Phán đoán đúng con đường tiến quân của địch, Ngô Quyền – con người được nhà sử học Lê Văn Hưu ngợi ca là “mưu giỏi mà đánh cũng giỏi” – đã chủ trương bố trí một trận địa cọc ở cửa sông B
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
Trang 2Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 3 -
MỤC LỤC MỤC LỤC……….3
CHƯƠNG MỘT: TỪ CHÍNH QUYỀN HỌ KHÚC TỚI TRIỀU TIỀN LÊ 4
I Bảo vệ và củng cố chính quyền tự chủ từ họ Khúc đến triều Ngô 4
II Quá trình xây dựng quốc gia thống nhất của các triều Đinh và Tiền Lê .10
1 Triều Ngô và cục diện 12 sứ quân 10
2 Triều Đinh 11
3 Triều Tiền Lê 12
CHƯƠNG II: THỜI KỲ CƯỜNG THỊNH CỦA NƯỚC ĐẠI VIỆT 19
I Triều Lý: 19
1.Tình hình chính trị – xã hội 19
2 Cuộc kháng chiến chống Tống (1075-1077) 20
3 Sự suy vong của triều Lý .27
II Triều Trần 28
1 Tình hình chính trị - xã hội 28
2 Các cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông dưới triều Trần 29
3 Sự suy vong và sụp đổ của triều Trần 47
III Triều Hồ 48
1 Chính sách cải cách của Hồ Quý Ly 48
2 Cuộc xâm lược của nhà Minh và sự thất bại của triều Hồ 49
3 Phong trào kháng chiến chống quân Minh từ 1407 đến 1417 .52
4 Khởi nghĩa Lam Sơn 52
IV Triều Lê (sơ) _ 1428-1527 60
V Tóm lược nền văn hoá Đại Việt từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 16 62
CHƯƠNG III: THỜI KỲ KHỦNG HOẢNG CỦA CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN ĐẠI VIỆT 65
I Thời kỳ Lê – Mạc và nội chiến Nam – Bắc triều 65
II Nội chiến Trịnh - Nguyễn và cục diện chia cắt Đàng Trong - Đàng Ngoài 66
III Công cuộc khai phá vùng đất đàng Trong 67
IV Tình hình chính trị - xã hội 67
V Tình hình Kinh tế – văn hóa 68
CHƯƠNG IV: TRIỀU TÂY SƠN VÀ TRIỀU NGUYỄN 72
I Phong trào Tây Sơn và công cuộc thống nhất đất nước, bảo vệ độc lập dân tộc 72
II Sự thành lập triều Tây Sơn và những cải cách của Quang Trung 77
III Sự thành lập triều Nguyễn 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 3Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 4 -
CHƯƠNG MỘT: TỪ CHÍNH QUYỀN HỌ KHÚC TỚI TRIỀU
TIỀN LÊ
I Bảo vệ và củng cố chính quyền tự chủ từ họ Khúc đến triều Ngô
vào đầu thế kỷ 10, triều Đường chỉ còn hư danh, quyền hành thực tế đã lọt
vào tay tập đoàn phong kiến Chu Ôn Trung quốc một lần nữa bước vào thời kỳ
khủng hoảng, chia cắt mà lịch sử gọi là thời Ngũ Đại Thập Quốc (905 - 960)
Nhân cơ hội chính quyền cai trị ở Giao Châu khủng hoảng do biến loạn ở
Trung Quốc, một thủ lĩnh người Việt ở đất Hồng Châu (Hải Dương) là Khúc
Thừa Dụ đã đánh chiếm phủ thành Đại La, lên nắm chính quyền Mặc dù về
danh nghĩa, họ Khúc vẫn mang chức và tước hiệu của nhà Lương (Tĩnh hải quân
Tiết độ sứ, tước Đồng bình chương sự, quyền tri lưu hậu) nhưng thực chất, chính
quyền Giao Châu đã có xu hương tự trị Trong thời kỳ cầm quyền, Họ Khúc
(nhất là Khúc Hạo) đã có nhiều cải cách quan trọng mang tính chất thân dân
Khúc Hạo chia cả nước thành cơ cấu hành chính mới: Lộ-phủ-châu-giáp-xã
Về đường lối chính trị ông chủ trương “ chính sự cốt khoan dung giản dị, nhân
dân đều được yên vui” Khúc Hạo ra sắc lệnh “ bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực
dịch, lập sổ hộ khẩu, kê rõ quê quán, giao cho giáp trưởng trông coi” Chính
quyền họ Khúc đã quản lý được một lãnh thổ khá lớn trên miền đất nước ta
Theo thư tịch, thời họ Khúc đã thành lập 314 giáp (so với 159 Hương cuối thời
Đường)
- Thế thứ họ Khúc (905 - 930)
1.Khúc Thừa Dụ (905 - 907), không rõ năm sinh, nguyên quán :Hồng Châu
(nay là vùng Cúc Bồ, Ninh Giang, Hải Dương), mất ngày 23 tháng 7 năm 907
2.Khúc Hạo (907 - 917), con của Khúc Thừa Dụ, mất vào năm 917
3.Khúc Thừa Mỹ (917 - 923), con của Khúc Hạo, không rõ năm sinh năm
mất
Trong thời gian đầu thế kỷ 10, miền đất nước ta hai lần phải chống lại âm
mưu xâm lược của tiểu triều đình Nam Hán, do Tiết độ sứ Lưu ẩn cát cứ ở vùng
Quảng Đông (Trung Quốc) tiến hành
Năm 930, Quân Nam Hán do Lý Thủ Dung và Lương Khắc Chinh đánh bại
Khúc Thừa Mỹ, chiếm đóng nước ta lần thứ nhất
- Kháng chiến chống xâm lược Nam Hán lần thứ nhất (930 - 931) Dương
Đình Nghệ khôi phục quyền tự chủ (931 - 937)
Trang 4Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 5 -
Nam Hán là một tiểu triều đình Trung Quốc cát cứ ở Quảng Châu Trước
khi lập quốc, họ Lưu đã đánh bại được các trại ở Giang Đông, giết bọn Xương
Lỗ; đổi đặt thử sử mới, đem quân đánh bại họ Lư, chiếm được Triều Châu,
Thiều Châu, về phía Tây, họ Lưu chiếm được Ung Quản (Nam Ninh) tranh đất
Dung, Quế với Sở vương Mã Aân Nhờ khai thác được nhiều ngọc trai và phát
triển buôn bán với miền nội địa Trung Quốc, lại giao hảo với Nam Chiếu ở Vân
Nam, họ lưu tích luỹ được nhiều của cải Nam Hán trở nên cường thịnh và có xu
thế bành trướng Phía Bắc, năm 928, họ Lưu đã đánh bại được cuộc tấn công của
nước Sở (miền Hồ Nam), bảo vệ được an toàn biên giới phía Bắc Cuối năm
930, Nam Hán phát quân xâm lược phương Nam Cầm đầu đội quân xâm lược
(không rõ số lượng) là hai viên tướng Lý Thủ Dung và Lương Khắc Chinh, hẳn
là theo hai đường thủy bộ, từ hướng Đông Bắc tiến vào nước ta…
Từ sau khi sang sứ ở Quảng Châu về thay cha trị nước, Khúc Thừa Mỹ đã
thấy thế lực họ Lưu là mạnh mẽ, có thể uy hiếp nước ta Khúc Thừa Mỹ chưa đủ
tự tin vào sức mạnh dân tộc, đã sai sứ sang nạp cống cho triều đình Hậu Lương
“xin lĩnh tiết việt”, định nhờ cậy triều đình Trường An để chế ngự triều đình
Nam Hán mà ông vẫn gọi là “Ngụy Đình”
Qua 25 năm khôi phục quyền tự chủ, họ Khúc vẫn chưa có điều kiện đưa
nước ta, từ một miền đất xơ xác do nạn Bắc thuộc kéo dài trở thành quốc gia
độc lập giàu mạnh Quyền kiểm soát chính trị và huy động lực lượng quân sự
trong cả nước của Khúc Thừa Mỹ còn nhiều hạn chế do uy tín và tài năng của
ông không đủ cao và uy thế của các hào trưởng địa phương còn lớn Đối đầu với
một lực lượng quân sự lớn mạnh cả về thủy và bộ của Nam Hán, tháng 10 năm
930, đội quân mới họp của Khúc Thừa Mỹ bị tan vỡ Khúc thừa Mỹ bị bắt sống
đem về Quảng Châu Phủ thành Đại La bị địch chiếm Thất bại của họ Khúc lần
này không hề dẫn đến đến sự sụp đổ của lực lượng kháng chiến dân tộc
Cuộc chiến tranh của Nam Hán, tuy rõ ràng mang tính chất xâm lược, nhưng
hiệu quả thì nặng về cướp bóc hơn là chinh phục Nam Hán mới chỉ giành thắng
lợi bước đầu Nam Hán tuy có cử được Lý Tiến sang làm thứ sử Giao Châu,
cùng Lương Khắc Chinh giữ thành Đại La, song chính quyền địch chỉ chiếm
được Đại La và kiểm soát được phần nào miền đồng bằng Sông Hồng chứ
không còn thiết lập nổi một chính quyền đô hộ bao trùm cả nước ta như thời
thuộc Đường được nữa Từ đèo Ba Dội (Tam Điệp) trở vào Nam, tại các châu Aùi
(Thanh Hóa) châu Hoan (Nghệ Tĩnh) các hào trưởng địa phương và tướng tá cũ
của họ Khúc vẫn giữ được quyền kiểm soát đất đai và nhân dân Ở lò võ làng
Ràng (Dương xá, Thiệu Hoá, Thanh Hoá), đã hình thành một trung tâm kháng
chiến khá mạnh, đứng đầu là hào trưởng Dương Đình Nghệ, một tướng cũ của
họ Khúc Ông công khai nuôi 3 000 “con nuôi” nghĩa tử trong nhà, ngày đêm
luyện tập, chuẩn bị tiến ra Giao Châu tiêu diệt quân xâm lược Dinh cơ họ
Trang 5Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 6 -
Dương trở thành nơi tụ nghĩa của hào kiệt khắp nơi trong nước ta Ngô Quyền từ
Phong Châu (Sơn Tây cũ), Đinh Công Trứ từ Trường Châu (Ninh Bình cũ) …
đều đưa gia thuộc về làng Ràng tụ nghĩa Dương Đình Nghệ cử Đinh Công Trứ
trấn trị Hoan Châu, giữ Ngô Quyền làm gia tướng dưới trướng doanh, gả con gái
cho Ông và sai chỉ huy quân đội chủ lực, trấn giữ Ái Châu
Việc sửa soạn kháng chiến của Dương Đình Nghệ ở xứ Thanh, Nam Hán
biết nhưng không dám làm gì
Thực ra cái chính quyền đô hộ mà Nam Hán vội vã dựng lại ở Đại La cũng
chỉ tồn tại trên danh nghĩa Chúa Nam Hán, từ Quảng Châu cũng phải nói với tả
hữu rằng : “dân Giao Châu chỉ có thể ràng buộc mà thôi” Để lấy lòng Dương
Đình Nghệ, chúa Nam Hán còn phải “trao tước mệnh” cho Ông coi giữ Aùi Châu
Sau một thời gian chuẩn bị lực lượng, tháng 3 năm 931 – không đầy nửa
năm sau cuộc xâm lược của Nam Hán – từ Aùi Châu Dương Đình Nghệ đã cử
binh tiến ra Giao Châu, bao vây và tiến công thành Đại La, dinh lũy của giặc
Nam Hán Từ bên kia biên giới, Nam Hán vội vã sai thừa chỉ Trình Bảo đem
quân sang Giao Châu cứu viện Viện quân của địch chưa đến nơi, thì thành Đại
La đã bị quân ta triệt hạ, tướng Lương Khắc Trinh bị giết chết, chỉ có thứ sử Lý
Tiến cùng đám tàn quân thoát vây tìm đường trốn về nước Quân cứu viện của
địch vừa đến, định tổ chức bao vây quân ta ở Đại La, nhưng Dương Đình Nghệ
không bó mình giữ thành cố thủ, đã chủ động đem quân ra ngoài thành tiến công
các dinh trại dã ngoại của địch Quân địch rối loạn, tan vỡ, tướng Trình Bảo bị
giết chết, đội quân cứu viện của địch cũng bị ta tiêu diệt
Cuộc kháng chiến kết thúc với thất bại thảm hại của quân Nam Hán Đất
nước ta lại giành được quyền tự chủ Ngọn cờ tự chủ chuyển từ tay họ Khúc sang
tay họ Dương Dương Đình Nghệ xứng danh là một anh hùng dân tộc Ông cũng
chỉ xưng là tiết độ sứ như họ Khúc Đinh Công Trứ được cử làm thứ sử Hoan
Châu, Ngô Quyền được cử trông coi Aùi Châu
Năm 937, tháng 4, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn, một viên tướng
dưới quyền và là hào trưởng châu Phong, giết chết để đoạt chức tiết độ sứ Vẫn
là như vậy, những thế lực hào trưởng, địa phương chủ nghĩa, đã đóng một vai trò
tích cực trong công cuộc giữ đất, giữ dân, đuổi đánh bọn đô hộ, nhưng khi đất
nước vừa sạch bóng quân thù thì họ lại lao vào các cuộc đấu tranh giành quyền
lực, phá hoại công cuộc thống nhất quốc gia, gây nguy hại cho nền độc lập tự
chủ vừa mới giành được Giặc Nam Hán đang còn ngấp nghé ngoài bờ cõi, chưa
chịu từ bỏ ý đồ xâm lược, bành trướng Đất nước này vẫn còn đang trong buổi
trăn trở chuyển mình …
- Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nam Hán lần thứ hai - Ngô Quyền
và chiến thắng Bạch Đằng (năm938)
Trang 6Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 7 -
Hành động phản trắc của Kiều Công Tiễn, giết người chủ tướng có công
đánh đuổi quân Nam Hán đã gây ra sự phẫn nộ trong các tầng lớp nhân dân Từ
Ái Châu, Ngô Quyền, là tướng và là con rể Dương Đình Nghệ, sửa soạn tiến
quân ra bắc trừ tên phản bội Kẻ phản chủ nhanh chóng trở thành tên phản quốc
Trước sự căm ghét và phản kháng của nhân dân trong nước, Kiều Công Tiễn đã
đê hèn cho người sang cầu cứu vua Nam Hán Đây là dịp tốt để Nam Hán thực
hiện âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa
Lợi dụng thời cơ đó Nam Hán lại phát động cuộc chiến tranh xâm lược
nước ta lần thứ hai, lần này nguy hiểm hơn lần trước vì chúng hy vọng dùng
được bọn phản bội Kiều Công Tiễn như một lực lượng nội ứng Và cay cú hơn,
vì đã một lần thất bại, cũng do đó mà tham vọng càng lớn hơn, Nam Hán cố
dồn hết sức xâm chiếm nước ta cho kỳ được
Không nghe lời thuộc hạ, Chúa Nam Hán tự mình đề ra một kế hoạch nhằm
thực hiện nhanh chóng cuộc chiến tranh xâm lược nước ta Y cho con trai là Vạn
vương Hoằng Thao làm Tĩnh hải quân tiết độ sứ, lại đổi phong làm Giao vương
(Y muốn sau khi cướp được đất Giao Châu thì lấy châu đó cho Hoằng Thao làm
phong ấp), sai thống lĩnh quân thủy vượt biển tiến sang xâm lược nước ta, ngoài
mặt mượn tiếng là giúp Kiều Công Tiễn đánh Ngô Quyền Chúa Nam Hán cũng
tự mình làm tướng đem hậu quân đến đóng ở trấn Hải Môn (phía tây nam huyện
Bác Bạch, tỉnh Quảng Tây Trung Quốc), sát biên giới nước ta, làm kế thanh viện
và kịp thời yểm trợ cho con khi cần thiết
Trước hành động phản bội của Kiều Công Tiễn và hoạ xâm lăng của Nam
Hán, Ngô Quyền đã lãnh đạo quân dân ta với nỗ lực cao nhất, kiên quyết đập
tan mưu đồ xâm lược của Nam Hán, bảo vệ quyền tự chủ của dân tộc
Tháng đầu đông, đội quân Ngô Quyền vượt đèo Ba Dội tiến ra bắc Quân
xâm lược còn đang ngấp nghé ngoài bờ cõi thì đầu tên phản bội Kiều Công Tiễn
đã bị bêu ở ngoài cửa thành Đại La (Hà Nội) Mối hoạ bên trong nước đã được
trử khử Kế sách trước trừ nội phản sau diệt ngoại xâm đã được thực hiện
Ngô Quyền vào thành, họp các tướng tá, bàn rằng: “Hoằng Thao là một đứa
trẻ dại, đem quân từ xa đến, quân lính mỏi mệt, lại nghe được tin Công Tiễn đã
bị giết chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi Quân ta sức còn
mạnh, địch với quân mỏi mệt, tất phá được!
