Trong giai đoạn từ 1975 đến 2010, đất nước Việt Nam đã trải qua những sự kiện lịch sử to lớn vừa có ý nghĩa dân tộc, vừa có ý nghĩa thời đại: Bầu cử Quốc hội và thống nhất nhà nước, thực
Trang 1MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Lí do và mục đích thực hiện giáo trình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề và nguồn tài liệu
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
4 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu giáo trình
5 Nội dung nghiên cứu của giáo trình
6 Phương pháp nghiên cứu
7 Ý nghĩa, hiệu quả và những đóng góp của giáo trình
8 Sản phẩm của giáo trình
9 Cấu trúc của giáo trình
3 4 6 6 7 7 8 9 9 TÓM TẮT PHẦN NỘI DUNG CỦA GIÁO TRÌNH 11
Chương 1 Việt Nam trong những năm đầu sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ và hoàn thành thống nhất đất nước (1975-1976) 11
Chương 2 Việt Nam bước đầu đi lên chủ nghĩa xã hội, đấu tranh bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền tổ quốc (1976 - 1985) 12
Chương 3 Việt Nam trên con đường đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội (từ 1986 đến 2010) 15
NỘI DUNG CHÍNH 21
Chương 1 Việt Nam trong những năm đầu sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ và hoàn thành thống nhất đất nước (1975-1976)
1.1 Tình hình thế giới và Việt Nam sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
1.1.1 Tình hình thế giới
1.1.2.Tình hình Việt Nam
1.2 Khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế, ổn định tình hình miền Nam sau giải phóng
1.3 Hoàn thành thống nhất đất nước Việt Nam về mặt nhà nước (1975 -
21
21
21
23
25
Trang 21976)
Chương 2 Việt Nam bước đầu đi lên chủ nghĩa xã hội, đấu tranh bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền tổ quốc (1976 - 1985)
2.1 Giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam
2.2 Bước đầu xây dựng đất nước Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa
2.3 Đấu tranh bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền Tổ quốc (1975 - 1988)
Chương 3 Việt Nam trên con đường đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội (từ 1986 đến 2010)
3.1 Bối cảnh và sự cần thiết phải đổi mới
3.2 Chủ trương, đường lối đổi mới đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam
3.2.1 Đổi mới về kinh tế
3.2.2 Về đổi mới chính trị
3.2.3 Quan hệ đối ngoại
3.3 Những thành tựu và hạn chế của công cuộc đổi mới đất nước (1986 - 2010)
3.3.1 Những thành tựu, hạn chế bước đầu của công cuộc đổi mới (1986 - 1990)
3.3.2 Những thành tựu và hạn chế trong giai đoạn từ 1991 đến 1995
3.3.3 Những thành tựu và hạn chế trong giai đoạn từ 1996 đến 2000
3.3.4 Những thành tựu và hạn chế trong giai đoạn từ 2001 đến 2005
3.3.5 Những thành tựu và hạn chế trong giai đoạn từ 2005 đến 2010
33 45 45 46 65 87 87 90 90 96 99 100 102 108 120 132 152 Kết luận 172
Tài liệu tham khảo 180
Các bài báo khoa học và các chuyên khảo liên quan tới giáo trình 184
Trang 3Năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức đề ra đường lối đổi mới để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng Sau 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam không những đã vượt qua được tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội
mà còn trở thành một quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định trong khu vực và trên thế giới, nhưng đồng thời cũng tồn tại những khó khăn, thách thức không nhỏ Việc nghiên cứu, tổng kết, đánh giá những thành tựu, hạn chế trong quá trình phục hồi
và phát triển đất nước từ 1975 đến 1986 và trong quá trình đổi mới từ 1986 đến 2010
Trang 4để phục vụ cho việc hoạch định chiến lược phát triển đất nước trong những giai đoạn tới là rất cần thiết và có ý nghĩa lớn về mặt khoa học và thực tiễn
Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay là môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo chuyên ngành Sư phạm lịch sử và cả tự chọn của một số khoa trong Trường Đại học Sài Gòn Việc nghiên cứu, biên soạn một giáo trình mới về lịch sử Việt Nam từ
1975 đến 2010 trên cơ sở kế thừa, cập nhật và khắc phục những hạn chế của các giáo trình đã có là rất cần thiết và sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo chuyên ngành này
Mục đích thực hiện giáo trình: Đề tài đặt ra mục đích hoàn thành một cuốn giáo
trình vừa chứa đựng các thông tin khoa học mang tính hàn lâm, vừa phù hợp với các yêu cầu sư phạm, phục vụ đào tạo chuyên ngành lịch sử Việt Nam hiện đại Nội dung
Giáo trình Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010 đã nghiên cứu và trình bày tổng quát
bối cảnh lịch sử, khái quát đặc điểm phát triển, những thành tựu, hạn chế của Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ biển đảo, giữ vững an ninh, ổn định và phát triển đất nước từ 1975 đến 2010
Xuất phát từ những ý nghĩa khoa học và nhu cầu thực tiễn như trên, chúng tôi đã
hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học và biên soạn thành Giáo trình Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010 cũng với mục tiêu phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy,
học tập cho giảng viên và sinh viên Sư phạm lịch sử theo hệ thống đào tạo tín chỉ của Khoa SPKHXH, cũng của các khoa khác trong ĐHSG; qua đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Đại học Sài Gòn
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề và nguồn tài liệu
Hiện nay, vấn đề “Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay” đã được công bố trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, trong đó đáng chú ý là những công trình của
PGS Trần Bá Đệ như “Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay: Những vấn đề lý luận và
thực tiễn của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (Nxb ĐHQGHN, 1997); “Lịch sử Việt Nam
Trang 5từ 1858 đến nay” (Nxb ĐHQGHN, 2000); “Lịch sử Việt Nam từ 1945 đến nay (Sách cao đẳng sư phạm)” (Nxb GD, 1998) v.v…
Trong phần lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay còn có các công trình khác mang tính học thuật, được dùng như là giáo trình dùng khá phổ biến ở các trường cao đẳng
và đại học như “Đại cương Lịch sử Việt Nam, Tập III” (Nxb GD, 2003, 2010) của GS.Lê Mậu Hãn; GS.Nguyễn Quang Ngọc với: “Tiến trình lịch sử Việt Nam” (Nxb
GD, 2006) Đây là những giáo trình phục vụ cho việc dạy học của giảng viên và sinh viên chuyên ngành lịch sử ở các trường đại học và cao đẳng Các giáo trình này đã khái quát được những nét cơ bản của lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2000 Tuy nhiên, không một giáo trình có thể phân tích một cách sâu sắc hết được những bất cập, hạn chế trong 10 năm đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và quá trình hình thành đường lối đổi mới và đặc biệt là những tài liệu cập nhật về biển đảo, chính sách đối ngoại và các mối quan hệ hợp tác quốc tế và khu vực
Bên cạnh những giáo trình trên, một số chuyên khảo liên quan đến giai đoạn lịch
sử này cũng được xuất bản trong thời gian gần đây, cụ thể như: tác phẩm “Đêm trước
đổi mới” (Nxb Trẻ, 2006), “Những vấn đề lí luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của Nguyễn Duy Quý (Nxb CTQG, 1998), “Đổi mới và phát triển
ở Việt Nam - một số vấn đề lí luận và thực tiễn” của Nguyễn Phú Trọng (Nxb ĐHQG,
2006), “Tư duy kinh tế Việt Nam chặng đường gian nan và ngoạn mục 1975 – 1989” của Đặng Phong (Nxb Tri Thức, 2008) hay Kỉ yếu hội thảo khoa học “Công cuộc đổi
mới ở Việt Nam những vấn đề lí luận và thực tiễn” (Trường Đại học KHXH & NV -
ĐHQG Tp Hồ Chí Minh, 2006)… Những công trình này đã bước đầu đi sâu nghiên cứu ở một số khía cạnh cụ thể của lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay dưới góc nhìn của khoa học chính trị, khoa học kinh tế, và Sử học để tập trung làm rõ các vấn đề lí luận
và thực tiễn về đổi mới, đề cập đến những bất cập của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp và sự nảy sinh những cách làm ăn mới, sáng tạo tạo tiền đề cho đổi mới sau này
Trang 6Qua phần tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề “Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay” tuy đã được nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng chỉ mới ở mức độ khái quát và dừng lại tại thời điểm năm 2000 Việc bổ sung thêm những tư liệu mới để làm rõ bối cảnh và quá trình hình thành đường lối đổi mới, cập nhật và bổ sung những thành tựu và hạn chế của Việt Nam trong giai đoạn từ
1975 đến nay (2010), góp phần làm rõ hơn giai đoạn lịch sử này là một nhiệm vụ mới đặt ra cho các nhà nghiên cứu hiện nay
Giáo trình Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010 của chúng tôi có sự kế thừa
những công trình đi trước, đồng thời cũng chính là giáo trình góp phần đáp ứng những yêu cầu trên
Nguồn tài liệu: Nguồn tài liệu khai thác từ các trung tâm lưu trữ, hệ thống thư
viện Quốc gia, Thư viện Tổng hợp của TP.HCM, thư viện KHXH, thư viện Trường Đại học Sài Gòn; từ nguồn thông tin cập nhật trên internet, ấn phẩm định kỳ, các tạp chí khoa học chuyên ngành và từ nhiều nguồn tài liệu khác
3 Đối tƣợng và nhiệm vụ nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Lịch sử Việt Nam từ
1975 đến 2010, cụ thể là xem xét các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc phòng, văn hóa,
xã hội, y tế, giáo dục và khoa học, công nghệ dưới góc độ Sử học Khách thể nghiên cứu của đề tài là Việt Nam trong giai đoạn từ 1975 đến nay
Nhiệm vụ nghiên cứu: Sưu tầm tư liệu, nghiên cứu, phân tích, tổng kết và đánh
giá lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010
4 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu giáo trình
Không gian nghiên cứu của đề tài là Việt Nam Tuy nhiên, để làm rõ hơn về các
sự kiện lịch sử Việt Nam dưới tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực có đề cập tới một số nước như Mỹ, Trung Quốc, Campuchia và một số nước Đông Nam Á v.v…Phạm vi thời gian nghiên cứu được giới hạn giai đoạn từ 1975 đến 2010
Trang 75 Nội dung nghiên cứu của giáo trình
Nội dung nghiên cứu của đề tài gắn liền với các sự kiện lịch sử cơ bản chi phối các vấn đề liên quan đến bối cảnh thế giới và Việt Nam, những thuận lợi, khó khăn, thành tựu, hạn chế, đặc điểm phát triển kinh tế, xã hội đất nước và cả những bài học kinh nghiệm trong giai đoạn 1975-2010 Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam vào
2 tháng 5 năm 1975, Việt Nam bước vào thời kì thống nhất, độc lập và cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Trong giai đoạn từ 1975 đến 2010, đất nước Việt Nam đã trải qua những sự kiện lịch sử to lớn vừa có ý nghĩa dân tộc, vừa có ý nghĩa thời đại: Bầu cử Quốc hội và thống nhất nhà nước, thực hiện các kế hoạch 5 năm theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước (1976), đấu tranh bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền Tổ quốc (1975-1988), tiến hành mở đầu công cuộc Đổi mới (từ 1986), đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa (1996-2010)
Giáo trình Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010 được nghiên cứu và biên soạn dựa theo phần lớn đề cương chi tiết môn học do Trường Đại học Sài gòn phê duyệt, triển khai trong hoạt động đào tạo sinh viên Ngành Sư phạm Lịch sử, gồm có 3 chương nội dung chính
Nội dung của Giáo trình Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010 gồm có 5 phần:
1 Phần mở đầu
2 Phần nội dung chính gồm 3 chương
3 Kết luận
4 Tài liệu tham khảo
5 Phụ lục hình ảnh tư liệu tham khảo
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối phát triển kinh tế, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Trang 8Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp chuyên ngành như phương pháp lịch sử, phương pháp logic và phương pháp so sánh lịch sử Trong
đó, chúng tôi đặc biệt chú trọng đến việc sử dụng kết hợp các phương pháp chuyên ngành để tái hiện lịch sử Việt Nam trong giai đoạn từ 1975 đến 2010; đồng thời chúng tôi cố gắng làm rõ bản chất các sự kiện lịch sử và chúng bị chi phối bởi bối cảnh phức tạp diễn ra trên thế giới, khu vực và Việt Nam trong giai đoạn này
