Nhân sinh quan của các Nho sĩ có phần đối lập với nhân sinh qua Phật giáo vì thế, ngay từ rất sớm, đã diễn ra hàng loạt các cuộc đấu tranh trên phương diện tư tưởng của các
Trang 11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
GIÁO TRÌNH
(Lưu hành nội bộ)
VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI I (TỪ THẾ KỶ X ĐẾN HẾT XVII)
(Dành cho Đại học sư phạm Ngữ văn)
Tác giả: Nguyễn Thị Hoài An
Năm 2014
Trang 22
Mục lục Trang
Lời nói đầu……… … 3
Nội dung CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM ……4
1.1 Một số khái niệm thuộc văn học trung đại ………4
1.2 Những tiền đề lịch sử, xã hội, tư tưởng, văn hoá … ……….6
1.3 Các giai đoạn phát triển của văn học trung đại Việt Nam……….10
1.4 Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam……….14
CHƯƠNG 2 VĂN HỌC THẾ KỈ X-THẾ KỈ XIV ……… 23
2.1 Những tiền đề lịch sử, xã hội, tư tưởng, văn hoá ……….23
2.2 Đặc điểm về lực lượng sáng tác và tác phẩm văn học ……….24
2.3 Những khuynh hướng văn học ……….26
CHƯƠNG 3 VĂN HỌC THẾ KỈ XV- THẾ KỈ XVII……….33
3.1 Những tiền đề lịch sử, xã hội, tư tưởng, văn hoá……….33
3.2 Đặc điểm văn học ……… 33
3.3.Các tác gia và tác phẩm tiêu biểu……… 33
Tài liệu tham khảo……….……… 61
Trang 33
Lời mở đầu
Văn học Việt Nam trung đại I (thế kỷ X đến hết thế kỷ XVII) cung
cấp các kiến thức những kiến thức cơ bản, khái quát về sự phát triển của văn học trung đại Việt Nam: các bộ phận văn học, các giai đoạn phát triển, những tiền đề lịch sử, xã hội, tư tưởng, văn hoá, đặc trưng văn học trung đại, đặc điểm về lực lượng sáng tác, các tác gia tiêu biểu và hệ thống thể loại, những nội dung chính, khuynh hướng văn học, các hiện tượng văn học của văn học trung đại Việt Nam thế kỷ X đến hết thế kỷ XVII
Bài giảng gồm ba chương, được trình bày với ý đồ truyền thụ, phù hợp với thời lượng cho phép của môn học Chúng tôi hi vọng, bài giảng Văn học Việt Nam trung đại I (thế kỷ X đến hết thế kỷ XVII) sẽ rèn luyện cho sinh viên những kỹ năng cần thiết trong việc vận dụng những tri thức đã học để đọc hiểu, minh giải, phân tích, đánh giá, thẩm bình và có phương pháp giảng dạy phù hợp các tác phẩm văn học trung đại từ thế kỉ X đến hết thế kỷ XVII trong chương trình ngữ văn THPT
Bài giảng biên soạn có sử dụng một số tài liệu tham khảo Mặc dù chúng tôi đã cố gắng nhưng sẽ không tránh khỏi sai sót, rất mong sự góp ý kiến của các đồng nghiệp, anh chị em sinh viên để chúng tôi có thể chỉnh sửa hoàn thiện hơn vào các lần in sau
Trang 44
Chương 1 KHÁI QUÁT VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
1.1 Một số khái niệm thuộc văn học trung đại
Văn học trung đại còn được gọi bằng những cái tên khác nhau như văn học thành văn, văn học phong kiến, văn học cổ điển Bởi từ TK X đến
TK XIX, văn học trung đại phát triển trong một môi trường xã hội phong kiến với ý thức hệ nho giáo, lực lượng sáng tác chủ yếu là tầng lớp trí thức, những người có trình độ cao, được đào tạo từ ''cửa Khổng sân Trình'' và những sánh tác chỉ lưu truyền trong tầng lớp công chúng ấy, bên cạnh đó văn học thời kì này còn chịu ảnh hưởng bởi thi pháp văn chương cổ điển