Song chúng có lợi ở thuyền, nếu ta không phòng bị trước thì chuyện được
thua cũng chưa thể biết được!
Nếu ta sai người đem cọc lớn đóng ngầm ở cửa biển trước, vót nhọn đầu mà
bịt sắt, thuyền của chúng nhân khi nước thuỷ triều lên tiến vào bên trong hàng
cọc, bấy giờ ta sẽ dễ bề chế ngự Không kế gì hay hơn kế ấy cả”
Trang 7Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 8 -
Chủ tướng đều phục kế sách ấy là tuyệt vời Qua lời bàn, ta thấy Ngô
Quyền - có lẽ nhờ nhiều nguồn tình báo và kinh nghiệm chiến đấu - đã nắm
vững và phán đoán đúng tình hình quân địch Ông hiểu rõ đặc điểm tâm lý viên
tướng chỉ huy quân Nam Hán tuy hung hăng nhưng ít tuổi, thiếu kinh nghiệm
Ông đánh giá đúng chỗ yếu, chỗ mạnh của địch Từ hàng nghìn năm nay, Quảng
Châu là trung tâm mậu dịch đối ngoại lớn nhất của Trung Quốc, Nam Hán có
thuyền buôn biển, có hải quân mạnh, có giặc biển, không thể coi thường Nhưng
quân địch vượt biển từ Quảng Châu vào cửa Bạch Đằng, đang mùa gió heo may,
tất sẽ mệt mỏi, sức chiến đấu bị giảm sút Hẳn Ngô Quyền đã cho người bắn tin
cho Nam Hán biết việc Kiều Công Tiễn đã bị giết nhằm đánh một đòn tâm lý
làm cho quân đội của chúng thêm hoang mang, dao động
Phán đoán đúng con đường tiến quân của địch, Ngô Quyền – con người
được nhà sử học Lê Văn Hưu ngợi ca là “mưu giỏi mà đánh cũng giỏi” – đã chủ
trương bố trí một trận địa cọc ở cửa sông Bạch Đằng rồi nhân khi nước lên, dụ
thuyền địch tiến vào bên trong hàng cọc và tập trung lực lượng tiêu diệt địch
bằng một trận quyết chiến nhanh, gọn, triệt để
Vùng cửa sông và vùng hạ lưu sông Bạch Đằng được Ngô Quyền chọn làm
chiến trường quyết chiến
Bạch Đằng ngày ấy cũng như ngày sau vẫn mang “tên nôm” giản dị: Sông
Rừng! Giữa vùng thiên nhiên sông biển đó, trên cơ sở sức mạnh đoàn kết và ý
chí độc lập của cả dân tộc, Ngô Quyền khẩn trương dàn bày một thế trận mưu
trí, lợi hại để chủ động phá giặc Oâng huy động quân dân vào rừng đẵn gỗ, vót
nhọn, bịt sắt cho đóng xuống lòng sông thành hàng dài tạo thành một bãi cọc,
một bãi chướng ngại dày đặc ở hai bên cửa sông Khi triều lên mênh mông, thì
cả bãi cọc ngập chìm, khi triều xuống thì hàng cọc nhô lên cản trở thuyền qua
lại Bãi cọc tăng thêm phần hiểm trở cho địa hình thiên nhiên Quân thủy bộ,
dưới sự chỉ huy trực tiếp của Ngô Quyền bố trí mai phục sẵn ở phía trong bãi
cọc, có lẽ tại trung lưu sông Bạch Đằng, ở mặt nước và trên hai bờ sông
Trong thế trận của Ngô Quyền, rõ ràng trận địa mai phục giữ vai trò quyết
định Trận địa cọc ở cửa sông là nhằm chặn đường tháo chạy của tàn quân giặc
Sự phối hợp giữa hai trận địa chứng tỏ quyết tâm chiến lược của Ngô Quyền là
phen này không phải chỉ đánh bại quân giặc mà còn phải tiêu diệt toàn bộ quân
giặc; giáng cho chúng những đòn sấm sét, làm tan nát mộng tưởng xâm lăng của
triều đình Nam Hán
Chiến trận Bạch Đằng diễn ra là một cuộc đọ sức quyết định giữa ta và
địch Địch quyết tâm cướp lại nước ta, tiếp tục kéo dài thời Bắc thuộc Ta quyết
tâm đánh một trận tiêu diệt triệt để, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc
Trang 8Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 9 -
Cuối năm 938, cuộc kháng chiến chống xâm lược Nam Hán lần thứ hai của
quân dân ta đã giành được thắng lợi hết sức oanh liệt
Cả một đoàn binh thuyền lớn của giặc vừa vượt biển tiến vào mạn sông
Bạch Đằng đã bị dẫn dắt vào thế trận đã bày sẵn của ta và bị tiêu diệt gọn trong
một thời gian rất ngắn Toàn bộ chiến thuyền của giặc bị đánh đắm, hầu hết
quân giặc bị tiêu diệt Chủ soái của giặc là Lưu Hoàng Thao cũng bị giết tại
trận
Chiến thắng Bạch Đằng có những nét rất độc đáo và giữ một vị trí quan
trọng trong lịch sử dân tộc
Về diễn biến và hình thái của chiến tranh, toàn bộ cuộc kháng chiến được
thực hiện bằng một trận quyết chiến chiến lược lớn và triệt để
Mở đầu, là trận khiêu chiến – một bộ phận quân thủy, dùng thuyền nhẹ ra
đón đánh địch từ xa, nhằm kiềm chế, tiêu hao và nghi binh dụ địch; khi nước
triều lên to, ngập trận địa cọc, bộ phận này giả thua rút chạy, nhử địch vào trận
địa đúng lúc, đúng chỗ, theo thế trận đã bày sẵn của Ngô Quyền Hoằng Thao,
tên tướng trẻ kiêu ngạo, đã sa kế mắc mưu, thúc đại quân đuổi gấp, vượt qua bãi
cọc ngầm ngược sông Bạch Đằng, tiến sâu vào trong thế trận đã dàn sẵn của ta
Tiếp theo, vào lúc nước triều xuống, là trận tiến công bất ngờ, mãnh liệt
của quân thuỷ từ thượng lưu đánh xuống chặn đầu, kết hợp với quân thủy bộ mai
phục hai bên bờ sông đánh tạt ngang vào đội hình quân giặc
Kết thúc, là trận truy kích tiêu diệt tàn quân địch trên đường tháo chạy, bị
chặn đứng lại trước bãi cọc đã nhô cao vào lúc nước triều xuống thấp nhất Bị
cọc nhọn, bị quân ta đánh, thuyền địch không sao thoát ra biển được Toàn bộ
đạo thủy quân xâm lược của Nam Hán đã vĩnh viễn bị nhấn chìm xuống dòng
sông Bạch Đằng lịch sử!