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp liên ngành như phương pháp so sánh, thống kê, khoa học kinh tế và chính trị học
7 Ý nghĩa, hiệu quả và những đóng góp của giáo trình
Ý nghĩa, hiệu quả: Giáo trình lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010 đã hoàn thành
và sau khi được nghiệm thu, sửa chữa và bổ sung, được sử dụng trong giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên Trường Đại học Sài Gòn, góp phần vào việc nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của giảng viên và sinh viên Sư phạm Lịch sử của Khoa SPKHXH và sinh viên các khoa khác của Trường Đại học Sài Gòn
Những đóng góp mới của Giáo trình Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010:
Giáo trình lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010 cung cấp những tư liệu mới phong phú và hữu ích và cập nhật cho những ai quan tâm nghiên cứu về lịch sử Việt Nam từ
1975 đến nay
Giáo trình lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010 đã trình bày, bổ sung những nội dung mới vừa đảm bảo được tính hàn lâm, vừa đảm bảo được tính vừa sức, mà vẫn cập nhật kiến thức mới phù hợp giảng dạy và học tập cho sinh viên Sư phạm Lịch sử
Ở cuối mỗi chương trong Giáo trình lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010 đều có tóm tắt nội dung, có phần hướng dẫn học tập, tài liệu tham khảo và hệ thống câu hỏi, bài tập cho người học theo học chế tín chỉ ở các trường đại học tuân theo những quy định và yêu cầu về giáo trình đào tạo của Bộ GDĐT
Trang 98 Sản phẩm của giáo trình
Bản thảo Giáo trình Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010 dày khoảng 180 trang
A4 sau khi được Hội đồng nghiệm thu, sẽ bổ sung, sửa chữa và đề nghị xuất bản thành giáo trình phục vụ sinh viên Trường Đại học Sài Gòn Đi kèm cùng với với bản thảo, còn có 2 chuyên khảo và các bài báo nghiên cứu khoa học liên quan tới lịch sử Việt Nam trong giai đoạn 1975-2010
9 Cấu trúc của giáo trình
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Giáo trình Lịch
sử Việt Nam từ 1975 đến 2010 của chúng tôi được chia làm 3 chương nội dung chính
như sau:
CHƯƠNG 1 VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU SAU THẮNG LỢI CỦA
CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ VÀ HOÀN THÀNH THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1975-1976)
1.1 Tình hình thế giới và Việt Nam sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
1.2 Khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế, ổn định tình hình miền Nam sau giải phóng
1.3 Hoàn thành thống nhất đất nước Việt Nam về mặt nhà nước (1975 - 1976)
CHƯƠNG 2 VIỆT NAM BƯỚC ĐẦU ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, ĐẤU
TRANH BẢO VỆ TOÀN VẸN LÃNH THỔ VÀ CHỦ QUYỀN
TỔ QUỐC (1976 - 1985)
2.1 Giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam
2.2 Bước đầu xây dựng đất nước Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa
2.3 Đấu tranh bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền Tổ quốc (1975 - 1988)
CHƯƠNG 3 VIỆT NAM TRÊN CON ĐƯỜNG ĐỔI MỚI ĐI LÊN CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI (TỪ 1986 ĐẾN 2010) 3.1 Bối cảnh và sự cần thiết phải đổi mới
3.2 Chủ trương, đường lối đổi mới đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam
3.3 Những thành tựu và hạn chế của công cuộc đổi mới
đất nước (1986 – 2010)
Trang 10KẾT LUẬN
Ở cuối mỗi chương nội dung chính có 3 phần liên quan tới định hướng cho sinh viên học tập bộ môn và tổ chức hoạt động cung cấp thông tin và phát triển tư duy theo
những yêu cầu trong học chế tín chỉ, bao gồm:
- Hướng dẫn nội dung học tập gắn với những kiến thức cơ bản mỗi chương
- Hệ thống câu hỏi, đề tài thảo luận (gắn hoạt động học tập trên lớp và tự học ở
nhà theo quy định của học chế tín chỉ)
- Tài liệu tham khảo và học tập cho từng chương cụ thể
Trang 11TÓM TẮT PHẦN NỘI DUNG CHÍNH GIÁO TRÌNH LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN 2010
(Gồm 3 chương)
CHƯƠNG 1 VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU SAU THẮNG LỢI CỦA
CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ VÀ HOÀN THÀNH THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1975-1976)
Chương 1 học trong 10 tiết Theo quy định học tập theo học chế tín chỉ, người học phải tự nghiên cứu tài liệu tham khảo, chuẩn bị đề tài thảo luận nhóm, ximena v.v… tương đương 30 tiết ở nhà
Nội dung Chương 1 của Giáo trình cung cấp cho người học nắm được kiến thức khái quát về hoàn cảnh quốc tế và Việt Nam từ năm 1975, cùng những nhiệm vụ ổn định tình hình miền Nam, khắc phục hậu quả chiến tranh và phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục trên cả nước và những cuộc đấu tranh đầu tiên để bảo vệ Tổ quốc, hiệp
thương và hoàn thành thống nhất đất nước Việt Nam về mặt nhà nước
Người học nắm được các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam sau năm 1975:
cả nước chuyển sang cách mạng XHCN, thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược
là xây dựng đất nước theo định hướng XHCN và bảo vệ tổ quốc, khắc phục hậu quả
chiến tran, khôi phục và phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân
Hướng dẫn nội dung học tập chủ yếu trong Chương 1
Chương 1 gắn liền với những sự kiện lớn trong lịch sử Việt Nam: từ sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam (2-5-1975), mở ra thời kỳ thống nhất đất nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, và đến sự ra đời của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam (2-7-1976)
Người học cần nắm những vấn đề lịch sử cơ bản trong Chương 1 vào giai đoạn 1975-1976, bao gồm:
- Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, nhưng cả hai miền Nam, Bắc có nhiệm
vụ giải quyết những hậu quả nặng nề sau 30 năm chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa và nâng cao đời sống nhân dân Cả đất nước Việt Nam cùng thực hiện cải tạo quan hệ sản xuất và xây dựng nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 12- Việt Nam hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất về
lãnh thổ, nhưng chưa thống nhất về mặt nhà nước, do ở hai miền Nam, Bắc vẫn tồn tại hai hình thức tổ chức chính quyền khác nhau; đáp ứng nhu cầu bức thiết của nhân dân
cả nước và bước phát triển hợp quy luật của cách mạng Việt Nam dẫn tới thực hiện hiệp thương, thống nhất đất nước về chính trị
- Việt Nam phải đối mặt với bao vây cấm vận, đất nước vẫn tiếp tục phải tiến
hành cuộc đấu tranh bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và cuộc sống hòa bình của nhân dân
Hệ thống câu hỏi, đề tài thảo luận trong Chương 1
1) Chính phủ cách mạng Lâm thời cộng hòa miền Nam và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam đã có những chủ trương, biện pháp và vai trò như thế nào trong công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế và ổn định trật tự xã hội miền Nam sau giải phóng ?
2) Việc hiệp thương và hoàn thành thống nhất đất nước Việt Nam về nhà nước đã được tiến hành trong bối cảnh lịch sử như thế nào? Tại sao thống nhất đất nước vừa là nguyện vọng của nhân dân cả nước, vừa là bước phát triển hợp quy luật lịch sử của dân tộc Việt Nam?
3) Việc khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh, cải tạo quan hệ sản xuất, cải thiện quan hệ đối ngoại hợp tác giữa Việt Nam và các nước đã đạt được những thành tựu như thế nào? Có những hạn chế nào đối với các thành thành tựu trên và đâu
là nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế đó?
4) Nội dung cơ bản, ý nghĩa lịch sử của Quốc hội khóa VI kì họp thứ nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ ngày 24-6-1976 đến 2-7-1976 ? Hãy so sánh với những kỳ họp Quốc hội của VNDCCH trước đây để cho thấy những bước tiến lớn của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn lịch sử mới
CHƯƠNG 2 VIỆT NAM BƯỚC ĐẦU ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, ĐẤU
TRANH BẢO VỆ TOÀN VẸN LÃNH THỔ VÀ CHỦ QUYỀN
Trang 13Nội dung chính trong Chương 2 gắn liền các sự kiện lịch sử lớn trong giai đoạn 1975-1985: Việt Nam tiến hành khôi phục hậu quả chiến tranh, cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với bao khó khăn, thử thách trước sự bao vây, cấm vận của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế và thù nghịch trong khu vực Đất nước bước vào giai đoạn quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội từ xuất phát điểm rất thấp, với bao mới lạ, tuy đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, nhưng cũng bộc lộ nhiều thiếu sót, kể cả những sai lầm trong thực hiện 2 kế hoạch 5 năm (1976-1980 và 1981 -1985) Những thành tựu của nhân dân Việt Nam đạt được trong việc thực hiện kế hoạch 5 năm 1976-1980 là hết lớn lao Sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước càng có ý nghĩa hơn vì nó diễn ra trong bối cảnh Việt Nam bị bao vây, cấm vận và hai cuộc
chiến tranh ở biên giới Tây Nam và phía Bắc Tổ quốc
Hướng dẫn nội dung học tập chủ yếu trong Chương 2
Chương 2 gắn liền với những sự kiện lớn trong lịch sử Việt Nam trong khoảng hơn 10 năm từ sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, những kết quả ban đầu trong khôi phục, phát triển kinh tế văn hóa, xã hội; sự thống nhất chính trị gắn liền với sự ra đời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (7-1976) Những yếu tố trên đã mở
ra thời kỳ thống nhất đất nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, và tiến lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Chương 2 gắn với những sự kiện lịch sử trong khoảng thời gian từ năm 1976 cho đến năm 1985: Việt Nam bước vào giai đoạn quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội, đất nước thực hiện hai kế hoạch 5 năm, cả dân tộc đối mặt với các cuộc chiến tranh xâm lược xâm lấn biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc (1978-1979) và phải liên tục tiến hành cuộc đấu tranh để giữ vững toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền đất nước trên đất liền và trên biển
Người học cần phải nắm vững những vấn đề lịch sử cơ bản của Chương 2 trong giai đoạn 1976-1985, bao gồm :
- Sau khi hoàn toàn thống nhất về lãnh thổ và tổ chức nhà nước, nhân dân Việt
Nam hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và bắt đầu bước vào giai đoạn quá độ xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 14- Cả hai miền Nam, Bắc có cùng nhiệm vụ xây dựng nền kinh tế đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa với bao khó khăn, mới mẻ và những vấp váp Cả đất nước Việt Nam cùng tiến hành tiếp tục cải tạo và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, xác lập sở hữu nhà nước và tập thể đóng vai trò chủ đạo sản xuất công nghiệp
và nông nghiệp Đặc điểm của Việt Nam xây dựng nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa từ điểm xuất phát thấp
- Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam trong 10 năm (1976-1985) gắn
liền với nội dung, định hướng các Đại hội IV (12-1976) và Đại hội V (3-1982) của Đảng Cộng sản Việt Nam và các kế hoạch Nhà nước Việt Nam Việt Nam thực hiện hai kế hoạch 5 năm (1976-1980 và 1981-1985) đạt được nhiều thành tựu to lớn, song cũng nhiều hạn chế; tuy vậy, đã tạo tiền đề và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho sự thành công của công cuộc đổi mới đất nước sau này (1986)
- Trong bối cảnh tình hình quốc tế phức tạp, Việt Nam vừa phát triển kinh tế, vừa
phải tiến hành cuộc đấu tranh để giữ vững toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền đất nước trên đất liền (ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc), và chủ quyền biển đảo của đất nước (Phú Quốc, Thổ Chu, Hoàng Sa, Trường Sa)
Hệ thống câu hỏi, đề tài thảo luận trong Chương 2
thử thách và triển vọng như thế nào? Tại sao nói con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu và là sự phát triển hợp quy luật của Việt Nam?