Văn học trung đại tồn tại và phát triển trong suốt mười thế kỉ
Văn học trung đại bao gồm những sáng tác, trước tác bằng chữ Hán và chữ Nôm của cá tác gia thuộc tầng lớp quý tộc, sĩ phu, nho sĩ thời phong kiến Văn học phát triển trong tiến trình xây dựng và bảo vệ quốc gia phong kiến độc lập tự chủ qua các triều đại phong kiến ở Việt Nam
*Văn học chức năng và văn học nghệ thuật
Văn học trung đại
Văn học chức năng Văn học nghệ thuật
Văn học chức
năng hành chính
Văn học chức năng tôn giáo, lễ
nghi
- Nghệ thuật ngôn từ ; Xây dựng hình tượng nghệ thuật
Tính chất: quan phương, quy
phạm, mô hình, đơn phương
Phong phú về đề̀̀̀ tài và thể loại
Trang 5Chiếu, hịch,
tấu, sớ,
biểu, cáo…
Thơ kệ, sách triết học Phật giáo, văn tế, văn bia, câu đối hiếu - hỉ
Thơ luật Đường, phú, truyện,
ký, thơ hát nói…
*Tương quan giữa văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm
Thời gian Tương quan văn học Hán -
Nôm
Tác phẩm tiêu biểu
Thế kỷ X (khi mới
ra đời
Văn học chữ Hán: cao quí và chính thống
Nam quốc sơn hà;
Thiên đô chiếu; Dụ chư
tì tướng hịch văn, Cáo tật thị chúng, Thuật hoài, Bạch Đằng giang phú
Khoảng cuối thế kỷ
XI-XIII
Chữ Nôm bắt đầu xuất hiện Phong trào dùng chữ Nôm để
sáng tác văn học
- VH chữ Hán giữ
vị trí chủ đạo (yêu nước,
ca ngợi triều đình và phê phán hiện thực)
Bình Ngô đại cáo; Quân trung từ mệnh tập, Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
Từ thế kỷ XV-
XVII
- VH chữ Nôm có bước phát triển vượt bậc (TP có qui mô lớn, giá trị nghệ thuật cao)
Quốc âm thi tập; Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi tập
Từ thế kỷ XVIII -
hết XIX
- VH Hán - Nôm Phát triển đỉnh cao trên nhiều thể loại thơ, văn xuôi truyện ngắn bằng chữ Hán,Thơ Nôm Đường luật,
- Thơ chữ Hán Đặng Trần Côn, Nguyễn
Du
Trang 66
Xuân Hương, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Truyện Kiều, …
1.2 Những tiền đề lịch sử, xã hội, tư tưởng, văn hoá
Thời gian Tiền đề lịch sử xã hội Tiền đề tư tưởng, văn
- Trải qua triều đại phong kiến Ngô (939 – 967), Đinh (966-968), Tiền Lê (980-1009), Lí (1010 – 1225), Trần (1225-1400),
Hồ (1400-1407)
- Văn hoá bản địa
- Ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo
Từ thế kỷ XVI - cuối
thế kỷ XIX
- Bắt đầu xuất hiện sự
khủng hoảng chính trị
- Triều đại phong kiến: Lê sơ (1428-1527), Mạc (1527-1592), Xung đột Lê Mạc – chiến tranh Nam Bắc Triều (1545-1592), cuộc Trịnh
- Nguyễn phân tranh (1627-1672)
- Thế kỷ
XVIII: khởi nghĩa
- Duy trì hệ tư tưởng Nho giáo
XVIII, Nho giáo suy vi, Nho sĩ
phân hoá; Phật giáo và Đạo giáo phát triển trở lại (Đình làng, chùa chiền xây dựng)
nên luồng sinh khí mới, xuất hiện trào lưu tư tưởng dân chủ, nhân văn phát triển tác động đến
Trang 77
nông dân, phong trào Tây Sơn thắng lợi thống nhất đất nước, Triều Nguyễn thành lập (1802-1883), thời kỳ