Về thời gian, cả cuộc chiến đấu chỉ diễn ra lúc nước triều lên cho đến lúc
nước triều xuống thấp nhất Với chế độ nhật triều ở vùng này, thời gian đó chỉ
nằm trong phạm vi một ngày Thời gian chiến đấu ác liệt nhất là lúc nước triều
xuống mạnh cho đến lúc nước rặc, nghĩa là chỉ nửa ngày Cuộc kháng chiến
chống Nam Hán lần thứ hai này là cuộc chiến tranh chống xâm lược tiêu biểu
nhất cho lối đánh nhanh, thắng nhanh của dân tộc ta
Về không gian, chiến trường của cuộc kháng chiến chỉ thu hẹp trong khu
vực cửa sông và vùng trung lưu, hạ lưu sông Bạch Đằng Quân giặc vừa xâm
phạm vào lãnh thổ đất nước ta, chưa chiếm được đất đai, thậm chí chưa kịp gây
tội ác đã bị quét sạch Chiến thắng Bạch Đằng diễn ra nhanh, gọn, triệt để đến
mức độ vua Nam Hán đang đóng quân ở sát biên giới mà không sao kịp tiếp ứng
cho con Từ đó, triều Nam Hán phải vĩnh viễn từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta
Trang 9Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 10 -
Bằng chiến thắng Bạch Đằng vang dội, dân tộc ta đã thực sự đè bẹp được ý chí
xâm lược của kẻ thù
Sau chiến thắng, Ngô Quyền xưng Vương (lịch sử gọi là Tiền Ngô Vương),
đóng đô ở Cổ Loa Ngô Quyền đặt triều đình trăm quan văn võ, chế định triều
nghi, phẩm phục
Chiến thắng Bạch Đằng năm 938, đánh bại cuộc xâm lược lần thứ hai của
Chúa Nam Hán, chính thức chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc, mở ra trang mới của
lịch sử dân tộc, khẳng định quyền độc lập, tự chủ của đất nước Các chính quyền
từ họ Khúc đến triều Ngô nối tiếp thành lập từ năm 905 đến năm 944 là những
viên gạch đầu tiên xây dựng nền độc lập, tự chủ của nước ta
II Quá trình xây dựng quốc gia thống nhất của các triều Đinh và Tiền Lê
1 Triều Ngô và cục diện 12 sứ quân
- Thế thứ chính quyền Ngô Vương (938 - 965)
1.Tiền Ngô Vương (938 - 944); họ, tên : Ngô Quyền, sinh năm Mậu Thân
(898) tại Phong Châu (nay thuộc Hà Tây) Cha là Ngô Mân, nguyên là hào
trưởng vùng này
2.Dương Bình Vương (945 - 950); họ, tên : Dương Tam Kha (con của Dương
Đình Nghệ và là anh vợ của Ngô Quyền) Sinh và mất năm nào không rõ
3.Hậu Ngô Vương (951 - 965); họ, tên : Ngô Xương Văn (con thứ của Tiền
Ngô Vương; mẹ là Dương thái hậu, tức bà Dương Thị Như Ngọc) Sinh năm nào
không rõ
Sau khi Ngô Quyền mất, tình hình nước ta trở nên phức tạp Dương Tam
Kha cướp ngôi Vương của Ngô Xương Ngập, nắm quyền trong 5 năm (945-949)
Sau đó Ngô Xương Văn giành lại quyền bính, mời Ngô Xương Ngập cùng cai trị
(Hậu Ngô Vương) Thời Hậu Ngô Vương, chính quyền Trung ương không đủ
mạnh nên các thủ lĩnh địa phương có xu hướng cát cứ Năm 965, Ngô Xương
Văn chết trận, các thủ lĩnh địa phương chia nhau hùng cứ các vùng đất bản bộ,
chống đánh lẫn nhau, lịch sử gọi là loạn 12 sứ quân
- Sau đây là danh tính 12 sứ quân:
1 Ngô Xương Xí (con của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập), chiếm giữ
đất Bình Kiều, nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên
2 Trần Lãm (xưng là Trần Minh Công), chiếm giữ đất Bố Hải khẩu (nay
thuộc Tiền Hải, Thái Bình) Đinh bộ Lĩnh là thuộc tướng của Trần Lãm
3 Nguyễn Thủ Tiệp (xưng là Nguyễn Lệnh Công), chiếm giữ vùng Tiên
Sơn, Bắc Ninh
Trang 10Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 11 -
4 Lý Khuê (xưng là Lý Lãng Công), chiếm giữ vùng Thuận Thành, Bắc
Ninh
5 Lã Đường (xưng là Lã Tá Công), chiếm giữ vùng Văn Giang, nay thuộc
Bắc Ninh và Hưng Yên
6 Phạm Bạch Hổ (xưng là Phạm Phòng Át), chiếm giữ vùng Đằng Châu,
nay thuộc Hưng Yên
7 Nguyễn Siêu (xưng là Nguyễn Hữu Công), chiếm giữ vùng Thanh Trì,
nay thuộc ngoại thành Hà Nội
8 Nguyễn Khoan (xưng là Nguyễn Thái Bình), chiếm giữ đất Vĩnh Tường,
nay thuộc Vĩnh Phúc
9 Kiều Công Hãn (xưng là Kiều Tam Chế), chiếm giữ vùng Bạch Hạc, nay
là Phú Thọ
10 Kiều Thuận (xưng là Kiều Lệnh Công), chiếm giữ vùng Cẩm Khê, nay
thuộc vùng giáp giới giữa Sơn Tây và Vĩnh Phú (cũ)
11 Đỗ Cảnh Thạc, chiếm giữ vùng Đỗ Động Giang, nay thuộc Thanh Oai,
Hà Tây
12 Ngô Nhật Khánh (xưng là Ngô Lãm Công), chiếm giữ vùng Đường
Lâm, nay thuộc Hà Tây
Nhìn chung lãnh thổ cát cứ của các sứ quân không lớn Mỗi sứ quân thường
chiếm cứ từ vài xã đến một, hai huyện Địa bàn của các sứ quân hầu hết nằm ở
trung khu đồng bằng Bắc bộ, nên ta có thể dự đoán ở các vùng miền núi hẳn còn
những thủ lĩnh khác hùng cứ mà thư tịch không nhắc tới Điều này cũng có nghĩa
là chính quyền trung ương thời Hậu Ngô Vương rất yếu ớt, chỉ quản lý được một
phần nhỏ đất đai
Trong cục diện nội chiến đó, lực lượng của Đinh Bộ Lĩnh đã khéo liên kết
với một số sứ quân khác là Trần Lãm, Phạm Bạch Hổ Trên cơ sở chiếm ưu thế
quân sự, Đinh Bộ Lĩnh đã dẹp yên loạn các sứ quân (năm 967)
2 Triều Đinh
Đinh Bộ Lĩnh là con của Đinh Công Trứ, người làng Đại Hoàng, động Hoa
Lư, Ninh Bình Năm 938, Đinh Bộ lĩnh tự lên ngôi Hoàng Đế, lập ra triều Đinh,
đóng đô ở Hoa Lư Đinh Tiên Hoàng chia nước làm 10 đạo, chủ trương dùng
hụừnh luaoùt hà khắc để cai trị Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và con trưởng là
Đinh Liễn bị một viên quan hầu là Đỗ Thích ám sát Đinh Toàn - lúc đó mới có
6 tuổi- lên nối ngôi Quyền nhiếp chính trong tay Dương Thái Hậu
- Thế thứ triều Đinh (968 - 980)
Trang 11Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 12 -
1.Đinh Tiên Hoàng (968 - 979) ; họ, tên : Đinh Bộ Lĩnh, sinh năm Giáp Thân
(924), tại Hoan Châu, Nghệ An
2 Đinh Phế Đế (980); họ, tên : Đinh Toàn, con thứ của Đinh Tiên Hoàng
Đế, mẹ người họ Dương Vua sinh năm Giáp Tuất, niên hiệu Thái Bình thứ 5
(974), mất năm Tân Mão (991)
3 Triều Tiền Lê
Nhân vua Đinh còn nhỏ tuổi, quyền phụ chính lọt vào tay quan Thập Đạo
Lê Hoàn Lê Hoàn quê ở ái Châu, ông sinh năm 941, trước kia phục vụ trong đội
quân của Đinh Liễn Nắm binh quyền trong tay, những hành động chống đối của
các cựu thần triều Đinh đều bị Lê Hoàn trấn áp
Được sự ủng hộ của Dương Thái Hậu, năm 980, Lê Hoàn lên ngôi Hoàng
Đế, lập ra triều Lê (Tiền Lê) Sau khi lên ngôi, Lê Hoàn đã tổ chức thắng lợi
cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược năm 981 Năm 982, để củng cố
cương giới phía Nam, Lê Hoàn thân chinh cầm quân đánh Chăm Pa, buộc Chăm
Pa phải thần phục Triều Tiền Lê tồn tại đến năm 1009 thì chấm dứt
- Âm mưu xâm lược của nhà Tống đối với Đại Cồ Việt
Đầu thế kỷ X, nhà Đường suy yếu và sụp đổ, một số dân tộc bị đế quốc
Đường xâm lược, thống trị, lợi dụng thời cơ này đã kịp thời nổi lên giành chính
quyền Trong bối cảnh đó, dân tộc ta đã đứng lên tự giải phóng, giành chính
quyền vào năm 905
Nhà Đường mất, cục diện chính trị ở trung nguyên trở nên đại loạn Trong
khoảng 53 năm (907 – 960), các thế lực phong kiến Trung Hoa liên tiếp chống
đánh lẫn nhau quyết liệt để tranh quyền bá chủ Chu Toàn Trung cướp được
ngôi nhà Đường lập nên nhà Lương (Hậu Lương); nhà Hậu Đường diệt nhà Hậu
Lương rồi kế đó là nhà Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu liên tiếp diệt nhau mà nổi
lên Trong thời kỳ này các tiết độ sứ ở các trấn phía Nam cũng nổi lên cát cứ,
lập ra vương quốc riêng Mười vương quốc lần lượt xuất hiện, trong đó có một số
vương quốc xuất hiện với tính chất là giải phóng dân tộc Sử cũ gọi chung thời
kỳ này là thời “Ngũ đại thập quốc” (năm đời mười nước)
Năm 960, Chu thế tông chết, con là Chu Tôn Huấn mới 7 tuổi lên nối ngôi
Nhân cơ hội này, Triệu Khuông Dận lấy cớ đem đạo quân chống Bắc Hán và
Khiết Đan rồi bất ngờ quay lại làm binh biến ở Trần Kiều Dịch ( phía Bắc Khai
Phong 40 dặm) Triệu Khuông Dận cướp ngôi nhà Hậu Chu, tự lập ra triều đại
nhà Tống
Lật đổ nhà Chu, Khuông Dận liền bày kế mời tướng suý các nơi đến dự yến
tiệc rồi bức họ phải trao trả ấn tín, binh quyền Từ đó, nhà nước trung ương tập
quyền Tống được thành lập và lịch sử Trung Quốc lại đi vào thời kỳ hợp nhất
Trang 12Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 13 -
Nhà Tống là một trong những triều đại lớn của chế độ phong kiến Trung
Quốc Nước Tống cũng là một nước lớn, có số dân đông nhất thế giới lúc bấy
giờ Theo sử Tống, riêng số dân ở Kinh sư cũng đã có trên 100 vạn người
Nhà Tống chiếm một cương vực địa lý rất lớn: phía Bắc giáp nước Liêu (các
tỉnh thuộc Đông Bắc Trung Quốc ngày nay) và nước Mông Cổ (gồm cả nội
Mông ngày nay); phía Tây Bắc giáp nước Tây Hạ (miền đất Tân Cương ngày
nay); phía Tây Nam giáp nước Nam Chiếu (sau đổi thành nước Đại Lý, miền đất
Vân Nam bây giờ) và phía Nam giáp Đại Cồ Việt
Đi theo vết xe của các triều Tần, Hán, Đường, nhà Tống cũng tự coi mình là
“thiên triều” có quyền trị bình thiên hạ, thảo phạt và “giáo hóa” Man Di Khát
vọng bành trướng xâm lược của nhà Tống rất lớn Trong khi còn đánh dẹp các
thế lực phong kiến cát cứ như Nam Đường (Giang Tây 975), Ngô Việt (Chiết
Giang, 978), Bắc Hán (Sơn Đông, 979), nhà Tống cũng ráo riết chuẩn bị chiến
tranh để xâm lược các quốc gia kế cận Năm 979, chúng tập trung đại binh tiến
công nước Liêu ở phía Bắc, đồng thời tiến đánh nước Hạ ở phía Tây và gấp rút
chuẩn bị xâm lược nước Đại Cồ Việt ở phía Nam
Trong lúc nước ta đang đứng trước nguy cơ của một cuộc chiến tranh xâm
lược lớn thì Đinh Tiên Hoàng và con trưởng là Đinh Liễn bị viên nội quan là Đỗ
Thích giết hại ngay tại hoàng cung Bọn thám tử nhà Tống biết được tin này,
liền cấp báo về nước Nhà Tống coi đó là thời cơ tốt để xâm lược Đại Cồ Việt
Hầu Nhân Bảo (quan trấn thủ Quảng Tây) dâng thư lên vua Tống, tâu rằng:
“An Nam quận vương và con là Đinh Liễn đều bị giết, nước đã gần mất, có thể
nhân lúc này đem quân địa phương đánh lấy được, nếu bỏ lúc này không mưu
lấy sợ mất cơ hội Xin đến cửa khuyết để trình bày trước một tình trạng có thể
đánh lấy được”
Lư Đa Tốn cũng hiến kế: “An Nam nổi loạn, đó là lúc trời làm mất, triều
đình ta trong lúc bất ý đem quân đánh úp, tức như nói: sét đánh không kịp bịt tai,
nếu gọi Nhân Bảo về thì mưu tiết lộ, họ biết tất sẽ sẵn dựa núi cách biển mà
phòng trước, thế ấy được thua chưa thể biết được Chi bằng giao cho Nhân Bảo
vận chở ngay lương thực, nhân sai mưu tính việc ấy, chọn tướng đem quân ở
Kinh Hồ 3 vạn người kéo sang đánh, thế ấy là vẹn toàn như bẻ cành khô cây