2 Định hướng phát triển kinh tế xã hội Việt Nam trong 10 năm (1976-1985) được vạch ra qua các Đại hội IV, Đại hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam và các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước Việt Nam đã để lại những bài học nào trong việc hoạch định chiến lược phát triển đất nước? Những nguyên nhân nào cản trở việc thực hiện những ý tưởng đổi mới sáng tạo đề ra trong Đại hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam (3-1982) ?
hiện hai kế hoạch 5 năm đầu tiên sau khi đất nước thống nhất (1976-1980 và 1985) Nêu những nguyên nhân chủ yếu hạn chế sự phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam trong giai đoạn 1976-1985?
tranh biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc Việt Nam (1978-1979) Trình bày có phân
Trang 15tích và lý giải tại sao nói cuộc chiến đấu tự vệ và đấu tranh bảo vệ chủ quyền dân tộc trên đất liền và biển đảo của Việt Nam là cuộc chiến tranh chính nghĩa?
CHƯƠNG 3 VIỆT NAM TRÊN CON ĐƯỜNG ĐỔI MỚI ĐI LÊN CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI (TỪ 1986 ĐẾN 2010)
Chương 3 học trong 10 tiết Theo quy định học tập theo học chế tín chỉ, người học phải chuẩn bị, tự nghiên cứu, sưu tầm, đọc tài liệu tham khảo, chuẩn bị đề tài thảo
luận nhóm, ximena v.v…tương đương 30 tiết ở nhà
Chương 3 đề cập tới sự nghiệp đổi mới bắt đầu từ năm 1986, tại Đại hội VI của BCHTW Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức đề ra đường lối đổi mới, mở cửa, hội nhập Nội dung cơ bản của Chương 3 đề cập tới tính tất yếu của sự nghiệp đổi mới của Việt Nam để đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội và tiếp tục phát triển; những thành tựu trong 25 năm đổi mới cùng những ý nghĩa, bài học kinh nghiệm Chương 3 nhấn mạnh tới những thành tựu sau 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam không những đã vượt qua được tình trạng khủng hoảng kinh
tế xã hội mà còn trở thành một quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định trong khu vực và trên thế giới, nhưng đồng thời cũng tồn tại những khó khăn, thách thức không nhỏ Công cuộc đổi mới đã tạo nên cơ sở quan trọng để Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển cao hơn nữa, tiếp tục công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
KẾT LUẬN
Trong 10 năm sau khi giải phóng miền Nam và cả nước cùng đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa (1976-1985), đất nước Việt Nam đã đạt những thành tựu quan trọng thực hiện hai kế hoạch 5 năm trong khoảng thời gian đầy những biến cố lớn lao với biết bao thử thách và những khó khăn to lớn tưởng chừng không thể vượt được Công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa diễn ra trong bối cảnh thế giới và Việt Nam vô cùng phức tạp
Thực hiện kế hoạch 5 năm (1976 – 1980), Việt Nam đã đạt được một số thành tựu ban đầu như thống nhất đất nước về mặt nhà nước, thiết lập hệ thống chính trị mới trong cả nước Nhờ đoàn kết và huy động cao nhất sức mạnh nội lực, nhân dân Việt Nam đã vượt qua được biết bao khó khăn, gian khổ để xây dựng chủ nghĩa xã hội và đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của Khmer Đỏ ở biên giới Tây Nam (từ 4-1977
Trang 16đến 1-1979) và cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc ở biên giới phía Bắc (17/2/1979 – 18/3/1979), bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền đất nước
Trong kế hoạch 5 năm (1976 – 1980), Việt Nam nỗ lực tiến hành cải tạo quan
hệ sản xuất để xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và xây dựng hai thành phần quốc doanh và tập thể làm nòng cốt cho nền kinh tế quốc dân Kết thúc việc thực hiện
kế hoạch Nhà nước, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa với chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và hai thành phần kinh tế chủ yếu là quốc doanh và tập thể đã được tiếp tục hoàn thiện thêm ở miền Bắc, đồng thời từng bước được xác lập ở các địa phương miền Nam Về hình thức, công cuộc cải tạo quan hệ sản xuất đã thành công Tuy nhiên, vào thời điểm đó quan hệ sản xuất chưa thực sự phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, và dĩ nhiên chưa đem lại hiệu quả cho nền kinh tế quốc dân của Việt Nam
Nhìn tổng thể, khu vực kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, mặc dù được đầu
tư nhiều, nhưng làm ăn kém hiệu quả Do hàng loạt những khiếm khuyết và chính sách chưa hợp lý, cho nên những thành tựu về kinh tế của Việt Nam đạt được còn thấp so với yêu cầu đề ra trong kế hoạch 5 năm, còn tồn tại những điểm không phù hợp cản trở
sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội
Sự sa sút, mặt yếu kém của sản xuất công nghiệp trong những năm 1976 – 1980 bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân Trong đó có nguyên nhân do những sai lầm trong việc đề ra chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa khi chưa có các tiền đề cần thiết; vốn đầu tư lớn dành cho phát triển công nghiệp nặng, ít tập trung phát triển nông nghiệp và công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng; tiểu thủ công nghiệp chưa được khuyến khích phát triển đúng mức
Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra những biện pháp sửa chữa, khắc phục những sai lầm, khuyết điểm trên trong Hội nghị lần thứ 6, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
IV (8 – 1979) Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng (20-9-1979) nêu phương hướng, nhiệm vụ phát triển công nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương, nhấn mạnh đến việc sửa đổi, cải tiến chính sách nhằm khuyến khích sản xuất, mở rộng quyền chủ động của các ngành kinh tế và của các cơ sở sản xuất trong cả nước
Trang 17Trong kế hoạch 5 năm (1976 – 1980), cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân Việt Nam được tăng cường, nhưng chưa tương xứng với sự đầu tư xây dựng
cơ bản của Nhà nước Trong 5 năm (1976 – 1980), giá trị tài sản cố định tăng chỉ bằng 46,8 % tổng mức đầu tư xây dựng cơ bản, và hiệu quả đầu tư của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật còn rất thấp Nhiều công trình hoàn thành, nhưng chỉ hoạt động được khoảng 50 % công suất thiết kế Năng suất lao động xã hội còn rất thấp
Trong kế hoạch 1976 - 1980, tình hình sản xuất công nghiệp và nông nghiệp Việt Nam sụt giảm, cộng với thiếu sót trong lưu thông phân phối, thị trường tài chính tiền tệ không ổn định; lạm phát phi mã Trong thời gian đó, lạm phát trầm trọng đã gây tác động xấu đến đời sống kinh tế - xã hội đất nước Chính phủ Việt Nam đã có nhiều biện pháp kiềm chế tốc độ lạm phát, nhưng tỏ ra không có hiệu quả Đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn Đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế
- xã hội
Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ V (3-1982) khẳng
định Việt Nam tiếp tục thực hiện đường lối chung và xác định từng chặng đường của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Từ chặng đường trước mắt từ những năm của thập niên
80, và những mục tiêu kinh tế - xã hội dài hạn cho đến năm 1990
Rút kinh nghiệm về các chỉ tiêu đề ra quá cao trong kế hoạch 5 năm 1980), Đảng và Chính phủ nhấn mạnh đến tính thực tế trong việc hoạch định các mục tiêu cho kế hoạch 5 năm (1981-1985) Trong kế hoạch 5 năm (1981- 1985), Đảng vẫn đề ra nhiệm vụ tiếp tục củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN nhưng yêu cầu các địa phương thực hiện thận trọng và đảm bảo nguyên tắc dân chủ hơn Việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật (đặc biệt cho công nghiệp nặng) không triển khai đồng loạt như trước, mà đầu tư và tiến hành một cách có trọng điểm Các chỉ tiêu kinh
(1976-tế xã hội đề ra vừa ít về số lượng và không quá cao định mức để đảm bảo tính khả thi trong việc thực hiện kế hoạch 5 năm (1981-1985)
Những quan điểm đổi mới đúng đắn được coi như thành tựu đáng kể nhất của
Đại hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam: Coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu; tập trung sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng lại chưa được triển
khai có hiệu quả trên thực tế Các phương hướng phát triển đầy sáng tạo của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ V đã không được thực hiện đúng và đầy đủ ở các địa
Trang 18phương và trong các ngành kinh tế Nông nghiệp Việt Nam chưa được đầu tư đúng mức và chưa được đưa lên hàng đầu trong phát triển kinh tế đất nước giai đoạn 1981-
1985 Kết quả là đất nước vẫn thiếu hụt trầm trọng lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng phục vụ nhân dân
Do chưa chú trọng đúng mức đến phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ sản xuất hàng tiêu dùng, hàng năm, Nhà nước phải nhập nhiều hàng tiêu dùng, và nhập
cả những loại hàng hóa có thể sản xuất trong nước như lương thực, vải v.v
Trong thời gian 1981 - 1982, Nhà nước tiến hành chính sách điều chỉnh giá cả tiền lương Đây là cuộc cải cách về giá có quy mô lớn đầu tiên ở Việt Nam nhằm loại
bỏ hệ thống giá cũ, quá thấp và nặng tính bao cấp (đã tồn tại mấy chục năm), để chuyển giá cả sang gần với mức giá thị trường
Cơ chế điều hành kinh tế quốc dân Việt Nam không phù hợp là một nguyên nhân tạo nên tình trạng yếu kém kinh tế và khủng hoảng xã hội Kết thúc kế hoạch 5 năm (1981-1985), nhiều chỉ tiêu kinh tế Nhà nước không đạt được kế hoạch đề ra
Sau hai kế hoạch 5 năm xây dựng và phát triển kinh tế theo mô hình quan liêu bao cấp (1976-1985) kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng, với các biểu hiện:
- Quan hệ sản xuất chưa phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất
- Kinh tế tăng trưởng thấp, nếu tính chung từ năm 1976 đến năm 1985, tổng sản
phẩm xã hội tăng 50,5%, bình quân mỗi năm tăng 4,6 % Thu nhập quốc dân tăng 38,8 %, bình quân tăng 3,7%/năm
Tình hình phát triển kinh tế Việt Nam cho đến 1985 vẫn chưa thực sự khả quan: sản xuất trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu lương thực, thực phẩm và hàng hóa tiêu dùng cho nhân dân; quỹ tích lũy rất nhỏ bé và một phần tiêu dùng phải dựa vào nguồn nước ngoài
Tuy nhiên, so với việc thực hiện kế hoạch 5 năm (1976-1980) thì kết quả thực hiện kế hoạch 5 năm (1981- 1985) đã có một số điểm mới về phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam đã tiến hành một bước điều chỉnh cơ cấu đầu tư và nhịp độ phát triển đi đôi với một số thay đổi cục bộ trong cơ chế quản lý kinh tế Nền kinh tế Việt Nam có bước tăng trưởng khá hơn trước đó (1976-1980) Tổng sản phẩm xã hội bình quân tăng