Pháp thuộc
nho sĩ tiến bộ
Thời đại Lý- Trần đảm đương hai sứ mệnh lịch sử to lớn: Hưng văn trị và định vũ công, bảo vệ tổ quốc, chống họa xâm lăng và xây dựng nền móng vững chắc cho chế độ phong kiến vừa hình thành Ðời Lý, Lý Thường Kiệt chống Tống; đời Trần, Trần Hưng Ðạo chống Nguyên Mông (3 lần) Thời kỳ này, triều đại Lý- Trần còn phải tiến hành những cuộc chiến tranh chống họa xâm lăng phương Nam (Chiêm Thành) Chiến tranh tất yếu phải có hủy hoại, hao người tốn của nhưng tính chất chính nghĩa và thắng lợi
vẻ vang của những cuộc kháng chiến vệ quốc đã tạo thêm khí thế hào hùng, bản lĩnh, sự tự tin cho một dân tộc nhỏ bé ở phương Nam Mặt khác, thời đại Lý- Trần còn phải đảm đương sứ mệnh xây dựng chế độ phong kiến, chế định kỷ cương, điển lễ, văn hiến cho một quốc gia phong kiến có chủ quyền, tạo nền tảng cho sự ổn định và phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam trong các thế kỷ sau
Ðến đời Trần, kinh tế đại điền trang đi vào con đường lạc hậu Vua chúa, quý tộc lợi dụng chính sách này để cướp giật ruộng đất của nông dân ngày càng nhiều Sự khủng hoảng của nền kinh tế đại điền trang đã dẫn đến sự bùng nổ của rất nhiều cuộc khởi nghĩa của nông nô, nô tỳ và một số ý kiến cải cách của các sĩ phu Tính chất công điền dần lỗi thời nhường chỗ cho chế độ sở hữu cá nhân về mặt ruộng đất sẽ được thực hiện vào thời kỳ nhà Hậu Lê
- Những năm Hồ Quý Ly ở ngôi, ông đã có một số cải cách quan trọng về kinh tế đặc biệt là thực hiện nghiêm khắc chính sách hạn điền hạn nô
Trang 88
nhưng những cải cách đó đều thất bại do các nho sĩ và quần chúng không ủng hộ chế độ ngụy triều Các triều vua đầu thời kỳ Lý- Trần đều rất quan tâm phát triển sản xuất nông nghiệp Từ đời Lê Hoàn đã tổ chức lễ cày ruộng để thể hiện tinh thần coi trọng nghề nông (Cứ đến đầu tháng giêng, nhà vua đích thân cày một thửa ruộng mở đầu năm sản xuất) Hệ thống đê ở các con sông lớn được quan tâm triệt để nhằm bảo vệ mùa màng, chống lụt lội Các chức quan Hà đê (chánh sứ và phó sứ) đưọc đặt ra để chuyên coi việc đào kênh ngòi, đắp đê phục vụ giao thông, thủy lợi Việc mở rộng diện tích canh tác, tổ chức khuyến khích khai hoang cũng được quan tâm
Thủ công nghiệp, nhờ được quan tâm, cũng ngày càng phồn thịnh Nghề dệt gấm, sản xuất nông cụ, vải lụa, đồ gốm, đồ sứ, đồ đồng, vũ khí, xe thuyền, khắc bản in, nung vôi, dệt the, đã phát triển mạnh ở các làng nghề, phường hội truyền thống
*Vềtư tưởng, xã hội
Sự phát triển của các học thuyết Nho- Phật- Lão trong giai đoạn đầu tiên của chế độ phong kiến Việt Nam đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành, phân chia đẳng cấp trong xã hội Lý- Trần Cụ thể:
Ở thời Lý, đạo Phật lan truyền khắp nước ta, có xu hướng phát triển thành quốc giáo Bởi lẽ, chiến tranh ly loạn, lòng người chán nản muốn tìm đến con đường siêu thoát của đạo Phật