mục, tất nhiên không lo mất một mũi tên”
Tống Thái Tông liền chấp nhận kế hoạch của Lư Đa Tốn, phong Hầu Nhân
Bảo làm “Lục lộ thủy lộ chuyển vận sứ”, tổng chỉ huy đạo quân xâm lược, Tôn
Toàn Hưng làm phó, cùng các tướng Trần Khâm Tộ, Lưu Trừng, Giả Thực.v.v
gấp rút tập trung quân đội, chuẩn bị xâm lược nước ta
Trang 13Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 14 -
Do đầu óc kiêu căng cố hữu của “thiên triều”, vua Tống Thái Tông tưởng
có thể dùng “uy” cũng khuất phục được Đại Cồ Việt Trước khi hạ lệnh xuất
quân xâm lược, vua Tống đã cử sứ giả mang chiếu thư sang ta đe doạ Tống
triều trắng trợn tiếm nhận lãnh thổ của nước ta: “Đời Viêm Hán đã có một cột
đồng làm mốc Đến đời Lý - Đường đã là đất của Trung Quốc” Chúng hống
hách tuyên bố: “Nay thánh triều ta lòng nhân trùm muôn nước, cơ nghiệp thái
bình kể cũng đã thịnh, điển lễ phân phong đã sắp sửa làm, người (chỉ vua nước
ta) phải đến chầu cho mình ta được khoẻ… chớ để ta phải dùng đến kế chặt xác
băm xương, làm cỏ nước ngươi, lúc bấy hối sao kịp nữa” Trắng trợn tuyên bố
xâm lược, nhưng Tống Thái Tông lại cố che giấu bản chất tham tàn của hắn:
“dù là biển của ngươi có ngọc châu, ta ném xuống suối, núi của ngươi có sẵn
vàng, ta quẳng vào bụi, không phải là ta tham của báu của ngươi” Cuối chiếu
thư, Tống Thái Tông lại thô lỗ đe doạ: “có muốn ra khỏi rợ Di ngoài đảo mà
xem nhà Minh Gường Bích Ung không? Có thích trút áo quần cỏ lá mà mặc áo
bào cổn thêu núi rồng không? Ngươi có theo không? Chớ rước lấy tội lỗi Ta
đương chuẩn bị xe ngựa quân lính, sắp sửa các thứ chiêng trống, nếu quy phục
thì ta tha cho, nếu trái mệnh thì ta quyết đánh Theo hay không, lành hay dữ, tự
ngươi nghĩ lấy”
- Cuộc kháng chiến của triều đình Lê Hoàn
Vấn đề củng cố bộ máy lãnh đạo của nươc ta vào lúc này để đối phó với
cuộc chiến tranh xâm lược của nhà Tống là một việc làm vừa cấp bách vừa có
can hệ đến sự an nguy của cả dân tộc Thập đạo tướng quân Lê Hoàn được
tướng sĩ cùng văn quan trong triều suy tôn lên ngôi vua, đứng đầu quốc gia Đại
Cồ Việt vào lúc này đã làm cho bộ máy lãnh đạo quốc gia được củng cố vững
mạnh, đủ sức để lãnh đạo dân tộc tiến hành chiến tranh cứu nước thắng lợi
Thái hậu Dương Vân Nga không đứng về phía Đinh Điền, Nguyễn Bặc để
chống lại Lê Hoàn mà còn “sai lấy áo long cổn mặc cho Lê Hoàn, mời Lê Hoàn
lên ngôi hoàng đế”; việc làm này của Dương Vân Nga là một hành động yêu
nước cao cả đáng được ca ngợi
Triều Tiền Lê được thiết lập với sự mệnh gấp rút tổ chức, lãnh đạo nhân
dân ta tiến hành kháng chiến, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của nhà Tống
Trước khi chiến tranh bùng nổ, Lê Hoàn đã để ra chính sách để xây dựng, củng
cố khối đoàn kết dân tộc, làm cho “trên dưới cùng lòng, lòng dân không chia”,
cả nước hợp sức cùng nhau chống giặc Tống xâm lược Xây dựng thành công
khối đoàn kết dân tộc trong lúc này đã khiến cho mọi âm mưu chính trị nhằm
chia rẽ nội bộ nươc ta của nhà Tống không thể thực hiện, đồng thời còn loại trừ
được những hành động chống đối, chia rẽ của một số quan lại thuộc phái bảo
hoàng họ Đinh Chính trị của quốc gia ổn định, vững mạnh; khối đoàn kết dân
Trang 14Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 15 -
tộc được củng cố chính là nền tảng sức mạnh của nước Đại Cồ Việt để chiến
thắng quân xâm lược nhà Tống trong cuộc kháng chiến năm 981
Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế nhưng vẫn nắm 10 đạo quân Để tăng cường
sức mạnh quân sự của quốc gia, Lê Hoàn ra lệnh cho 10 đạo trong cả nước gấp
rút trưng tập trai tráng trong đạo bổ sung quân ngũ, tăng cường luyện tập và săn
sàng chiến đấu
Quân đội được gấp rút mở rộng, tổng số quân lúc này có thể lên tới 3 đến 5
vạn người Ngoài ra, tại các đạo còn có lực lượng vũ trang địa phương được xây
dựng rộng khắp trong các làng bản
Thời gian triển khai chuẩn bị trực tiếp cho cuộc kháng chiến tuy rất ngắn
nhưng biện pháp đúng đắn để giải quyết các vấn đề có tính chất căn bản về
chính trị và quân sự cho một cuộc chiến tranh Do đó, cuối năm 980, ta đã ở tư
thế chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt, chủ động giáng trả bọn xâm lược nhà Tống;
Lê Hoàn đã trực tiếp thống lĩnh đại binh, gồm nhiều đạo quân chủ lực tinh
nhuệ, tới khu vực kế cận ải Chi Lăng tổ chức trận đánh mai phục lớn nhằm tiêu
diệt đại binh nhà Tống Tháng 4 – 981, quân Tống theo hai đường thủy bộ ào ạt
tiến sang nước ta Ngay từ đầu, đạo quân bộ đã vấp phải hệ thống thành lũy
kiên cố và bị quân địa phương thuộc đạo phía Bắc tiến đánh hết sức quyết liệt
Để dụ đại binh địch tiến sâu vào trận thế của ta, lúc này quân phòng thủ phía
trước được lệnh vừa đánh, vừa lui Thấy quân ta tỏ ra núng thế Hầu Nhân Bảo
liền thúc quân đánh tràn xuống miền Chi Lăng Tới đây, cuộc chiến đấu giữa ta
với địch diễn ra vô cùng ác liệt Quân Tống bị thương vong rất lớn Hầu Nhân
Bảo cùng hàng vạn quân Tống bị giết tại trận Quân Tống tan vỡ, liều mạng
tháo chạy, nhưng bị quân ta truy kích tiêu diệt gần hết, chỉ còn một số tàn quân
vượt biên giới về đất Tống
Đạo kỳ binh của nhà Tống do Trần Khâm Tộ chỉ huy, tiến quân bằng đường
biển, đồng thời với đạo thủy binh Lưu Trừng, Giả Thực Trong khi thủy quân ta
đang chặn đánh thủy binh Tống tại vùng biển Đông Bắc thì Trần Khâm Tộ bí
mật tiến quân sâu vào vùng Tây Kết (Khoái Châu) hòng tạo nên một đòn đánh
hiểm Lực lượng của đạo kỳ binh này không lớn lắm Chúng lập tức bị quân và
dân địa phương vây đánh quyết liệt Bởi thế, kỳ binh Tống không những không
phát huy được tác dụng mà còn sớm sa vào thế cô lập, tiến lui không được
Sau khi tiêu diệt được đạo chính binh của Hầu Nhân Bảo, Lê Hoàn liền
tung khối quân dự bị chuyển sang vây đánh đạo kỵ binh Tống Lúc này quân ta
ở thế áp đảo Đạo kỳ binh của Trần Khâm Tộ nhanh chóng bị tiêu diệt Giặc
chết “quá nửa, thây chất đầy đồng”, quân ta “bắt được tướng giặc là Quách
Quân Biện, Triệu Phụng Huân đem về Hoa Lư”
Trang 15Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 16 -
Đạo quân thủy của địch cũng bị trúng kế nhử địch của Lê Hoàn, bị chặn
đánh tơi tả ở của sông Bạch Đằøng
Khoảng đầu mùa hạ năm 981, chiến sự kết thúc, gần chục vạn quân Tống bị
tiêu diệt, bị tan tác trên chiến trường Đại Cồ Việt Sau thất bại hết sức nặng nề
và cay đắng này, vua Tống phải tuyên bố bãi binh, chấm dứt chiến tranh Song,
để giữ được uy danh và tỏ rõ Thiên tử bao giờ cũng “sáng suốt”, vua Tống đã
trút tất cả tội lỗi gây ra thua trận lên đầu bọn tướng lĩnh còn sống sót: Lưu
Trừng, Giả Thực bị Thiên tử quở trách; Vương Soạn, Tôn Toàn Hưng bị phanh
thây ngoài chợ
Cuộc kháng chiến chống xâm lược Tống diễn ra trên chiến trường phía Bắc
đã kết thúc thắng lợi rực rỡ, song nền độc lập tự chủ của quốc gia Đại Cồ Việt
vẫn còn bị nguy cơ chiến tranh đe dọa Để xoá bỏ tận gốc mưu mô gây chiến
tranh của địch, phá kế sách hợp tung chiến lược Bắc – Nam vây đánh nước ta
hết sức thâm độc của nhà Tống, năm 982, Lê Hoàn lại trực tiếp thống suất đại
quân, vượt biển tiến công vào thành Indrapura (thành Đồng Dương), kinh đô của
nước Chăm Pa
Dùng binh bất ngờ, tiến công vũ bão, Lê Hoàn đã nhanh chóng đánh bại
quân Chăm, chiếm được thành trì, sau đó rút về nước Do đó: kế “Dĩ Di trị Di”
và cả chiến lược hợp tung quỷ quyệt của vua tôi nhà Tống cũng không còn thi
thố được
Chiến tranh giữ nước toàn thắng Nhân dân Đại Cồ Việt trở lại thời kỳ hoà
bình xây dựng đất nước Cuộc kháng chiến chống Tống năm 981 là một thử
thách mới đầu tiên về ý chí tự lập tự cường trong kỷ nguyên độc lập tự chủ của
dân tộc ta trước mưu đồ bành trướng xâm lược của các triều đại phong kiến
phương Bắc Bởi thế, thắng lợi của cuộc kháng chiến này không những bảo vệ
được nền độc lập của nước nhà mà còn đưa lại cho nhân dân ta niềm tự hào,
lòng tin vững chắc ở sức mạnh của mình, cổ vũ mạnh mẽ nhân dân ta trong công
cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước, đưa nước ta nhanh chóng trở thành một quốc
giavăn hiến và cường thịch Sử gia Lê Văn Hưu cũng đã nhận xét về chiến
thắng này là: “Làm mạnh nước Việt Nam ta và ra uy với người Tống” Do đó,
gần một thế kỷ sau, nhà Tống không dám phát binh đánh ta và buộc phải công
nhận nước ta là một vương quốc độc lập
Diễn biến lịch sử của cuộc kháng chiến còn cho thấy trình độ nghệ thuật
quân sự của nước ta lúc này đã có sự phát triển mới, từ nghệ thuật quân sự của
chiến tranh giải phóng sang chiến tranh giữ nước Lê Hoàn, người trực tiếp tổ
chức và điều hành chiến tranh đã thể hiện tinh thần tích cực tiến công địch rất
cao Trong cuộc chiến này, kế hoạch tổ chức quân sự cũng như việc xác định kế
sách chiến lược, chiến thuật đánh địch của ông thật là kỳ tài Có thể nói thắng
Trang 16Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 17 -
lợi của cuộc kháng chiến chống Tống năm 981 cũng là thắng lợi của nền nghệ
thuật quân sự Đại Cồ Việt Năm 1300 – Trần Quốc Tuấn đã viết trong lời di
chúc: “Thời Đinh – Lê, dùng được người hiền lương, đất phương Nam mới mạnh
mà phương Bắc thì mỏi mệt suy yếu, trên dưới cùng lòng, lòng dân không chia,
dựng thành Bình Lỗ, mà phá được quân Tống”
Sau cuộc phá Tống bình Chiêm thắng lợi, Lê Hoàn bắt tay xây dựng chính
quyền quân chủ tập trung
Cũng như các triều đại trước, Tổ chức của chính quyền tự chủ thời kỳ này
còn mô phỏng thiết chế triều đình phong kiến Trung Hoa Đấy là điều dễ hiểu
khi mà tổ tiên ta bắt đầu làm quen với việc tự mình quản lý đất nước Những
người đứng đầu nhà nước ngoài việc nhận các chức tước của Hoàng Đế Trung
Quốc ban cho, đều tự xưng Đế Điều đó khẳng định ý chí độc lập dân tộc, thống
nhất quốc gia của nhân dân ta Trong các thời kỳ Đinh - Lê, chính quyền Trung
ương được củng cố một bước đáng kể Các thế lực địa phương bị trấn áp mạnh
mẽ Đến triều Tiền Lê, triều đình đã quản lý một cách chặt chẽ hầu hết lãnh thổ
nước ta, từ biên giới Việt- Trung đến Hoành Sơn
- Thế thứ triều Tiền Lê (981 - 1009)
1 Lê Hoàn (981 - 1005), Miếu hiệu là Lê Đại Hành Vua sinh nămTân
Sửu (941), ở Aùi Châu, nay thuộc Thanh Hoá và mất vào tháng 3 năm Ất Tỵ
(1005)
2 Lê Trung Tông (1005); họ, tên : Lê Long Việt, con thứ ba của Lê