Trang 197,3%/năm; thu nhập quốc dân tăng 6,4% Mặc dù vậy, nền kinh tế Việt Nam về cơ bản vẫn vận hành theo cơ chế quản lý cũ trong những năm 1981-1985
Đổi mới cục bộ đã làm bộc lộ rõ hơn những yếu kém của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp ở trong nền kinh tế Việt Nam, nhưng chưa đủ sức phá vỡ cơ chế đó, và chưa đủ khả năng tạo ra một cơ chế kinh tế mới Trong những năm 1976-1985, nền kinh tế quốc dân Việt Nam vẫn còn mang nặng tính hiện vật, cản trở sự phát triển của kinh tế hàng hóa – về bản chất là do thị trường điều tiết Sự điều tiết giá cả, lưu thông hàng hóa nhiều khi xuất phát từ kế hoạch hóa, mệnh lệnh, tư duy duy ý chí, bất chấp các quy luật kinh tế Do đó, cơ chế điều hành nền kinh tế của Việt Nam chưa tạo ra động lực, và sự thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển
Kết thúc kế hoạch 5 năm (1981-1985) nhiều chỉ tiêu kinh tế, xã hội của Nhà nước cũng không đạt được mức đề ra ban đầu
Tuy vậy, những đổi mới cục bộ, chẳng hạn như sự thay đổi sang khoán sản phẩm theo hộ gia đình trong nông nghiệp Hình thức khoán mới này đã tạo điều kiện cho người nông dân bước đầu có quyền chủ động trong sản xuất, gắn lao động của họ với sản phẩm cuối cùng Do đó, sản xuất nông nghiệp Việt Nam dần dần được phục hồi, tạo cơ sở cho sự chuyển biến và đổi mới đất nước vào giai đoạn sau này
Trên phạm vi cả nước, từ năm 1985 đã xuất hiện ngày càng nhiều cơ sở, hợp tác
xã, nhà máy, xí nghiệp trong các ngành kinh tế có cách làm ăn, kinh doanh hiệu quả, năng động, sáng tạo, đã cung cấp những bài học kinh nghiệm tốt cho thực tiễn chỉ đạo sản xuất kinh tế của Đảng và Nhà nước Những đổi mới cục bộ trong quản lý ở các ngành kinh tế công, nông nghiệp và thương nghiệp Việt Nam trong giai đoạn (1981-1985) đã tạo tiền đề cho chính sách đổi mới được Đại hội Đảng VI (1986) vạch ra cho
sự phát triển kinh tế, xã hội đất nước
Ngay từ sau những ngày đầu giải phóng đất nước trong tháng 5 năm 1975, cho đến thời gian đất nước tiến hành chính sách đổi mới (1986), Việt Nam đã phải gian khổ tiến hành xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, đồng thời buộc phải căng sức chiến đấu
để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ trên đất liền và thực thi chủ quyền biển đảo của Tổ quốc Trong bối cảnh Việt Nam bị các thế lực đế quốc và phản động quốc tế tiến hành bao vây cấm vận, cô lập một cách nghiệt ngã, thì duy trì được sự phát triển của đất nước và
Trang 20bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền Tổ quốc đã là một thắng lợi to lớn, khẳng định ý chí độc lập, tự chủ, tự cường của dân tộc Việt Nam
Những thắng lợi to lớn trên các phương diện kinh tế, văn hóa, an ninh, xã hội của Việt Nam đã tạo cơ sở cho đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, phát triển cao hơn trong giai đoạn từ 1986 cho đến 2010
Sau 10 năm cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội (1976 - 1986), do vận dụng mô hình phát triển chưa phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, nên đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế, xã hội, đời sống nhân dân khó khăn Để vượt qua khó khăn, các địa phương đã chủ động “xé rào” trong sản xuất kinh doanh, từ đó, trung ương đổi mới từng phần và đến năm 1986 đã đi đến quyết định chính thức thực hiện công cuộc đổi mới đất nước
Từ năm 1986 đến nay, đường lối đổi mới đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng được phát triển, bổ sung và hoàn thiện trên tất cả các lĩnh vực, trong đó trọng tâm là đổi mới cơ chế quản lí kinh tế Từ nền kinh tế vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước và sau đó hoàn chính thành nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa
Từ khi tiến hành đổi mới đến nay, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực, từng bước vượt qua tình trạng khủng hoảng, trở thành một nước có mức thu nhập trung bình thấp và tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa Sự phát triển nhanh chóng đó đã giúp Việt Nam từng bước khẳng định được vị thế của mình trên trường quốc tế
Bên cạnh những thành tựu trên, công cuộc đổi mới của Việt Nam cũng còn phải đối mặt với những thách thức và những khó khăn phải vượt qua để hội nhập và phát triển trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới đã đem lại những thay đổi quan trọng, đưa Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới: giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 21NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG 1 VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU SAU THẮNG LỢI CỦA
CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ VÀ HOÀN THÀNH THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1975-1976)
1.1 Tình hình thế giới và Việt Nam sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
1.1.1 Tình hình thế giới
Thế giới bắt đầu vào những năm 1975 trở đi có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là
những thay đổi về kinh tế, xã hội do sự tác động, ảnh hưởng của cuộc cách mạnh khoa học kỹ thuật lần thứ hai trên bình diện toàn cầu Cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ hai, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và ứng dụng rộng rãi của công nghệ trong sản xuất và tác động mạnh mẽ tới mọi mặt đời sống xã hội của tất cả các nước không phân biệt hệ thống chính trị
Cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ tạo ra những thay đổi lớn lao
về cơ cấu dân cư với xu hướng dân số lao động trong công nghiệp, nông nghiệp giảm
đi, dân số trong ngành dịch vụ tăng lên Đưa loài người chuyển sang một nền văn minh
mới được gọi bằng các thuật ngữ mang nhiều nội dung như là văn minh hậu công
nghiệp, văn minh thông tin hay văn minh trí tuệ, đã mang lại những thay đổi to lớn và
đặt ra những đòi hỏi mới, những yêu cầu cao đối với sự nghiệp giáo dục – đào tạo con người ở các quốc gia1
Từ những năm 1975 trở đi, nền kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hoá cao, đang hình thành một thị trường toàn thế giới bao gồm tất cả các nước có chế độ chính trị – xã hội khác nhau, vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau, cùng chung sống hoà bình
Đây là thời gian diễn ra quá trình toàn cầu hóa trên bình diện toàn cầu, dù Chiến tranh
lạnh cho đến tận năm 1991 mới chấm dứt
Toàn cầu hóa có những tác động, ảnh hưởng tích cực như: xu thế hoà bình, hợp tác mang lại sự tăng trưởng kinh tế cao, đặt ra yêu cầu cải cách sâu rộng để nâng cao cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế Các quốc gia ra sức điều chỉnh chiến lược phát
1 Nguyễn Đức Hòa (2011), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Trẻ, Tp.HCM, tr.308-309
Trang 22triển, lấy kinh tế làm trọng điểm và tăng cường hợp tác, tham gia các liên minh kinh tế quốc tế và khu vực (EU, ASEAN…)
Toàn cầu hóa vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, trong đó có cả Việt Nam sau thắng lợi kháng chiến chống Mỹ 1975
Trong lĩnh vực chính trị, xã hội, thế giới cũng có nhiều biến đổi từ những năm
1970 trở đi Ở các nước chủ nghĩa tư bản phát triển, cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra gay gắt Phong trào của giai cấp công nhân và nhân dân lao động có bước phát triển mới, với các hình thức đấu tranh đòi tự do, dân chủ, chống thất nghiệp, chống chạy đua vũ trang
Sau thất bại của Mỹ ở Việt Nam vào năm 1975, cách mạng thế giới bước vào một thời kì phát triển mới Ba dòng thác cách mạng của thời đại lớn mạnh vượt bậc, kết thành một sức mạnh tổng hợp hết sức to lớn, đã giành được nhiều thắng lợi trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội
Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa giữ vai trò cột trụ của hòa bình thế giới, với những đóng góp quan trọng trong việc hạn chế vũ khí hạt nhân và giải trừ quân bị, ngăn chặn chiến tranh xâm lược và các cuộc xung đột vũ trang; duy trì vực hòa bình ở các vùng xung yếu trên thế giới, từ Trung Âu đến viễn Đông, từ Trung Cận Đông, Địa Trung Hải đến Ấn Độ Dương…
Từ những năm 1975 trở đi, do tác động và ảnh hưởng của sự kiện Việt Nam thắng Mỹ, phong trào giải phóng dân tộc và độc lập dân tộc đã có những bước phát triển mạnh mẽ, giáng những đòn nặng nề vào chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực
dân mới Cách mạng Ăngôla (1975) đánh dấu sự sụp đổ về căn bản của chủ nghĩa thực dân cũ cùng hệ thống thuộc địa ở châu Phi Nhân dân Lào nổi dậy và giành chính
quyền và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào chính thức được thành lập (2 – 12 – 1975) Ngày 17 – 4 – 1975, Thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Campuchia kết thúc thắng lợi
Tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam- Lào-Campuchia bước sang giai đoạn phát triển mới; cả ba nước lại tiếp tục bước vào giai đoạn mới, mà trọng tâm là phát triển kinh tế, xã hội từ 1975 trở đi
Từ những năm 1970 trở đi, các nước giành được độc lập dần trở thành những thành viên bình đẳng trong cộng đồng quốc tế Các nước độc lập dân tộc ở Á, Phi, Mĩ
Trang 23la tinh tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ giành chủ quyền hoàn toàn về những tài nguyên đất nước; đấu tranh thiết lập trật tự thế giới mới
Do tình hình có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, ASEAN đã có sự điều chỉnh chính sách của mình đối với Việt Nam Ngay từ sau Hiệp định Paris 1973 được ký kết, Việt Nam cũng bắt đầu triển khai chính sách khu vực, đẩy mạnh quan hệ song phương với các nước ASEAN Những năm 1975-1976, khi Việt Nam thắng Mỹ, đất nước thống nhất, vị thế của Việt Nam trong khu vực và thế giới tăng lên, các nước ASEAN phải tính lại quan hệ với Mỹ Tuy nổi lên vai trò và tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông và khu vực, nhưng nhìn chung bối cảnh thế giới và khu vực từ năm 1975 trở đi
đã tạo điều kiện xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định; tạo cho ASEAN và Việt Nam đối thoại để thiết lập khu vực Đông Nam Á hữu nghị và hợp tác Tình hình khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh và bước vào thời kỳ phát triển mới của nước Việt Nam thống nhất từ năm 1975 trở đi không tách rời bối cảnh chung của thế giới và khu vực Đông Nam Á Từ năm 1975, Việt Nam cũng như
các nước Đông Dương bước vào giai đoạn phát triển mới, với những thuận lợi và khó
khăn chi phối bởi tình hình quốc tế phức tạp và có nhiều biến động
1.1.2.Tình hình Việt Nam