+ Ðạo Phật đã du nhập vào Việt Nam khá sớm, trong thời kỳ Bắc thuộc và đã có ảnh hưởng rất sâu sắc ở thời kỳ Ðinh, Tiền Lê
+ Vua Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) là người xuất thân từ đạo Phật (Ðời Lê Ngọa Triều, ông giữ chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ Về sau, vua Lê Ngọa Triều hoang dâm, hung ác, triều thần nổi dậy lật đổ ngôi vua Tiền Lê, đưa Lý Công Uẩn lên ngôi báu, sáng lập ra nhà Lý) Do xuất thân từ đạo Phật, Lý Thái Tổ đặc biệt quan tâm đến sự phát triển của Phật giáo ở Việt Nam.Nhân dân ta vốn có truyền thống nhân đạo nên rất dễ tiếp thu các
Trang 9+ Giai cấp quần chúng bị trị thời Lý gồm nông dân ở các làng xã, nông
nô, nô tỳ ở các điền trang, thợ thủ công, lái buôn
Ở thời Trần, đạo Phật vẫn còn ảnh hưởng rất sâu sắc đến đời sống tinh thần của dân tộc nhưng vị trí độc tôn của nó đã dần phải nhường chỗ cho Nho giáo do những nguyên nhân chủ yếu sau:
- Từ triều Trần trở đi, tính chất trung ương tập quyền cao hơn dẫn đến nhu cầu gạt bỏ vị trí cố vấn tối cao của các vị quốc sư trong triều đình
- Chính sách đề cử và thế tập bị bãi bỏ Nhà Trần tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn nhân tài vào làm việc cho triều đình Nội dung thi cử là kinh sách của đạo Nho Thực tế này đã dẫn đến việc hình thành một tầng lớp Nho sĩ tham gia ngày càng nhiều vào công việc triều chính, lấn át dần vị trí của các nhà sư tham gia triều chính trong giai đoạn trước đó Nhân sinh quan của các Nho sĩ có phần đối lập với nhân sinh qua Phật giáo vì thế, ngay từ rất sớm, đã diễn ra hàng loạt các cuộc đấu tranh trên phương diện tư tưởng của các Nho sĩ nhằm chống lại Phật giáo mà những người tiêu biểu là Ðàm Sĩ Mông,
Lê Văn Hưu, Trương Hán Siêu,
- Do đạo Nho phát triển, nho sĩ trở thành giai cấp được trọng vọng bên cạnh giai cấp quý tộc và trở thành lực lượng chính trong công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc, góp phần nắm giữ, thiết chế kỷ cương, ca ngợi, bảo vệ
uy quyền phong kiến và đấu tranh chống nạn ngoại xâm
Các giai cấp bị trị thời Trần vẫn là nông dân, nông nô, nô tỳ, thợ thủ công, lái buôn,
Trang 1010
*Về giáo dục và nghệ thuật:
Việc giáo dục đã được quan tâm từ rất sớm Năm 1070, Lý Thánh Tông lập Văn Miếu ở quốc đô Thăng Long Năm 1075, Lý Nhân Tông mở khoa thi tam trường và năm 1076 mở Quốc Tử giám chuyên lo việc giảng thuật Nho giáo Các năm 1086, 1152, 1165, 1193 đều có mở kỳ thi Ðến đời Trần, các kỳ thi Nho giáo được tổ chức thường lệ và có quy mô rộng rãi hơn thời
Lý
Tiếp thu những thành tựu rực rỡ của văn nghệ dân gian, các ông vua thời Ðinh, Tiền Lê, Lý, Trần đã nối tiếp xây dựng một nền văn nghệ cung đình giàu bản sắc dân tộc Ca múa nhạc cung đình ở các triều Lý- Trần đều bắt nguồn từ ca múa nhạc dân gian (Múa rối, hát chèo, hát tuồng thường được các ông vua thời Lý- Trần đặc biệt yêu thích)
Phần lớn các công trình kiến trúc điêu khắc ở thời Lý- Trần đã bị hủy hoại trong 20 năm đô hộ của giặc Minh nhưng theo các tài liệu sử học, khảo