Hoàn Vua sinh năm Quý Mùi (983)
3 Lê Ngoạ Triều (1005 - 1009); họ, tên : Lê Long Đĩnh, lại có tên khác
là Lê Chí Trung, con thứ 5 của Lê Hoàn Vua sinh năm Bính Tuất (986), niên
hiệu là Thiên Phúc thứ 7, mất vào tháng 10 năm Kỷ Dậu (1009)
*
* *
Trước Công nguyên, nước Văn Lang - Âu Lạc mới đang ở trình độ sơ khai,
với kết cấu vùng - bộ lạc phân tán, manh mún Quá trình hình thành quốc gia -
dân tộc còn đang dang dở thì bị gián đoạn bởi cuộc xâm lược của Nam Việt Tr?i
qua hon ngàn năm Bắc thuộc, mặc dù bị thay thế bởi cơ cấu quận, huyện nhưng
mô hình vùng - bộ lạc và chế độ thủ lĩnh vẫn còn đậm nét
Đến thế kỷ 10, tàn dư của chế độ thủ lĩnh địa phương vẫn còn phổ biến, khi
có cơ hội đã trở thành những thế lực chống đối chính quyền Trung ương non trẻ
Trang 17Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 18 -
Biều hiện của xu hướng này là các lực lượng cát cứ thời Hậu Ngô Vương, các
cuộc ám sát, tranh giành quyền lực thời Đinh - Tiền Lê
Đặc điểm nổi bật của xã hội Việt Nam thế kỷ 10 là sự tranh giành quyền
kiểm soát các làng xã giữa các thế lực cát cứ và chính quyền trung ương Tình
hình đó đã tạo nên sự mất ổn định trong nửa sau thế kỷ 10, dẫn đến sự tồn tại
ngắn ngủi của các triều Ngô - Đinh - Tiền Lê Sau sự khủng hoảng chính trị cuối
các triều Ngô, Đinh, đến triều Tiền Lê đã có nhiều nỗ lực để trấn áp các thế lực
địa phương Xu thế tập trung cuối cùng đã chiến thắng, đáp ứng nguyện vọng
của dân tộc, xây dựng quốc gia phong kiến thống nhất, tạo tiền đề cho sự ra đời
của các triều đại Đại Việt cường thịnh thời Lý - Trần Cuộc kháng chiến của
triều Tiền Lê chống cuộc xâm lược lần thứ nhất của nhà Tống và cuộc bình
Chăm Pa giành được thắng lợi trong các năm 981 và 982 đã khẳng định xu thế
đó
Trang 18Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 19 -
CHƯƠNG II: THỜI KỲ CƯỜNG THỊNH CỦA NƯỚC ĐẠI VIỆT
(Nước Đại Việt dưới các triều đại Lý – Trần – Lê sơ)
I Triều Lý:
1.Tình hình chính trị – xã hội
Năm 1009, Lê Long Đĩnh chết Được sự ủng hộ của thế lực Phật giáo và
quan lại trong Triều, Lý Công Uẩn lên ngôi, lập ra triều Lý Lý Công Uẩn
sinh ngày 12 tháng 2 năm 974, tại châu Cổ Pháp (Bắc Ninh)
Ngay sau khi lên ngôi, năm 1010, Lý Thái Tổ quyết định dời đô về Hà Nội,
đồi tên thành Đại La thành Thăng Long Từ đó, Thăng Long trở thành trung tâm
của đất nước
Chế độ trung ương tập quyền được củng cố Đứng đầu là Vua, rồi đến các
chức quan cao cấp chia làm chín phầm Dưới Vua có các chức tể tướng và á
tướng Bên dưới là bộ phận trung khu gồm có 6 bộ chuyên trách Ngoài ra còn
các cơ quan sảnh, viện có chức năng giúp việc Khu vực hành chính từ trên
xuống có Lộ hay Phủ - Huyện rồi đến Hương, Giáp Quan lại ngoài những người
trong hoàng tộc, bắt đầu được tuyển lựa từ khoa cử Hoạt động lập pháp được
đẩy mạnh Năm 1042, triều Lý ban hành Hình thư, các cơ quan luật pháp cũng
được tăng cường (thẩm hình viện)
Quân đội thời Lý gồm hai loại: cấm quân và lộ quân Nhà nước kiểm soát
chặt chẽ vấn đề nhân khẩu Chế độ “ Ngụ binh ư nông” bắt đầu được áp dụng từ
thời Lý Quân đội thời Lý khá mạnh Trong giai đoạn này, Triều Lý đã lần thứ
hai đánh bại cuộc xâm lược của nhà Tống và hai lần tấn công Chiêm Thành
thắng lợi vào các năm 1044 và 1069
Chính quyền quân chủ tập trung được củng cố ngày cáng vững chắc Chúng
ta thống kê được khoảng 30 cuộc trấn áp của triều đình trung ương đối với các
thủ lĩnh địa phương Đối các thủ lĩnh người thiểu số, ngoài biện pháp quân sự,
triều Lý thi hành chính sách “ràng buộc”, chính sách này đạt hiệu quả tích cực
Trong thời Lý, Phật giáo khá thịnh Các vua chúa triều Lý nhiều người sùng
bái Phật giáo Chùa chiền được xây dựng nhiều Tầng lớp sư sãi khá đông đảo,
trở thành đội ngũ trí thức của xã hội Hệ tư tưởng Phật giáo có ảnh hưởng lớn
đến tình hình chính trị, xã hội nước ta thời kỳ đó
Trang 19Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 20 -
2 Cuộc kháng chiến chống Tống (1075-1077)
Vào nửa sau thế kỷ thứ 11, nhà Tống bị các tộc Khiết Đan và Đảng Hạng
xâm lấn ở phía Bắc Các “biến pháp’ của tể tướng Vương An Thạch không thu
được kết quả
Chính trong thời điểm này, triều đình nhà Tống quyết định chấm dứt tình
trạng thụ động trong chính sách đối ngoại và bắt đầu tiến hành các cuộc chiến
tranh xâm lược, với mục đích vừa để mở rộng lãnh thổ, vừa củng cố uy tín đang
bị giảm sút của “Thiên triều”, bằng việc “dạy” cho các nước láng giềng “một
bài học” Vào năm 1069, Vương An Thạch được gọi về triều giữ chức Tể tướng
Ông đề ra và thực hiện một loạt cải cách nhằm ổn định tình hình kinh tế - xã hội
trong nước, tổ chức lại quân đội Vua Tống và Vương An Thạch chủ trương trong
một thời gian ngắn nhất phải giành được chiến thắng đối với “các chư hầu
phương Nam”, tức là đối với Đại Việt Theo họ, một thắng lợi như vậy sẽ làm
cho các nước Liêu, Tây Hạ – một mối nguy hiểm lớn ở phía bắc – phải khiếp sợ
Vì thế, nhà Tống tăng cường lực lượng vũ trang ở các tỉnh Quảng Đông và
Quảng Tây Tham vọng xâm lược của nhà Tống ngày một nung nấu hơn Các
quan cai trị ở miền nam Trung Quốc thường báo cáo lên triều đình xuyên tạc
tình hình thực tế Như sau thắng lợi của Đại Việt đối với Chămpa vào năm 1069,
một viên quan ở Quế Châu là Phan Bội báo cáo lên vua Tống: “Giao Châu bị
đại bại ở Chămpa, quân không còn đến một vạn, lúc này có thế lấy được”
Năm 1071, Tiêu Chủ, kẻ chủ trương tiến hành các chính sách cứng rắn đối
với Đại Việt được bổ nhiệm cai quản Quế Châu Ngay từ năm 1053, y đã tham
gia việc đàn áp Nùng Trí Cao Tiêu Chủ thông qua các bộ tộc sống ở vùng giáp
giới, tích cực do thám tình hình Đại Việt, biết rõ thắng lợi của Đại Việt trong
cuộc tiến quân vào phía nam và sức mạnh thực tế của đất nước này Vì thế, y
báo cáo lên vua Tống nếu chưa có sự chuẩn bị đầy đủ mà đã xuất quân là rất
nguy hiểm Giữa lúc đó, vào năm 1072, Lý Thánh Tông mất, người kế vị ngai
vàng là Lý Nhân Tông mới sáu tuổi Trong triều đình xuất hiện sự trạnh giành
quyền lực quyết liệt Hoàng thái phi Ỷ Lan – mẹ Lý Nhấn Tông giết Thái hậu
Thượng Dương Giữa hai nhóm quan đại thần, đứng đầu là Lý Thường Kiệt và
Lý Đạo Thành, cũng có nhiều mâu thuẫn Sau những sự kiện này, ở triều đình
nhà Tống khuynh hướng cần thiết phải mở cuộc tiến quân xuống phía nam đã
thắng thế Vua Tống thay Tiêu Chủ vốn rất thận trọng bằng một viên quan khác
là Thẩm Khởi, kẻ trong các báo cáo gửi lên triều đình thường cố gắng hạ thấp
Đại Việt và che giấu những khó khăn nảy sinh trong quá trình chuẩn bị cuộc tiến
quân xuống phía nam Viên quan mới này tích cực động viên, huấn luyện binh
lính, trưng thu lương thực phục vụ mục đích chiến tranh Nhằm che giấu việc
chuẩn bị chiến tranh, theo lệnh của y, vào năm 1073, việc buôn bán qua biên
giới bị đình chỉ Thẩm Khởi bằng cách mua chuộc và ban chức tước, lôi kéo các
Trang 20Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 21 -
tù trưởng miền núi về phía nhà Tống, kêu gọi họ cùng với bà con của mình liên
minh với nhà Tống Chính sách này có hiệu quả nhất định Thủ lĩnh Nguyễn
Thiên Mỹ quy phục nhà Tống, do đó, Đại Việt bị mất một phần lãnh thổ của
mình ở phía đông bắc Cần lưu ý rằng, triều đình Đại Việt cũng áp dụng chính
sách giống như vậy đối với các tộc người miền núi sống trên lãnh thổ Trung
Quốc nhưng không loại bỏ việc xâm chiếm bằng lực lượng vũ trang lãnh thổ của
các bộ tộc không thực lòng liên minh với Đại Việt Như vào năm 1074, Tiêu
Chủ tâu lên vua Thần Tông việc một châu bị chiếm mất
Giữa lúc đó, tình hình ở vùng biên giới phía bắc nước Tống trở nên căng
thẳng Nước Liêu đe doạ xâm lược, đòi phải cắt cho một phần đất mới Vua
Tống buộc phải điều toàn bộ binh lính mới tuyển lên phía bắc Vì vậy, Thẩm
Khởi lúc này đang xúc tiến chuẩn bị cuộc chiến tranh với phương nam, bất đắc
dĩ bị gọi về triều đình, vì sợ Đại Việt trả thù Thẩm Khởi bị bãi chức Một viên
quan khác là Lưu Di được cử thay thế, có nhiệm vụ hòa hoãn quan hệ với các
“chư hầu” Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là cuộc tấn công xuống phía nam
bị bãi bỏ, mà theo nhà Tống, thời điểm này chưa thích hợp
Vào đầu năm 1075, nhà Tống cắt một phần lãnh thổ ở phía bắc cho nước
Liêu, cuộc xung đột giữa nhà Tống và Liêu tạm chấm dứt Một lần nữa, nhà
Tống lại nhòm ngó xuống phía nam Lưu Di được lệnh tăng cường quân đội và
đình chỉ việc buôn bán qua biên giới
Trong triều đình Lý, phái của Lý Thường Kiệt – người nắm gần như toàn bộ
quyền hành trong nước thắng thế Đại Việt chú ý theo dõi các chính sách của
nhà Tống và nắm vững được tình hình ở các tỉnh miền nam Trung Quốc
Lý Thường Kiệt biết rõ cuộc xâm lược của nhà Tống là không tránh khỏi,
đồng thời ông cũng nhận thấy lúc này người Tống chưa sẵn sàng phát động
chiến tranh, lực lượng vũ trang của họ ở phía nam cũng mới chỉ ở giai đoạn
chuẩn bị bước đầu Ngoài ra, một nhà nho ở tỉnh Quảng Tây bất mãn với chính
quyền nhà Tống, đã gửi tới triều đình Đại Việt một bức thư, thông báo về việc
chuẩn bị xâm lược của nhà Tống, khuyên nên đánh đòn phủ đầu, cũng như sẽ
giúp đỡ khi quân đội Đại Việt tiến vào đất Tống Toàn bộ tình hình này khiến
Lý Thường Kiệt thấy cần phải đánh một đòn mạnh vào các tỉnh phía nam Trung
Quốc Dự định của Lý Thường Kiệt được Hoàng thái hậu Ỷ Lan và quần thần
ủng hộ Lý Thường Kiệt bắt đầu tập trung quân lên biên giới Đồng thời, Đại
Việt cũng gây áp lực về ngoại giao với nhà Tống, đòi trả Thiên Mỹ và những
vùng đất đai bị chiếm Điều này được lợi dụng như một cái cớ để Đại Việt tấn
công vào đất Tống Các xung đột nhỏ ở vùng giáp giới ngày một tăng lên Tất
cả những diễn biến đó không phải người Tống không thấy Quan cai trị các tỉnh
Trang 21Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 22 -
phía nam tâu lên vua nguy cơ đang tăng lên từ phía Đại Việt Tuy nhiên, người
Tống không ngờ Đại Việt lại tiến công ngay và đánh lớn
Lý Thường Kiệt chọn ba địa điểm chiến lược quan trọng nhất ở phía nam
Trung Quốc làm mục tiêu tấn công Đó là Ung Châu - một chiến thành chủ chốt
của Quảng Tây, và các thành Khâm Châu và Liêm Châu nằm bên các cửa biển
thuận lợi cho tàu bè ra vào