Đại thắng mùa xuân 1975 đã đánh dấu thắng lợi vẻ vang của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Việt Nam kéo dài trong ba thập kỷ Cuộc cách mạng dân tộc nhân dân Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tạo cơ sở thống nhất nhà nước và hệ thống tổ chức chính quyền nhân dân Thắng lợi mùa xuân 1975 đã mở ra sự phát triển của cách mạng Việt Nam - kỷ nguyên đất nước độc lập, thống nhất, và cả nước đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Tình hình miền Bắc: Trải qua 30 năm tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa,
miền Bắc đã bước đầu xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội với cơ cấu các ngành công nghiệp ở các trung tâm như Quảng Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Việt Trì, Thanh Hóa, Vinh Bên cạnh công nghiệp nhẹ được xây dựng khá hoàn chỉnh, các ngành công nghiệp nặng ở miền Bắc được phát triển thành hệ thống từ công nghiệp khai thác than, cơ khí, luyện kim, công nghiệp điện, đến hóa chất, vật liệu xây dựng
Trong 20 năm (1954-1975) xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc vừa phải đối phó trực tiếp với chiến tranh phá hoại của Mỹ, và vừa phải 4 lần chuyển hướng xây
Trang 24dựng và phát triển kinh tế trong những khoảng thời gian hòa bình rất ngắn ngủi Chiến tranh phá hoại của Mỹ (dù chấm dứt từ năm 1973) đã tàn phá hầu hết thành quả xây dựng của nhân dân miền Bắc Toàn bộ các thành phố, thị xã, thị trấn, 70% nông thôn ở miền Bắc (4000/5788 xã) bị không quân Mỹ đánh phá; 12 thị xã, 51 thị trấn, 30 xã bị hủy diệt hoàn toàn; toàn bộ hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ, bến cảng bị đánh phá; hầu hết các trung tâm công nghiệp ở miền Bắc bị thiệt hại nặng nề1 Chiến tranh của Mỹ không những đã làm cho hướng sản xuất lớn bị chậm lại, mà còn làm đảo lộn cả nề nếp quản lý kinh tế ở miền Bắc, để lại những hậu quả tai hại, lâu dài mãi tới những giai đoạn sau này
Nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh ở miền Bắc cho đến tận năm 1976 mới căn bản hoàn thành
Dù còn gặp rất nhiều khó khăn, nhưng ngay sau khi giải phóng miền Nam 1975), miền Bắc đã chi viện cho miền Nam khối lượng rất lớn hàng hóa, máy móc, vật
(2-5-tư cho sản xuất, cùng hàng chục vạn giáo viên, cán bộ khoa học, kỹ thuật thuộc đủ các ngành nghề Sự giúp đỡ của miền Bắc đã góp phần rất quan trọng trong việc tiếp quản, vận hành và khôi phục sản xuất cũng như ổn định kinh tế, xã hội miền Nam trong những năm 1975-1976
Tình hình miền Nam: Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam (2-5-1975),
nhân dân miền Nam phải đối mặt với những di hại rất nặng nề của chiến tranh trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội
Chế độ Sài Gòn sụp đổ (30-4-1975) đã để lại số lượng lớn những người trước đây thuộc quân đội và bộ máy dân sự chế độ cũ: 117.700 cảnh sát, 1.400.000 phòng vệ dân sự (trong đó có 380.000 có vũ trang), 5 triệu người và gia đình họ thuộc bộ máy chính quyền Việt Nam cộng hòa2 Ngoài một số ít tướng lĩnh, nhân viên cao cấp chạy
ra nước ngoài, thì phần đông binh lính, sĩ quan, viên chức cũ vẫn ở lại các địa phương Không kể các phần tử ngoan cố, nằm im chờ thời cơ để kích động, lôi kéo quần chúng, móc nối với các thế lực phản động bên ngoài, gây rối loạn trong nước thì phần đông các nhân viên sĩ quan, binh lính cũ của chế độ Sài Gòn tỏ ra lo ngại, mặc cảm với chế
độ mới Do vẫn còn mang nặng hệ tư tưởng chính trị của chế độ thực dân mới của Mĩ,
Trang 25họ tỏ thái độ quay lưng với cuộc sống mới, bất hợp tác với chính quyền nhân dân và
họ thường bị các phần tử phản động lôi kéo vượt biên ra nước ngoài và dễ bị chúng kích động, lợi dụng chống phá cách mạng
Trong bối cảnh đầy phức tạp ấy, thì ngày 3-5-1975 Ủy ban Quân quản Sài Gòn
- Gia Định được thành lập để quản lý thành phố Sau đó Ủy ban đã thi hành hàng loạt các chính sách trên nhiều lĩnh vực để nhanh chóng ổn định kinh tế, chính trị, xã hội ở Sài Gòn - Gia Định Trước hết, Ủy ban Quân quản thi hành chính sách đại đoàn kết và hoà hợp dân tộc; nghiêm cấm mọi hoạt động chia rẽ, thù hằn dân tộc, nghi kỵ trong nội
bộ nhân dân và vi phạm dân chủ Chính quyền cách mạng ban hành các sắc luật cơ bản
để thiết lập các cơ quan truy tố, cũng như những quy định về xét xử tội phạm và trừng trị bọn phản cách mạng Dù chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn (từ tháng 5 đến cuối năm 1975), nhưng Ủy ban Quân quản đã giải quyết được một khối lượng công việc lớn trong các hoạt động: đảm bảo trật tự an ninh xã hội, ổn định sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân, xây dựng và củng cố hệ thống chính quyền nhân dân các cấp… Dù còn có nhiều khiếm khuyết, nhưng chính quyền cách mạng các cấp đã kịp thời giữ đúng nguyên tắc chặt chẽ trong việc quản lí và cố gắng thực thi công việc với tinh thần nhân văn, hòa hợp dân tộc Hoạt động của hệ thống chính quyền cách mạng các cấp đã tạo được niềm tin cho các tầng lớp nhân dân lao động miền Nam về xã hội mới tốt đẹp trong những ngày đầu hòa bình
1.2 Khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế, ổn định xã hội ở miền Nam sau giải phóng
Nền kinh tế miền Nam Việt Nam trước giải phóng (chủ yếu là các vùng kiểm soát của Việt Nam cộng hòa) trong chừng mực nhất định phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa, song vẫn mang tính chất sản xuất nhỏ, mất cân đối trầm trọng về cơ cấu và
lệ thuộc nặng nề vào viện trợ bên ngoài (chủ yếu là viện trợ Mỹ) Sự hưng thịnh và trồi sụt của kinh tế miền Nam Việt Nam hoàn toàn phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài như chính sách viện trợ và cường độ chiến tranh xâm lược của Mỹ
Trong hơn 20 năm tồn tại (từ 1954 đến 1975) chính quyền Sài Gòn đã nhận trên
26 tỉ USD viện trợ gồm 16 tỉ USD viện trợ quân sự, 6 tỉ USD viện trợ khoa học kĩ thuật, 1.6 tỉ USD viện trợ nông phẩm, 24 tỉ USD dưới hình thức đổi lấy đồng tiền của chính quyền Sài Gòn để chi tiêu tại chỗ Sự trợ giúp của Hoa Kỳ đã thay thế hầu như
Trang 26mọi lĩnh vực của quốc gia từ quân đội đến ngân sách, sản xuất, tiêu dùng và cả trong lĩnh vực ngoại giao1
Nền nông nghiệp miền Nam Việt Nam căn bản vẫn là sản xuất nhỏ, ruộng đất manh mún, phân tán và đầu tư nhỏ lẻ Sản xuất nông nghiệp miền Nam gần như hoàn toàn phụ thuộc vào nước ngoài về phân bón, thuốc trừ sâu, giống, máy móc nông nghiệp và vốn đầu tư trong sản xuất Trong chiến tranh, hầu hết đất đai và rừng ở miền Nam Việt Nam trên diện tích 2,5 triệu ha đất canh tác và 25.000 km2
rừng bị ảnh hưởng bởi 100 triệu lít chất độc hóa học Mỹ phun rải và bom đạn tàn phá2 Nhiều tấn thiết bị, vũ khí chiến tranh, đặc biệt là bom, mìn chưa nổ vẫn nằm rải rác trong diện tích đất canh tác Do vậy, dù có tiềm năng phong phú và có nguồn lao động dồi dào, nhưng sản xuất nông nghiệp miền Nam Việt Nam vẫn không cung ứng đủ lương thực, thực phẩm, nông sản cho nhu cầu tiêu dùng cho xã hội, kể cả cho nông dân
Công nghiệp miền Nam nhỏ bé, phát triển trên cơ sở chế biến nguyên liệu nhập khẩu, hầu như hoàn toàn phụ thuộc nước ngoài về vốn, kĩ thuật, máy móc, nguyên vật liệu: 70% nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, 90% nhiên liệu cho kinh tế và sinh hoạt Các cơ sở sản xuất nhỏ vẫn là chủ yếu và chiếm tới 90% công nghiệp miền Nam Việt Nam3 Tuy vậy, công nghiệp miền Nam có sự phát triển nhất định, bước đầu xuất hiện các xí nghiệp lớn tương đối hiện đại Biên Hòa là trung tâm sản xuất công nghiệp được xây dựng khá tập trung và hoàn chỉnh
Sau khi miền Nam Việt Nam được giải phóng, các nguồn nguyên vật liệu, nhiên liệu nhập khẩu bị cắt đột ngột làm cho sản xuất công nghiệp gặp nhiều khó khăn, thậm chí còn làm cho rất nhiều cơ sở, xí nghiệp đình đốn, phá sản
Trước giải phóng, thương nghiệp, dịch vụ miền Nam Việt Nam phát triển quá mức, làm cho cấu trúc của nền kinh tế mất cân đối trầm trọng: công nghiệp và xây dựng chiếm khoảng 9%, nông nghiệp chiếm khoảng hơn 30%, trong khi, thương nghiệp, dịch vụ chiếm tới gần 60% Trước giải phóng năm 1975, hàng hoá lưu thông trên thị trường miền Nam rất phong phú, nhưng không phải là sản phẩm từ nền sản xuất trong nước Thị trường miền Nam trước năm 1975 có cả một mạng lưới đông đảo
1Lê Mậu Hãn, chủ biên (1998), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập III, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.276
2 Nguyễn Đức Hòa (2014), Quân và dân miền Nam đấu tranh phòng chống vũ khí hóa học của Mỹ trong những năm 1961-1972, Nxb Trẻ, Tp.HCM, tr.238
3Lê Mậu Hãn, chủ biên (1998), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập III, sđd…tr.277
Trang 27những người buôn bán nhỏ (kinh doanh không đăng kí) lên tới 50 vạn hộ1
Sau khi miền Nam giải phóng, nguồn hàng và thị trường không còn như trước, đã đẩy hàng loạt người buôn bán nhỏ đến chỗ thất nghiệp
Trước năm 1975, thị trường miền Nam Việt Nam thường xuyên rối ren, lạm phát phi mã do nền tài chính, tiền tệ, sản xuất, lưu thông hàng hóa miền Nam Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc vào cường độ chiến tranh và viện trợ Mỹ Sau ngày giải phóng 30-4-1975, kinh tế thương mại miền Nam càng thêm khó khăn do nguồn viện trợ từ bên ngoài (chủ yếu là của Mỹ) không còn nữa
Từ năm 1965 đến năm 1975, chính quyền Sài Gòn đều phải nhập khẩu khối lượng lớn lương thực, thực phẩm và các loại nông sản, trong đó 90% nhập khẩu của
Mỹ2 Sau giải phóng, nạn đói đe dọa cũng gây bất ổn cho xã hội miền Nam nhất là ở các đô thị lớn Vào cuối năm 1975, Sài Gòn có 10 vạn dân cần cứu đói khẩn cấp, ví dụ như ở Khu số 4, Quận 1, Ủy ban Quân quản phải lo cứu đói cho 3/4 số dân (3000 người trong tổng số 4000 người)3 Nguyên nhân của thực trạng này là do nguồn nhập khẩu lương thực, thực phẩm từ bên ngoài bị cắt đột ngột, trong khi sản xuất nông nghiệp miền Nam không đáp ứng đủ cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân lao động
Nhiều vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh sau ngày miền Nam giải phóng cần được giải quyết như: đội ngũ người thất nghiệp đông, cấu trúc và phân bố lực lượng lao động mất cân đối nghiêm trọng Do kinh tế bị đình đốn và do hậu quả chiến tranh, số người thất nghiệp lên tới 8 triệu người trên 12 triệu người đến độ tuổi lao động (trong tổng số 19 dân miền Nam)
Chiến tranh từ 1954 đến 1975 đã có tác động, ảnh hưởng tiêu cực và đã gây ra xáo trộn nghiêm trọng trong phân bố lực lượng lao động xã hội miền Nam: các vùng nông thôn thiếu lao động nông nghiệp, trong khi các vùng đô thị lại có mật độ dân số quá đông, không có việc làm Trong số 8 triệu người người thất nghiệp có vạn binh sĩ của quân đội Sài Gòn và có tới 3 triệu người nông dân là nạn nhân của đô thị hóa cưỡng bức4; đó là chưa kể hàng triệu người khác không được xác nhận như là tỵ nạn
1Trần Bá Đệ (chủ biên) (2007), Giáo trình Lịch sử Việt Nam 1945- 1975, Nxb Đại học Sư phạm, HN,
tr.10.