cổ học và một số di chỉ còn lại, có thể khẳng định rằng vương triều Lý- Trần đã cho xây dựng nhiều công trình lớn (Năm 1031, có 950 ngôi chùa được xây Tháp Báo Thiên cao 12 tầng Tháp Sùng Thiên ở Sơn Nam, Hà Nam Ninh ngày nay, cao đến 13 tầng Các di tích chùa Một cột, chùa Keo, chùa Thầy, tháp Bình Sơn, chuông Quy Ðiền, đều cho thấy sự phát triển rực rỡ của nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc thời Lý Trần)
Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam từ TK XV đến hết XVII: dân tộc ta giành nhiều thắng lợi chống ngoại xâm, xây dựng được quyền độc lập tự chủ, chế độ phong kiến ở thời kỳ phát triển
Sau chiến thắng quân Minh (1407 – 1427), phong kiến VN đạt sự phát triển cực thịnh (Thời Lê Thánh Tông với sự phát triển của Ngo giáo) rồi bắt đầu có dấu hiệu suy tàn
1.3 Các giai đoạn phát triển của văn học trung đại Việt Nam
Giai đoạn1: (TK X - hết TK XIV)
Trang 1111
Năm 938, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, mở
ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc: đất nước độc lập, chấm dứt hơn 1000 năm phong kiến Bắc thuộc, nhà nước phong kiến Việt Nam hình thành và phát triển Từ đây bắt đầu một giai đoạn hào hùng với những chiến công vô cùng hiển hách của các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lí, Trần.Văn học viết Việt Nam hình thành, TK X có sự xuất hiện của văn học viết chữ Hán và đến TK XIII đấnh dấu sự ra đời của văn học viết bằng chữ Nôm Bên cạnh đó văn học dân gian vẫn tồn tại và phát triển song song với văn học viết Cảm hứng chủ đạo là cảm hứng yêu nước với âm hưởng hào hùng, đặc biệt là giai đoạn nhà Trần với hào khí Đông A sục sôi
Các tác phẩm tiêu biểu: Thiên đô chiếu (Lí Công Uẩn), Quốc tộ (Đỗ Pháp Thuận), Nam quốc sơn hà (Lí Thường Kiệt), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn) Tụng giá hoàn kinh sư (Trần Quang Khải), Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão), Bạnh Đằng giang kí (Trương Hán Siêu).Thời kì này có sự xuất hiện của nhiều thể loại văn học như văn nghị luận (chiếu, hịch), văn xuôi lịch sử (Đại Việt sử kí của Lê Văn Hưu) và thơ Do tư duy nguyên hợp nên văn học giai đoạn này có hiện tượng văn-sử-triết bất phân Văn học viết bằng chữ Hán là chủ đạo, văn học viết bằng chữ Nôm chưa có thành tựu gì nổi bật Giai đoạn 2: (TK XV - hết TK XVII)
Triều Trần suy vong, Hồ Quý Li tiếm ngôi nhà Trần mở ra triều đại nhà
Hồ (1400-1407) Triều Minh lấy có phò Trần diệt Hồ sang xâm lược nước
ta Lê Lợi sau đó dấy binh khởi nghĩa và khởi nghĩa Lam Sơn kéo dài suốt
10 năm (1418-1427) Lê Lợi lên ngôi mở ra triều đại Hậu Lê (1428-1789) Nhà Lê đi vào xây dựng đất nước và đạt tới cực thịnh vào TK XV Tuy nhiên bên trong cung đình nhà Hậu Lê không tránh khỏi xung đột Đặc biệt là sau cái chết của Lê Thánh Tông, quan lại nhiều lần chia bè phái đánh nhau Mạc Đăng Dung do có công dẹp loạn mà có nhiều quyền bính trong
Trang 1212