Lý Thường Kiệt chia quân đội thành hai bộ phận: bộ binh và thuỷ binh Bộ
binh được tập trung ở vùng biên giới Quảng Yên, Môn, Quảng Lăng và Tô Mậu
Chỉ huy lực lượng này là các thủ lĩnh Lưu Kỳ, Hoàng Kim Mãn, Thân Cảnh
Phúc và Vi Thủ An dưới sự thống xuất của Tông Đản Nhiệm vụ của họ là tấn
công vào vùng biên giới Tống, sau đó tiến thẳng tới Ung Châu Lực lượng thuỷ
binh do Lý Thường Kiệt chỉ huy được tập trung ở Vĩnh An có nhiệm vụ men theo
bờ biển đánh chiếm Khâm Châu và Liêm Châu, sau đó phát triển lực lượng tiến
vào Ung Châu
Lực lượng bộ binh gồm phần lớn là người miền núi do các thủ lĩnh của họ
chỉ huy Bộ phận này là lực lượng có tác dụng hỗ trợ Bộ phận chủ yếu của quân
Đại Việt là những binh lính thường trực được trang bị và huần luyện tốt và chỉ
bao gồm người Việt Lực lượng này sẽ tiến vào các cảng phía nam Trung Quốc
bằng thuyền chiến
Số lượng quân Đại Việt không được ghi chép rõ ràng Các sử liệu Trung
Quốc cho biết có từ sáu đến tám vạn người, còn các sử liệu Việt Nam thì lại đưa
ra con số là mười vạn Vấn đề phức tạp bởi những ghi chép trên không tính cụ
thể số binh lính của các bộ tộc miền núi, việc phỏng đoán hoàn toàn chỉ có ý
nghĩa tương đối Có lẽ số quân thực tế tham gia chiến dịch không quá tám đến
mười vạn người Nếu lưu ý một chút, ta biết trong cuộc hành quân tới Chămpa
có gần năm vạn binh lính tham gia hoàn toàn bằng đường thủy, trong trường hợp
này còn có cả lực lượng bộ binh và đối phương ở đây rất mạnh – do đó, quân số
rõ ràng phải đông hơn rất nhiều
Trang bị của quân đội Đại Việt bao gồm cung, tên, giáo, súng bắn đá Voi
chiến được sử dụng như một lực lượng xung kích tấn công, có số lượng lớn Vào
tháng 10 - 1075, lực lượng bộ binh bắt đầu tiến đánh các trại Tống dọc biên giới
Theo kế hoạch của Lý Thường Kiệt, lực lượng bộ binh sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho thủy quân đổ bộ Kế hoạch đã thành công Những toán quân của các bộ lạc
miền núi chiếm một cách dễ dàng lãnh thổ vùng giáp giới, tiêu diệt các đồn binh
nhỏ của nhà Tống cùng với chỉ huy của họ Đúng lúc đó, chiến thuyền của Lý
Thường Kiệt đã tiến đến Khâm Châu, sau đó tới Liêm Châu và đổ bộ lên đất
liền, tạo sự bất ngờ đối với nhà Tống Vào thời điểm đó, quan cai trị Khâm
Châu là Trần Vinh Thái vẫn đang ăn uống vui vẻ Các đồn binh Tống bị đánh
Trang 22Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 23 -
tan, các tướng tá và quan lại triều đình đều bị giết Tại Liêm Châu, gần tám
ngàn dân binh Tống bị bắt làm tù binh Mãi một tháng sau, triều đình Tống mới
được biết về những thất bại đầu tiên này
Khi tiến hành các hoạt động quân sự , Lý Thường Kiệt đã nắm chắc tình
hình quân Tống ở các tỉnh phía nam, vừa ít vừa chưa được huấn luyện kỹ càng
Để cho cuộc tiến công vào lãnh thổ đối phương được thuận lợi, Lý Thường Kiệt
cố gắng lôi kéo dân địa phương về phía mình Đi tới đâu ông cũng tuyên bố rằng
quân đội Đại Việt tiến vào lãnh thổ nhà Tống là để bắt bọn phản loạn chạy
sang đây; rằng việc làm này là bất đắc dĩ vì nhà Tống che giấu bọn này và mặc
dù đã nhiều lần đề nghị họ vẫn không chịu trao trả Trong những trường hợp
khác, ông giải thích với dân địa phương rằng quân đội Đại Việt tới đây là để cứu
giúp nhân dân đang bị chính quyền nhà Tống đè nén, áp bức Việc tuyên truyền
như vậy, dù không hoàn toàn đúng với hành đông thực tế nhưng có hiệu quả
nhất định Phần lớn dân các tỉnh phía nam Trung Quốc là phi Hán tộc, một phần
trong số đó là cùng bộ tộc với cư dân miền núi Đại Việt, một bộ phận khác gần
gũi với người Việt, xét về thành phần tộc người Chính những cư dân này đã
nồng nhiệt đón chào quân đội Đại Việt, cung cấp lương thực cho họ Nhưng mặt
khác, binh lính và dân trong các thành, chủ yếu là người Hán, đã chống lại quân
Đại Việt một cách quyết liệt Bộ binh Đại Việt tiến gần tới Ung Châu Lý
Thường Kiệt cũng mau chóng rời Khâm Châu, tới giữa tháng 12 bao vây toàn bộ
thành này Một bộ phận sau khi chiếm Liêm Châu liền đóng quân tại hai vị trí ở
hướng đông bắc đề phòng quân triều đình Tống xuống tiếp ứng
Thành Ung Châu khá kiến cố, binh lính ở đây có vài vạn người, chủ yếu là
quân chính quy người Hán Binh lính được huấn luyện và trang bị tốt, trong
thành có nhiều lương thực, thực phẩm, có khả năng giữ vững được trong tình thế
bị bao vây Trấn thủ thành là viên quan văn Tô Giám kiên quyết giữ Ung Châu
bằng bất cứ giá nào, với hy vọng sẽ có quân cứu viện từ Quế Châu Tô Giám áp
dụng nhiều biện pháp củng cố tinh thần chiến đấu của binh lính Bất cứ ai nghi
ngờ vào kết quả của việc phòng thủ, kể cả quan lại, đều bị chém đầu Ông cũng
cấm chỉ việc đưa gia đình các quan ra khỏi thành để dẹp bỏ tâm lý thất bại Như
vậy, một khó khăn lớn đặt ra trước Lý Thường Kiệt trong việc chiếm thành, hơn
nữa quân đội Đại Việt lại chưa có kinh nghiệm trong việc đánh thành Nhiều lần
quân đội Đại Việt tấn công không hạ được thành Từ Quế Châu, Lưu Di phái
một lực lượng tới Ung Châu cứu viện Viên chỉ huy đạo quân này là Trương Thủ
Tiết không kiên quyết, tiến quân chậm chạp và tới đầu tháng giêng năm 1076
thì bị Lý Thường Kiệt đón đánh ở Côn Lôn Trương Thủ Tiết và hầu như toàn bộ
tướng lĩnh đều bị giết, binh lính tan vỡ
Sau đó, Lý Thường Kiệt tập trung toàn bộ lực lượng của mình chiếm Ung
Châu Việt sử lược ghi lại đầy đủ nhất về cuộc bao vây này như sau: Quan coi
Trang 23Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 24 -
châu (Ung) là Tô Giám giữ thành cố thủ Ta làm phi thê (thang mây) để trèo lên
thành; kẻ kia đem dùng hoả cụ (đuốc lửa), phi thê không thể đem đến gần, ta lại
dùng tên thuốc độc bắn, người ngựa ở trên thành chết chồng chất lên nhau Kẻ
kia dùng cung thần tí bắn, tượng quân của ta có nhiều người chết Thành cao và
kiên cố, ta đánh hơn 40 ngày không hạ được Ta bắt được người Tống, họ dạy ta
cách dùng bao đất áp vào thành mà trèo lên Thường Kiệt nghe theo Thành bèn
bị hãm Tô Giám chạy về châu thự, trước tiên giết bọn gia thuộc 36 người, sau
đốt lửa tự thiêu mình Quân sĩ tìm Giám không thấy, bèn giết hết lại dân hơn
năm vạn người
Sau khi chiếm được thành Ung Châu, Lý Thường Kiệt muốn nhân đà thắng
lợi tiến quân lên phía bắc Giữa lúc đó, nhà Tống đã cử một lực lượng lớn để
chống lại quân Đại Việt Biết được điều đó, Lý Thường Kiệt ra lệnh rút quân vì
nếu tiến sâu lên phía bắc, ông sẽ bị tách xa khỏi lãnh thổ Đại Việt Điều đó sẽ
tạo nên sự nguy hiểm, bởi vì quân Tống có thể sẽ tiến công sang và bao vây Lý
Thường Kiệt ở Trung Quốc Ở Đại Việt, một bộ phận lớn quân đội đã được điều
sang Trung Quốc không còn đủ sức mạnh quân sự để đối phó với cuộc tấn công
của nhà Tống Lý Thường Kiệt quyết định một cách hết sức đúng đắn, rút quân
về bảo vệ đất nước Vào tháng 3-1076, quân đội Đại Việt rút khỏi biên giới
nước Tống Trước lúc rút quân, tất cả các khu dân cư, kho lương đều bị san
phẳng, một số lớn cư dân và của cải bị bắt đem về Đại Việt Cư dân các tỉnh
miền nam Trung Quốc bị bắt làm tù binh, được đưa tới các tỉnh Thanh Hoá và
Nghệ An, cách xa biên giới với nhà Tống Như vậy, vấn đề đặt ra trước nhà
Tống khi tiến hành cuộc tiến quân sang đất Đại Việt là không còn hậu phương
để cung cấp lương thực, thực phẩm cho binh lính
Tống Thần Tông xuống chiếu chuẩn bị một cuộc tấn công lớn sang Đại Việt
với mục đích không chỉ để “hỏi tội” Đại Việt đã đem quân đánh sang đất Tống,
mà còn nhằm biến nước ta thành một tỉnh của nhà Tống Thấy rõ tính chất
nghiêm trọng của tình hình, Lý Thường Kiệt tập trung chú ý tìm các biện pháp
để nắm chắc âm mưu của đối phương Để làm việc này, ông sử dụng những
người Tống trước đây đã chạy sang Đại Việt vì những lý do khác nhau Trong
cuộc tiến quân năm 1075, Đại Việt bắt đem về nước gần 200 nhà sư Trung
Quốc Quân thám báo Đại Việt sử dụng giấy tờ, trang phục của họ đột nhập
sang Trung Quốc Những lái buôn Việt hoạt động dọc ven biển Trung Quốc
cũng được sử dụng vào mục đích trên Vì thế mà Lý Thường Kiệt nắm chắc
được việc chuẩn bị chiến tranh của nhà Tống
Để cho cuộc xâm lược Đại Việt được thuận lợi hơn, nhà Tống sai sứ sang
Chămpa và Chenla yêu cầu cùng tiến hành các hoạt động quân sự chống Đại
Việt Như vậy, nếu chiến tranh xảy ra ở cả hai phía bắc – nam thì sẽ đẩy Đại
Việt vào một tình thế cực kỳ nguy hiểm Tuy nhiên, các nước này không đứng
Trang 24Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 25 -
về phía Tống, nguyên nhân tại sao hoàn toàn chưa rõ Đại Việt sử ký toàn thư
cho biết: Vào tháng 8-1075, Lý Thường Kiệt đem quân đi đánh Chămpa Theo
tài liệu này thì cuộc tiến quân không đạt được thắng lợi, ông bèn họa địa đồ
hình thế núi sông của ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh Đoạn ghi chép trên
đây nằm sau đoạn ghi chép về cuộc tiến quân sang nam Trung Quốc đã nói ở
trên, nhưng về thời điểm xảy ra lại sớm hơn một năm so với ghi chép trong Việt
sử thông giám cương mục Việt sử thông giám cương mục không hiểu vì sao lại
chép sự kiện nêu trên xảy ra vào tháng 8-1075, tức là trước cuộc tiến quân sang
đất Tống Cuộc tiến quân đánh Chăm Pa có thể diễn ra vào năm 1076 nhằm
ngăn chặn việc nhà Tống dùng Chămpa uy hiếp Đại Việt từ phía nam Trong
trường hợp này, Lý Thường Kiệt sẽ rất mạo hiểm nếu đem quân đi đánh
Chămpa như đã diễn ra vào năm 1069, bởi vì nguy cơ một cuộc xâm lược quy
mô lớn của nhà Tống đã đến gần Chiến tranh có thể sẽ kéo dài và các khu vực
phía bắc đất nước (kể cả Thăng Long), sẽ không được bảo vệ trước cuộc tiến
công của nhà Tống Lý Thường Kiệt dường như chỉ biểu dương sức mạnh quân
sự vung biên giới và điều này đã đạt được mục đích – Chămpa không dám
chống lại Đại Việt
Nhà Tống tổ chức một lực lượng lớn để tiến công Đại Việt Lực lượng bộ
binh bao gồm trên mười vạn người, trong đó có một vạn quân chính quy được
điều động từ biên giới phía bắc xuống Những binh lính này được huấn luyện
chu đáo và có nhiều kinh nghiệm chiến đấu qua các cuộc chiến tranh với người
Khiết Đan và Đột Quyết Bộ phận kỵ binh gồm một vạn người, ngựa, là lực
lượng đột kích và trước đó cũng đã từng tham chiến ở biên giới phía bắc Bộ
phận quân đội còn lại được điều động ở các tỉnh nam Trung Quốc, bao gồm dân