2 Nguyễn Đức Hòa (2014), Chiến tranh hóa học của Mỹ ở Việt Nam và cuộc đấu tranh vì công lý, sđd tr.83
3 Trần Bá Đệ, chủ biên (2007), Giáo trình Lịch sử Việt Nam 1945- 1975, sđd…tr.13
4
Nguyễn Đức Hòa (2009), “Đô thị hóa và những ảnh hưởng của nó ở Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh từ
1860 đến 2008”, Tạp chí Đại học Sài Gòn, ISSN 1859-3208, số (1), 9/2009, tr.138
Trang 28chiến tranh (theo báo cáo của Quốc hội Mỹ)1 Quá trình đô thị hóa cưỡng bức của Mĩ không những làm cho sự phát triển kinh tế miền Nam mất cân đối, mà còn làm cho sự phát triển và quy hoạch đô thị méo mó, không cân xứng
Chiến tranh xâm lược của Mĩ cũng đã để lại những hậu quả rất nghiêm trọng về văn hóa, xã hội ở miền Nam Việt Nam Tuy lối sống Mỹ, văn hoá Mỹ đã xâm nhập mạnh mẽ vào miền Nam, nhưng lại làm cho số lượng người mù chữ chiếm tỉ lệ lớn trong cư dân Không ít cư dân, đặc biệt là giới trẻ tiêm nhiễm lối sống hưởng thụ, thực dụng và một bộ phận bị đầu độc bởi tư tưởng chống cộng Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ vào năm 1974, chỉ riêng ở thành phố Sài Gòn đã có 500.000 người thất nghiệp
và nửa thất nghiệp, 170.000 thương phế binh; 700.000 người bỏ làng ra thành phố; 100.000 gái mại dâm; 150.000 người nghiện ma túy; 10.000 trẻ em bụi đời (street children); 10.000 người ăn xin; 200.000 trẻ mồ côi; 200.000 lưu manh du đãng; 30.000 người cờ bạc, buôn lậu Sau 30 – 4 -1975, Sài Gòn còn có 400.000 lính ngụy tan rã tại chỗ”2 Các tệ nạn xã hội như xì ke, ma tuý, lưu manh, bụi đời, đĩ điếm, lưu manh, trộm cướp vẫn còn tồn tại dai dẳng ở các đô thị miền Nam Việt Nam
Môi trường và con người ở miền Nam phải gánh chịu hậu quả rất nặng nề của cuộc chiến tranh hoá học do Mỹ tiến hành, mà dư luận thế giới cho là lớn nhất trong lịch sử Theo thống kê chưa đầy đủ, quân đội Mỹ và quân đội đồng minh đã phun rải gần 100 triệu lít chất độc hoá học (trong đó có 60% là chất độc màu da cam, chứa từ
400 - 600kg điôxin độc hại), 15.000 tấn hơi độc chiến tranh3 Các con số thống kê của các nhà khoa học phương Tây tương đối trùng nhau về những tàn phá môi trường sinh thái của chiến tranh hoá học Mỹ với gần 25.000 km2 rừng (3 triệu hecta), khoảng 2,5 triệu hecta đất canh tác4 Theo các nhà khoa học Mỹ phải mất hàng trăm năm môi trường miền Nam mới phục hồi được5 Chất độc da cam dioxin gây ra những di hại hết sức nặng nề làm gần 4,8 triệu nạn nhân bị phơi nhiễm dioxin và gây di chứng cho các thế hệ tiếp sau, cho con cháu các cựu chiến binh Mỹ và Việt Nam
1 The United States of Representative (1969), Congressional Record, C XIV (II), pp.13692-13693
2Đảng cộng sản Việt Nam (1978), Văn kiện Đảng cộng sản Việt Nam, Tập II, Nxb Sách giáo khoa
Trang 29Sau 30-4-1975, khi Việt Nam chưa thống nhất về mặt nhà nước, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc điều hành các hoạt động, sản xuất và ổn định kinh tế, xã hội ở miền Nam Việt Nam
Việc phục hồi, cải tạo và xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội miền Nam đặt ra hàng loạt vấn đề lớn cho Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cần phải giải quyết trong giai đoạn cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội
Do đó, yêu cầu cấp bách đối với toàn dân, toàn Đảng là cần phải nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, giải quyết hậu quả của chủ nghĩa thực dân mới để lại, đưa kinh tế, xã hội miền Nam thoát khỏi khó khăn và bước vào thời kì phát triển mới
Để đáp ứng yêu cầu phát triển của tình hình và để cụ thể hơn chủ trương tiếp quản vùng mới giải phóng, ngay từ ngày 1-4-1975, Chính phủ cách mạng lâm thời
Cộng hòa miền Nam Việt Nam công bố Chính sách mười điểm đối với vùng mới giải
phóng Thực hiện chủ trương của Chính phủ cách mạng lâm thời, tại các vùng mới giải
phóng, các Ban tiếp quản triển khai công việc tiếp nhận những cơ sở vật chất - kĩ thuật, cơ sở kinh tế, văn hóa của chế độ cũ Tại các vùng là căn cứ quân sự, xí nghiệp sản xuất, các công trình công cộng v.v…chính quyền cách mạng đã đề ra các kế hoạch phân công nhân sự tiếp nhận các cơ sở trên từng địa bàn cụ thể
Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam vẫn đóng vai trò tích cực tập hợp, đoàn kết, động viên và tổ chức nhân dân ổn định đời sống, trừng trị bọn phản động gây rối, lưu manh lợi dụng cướp phá tài sản và duy trì trật tự an ninh các vùng mới giải phóng vào thời điểm chiến tranh sắp kết thúc
Đồng thời với việc xây dựng chính quyền cách mạng các cấp, các đoàn thể quần chúng cách mạng cũng được thành lập và phát triển trong các vùng mới giải phóng Nhân dân vùng mới giải phóng hăng hái tham gia xây dựng chính quyền cách mạng và ổn định cuộc sống mới Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam phát triển, nhanh chóng mở rộng phạm vi đến mọi ngành, mọi giới trong xã hội Chính quyền cách mạng các cấp cùng các đoàn thể quần chúng đã thực hiện những biện pháp nhanh chóng ổn định tình hình chính trị - xã hội, giữ vững và phát huy những thành quả cách mạng đã giành được
Trang 30Ngày 25-3-1975, một ngày sau khi Tây Nguyên được giải phóng, Chính phủ
cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam công bố Chính sách bảy điểm để giải thích rõ Chính sách mười điểm về thái độ của cách mạng đối với binh lính, sĩ quan
các cấp trong quân đội Sài Gòn và gia đình của họ Chính sách khẳng định chỉ trừ số ít những kẻ ngoan cố, cam tâm bán nước, làm tay sai cho Mỹ, gây nhiều tội ác với nước, với nhân dân, còn phần lớn binh lính, sĩ quan bị lừa bịp hoặc bị cưỡng bức chỉ là nạn nhân, nên họ được đối xử nhân đạo sau khi trình diện hoặc học tập cải tạo Cách mạng công khai tuyên bố: hoan nghênh những ai quay trở về với dân tộc, ghi nhận những ai
có công và khen thưởng tùy theo mức độ, không phân biệt đối xử; ai có cống hiến, đóng góp cho nhân dân mà gặp khó khăn (về kinh tế) sẽ được cách mạng trợ giúp; hoan nghênh những ai đầu tư kinh doanh, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho họ phục hồi và phát triển sản xuất v.v…
Ngày 25-5-1976, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam công bố chính sách đối với những người làm việc trong quân đội, chính quyền và các đảng phái, tổ chức chính trị của chế độ cũ; khẳng định lại những quy định đã công
bố từ trước Chính phủ cách mạng lâm thời đã nêu cụ thể hơn những điều quy định về việc khôi phục quyền công dân đối với những người thuộc diện nguy hiểm đã học tập, cải tạo tốt; những người không thuộc diện nguy hiểm được cơ quan hoặc gia đình bảo lãnh thì được hưởng chế độ quản thúc từ 6 tháng đến một năm Đa số những binh lính,
sĩ quan chế độ Sài Gòn còn lại (trừ những trường hợp xử lí theo pháp luật), được hưởng quyền công dân, nhưng phải qua cải tạo tập trung
Được sự giúp đỡ của nhân dân, lực lượng an ninh cách mạng đã tiến hành những biện pháp kiên quyết, có hiệu quả nhằm trấn áp, đập tan âm mưu bạo loạn của bọn phản cách mạng, tạo sự ổn định chính trị ở miền Nam Về kinh tế, chính quyền cách mạng kiên quyết trừng trị tư sản mại bản đầu cơ tích trữ, lũng đoạn thị trường, phá hoại sản xuất Tuy vậy, chính quyền ở một số địa phương thực hiện quá cứng nhắc, máy móc một số vấn đề liên quan đến việc xử lý tư sản, để lại khá nhiều hậu quả
xã hội phức tạp mãi về sau này Nhìn chung, nhờ những nỗ lực của Mặt trận và Chính phủ cách mạng an ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững, đời sống, sinh hoạt của nhân dân ở nông thôn và thành thị ở miền Nam Việt Nam, đặc biệt là ở Sài Gòn đã dần dần trở lại bình thường
Trang 31Hàng triệu đồng bào trong thời gian chiến tranh bị dồn vào các “ấp chiến lược” hay bỏ chạy vào các thành phố, không có công ăn việc làm đều được Mặt trận phối hợp Chính phủ cách mạng Lâm thời động viên hồi hương chuyển về về quê cũ tham gia sản xuất hoặc đi xây dựng các vùng kinh tế mới Tính đến tháng 7-1976, riêng ở Sài Gòn, Ủy ban nhân dân cách mạng đã giúp khoảng 50 vạn đồng bào trở về quê cũ làm ăn Ở những vùng mới giải phóng, có hàng chục vạn người thất nghiệp được bố trí công ăn việc làm Hàng vạn phụ nữ lầm lỡ và những người nghiện ngập đã được tập
trung học tập văn hóa, được dạy nghề trong Trường phục hồi nhân phẩm và được sắp
xếp việc làm để họ ổn định cuộc sống lương thiện
Để từng bước giải quyết nạn thất nghiệp, chính quyền cách mạng tổ chức cho người dân chưa có việc làm (chủ yếu là cư dân thành thị) đi xây dựng vùng kinh tế mới; đưa một bộ phận dân cư miền Bắc vào khai phá đất đai hoang hóa các vùng sâu, vùng xa ở Tây Nguyên, Nam Bộ Đó chính là những nỗ lực của chính quyền cách mạng nhằm phân bố lại sản xuất, tạo nên sự bố trí hợp lý giữa lực lượng lao động và
sử dụng đất canh tác Cho đến tháng 6-1976, chỉ riêng Sài Gòn đã đưa được hơn 30 vạn đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới, lập thành 82 xã /94 xã ổn định về thổ cư
và đất canh tác1 Đến tháng 7-1976, Ủy ban nhân dân thành phố Sài Gòn cũng đã giúp
đỡ, bố trí cho 50 vạn đồng bào trở về quê hương cũ sinh sống, làm ăn
Để giải quyết nạn đói (vốn trở nên trầm trọng sau giải phóng) cho nhân dân ở các vùng đô thị, nhất là ở thành phố đông dân như Sài Gòn, chính quyền cách mạng đã thực hiện mọi biện pháp huy động lương thực, để kịp thời cứu đói cho dân Ủy ban nhân dân các cấp ở thành phố Sài Gòn đã tổ chức cấp phát 25.448 tấn gạo cứu trợ cho trên 3.260.000 lượt người
Chính quyền cách mạng quản lí chặt chẽ các cơ sở kinh tế quan trọng, giữ độc quyền đường biển, đường sắt, đường không, nắm toàn bộ ngành xuất khẩu, quản lí vật
tư, hàng hóa thiết yếu như xăng dầu, sắt thép, phân bón và bước đầu nắm quyền quản
lí lương thực Ngày 22-9-1975, Chính phủ cách mạng lâm thời xóa bỏ tiền của Việt Nam cộng hòa và phát hành đồng tiền mới của cách mạng
Chính quyền cách mạng đã từng bước cải tạo và xác lập quan hệ sản xuất mới, qua việc quốc hữu hóa các ngân hàng, giải thể ngân hàng tư nhân, tập trung tín dụng
1 Báo Sài Gòn giải phóng, số ra ngày 23-6-1976, tr.1
Trang 32vào tay Nhà nước Cách mạng tuyên bố xóa bỏ chế độ bóc lột theo kiểu phong kiến, tiến hành điều chỉnh ruộng đất trong nội bộ nông dân Chính quyền cho tịch thu toàn
bộ tài sản và ruộng đất của các phần tử phản động, tư sản mại bản và của những kẻ vượt biên trốn ra nước ngoài Những tài sản tịch thu được đã chuyển sang quyền sở hữu của Nhà nước; còn ruộng đất thì đem chia cho nông dân, hoặc cho các tập đoàn sản xuất canh tác
Chính quyền nhân dân đã thực hiện hàng loạt biện pháp nhằm khuyến khích sản xuất, phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân ở miền Nam
Về nông nghiệp: chính quyền cách mạng chủ trương chú trọng phát triển sản
xuất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu cho nhân dân về lương thực, thực phẩm Nhân dân khắp các vùng nông thôn miền Nam tổ chức các tổ đổi công, hoặc thành lập các tập đoàn sản xuất, hỗ trợ nhau trong sản xuất Nông dân tích cực khôi phục và phát triển sản xuất bằng các biện pháp như thâm canh, tăng vụ, làm thủy lợi, tháo gỡ bom mìn, khai hoang mở rộng thêm diện tích đất canh tác trong nông nghiệp
