứ hai đi theo đường Cao Bằng, do tri phủ Sầm Nghi Đống chỉ huy
Đạo thứ ba đi theo đường Tuyên Quang, do đề đốc Ô Đại Kinh chỉ huy
Đạo thứ tư đi theo hướng Quảng Ninh, tiến vào đóng ở Hải Dương
Tháng 11 năm 1788, quân Thanh ồ ạt tiến vào nước ta Tướng Tây Sơn
đóng ở Lạng Sơn là Phan Khải Đức đầu hàng Tin báo về Thăng Long Ngô Văn
Sở hội các tướng bàn cách đối phó Một số đề nghị đánh ngay theo cách của Lê
Lợi thời xưa Trên cơ sở phân tích tương quan lực lượng của hai bên, thời xưa và
thời nay, Ngô Thời Nhậm không tán thành chủ trương của Nguyễn Văn Dũng và
đề nghị: Tạm rút lui vào đóng giữ phòng tuyến Tam Điệp (Ba Dội – Ninh Bình)
– Biện Sơn (Thanh Hoá) để cho quân Thanh vào Thăng Long rồi cho ngươi cấp
báo với Nguyễn Huệ đem quân ra tiêu diệt chúng, tựa như “cho chúng ngủ trọ
một đêm rồi lại đuổi đi” Ngô Văn Sở đã tán thành đề nghị đó, một mặt hạ lệnh
cho quân sĩ bí mật rút về Tam Điệp – Biện Sơn, một mặt cử Nguyễn Văn Tuyết
phi ngựa về Phú Xuân cáo cấp
Được sự dẫn đường và nội ứng của tàn quân Lê Chiêu Thông, ngày 17
tháng 12 năm 1788, quân chủ lực của quân Tôn Sỹ Nghị tiến vào chiếm đóng
Thăng Long Để phòng thủ Thăng Long Tôn Sỹ Nghị cho đạo quân của Sầm
Nghi Đống đóng ở Khương Thượng (Đống Đa – Hà Nội), đạo quân của Ô Đại
Kinh đóng ở Sơn Tây, lập nhiều đồn luỹ liên tiếp ở Thanh Quyết, Nhật Tảo, Hà
Hồi, Ngọc Hồi… Còn mình thì đóng Đại doạnh ở cung Tây Long (bờ sông Hồng
thuộc Hà Nội)
Nhận được tin cấp báo, ngày 22 tháng 12 năm 1788 (25 tháng 11 Mậu Thân)
Nguyễn Huệ sai người lập đàn ở phía nam núi Ngự Bình (Huế), tế cáo trời đất,
lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, rồi lập tức ra quân Ngày 26,
Quang Trung đến Nghệ An, đóng quân lại một thời gian để mộ thêm quân Chỉ
trong mấy ngày, thanh niên trai tráng địa phương nô nức kéo về hăng hái tòng
quân làm cho quân số tăng lên đến trên 10 vạn Quang Trung cũng cho mời La
Sơn phu tử Nguyễn Thiếp đến hỏi ý kiến Phu tử đã khẳng định: “… nếu đánh
gấp không ngoài mười ngày sẽ phá tan được” Rồi tiếp đó, Quang Trung kéo
quân ra Thanh Hoá tuyển thêm lính mới Ngày 20 tháng chạp Mậu Thân (ngày
15 tháng 1 năm 1789) đại quân Tây Sơn tập kết ở phòng tuyến Tam Điệp – Biện
Sơn Nghe báo cáo của Ngô Văn Sở, Quang Trung tán thành chủ trương của Ngô
Thời Nhậm và cùng các tướng chuận bị cuộc tổng tiến công Toàn quân được
chia làm 5 đạo:
Đạo thứ nhất đánh thẳng vào các đồn luỹ ở phía nam Thăng Long và là đạo
quân chủ lực, do Quang Trung trực tiếp chỉ huy
Đạo thứ hai do đô đốc Đặng Tiến Đông (Long) chỉ huy, đánh vào đồn
Khương Thượng rồi qua cửa Tây Nam thọc sâu vào Thăng Long