binh và những người tình nguyện Riêng thủy binh Tống, do bị tổn thất nặng
trong cuộc tấn công của Đại Việt năm 1075 thì không được chuẩn bị tốt
Vào tháng 7-1076, quân đội Tống tiến đến Ung Châu và chia làm một số
hướng vượt qua rừng núi tấn công vào lãnh thổ Đại Việt Thủy binh tiến xuống
bờ biển Vĩnh An Tống Thần Tông giao cho Quách Quỳ làm Chiêu thảo sứ, chỉ
huy đội quân xâm lược đông tới 20 vạn quân Cuộc xâm lược thực sự vào lãnh
thổ Đại Việt bắt đầu vào cuối năm 1076
Như vậy, sau khi rút quân khỏi miền nam Trung Quốc, Lý Thường Kiệt có
một khoảng thời gian gần nửa năm để chuẩn bị phòng ngự tại khu vực rừng núi,
nơi quân Tống sẽ tiến qua Lý Thường Kiệt bố trí các ổ phục kích gần biên giới,
tuyến phòng ngự chủ yếu được bố trí ở bờ nam sông Cầu, từ đó có khả năng bảo
vệ được một phần lớn khu vực đồng bằng Bắc Bộ và kinh thành Thăng Long
Tại những nơi thuận tiện cho việc vượt sông, Lý Thường Kiệt cho đắp lũy cao,
trên đóng nhiều cọc tre sắc nhọn Chiến lũy này chạy dài gần 100 km, rất kiên
cố, khó có thể vượt qua Thủy binh Đại Việt đóng tại hạ lưu sông Lục đầu, có
Trang 25Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 26 -
nhiêm vụ cản phá không cho quân Tống vượt qua Ví trí này rất thuận lợi, chiến
thuyền có thể cơ động đi nhiều hướng khác nhau và có thể bảo vệ các cửa biển
Ngoài ra, Lý Thường Kiệt bố trí một lực lượng bộ binh tinh nhuệ án ngữ
phía sau bảo vệ kinh đô và vùng Thiên Đức – quê hương của nhà Lý, nơi có
nhiều lăng tẩm của các vua Lý
Cuối năm 1076 đầu năm 1077, lực lượng chủ yếu của quân Tống chia thành
nhiều bộ phận đã vượt qua vùng núi phía bắc Họ mua chuộc được một số thủ
lĩnh địa phương Ở nhiều nơi, quân Tống phải giao chiến với các nhóm phục kích
hoặc tìm cách tránh không đụng độ để tiến về phía trước Chúng đi vòng tránh
đèo Động Giáp; quân Tống cho rằng lực lượng chính của Lý Thường Kiệt phục
kích ở đó cho nên cho cánh quân bảo vệ sườn ra ứng chiến để đội hình chính
tiến về Thăng Long Nhưng cuộc tiến quân của quân Tông bị chặn lại bởi phòng
tuyến sông Cầu Chiêu thảo sứ Quách Quỳ hy vọng chiến thuyền sẽ từ phía biển
tiến vào Một viên tướng của y tên là Miêu Lý liều mạng vượt sang bờ nam
bằng cầu phao Lực lượng đột kích của quân Tống bị quân Lý Thướng Kiệt tiêu
diệt hoặc bắt sống Thất bại này buộc Quách Quỳ phải tạm hoãn cuộc tiên
squân của đại binh, chờ thuỷ binh tiến vào Nhưng đòn tiến công của Đại Việt
vào quân Tống cũng không thành công Hai hoàng tử Hoàng Chân và Chiêu
Văn chỉ huy vài ngàn quân trên 400 chiến thuyền tiến sang bờ bắc tấn công đối
phương nhưng thất bại và khi rút lui phải chịu tổn thất lớn Quân Tống dùng súng
bắn đá bắn trả quyết liệt Hai hoàng tử hy sinh
Quách Quỳ loan tin “thắng lớn” quân Đại Việt nhưng không mang quân
đuổi theo vì thực tế, y không có thuyền để chở quân sang Theo kế hoạch, thuỷ
binh Tống sẽ vượt qua Động Kênh, sau đó qua sông Bạch Đằng tiến vào, hợp
với bộ binh của Quách Quỳ Kế hoạch này không thực hiện được Thủy binh
Tống bị chặn đứng ở Vĩnh An Trong khi đó, bộ binh của cả hai phía vẫn tiếp tục
đóng ở hai bên bờ sông Gần 40 ngày trôi qua kể từ sau cuộc tiến công không
thành của phía Đại Việt Quân Quách Quỳ lâm vào tình thế phải đối mặt với sự
thiếu lương thực và dịch bệnh của mùa hè phưng nam Tuy nhiên, Quách Quỳ
vẫn chưa quyết định rút quân vì biêt rõ rằng làm như vậy y sẽ bị trị tội
Lý Thường Kiệt sau khi phân tích tình hình, cho rằng nếu quân Tống buộc
phải rút lui trong tình thế như vậy sẽ là một nỗi nhục đối với nhà Tống Kẻ thù
có thể sẽ mở những cuộc xâm lược mới với quy mô lớn hơn Vì thế, ông quyết
định giảng hoà, tạo ra vẻ bề ngoài phục tùng người láng giềng hùng mạnh ở phía
bắc Lý Thường Kiệt cử sứ giả Kiều Văn Ứng sang gặp Quách Quỳ, thông báo
rằng nếu rút quân về triều thì Đại Việt sẽ sai sứ sang xin chịu tội và nộp cống
Ngoài ra, còn hứa sẽ cắt cho nhà Tống một số đất đai Những đề nghị như vậy
đối với quân Tống lúc này khác nào sắp chết đuối vớ được cọc Tống Thần
Trang 26Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 27 -
Tông ra lệnh bãi binh Quách Quỳ hình như vẫn không tin vào thiện chí hòa bình
của Đại Việt và vẫn lo ngại quân Đại Việt sẽ tấn công, đang đêm bất ngờ ra
lệnh rút quân Sự kiện này diễn ra vào tháng 2-1077
Nhà Tống nhân việc Đại Việt hứa sẽ “cắt đất”, tuyên bố “thắng lớn” ở
phương nam và bình định được Giao Chỉ Tuy thế, chính Tống Thần Tông thì lại
coi cuộc tiến quân sang Đại Việt là một thất bại lớn, nên đã ra lệnh trị tội tất cả
các tướng tham gia cuộc xâm lược Đại Việt Một số bị bãi chức, một số khác bị
điều đến các tỉnh xa xôi của đế quốc Tống Việt sử lược chép về thất bại của
quân Tống trong cuộc chiến tranh này là “mười phần chết mất năm, sáu” Các
sử liệu Trung Quốc cúng thừa nhận thất bại này là rất lớn
Theo thoả thuận, Đại Việt phải cắt cho nhà Tống năm châu: Quảng
Nguyên, Tứ Lăng, Tô Mậu, Môn và Quảng Lăng Tuy nhiên, sau khi Quách Quỳ
rút quân về Trung Quốc, quân đội Lý Thường Kiệt chiếm lại được bốn châu, chỉ
có châu Quảng Nguyên vẫn còn nằm dưới quyền cai trị của người Tống Để đòi
lại châu này, Lý Thường Kiệt ra lệnh loan tin rằng Đại Việt sắp tới sẽ cử binh
tiến đánh Đồng thời, liên tiếp phái các sứ bộ tới Trung Quốc đề nghị trả lại
châu này để đổi lấy các tù binh của ba châu: Ung, Khâm và Liêm, bị Đại Việt
bắt năm 1075 Việc mất những vùng đất mới chiếm được trong cuộc chiến tranh
xâm lược Đại Việt gây nên sự bất bình trong các cận thần của vua Tống Thất
bại của nhà Tống là một trong những lý do buộc tể tướng Vương An Thạch phải
từ chức Nhân chuyện nhà Tống trả lại Quảng Nguyên cho Đại Việt, người Tống
có câu thơ châm biếm rằng: “Nhân tham Giao Chỉ tượng, Khước thất Quảng
Nguyên kim” (Vì tham voi Giao Chỉ, Bỏ mất vàng Quảng Nguyên)
Kháng chiến chống Tống thắng lợi là một chiến công hiển hách của quân
dân tnều Lý, dưới sự lãnh đạo của vị tướng tài ba Lý Thường Kiệt, đánh tan
mộng tưởng xâm lược nước ta lần thứ hai của nhà Tống Quốc gia phong kiến
Đại Việt bước vào thời kỳ cường thịnh
3 Sự suy vong của triều Lý
Từ năm 1937, đời Lý Anh Tông, các vua Lý lên ngôi đều nhỏ tuổi Quyền
lực lọt vào tay ngoại thích Nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân đã nổ ra (Thân Lợi,
Phí Lãng) Nhiều thế lực phong kiến địa phương nổi dậy (Nguyễn Nộn, Đoàn
Thượng.v.v.) Đến đời Cao Tông, trong triều nổ ra loạn Quách Bốc, buộc triều
đình phải chạy trốn khỏi Kinh thành Trong cục diện đó, dòng họ Trần đã nổi
lên ở Hải ấp và dần dần gây dựng được thế lực ở Thăng Long Đến đời Huệ
Tông, họ Trần cơ bản đã đánh bại các thế lực khác và thao túng các chức vụ
chuỷ choỏt trong triều Lý Năm 1225, Trần Thủ Độ buộc Huệ Tông nhường ngôi
cho con gái út là Chiêu Thánh, lúc đó mới 7 tuổi Ngày 11-1-1226, với sự sắp
Trang 27Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 28 -
đặt của Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi hoàng đế cho chồng mình là
Trần Cảnh Triều Lý đến đây chấm dứt
- Thế thứ triều Lý (1010 - 1225)
1 Lý Thái Tổ (1010 - 1028); họ và tên : Lý Công Uẩn Vua sinh ngày
12 tháng 2 năm Giáp Tuất (974), tại châu Cổ Pháp, nay là Bắc Ninh
2 Lý Thái Tông (1028 - 1054); họ và tên : Lý Phật Mã, lại có tên khác
là Lý Phật Chính, con trưởng của Lý Thái Tổ, mẹ là Lê thái hậu (không rõ tên)
Vua sinh ngày 26 tháng 6 năm Canh Tý(1000), tại Hoa Lư ( khi thân sinh còn làm
quan trong triều Tiền Lê)
3 Lý Thánh Tông (1054 - 1072); họ và tên : Lý Nhật Tôn Vua sinh
ngày 25 tháng 2 năm Quý Hợi (1023), tại kinh thành Thăng Long
4 Lý Nhân Tông (1072 - 1127); họ và tên : Lý Càn Đức Vua sinh ngày
25 tháng 1 năm Bính Ngọ (1066), tại kinh thành Thăng Long
5 Lý Thần Tông (1128 - 1138); họ và tên : Lý Dương Hoán Vua sinh
năm Bính Thân (1116)
6 Lý Anh Tông (1138 - 1175); họ và tên : Lý Thiên Tộ, con trưởng của
Lý Thần Tông Vua sinh vào tháng 4 năm Bính Thìn (1136)
7 Lý Cao Tông (1175 - 1210); họ, tên : Lý Long Trát, lại có tên khác là
Lý Long Cán Vua là con thứ 6 của Lý Anh Tông với mẹ là Thụy Châu thái hậu,
người họ Đỗ Vua sinh ngày 25 tháng 5 năm Quý Tỵ (1173)
8 Lý Huệ Tông (1210 - 1224); họ và tên :Lý Hạo Sảm Ông là con
trưởng của Lý Cao Tông, mẹ là Đàm thái hậu Vua sinh vào tháng 7 năm Giáp
Dần (1194)
9 Lý Chiêu Hoàng (1224 - 1225); họ và tên : Lý Phật Kim, lại có tên
khác là Lý Thiên Hinh Nữ Vua sinh vào tháng 9 năm Mậu Dần (1218)
II Triều Trần
1 Tình hình chính trị - xã hội
Triều Trần thay thế một triều Lý đã hết sinh khí, trong bối cảnh quốc tế có
nhiều biến động: Đế quốc Mông Cổ đang làm mưa làm gió ở Châu Âu, Trung á
Triều Trần trên thực tế là bước phát triển mới của chế độ trung ương tập quyền,
duy trì sự ổn định, thống nhất của quốc gia Đại Việt
Bộ máy chính quyền được xây dựng trên cơ sở cốt lõi là Hoàng tộc Quí tộc
tôn thất được phân phong nắm những chức vụ chủ chốt và đóng giữ ở các nơi
hiểm yếu Nhà Trần áp dụng chế độ hai vua Sau một thời gian ở ngôi, mặc dù
Trang 28Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 29 -
còn sung sức, các vua Trần đều lui về làm Thượng Hoàng và nhường ngôi cho
thái tử Thượng Hoàng vẫn cùng vua con nắm triều chính và có quyền lực rất
lớn Ngoài kinh thành Thăng Long, hành cung Thiên Trường là nơi ở và làm
việc của Thượng Hoàng Triều đình trung ương dưới vua là Tả hữu tướng quốc
và các danh hiệu tam thái, tam thiếu Bên cạnh đó là tri mật viện và môn hạ
sảnh Bên dưới có lục bộ và một số cơ quan chức năng: Hàn Lâm viện, Ngự sử
đài, Quốc sử viện.v.v
Phương thức tuyển quan lại về cơ bản cũng giống như Triều Lý nhưng triều
Trần chú trọng hơn đến việc tuyển dụng quan lại qua khoa cử Sang thế kỷ thứ
14, số lượng nho sĩ đỗ đạt ra làm quan ngày càng nhiều
Bộ máy địa phương từ 24 lộ thời Lý được chia lại thành 12 lộ (phủ) Dưới lộ
là huyện (châu miền núi), hương và xã Nguồn quan lại, ngoài những người
trong Hoàng tộc, được tuyển chọn theo khoa cử, công lao và thủ sĩ
Quân đội chia thành cấm quân và quân các lộ Quân các lộ là lực lượng
chính binh, được tổ chức theo chế độ luân phiên (Ngụ binh ư nông) Ngoài ra các
quý tộc tôn thất cũng được quyền xây dựng quân đội riêng