Về sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp: sản xuất công nghiệp và thủ công
nghiệp của nhà nước và tư nhân ở miền Nam được tạo mọi điều kiện để hoạt động trở lại bình thường Các cơ sở sản xuất đã phải có những cố gắng nhất định để khắc phục
sự thiếu thốn về nguyên liệu, nhiên liệu, khó khăn về phụ tùng thay thế cho máy móc hoạt động trong các nhà máy, xí nghiệp Đến năm 1976, ở Sài Gòn đã có 400 xí nghiệp công nghiệp và thủ công nghiệp lớn nhỏ trở lại hoạt động bình thường
Về các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế: Các phương tiện thông tin đại chúng
như báo chí, vô tuyến truyền hình, đài phát thanh là phương tiện quan trọng để tuyên truyền cho các nhiệm vụ chính trị, xã hội và giải trí cho nhân dân Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật của cách mạng đã góp phần đẩy lùi dần tàn dư văn hóa phẩm đồi trụy,
mê tín dị đoan, cùng các tệ nạn xã hội trong nhân dân, nhất là giới trẻ
Mặt trận phối hợp Chính phủ cách mạng Lâm thời rất chú trọng đến giáo dục vì giáo dục giữ vai trò quan trọng hình thành con người mới có tri thức để xây dựng xã hội mới Giáo dục ở miền Nam được chấn chỉnh và tổ chức lại theo đường lối và nội dung giáo dục cách mạng Hệ thống trường tư bị xóa bỏ chuyển dần thành trường công của Nhà nước và hệ thống giáo dục phổ thông các cấp 1, 2, 3 ở miền Nam đã được mở, từng bước đi vào hoạt động ổn định Chính quyền cách mạng quan tâm, thực hiện giáo
Trang 33dục phổ cập, xóa nạn mù chữ cho các tầng lớp nhân dân; động viên họ tham gia vào phong trào bình dân học vụ và bổ túc văn hóa Riêng ở Sài Gòn đến tháng 4-1976 đã
có 8.000 người được xóa nạn mù chữ qua phong trào bình dân học vụ, và qua các lớp
bổ túc văn hóa được mở ở khắp nơi1
Song song với hoạt động giáo dục là sự quan tâm của chính quyền cách mạng đến việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Nhiều đội y tế lưu động được phái xuống các thôn, xã tổ chức tiêm phòng, khám chữa bệnh cho nhân dân, kịp thời dập tắt các ổ dịch Ngành y tế non trẻ của cách mạng được chấn chỉnh, tổ chức và đẩy mạnh hoạt động phục vụ nhân dân
Những hoạt động trên đã khẳng định vai trò to lớn của chính quyền cách mạng
và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trong việc ổn định xã hội miền Nam sau đại thắng Mùa xuân năm 1975 Sự phối hợp giữa Mặt trận và chính quyền cách mạng các cấp tuy giành được nhiều thắng lợi song mới chỉ là kết quả ban đầu Những nhiệm vụ đó còn phải tiếp tục thực hiện nhiều năm trong quá trình vừa cải tạo vừa xây dựng xã hội mới Tuy nhiên, đó là bước đầu cơ bản, bởi vì những nhiệm vụ có tính cấp bách trước mắt đã được thực hiện nhanh chóng, có hiệu quả trên thực tế đã có tác dụng đến việc ổn định sớm tình hình chính trị, kinh tế xã hội miền Nam, làm cho các tầng nhân dân yên tâm, tin tưởng vào chế độ mới
Mặt trận dân tộc giải phóng vẫn phát huy thế mạnh đoàn kết, tập hợp lực lượng quần chúng để thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong điều kiện và hoàn cảnh mới của đất nước sau giải phóng Trước khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình, Mặt trận cùng Chính phủ cách mạng Lâm thời có nhiều đóng góp trong quá trình hiệp thương thống nhất đất nước, bầu cử Quốc hội và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Mặt trận dân tộc giải phóng và Chính phủ cách mạng Lâm thời có vai trò to lớn gắn liền với các sự kiện quan trọng trong lịch sử Việt Nam đương đại: từ ký kết Hiệp định Paris lập lại hòa bình ở Việt Nam (1973), cho đến đại thắng Mùa xuân năm 1975 và hiệp thương thống nhất đất nước (1975 -1976)
1.3 Hoàn thành thống nhất đất nước Việt Nam về mặt nhà nước (1975 - 1976)
1Lê Mậu Hãn, chủ biên (1998), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập III, sđd…tr.279, 284.
Trang 34Sau khi miền Nam đã hoàn toàn được giải phóng vào 2-5-1975, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đã hoàn thành Trong 21 năm (1954-1975), miền Bắc vừa tiến hành xây dựng theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa làm tròn nhiệm vụ hậu phương lớn đối với cách mạng cả nước Thắng lợi Mùa xuân 1975 đánh dấu sự hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong phạm vi cả nước, mở ra cơ hội phát triển mới có tính quy luật của cách mạng Việt Nam Đây là những điều kiện cơ bản để nhân dân ta thống nhất đất nước và hoàn thành thống nhất về mặt Nhà nước là
một yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam Nhân dân cả hai miền Nam – Bắc đều
có nguyện vọng thiết tha về hòa bình, hòa hợp dân tộc và thống nhất đất nước
Thiết lập nhà nước công nông binh và đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường, mục tiêu mà dân tộc Việt Nam tiếp bước, sau khi hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc, đã được đặt ra ngay rất sớm, từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo từ tháng 2 năm 1930
Mục tiêu xác lập nhà nước độc lập, thống nhất đã được cả dân tộc Việt Nam bền
bỉ chiến đấu và hướng tới qua các giai đoạn lịch sử của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Ngay sau thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám 1945, ra đời Chính phủ Lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa (28-8-1945) của đất nước độc lập Vào ngày 8-9-
1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Sắc lệnh số 14 về Tổng tuyển cử bầu Quốc hội: quy định tất cả nam, nữ công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên (trừ những người đã bị tước quyền công dân) đều có quyền bầu cử và ứng cử vào các cơ quan quyền lực của nhà nước
Ngày 6-1-1946, toàn dân Việt Nam thực hiện quyền tự do dân chủ, tham gia Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trong điều kiện thù trong, giặc ngoài điên cuồng chống phá cách mạng, cuộc Tổng tuyển cử bầu
ra Quốc hội thực sự là một cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân Việt Nam thực hiện
quyền làm chủ đất nước và củng cố chính quyền nhân dân Tổng tuyển cử 6-1-1946 đã
đánh dấu mốc phát triển đầu tiên trong tiến trình xây dựng thể chế dân chủ ở Việt Nam Nhân dân đã bầu ra Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - thành quả của cuộc đấu tranh dân tộc gay gắt, ác liệt, giáng mạnh vào âm mưu lật đổ và tiêu diệt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của đế quốc Pháp, Mỹ, Anh, Trung Hoa Dân
Trang 35quốc cùng tay sai phản động Thắng lợi của cuộc bầu cử còn tạo cho Chính phủ liên hiệp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có đầy đủ cơ sở pháp lí để lãnh đạo toàn dân trong
sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc
Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2-3-1946) quyết định thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm 10 Bộ do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và Nguyễn Hải Thần (Việt Cách) làm Phó Chủ tịch
Bộ máy nhà nước ở Trung ương được hoàn thiện dần với Ban Thường trực Quốc hội, Chính phủ liên hiệp kháng chiến, Kháng chiến ủy viên và Cố vấn đoàn được thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2-3-1946) được hoàn thiện và củng cố là yếu tố cực kỳ quan trọng và kịp thời nhằm tạo dựng uy tín, hiệu lực bộ máy điều hành đất nước, lãnh đạo nhân dân Việt Nam tham gia bảo vệ
chính quyền, kháng chiến, kiến quốc Chính phủ liên hiệp kháng chiến đã thực hiện
mọi chức năng đối nội và đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong bối cảnh nguy nan do nạn thù trong, giặc ngoài vào cuối năm 1945 đầu năm 1946
Kỳ họp thứ hai của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (3-11-1946) chấp thuận Chính phủ mới (hay Chính phủ Liên hiệp quốc dân Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa) gồm 14 thành viên do Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ Liên hiệp quốc
dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hoạt động dựa trên cơ sở của Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội thông qua ngày 9-11-1946
Từ cuối năm 1945 đến giữa năm 1954, hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân
ở các địa phương trong cả nước từng bước đã được củng cố và hoàn thiện Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội và tổ chức chính quyền nhân dân từ Trung ương đến các cấp địa phương là cuộc vận động chính trị rộng lớn, biểu dương sức mạnh và ý chí của khối đại đoàn kết toàn dân, đã hình thành nên một chế độ dân chủ mới của nhân dân Các cơ quan chính phủ trong toàn quốc “đều là công bộc của dân”1, hoạt động do dân
và vì dân Nhà nước cách mạng đã thực sự được kiện toàn, có cơ sở vững chắc để thực
hiện các nhiệm vụ đối nội, đối ngoại và lãnh đạo cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp thắng lợi (1945-1954)
1 Hồ Chí Minh Toàn tập Tập 4, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, tr.56-57
Trang 36Do Mỹ phá hoại Hiệp định Giơnevơ – vốn quy định Tổng tuyển cử tự do tiến hành vào 7-1956 và sau đó tiến tới hiệp thương thống nhất đất nước, Việt Nam bị tạm thời chia cắt làm hai miền trong thời gian 21 năm (1954-1975), ở mỗi miền tồn tại các chế độ chính trị - xã hội khác nhau
Ở miền Bắc có nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một nhà nước hợp pháp, hợp hiến do nhân dân bầu ra theo phổ thông đầu phiếu ngay từ năm 1946 Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa không ngừng kiện toàn dựa trên các Hiến pháp 1946
và 1959 Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; dưới Quốc hội có Chính phủ và Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân là chính quyền các cấp Tất cả các cơ quan nhà nước đều tổ chức và hoạt động dựa trên
cơ sở hiến pháp xã hội chủ nghĩa
Ở miền Nam, do hoàn cảnh chiến tranh, tồn tại những chính thể khác nhau Việt Nam cộng hòa là một nhà nước do người Mỹ dựng lên hoàn toàn trái với Hiệp định Giơnevơ 1954 – quy định hiệp thương, tổng tuyển cử tự do (7-1956) và thống nhất đất nước Việt Nam1
Do thắng lợi to lớn trên chiến trường và để đáp ứng nhiệm vụ chính trị cũng như ngoại giao sau năm 1968, Chính phủ cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập (6-6-1969); và đảm đương chức năng của một chính thể đại diện cho nhân dân miền Nam trong đàm phán hòa bình tại Hội nghị Paris Chính phủ cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam có một Hội đồng cố vấn của Chính phủ ở Trung ương và Ủy ban nhân dân cách mạng ở các địa phương Chính phủ cách mạng Lâm thời là một chủ thể nhà nước có cơ sở pháp lý để đàm phán với Hoa
Kỳ, và Việt Nam Cộng hòa trong Hội nghị Paris để lập lại hòa bình ở Việt Nam Sau đại thắng Mùa xuân 1975, do yêu cầu tiếp quản vùng mới giải phóng, các Uỷ ban quân quản cách mạng, sau đó là những Ủy ban nhân dân cách mạng, thay thế chính quyền
cơ sở của Việt Nam Cộng hòa đã bị đánh đổ Các ủy ban trên được thành lập có tính giai đoạn, không do nhân dân miền Nam quyết định thông qua phổ thông đầu phiếu
Về mặt lãnh thổ thì Việt Nam đã thống nhất sau ngày 2-5-1975, nhưng về mặt nhà nước thì tại hai miền Nam và Bắc tồn tại các cơ quan quyền lực khác nhau chỉ có
1
“Tuyên bố cuối cùng”, Công báo nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Số Đặc biệt về Hội nghị Giơnevơ, ngày
19-8-1954, tr.54
Trang 37tính chất giai đoạn, vì thống nhất đất nước là nguyện vọng thiết tha của nhân dân hai miền Nam, Bắc và là quy luật phát triển tất yếu của dân tộc Việt Nam trong lịch sử
Trước nguyện vọng toàn dân và đáp ứng yêu cầu phát triển khách quan của Việt Nam - thống nhất lãnh thổ, độc lập chủ quyền dân tộc phải được thể chế về mặt chính
trị, Hội nghị lần thứ 24 Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (tháng 9-1975) đã đề ra nhiệm vụ thực hiện hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 24 (9-1975) của Đảng nêu rõ: “Với thắng lợi rực rỡ Mùa xuân 1975, cách mạng Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn mới: từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, từ một nước bị chủ nghĩa thực dân mới chia cắt và thống trị sang cả nước độc lập và thống nhất, từ hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa sang một nhiệm vụ chiến lược là làm cách
mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội”1
Việt Nam có chung nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa; Hội nghị 24 BCHTW Đảng nhấn mạnh: trong thời kì đầu, do những nét đặc trưng riêng, cách mạng mỗi miền Nam, Bắc có những yêu cầu, nhiệm vụ khác nhau; thống nhất đất nước là nhiệm
vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân Nghị quyết Hội nghị 24 khẳng định: “Thống nhất đất nước vừa là nguyện vọng tha thiết nhất của nhân dân cả nước và là quy luật khách quan của sự phát triển cách mạng Việt Nam, của lịch sử dân tộc Việt Nam”2 Nếu như không có chiến tranh chia cắt và sự can thiệp của Mỹ phá hoại Hiệp định Giơnevơ, thì sự hiệp thương hai miền Bắc –Nam và Tổng tuyển cử tự do thống nhất đất nước Việt Nam đáng lẽ đã diễn ra vào tháng 7 -1956
Hội nghị liên tịch bàn về hiệp thương Nam – Bắc diễn ra tại Sài Gòn vào ngày 5
và 6-11-1975 với thành phần tham dự gồm Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam, Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam; Hội đồng cố vấn của Chính phủ cùng đại diện các nhân sĩ trí thức yêu nước, dân chủ Hội nghị với các thành phần mở rộng đã thảo luận và đi đến nhất trí về sự cần thiết phải sớm hoàn thành thống nhất đất nước, các biện pháp, nguyên tắc tiến hành cũng như cử đoàn đại biểu miền Nam hiệp thương với đoàn đại biểu miền Bắc
1
Trần Bá Đệ (2003), Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến nay, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.430
2 Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Các Đại hội Đảng ta (1930 – 1986), Nxb Sự thật, Hà Nội, tr 86
Trang 38Hội nghị chính trị hiệp thương thống nhất đất nước giữa hai miền diễn ra từ ngày 15 đến ngày 21 tháng 11 năm 1975 tại Sài Gòn Tham dự Hội nghị có hai đoàn đại biểu đại diện cho hai miền Bắc và Nam: đoàn miền Bắc gồm 25 đại biểu, do ông Trường Chinh làm Trưởng đoàn; đoàn miền Nam có 25 đại biểu do ông Phạm Hùng làm Trưởng đoàn Trong diễn văn khai mạc hội nghị, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ thay mặt MTDTGPMNVN khẳng định: “Lịch sử mấy nghìn năm của đất nước ta, từ thời đại Hùng Vương đến thời đại Hồ Chí Minh là lịch sử một nước thống nhất, một dân tộc thống nhất đấu tranh không ngừng để dựng nước và giữ nước….Thống nhất nước nhà vừa là nguyện vọng tha thiết bậc nhất của đồng bào cả nước ta, vừa là quy luật khách quan của sự phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam”1
Trong tinh thần hòa hợp dân tộc, các đại biểu hai miền Bắc, Nam tham gia Hội nghị đã tiến hành thảo luận và đi đến nhất trí về các chủ trương, biện pháp và những bước tiến hành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước
Hội nghị chính trị hiệp thương giữa hai đoàn đại biểu Nam - Bắc đã nhất trí nhận định: cách mạng nước ta đã chuyển sang giai đoạn mới - giai đoạn cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, vì vậy cần tổ chức sớm cuộc Tổng tuyển cử trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam để bầu ra Quốc hội chung của cả nước Hội nghị chính trị hiệp thương đã thông qua những quyết định quan trọng về việc chuẩn bị Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội chung của cả nước và Quốc hội đó sẽ cử ra Chính phủ Trung ương của nước Việt Nam thống nhất Cuộc Tổng tuyển cử được tiến hành vào đầu năm 1976 theo các nguyên tắc dân chủ phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín
Tháng 1-1976, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
và Hội đồng cố vấn Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam quyết định cuộc Tổng tuyển cử tiến hành vào ngày 25-4-1976 Hội đồng bầu cử toàn quốc được thành lập, do đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch và đồng chí Phạm Hùng làm Phó chủ tịch
Ngày 25 tháng 4 năm 1976 tổng tuyển cử trong cả nước được tổ chức Hơn 23 triệu cử tri đi bầu cử (chiếm 98,8% tổng số cử tri toàn quốc) bầu ra 492 đại biểu của Quốc hội nước Việt Nam thống nhất Ngày 25 tháng 4 năm 1976 là mốc đánh dấu sự hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp thống nhất Tổ quốc trong lịch sử cách mạng Việt Nam
Đó là ngày hội biểu dương lực lượng và ý chí của toàn thể nhân dân Việt Nam - thống
1 Hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất tổ quốc, Nxb Sự thật, 1975, tr 11
Trang 39nhất đất nước trên cơ sở độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đoàn kết phấu đấu dưới ngọn cờ chiến thắng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh Ngày 7-5-1976, Hội đồng bầu cử toàn quốc đã ra thông cáo về kết quả Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả nước Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả nước thắng lợi rực rỡ, đã khẳng định ý chí đoàn kết nhất trí của toàn dân để xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Từ ngày 24 tháng 6 đến ngày 2 tháng 7 năm 1976 Quốc hội họp lần đầu tiên,
(Quốc hội khoá VI) đặt tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thông qua
Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca (bài Tiến quân ca), đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định
thành Thành phố Hồ Chí Minh Xung quanh vấn đề tên nước, có nhiều ý kiến khác
nhau, nhưng tập trung ở hai quan điểm chính: một là nên giữ lại tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hai là đặt tên mới Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) Nhiều đại biểu muốn giữ lại tên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) vì nội hàm rộng, và về mặt tình cảm, người ta muốn giữ tên cũ vì đó là tên nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra từ năm 1946 Sau khi tranh luận, tên CHXHCNVN được đa số đại biểu lựa chọn, vừa định hướng mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), vừa mang ý nghĩa tên mới chung cho nhà nước thống nhất Mục tiêu của cách mạng Việt Nam là đưa đất nước sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ tiến lên CNXH trên toàn lãnh thổ, do vậy cái tên CHXHCNVN phù hợp với nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới Từ đây, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam chính thức hợp nhất với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để thành lập Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Sau thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước năm 1975, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới – giai đoạn đất nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội Thống nhất Việt Nam được tái lập sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước là thống nhất của một đất nước đã hoàn toàn độc lập Độc lập và thống nhất là điều tiên quyết để đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội Con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu, đảm bảo cho độc lập và thống nhất cho đất nước Việt Nam ngày càng bền vững
Chủ nghĩa xã hội là lí tưởng chiến đấu, khẩu hiệu động viên nhân dân Việt Nam đấu tranh vì độc lập tự do, thống nhất đất nước về mặt nhà nước: Thống nhất đất nước
Trang 40tạo ra sức mạnh mới, những thuận lợi mới để phát triển kinh tế, văn hoá và củng cố quốc phòng Thống nhất đất nước càng tăng cường ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế
Sau khi hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, Việt Nam tiếp tục hoàn thành thống nhất đất nước trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa,
xã hội gắn liền với việc thực hiện những nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước
Về chính trị, thống nhất đất nước làm cho nền độc lập của nước ta được bảo
đảm vững chắc, đất nước sẽ được lãnh đạo bởi một cơ quan quyền lực duy nhất đại diện cho ý chí của toàn thể dân tộc Việt Nam, tạo điều kiện thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa thống nhất trong phạm vi cả nước với mục tiêu làm đất nước ổn định và phát triển vững mạnh
Về kinh tế, thống nhất đất nước tạo điều kiện thực hiện thắng lợi nhiệm vụ khôi
phục và phát triển kinh tế quốc dân Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng cầm quyền,
vì vậy những kế hoạch phát triển kinh tế do Đảng đề ra được thực hiện trong phạm vi
cả nước, tạo điều kiện cho kinh tế hai miền cùng hòa nhập, hỗ trợ, bổ sung những thế mạnh cho nhau để cùng phát triển Chính phủ Việt Nam thống nhất điều hành quản lý công việc của cả nước; có cơ sở tổ chức thực hiện và hoàn thành kế hoạch 5 năm (1976
- 1980) khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế đất nước
Về văn hóa, việc thống nhất đất nước về mặt nhà nước càng tạo điều kiện thuận
lợi hơn để Việt Nam hình thành và phát triển một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc
và tiếp thu những thành tựu tiên tiến của văn minh nhân loại
Về an ninh, quốc phòng, việc thống nhất đất nước về mặt nhà nước tạo điều kiện
củng cố quốc phòng, tạo nên một lực lượng vũ trang mạnh, đảm bảo an ninh, ổn định đất nước Vì vậy, thống nhất đất nước về mặt lãnh thổ và Nhà nước cho phép phát huy gấp bội sức mạnh toàn diện để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất liền và biển đảo của Tổ quốc Việt Nam
Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước là yêu cầu tất yếu, khách quan của sự phát triển cách mạng Việt Nam, và là thể hiện lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, ý chí thống nhất Tổ quốc, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam độc lập và thống nhất của toàn thể nhân dân ta