Năm 1230, nhà Trần ban hành bộ Quốc triều thông chế, sau đó sửa chữa, bổ
sung và đổi thành Quốc triều hình luật Điểm nổi bật của pháp luật đời Trần là
khẳng định chế độ dẳng cấp và bảo vệ chế độ tư hữu tài sản, nhất là chế độ tư
hữu về ruộng đất Vào cuối thời Trần, chế độ điền trang càng được mở rộng,
diện tích ruộng tư có xu hướng tăng lên
2 Các cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông dưới triều Trần
Năm 1206, sau gần một thế kỷ nội chiến, đại hội quý tộc Khurintai đã bầu
Temujin làm Đại Hãn nước Mông Cổ Ngay lập tức, Mông Cổ hướng ngọn lửa
chiến tranh ra bên ngoài Về phía Đông, Mông cổ tiến công nước Tây Hạ và
nước Kim Về phía tây, Mông cổ đánh nước Khorexme, tiến vào miền nam nước
Nga, đến tận sông Vonga
Từ khoảng giữa thế kỷ 13, sau các chiến dịch đánh sang Ba Tư và Châu Âu,
Đế chế Mông Cổ trên thực tế đã phân chia thành bốn: ngoài phần đất Mông
Cổ, hai nước Hãn mới đã được thành lập là Ba Tư , Lều Vàng và khu vực lãnh
thổ mới chiếm được trên lục địa trung quốc
Trong những năm 30 thế kỷ XIII, người Mông Cổ đã chiếm được vùng phía
bắc Trung Quốc, bấy giờ là lãnh thổ thuộc nhà Kim của người Nữ Chân Năm
1251, chúa Mông Cổ là Đại Hãn Môngke hạ lệnh cho em tra y là Khubilai tiến
quân xuống phía nam đánh chiếm Nam Tống Khubilai bắt đầu cuộc tiến công từ
phía bắc Đồng thời với việc làm đó, trong năm 1252, một viên tướng Mông Cổ
khác là Uriangkhiđai đánh bại nước Nam Chiếu ở giáp giới với Đại Việt về phía
Trang 29Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 30 -
tây bắc Theo kế hoạch của người Mông Cổ, quân đội của họ sẽ tiến đánh Nam
Tống bằng hai gọng kìm từ phía bắc và phía nam Uriangkhaiđai tiến sát tới biên
giới Đại Việt thuộc khu vực tỉnh Lào Cai ngày nay và đòi Trần Thái Tông cho
quân đội của y mượn đường đánh Nam Tống Quân Mông Cổ ba lần sai sứ tới
triều đình Đại Việt Tất cả các sử giả đều bị bắt và bị hạ ngục tại kinh thành
Thăng Long Trần Thái Tông xuống chiếu cho cả nước chuẩn bị sẵn sàng đối
phó với cuộc chiến tranh sắp xảy ra Quân đội được điều động lên vùng biên
giới dưới sự chỉ huy của Trần Quốc Tuấn, nhà quân sự lỗi lạc trong các cuộc
chiến tranh với quân Mông Cổ sau này
Không được Trần Thái Tông đáp ứng đòi hỏi của mình, tháng 12 -1257,
Uriangkhaiđai tấn công vào lãnh thổ Đại Việt Quân đội của y có khoảng hơn
hai vạn tên, bao gồm nhiều tộc người khác nhau Một nửa trong số đó là người
Mông Cổ, nửa còn lại chiêu tập từ người Hán và các bộ tộc sống ở phía nam
Trung Quốc Quân Mông Cổ tiến theo bờ sông Hồng về hướng kinh đô Thăng
Long Tại Bình Lệ Nguyên (Vĩnh Phú ngày nay), theo lệnh vua, một tuyến
phòng thủ được chuẩn bị Ở đây đã diễn ra trận đánh mở đầu Trần Thái Tông ở
vị trí tổng chỉ huy Quân Mông Cổ tìm cách bao vây quân đội Đại Việt, chặn
đường rút lui, sau đó, tiêu diệt và bắt sống các thuyền chiến Trong trận đánh
này, người Mông Cổ lần đàu tiên chạm trán với voi chiến của ta Lúc đầu, kỵ
binh Mông Cổ tỏ ra lúng túng, nhưng sau đó, chúng bắn hỏa khí làm cho đàn voi
sợ hãi rối loạn chạy ngược lại, giẫm đạp lên quân mình Ưu thế nghiêng về phía
quân của Uriangkhađai Lê Phụ Trần – một viên tướng nhà Trần khyên Trần
Thái Tông rút lui để bảo toàn lực lượng Cánh quân chi viện do Phạm Cụ Chích
chỉ huy có nhiệm vụ cản phá quân địch đảm bảo cho lực lượng chủ yếu rút lui
Toàn bộ cánh quân đều hy sinh, nhưng họ đã hoàn thành nhiệm vụ Như vậy, kế
hoạch của Uriangkhađai nhằm tiêu diệt quân đội Đại Việt, bắt sống Trần Thái
Tông đã thất bại Một viên tướng Mông Cổ – kẻ trực tiếp thực hiện kế hoạch
này đã tự tử
Trần Thái Tông bỏ Thăng Long, rút về củng cố ở vùng Khoái Châu (Hải
Hưng) Nhân dân được sơ tán khỏi kinh thành Quân Mông Cổ chiếm Thăng
Long nhưng đó chỉ là một thành phố trống không Trong ngục, chúng tìm thấy
những sứ giả của mình, một người trong số đó đã chết Uriangkhađai ra lệnh tàn
phá Thăng Long Sau một vài ngày, dự trữ lương thực của quân Mông Cổ cạn
kiệt Chúng phái quân đến các làng chung quanh tìm kiếm nhưng không đạt kết
quả bởi nhân dân đã rời nhà, hủy lương thực hoặc họ kiên quyết giữ làng với vũ
khí trong tay, đánh lui bọn xâm lược Có những tấm gương nổi tiếng trong lịch sử
về nhưng người nông dân công xã đã chiến đấu thắng lợi, biến làng xã của mình
thành những “pháo đài tre xanh”
Trang 30Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 31 -
Một số thành viên trong hoàng tộc biểu hiện tình trạng hoang mang Thái uý
Nhật Hiệu đề nghị Trần Thái Tông chạy sang đất Tống Trái lại, Trần Thủ Độ
đã hành động một cách kiên quyết Ông nói với vua: “Đầu thần chưa rơi xuống
đất, xin bệ hạ đừng lo” Triều đìng nhà Trần vẫn duy trì tốt khả năng chiến đấu
của quân đội Những bản hiệu triệu kêu gọi nhân dân chiến đấu chống kẻ thù
được gửi đi khắp nơi Giữa lúc ấy, tình thần chiến đấu của quân Mông Cổ bắt
đầu rệu rã Sau khi kinh thành Thăng Lòng bị chiếm chưa đầy nửa tháng thì
quân Đại Việt dưới sự chỉ huy của vua Trần và Hoàng Thái từ đã mở một trận
phản công quyết định và đánh bật chúng ra khỏi kinh đô Urangkhađai với số
quân còn lại của mình buộc phải quay trở lại đất Nam Chiếu theo con đường cũ
dọc bờ sông Hồng
Trên đường rút chạy, đâu đâu quân Mông Cổ cũng gặp sự chống trả của cư
dân địa phương Ở khu vực miền núi, chúng bị nhân dân các bộ tộ dưới sự chỉ
huy của thủ lĩnh Hà Bổng chặn đánh Quân đội của Uriangkhađai tan tác khi trở
lại đất Nam Chiếu Thất bại ở Đại Việt đã không cho phép Mông Cổ thực hiện
đòn tiến công nhà Tống từ phía nam
Sau cuộc xâm lược lần thứ nhất của đế quốc Mông Cổ, Đại Việt có một thời
gian hoà bình tạm thời kéo dài 27 năm
Mặc dù giành được thắng lợi trong cuộc chiến tranh này nhưng nhà Trần
cũng giống như nhà Lý ở thế kỷ XI – không muốn làm cho quan hệ với người
láng giềng phía bắc trở nên căng thẳng Đại Việt cam kết việc triều cống, tuy
nhiên ở đây có đặt ra những điều kiện của mình Như việc vào năm 1258, sứ
Mông Cổ tới triều đình Đại Việt đòi cống vật hằng năm với số lượng lớn, Trần
Thái Tông và quần thần biểu lộ thái độ cứng rắn, các cuộc thương lượng kéo dài
vẫn không giải quyết được một thoả thuận nào Nhà Trần cử các sứ giả tới gặp
Khubilai, trong đó có tướng quân Lê Phụ Trần, người vừa lập công xuất sắc
trong cuộc chiến với Uriangkhađai (việc này như một sự thách thức đặc biệt với
người Mông Cổ) Kết quả là Đại Việt ba năm mới nộp cống một lần, giống như
thông lệ trong các thế kỷ trước và cũng chỉ mang tính chất tượng trưng mà thôi
Trong khi thừa nhận về mặt hình thức Trung Quốc là thượng quốc, người Việt
không bao giờ tự cho mình là nước phụ thuộc vào họ Trường hợp này thể hiện
rất rõ trong các nguyên tắc ngoại giao của người Việt – dù không được ghi thành
văn bản – là một nước nhỏ cần phải có sự nhượng bộ, nhưng cũng chỉ trong
trường hợp nếu điều đó không gây nên tổn hại chủ quyền quốc gia Những sự
nhượng bộ của họ hoàn toàn có giới hạn xác định Như vào nửa sau thế kỷ XIII,
nhà Nguyên nhiều lần đòi vua Trần phải tới triều đình của họ Ngay cả việc
người Mông đòi đưa con em hoàng tộc tới kinh đô của họ với tư cách là con tin
cũng không được đáp ứng Các vua Trần rất coi trọng lãnh thổ quốc gia của
mình và có thái độ cứng rắn trong các vấn đề về biên giới
Trang 31Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 32 -
Ban đầu chính sách ngoại giao mềm dẻo đã đem lại những kết quả khả
quan nhất định – vào năm 1261, Hãn Khubilai sai sứ tới triều đình Đại Việt cùng
bức thư có nội dung như sau: “Quan liêu sĩ thứ An Nam, phàm các việc mũ áo,
lễ nhạc, phong tục đều cứ theo lệ cũ của nước mình, không phải thay đổi…
Ngoài ra, đã răn bảo biên tướng ở Vân Nam không được tự tiện đem quân lấn
cướp nơi cương giới, quấy nhiễu nhân dân Quan liêu sĩ thứ nước ngươi hãy yêu
ổn làm ăn như cũ” Trần Thánh Tông được phong làm An Nam quốc vương –
tước vị cao nhất mà người Trung Quốc – trong trướng hợp này là người Mông Cổ
- ban cho vua chúa các nước chư hầu láng giềng
Cần chú ý là sau khi đánh bại cuộc xâm lược lần thứ nhất của quân Mông
Cổ, Đại Việt ít bị o ép hơn do kẻ thù lúc đó đang bận bịu vào những xung đột
nội bộ Năm 1259, Đại Hãn Môngke chết, hãn Aricbuca được bổ nhiệm thay
thế Đây là điểm khởi đầu cuộc đấu tranh vũ trang quyết liệt giành ngôi hãn,
thoạt tiên là Khubilai chống lại người anh của mình là Aricbuca Các cuộc tiến
công xâm lược Nam Tống và tất nhiên là cả Đại Việt tạm bị gác lại Cuộc tranh
giành giữa các hãn kết thúc vào năm 1264, với thất bại của Aricbuca… Y là kẻ
đơn đơn độc trong cuộc tranh giành ngôi đại hãn Bởi lúc đó, chính quyền trung
ương của đế quốc Mông Cổ đã suy yếu, quốc gia của người Mông Cổ bắt đầu
suy sụp, hơn nữa lực lượng chủ yếu của quân đội Mông Cổ lại nằm trong tay của
Khubilai Ngoài ra, Khubilai còn dựa vào tiềm năng kinh tế – quốc phòng của
Trung Quốc và biết lợi dụng ưu thế này Năm 1271, đế quốc Nguyên của người
Mông được thành lập Năm 1279, nhà Nam Tống bị tiêu diệt, toàn bộ lãnh thổ
Trung Hoa đến đây bị người Mông Cổ thôn tính
Ngay sau đó, từ đầu những năm 80 thế kỷ XIII, đế quốc Nguyên bắt đầu
những cuộc tiến quân xâm lược các quốc gia láng giềng như Miến Điện, Nhật
Bản, Giava Họ cũng âm mưu lập kế hoạch xâm lược Đại Việt
Nhà Trần nhận thức được một cuộc chiến tranh mới với người Mông Cổ là
không thể tránh khỏi, vì thế mà sau cuộc chống xâm lược lần thứ nhất, đã áp
dụng các biện pháp nhằm củng cố quân đội
Năm 1282, một hội nghị quân sự được triệu tập tại Bình Than, trong đó có
mặt tất cả các thành viên trong hoàng tộc cũng như các quan lại Các đội quân
bản bộ của quý tộc tôn thất đã được lập ra để trấn giữ những vị trí trọng yếu
nhất Năm 1284, trước lúc xảy ra cuộc chiến tranh với người Mông Cổ, các bô
lão từ khắp mọi miền đất nước đã được triệu tập về kinh đô Tất cả đều nhất trí
cần phải đánh Sự đồng tâm nhất trí nay có tác dụng rất lớn động viên tinh thần
toàn dân sẵn sàng kiên quyết chiến đấu chống quân xâm lược
Đồng thời, Đại Việt muốn trì hoãn chiến tranh đến mức cao nhất để có thời
gian chuẩn bị lực lượng đối phó một cách chu đáo hơn Năm 1281, khi bị gọi vào