tay, thậm chí lấn át cả vua Đến năm 1527 thì Mạc Đăng Dung phế truất ngôi vua và lập ra nhà Mạc Từ đây lịch sử Việt Nam bước vào thời kì đen tối nhất: thời kì nội chiến Cuộc chiến Lê Mạc, Trịnh Nguyễn phần nào cũng cản trở quá trình phát triển của đất nước
TK XV văn học viết còn kế thừa được cảm hứng yêu nước và âm hưởng còn sót lại của hào khí Đông A Dần dần văn học Việt Nam chuyển sang cảm hứng thế sự, đi vào chuyện đời, chuyện người, phê phán các tệ nạn xã hội, sự suy thoái về mặt đạo đức Văn học viết bằng chữ Hán và văn học viết bằng chữ Nôm đều đạt được nhiều thành tựu Các tác phẩm chính: Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi), thơ Lê Thánh Tông, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ)
Thời kì này có nhiều thể loại được bổ sung Hiện tượng văn-sử-triết bất phân nhạt dần bởi sự xuất hiện ngày càng nhiều các tác phẩm giàu chất văn chương, hình tượng Thơ Nôm có nhiều thành tựu lớn qua sáng tác của Nguyễn Trãi Bên cạnh đó là sự xuất hiện của văn xuôi tự sự (Truyền kì mạn lục) Và văn chính luận có sự phát triển tột bậc qua những sáng tác của Nguyễn Trãi như Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập Giai đoạn 3: (đầu TK XVIII - hết nửa đầu TK XIX)
Chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng Các tập đoàn phong kiến tranh giành quyền lực, đấu đá, tiêu diệt lẫn nhau Cuộc sống của người dân vô cùng khổ cực Các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi mà đỉnh cao là khởi nghia Tây Sơn diệt Trịnh Nguyễn, đánh đuổi quân Xiêm, quân Thanh, thống nhất đất nước Vua Quang Trung lên ngôi Nguyễn Ánh không thể chống lại vua Quang Trung với hạm đội manh nhất Thái Bình Dương bèn cầu cứu thực dân Pháp Cuối cùng Nguyễn Ánh có được sự trợ giúp của thực dân Pháp, đổi lại sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh phải để chúng buôn bán tự do tại của biển Sơn Trà, Đà Nẵng Không lâu sau khi thành lập, triều đại Tây Sơn bị lật đổ, Nguyễn Ánh khôi phục lại vương
Trang 1313
triều phong kiến chuyên chế (1802-1945).Đây được xem là giai đoạn phát triển tột bậc, rực rỡ nhất của văn học phong kiến Việt Nam Cảm hứng xuyên suốt thời kì này là cảm hứng nhân đạo Bởi lúc này số phận và quyền sống của con người bị đe dọa Văn học giai đoạn này là tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnh phúc, đấu tranh đòi giải phóng con người cá nhân Các tác phẩm tiêu biểu: Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn; Đoàn Thị Điểm dịch), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái), Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ), Thường kinh kí sự (Lê Hữu Trác), thơ Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan,Truyện Kiều (Nguyễn Du) Thời kì này có sự phát triển mạnh mẽ của những sáng tác văn học viết bằng chữ Nôm, và sự xuất hiện của nhiều thể loại văn học như tùy bút, tiểu thuyết chương hồi, kí
Giai đoạn 4: (cuối TK XIX)
Sau một thời gian nắm quyền, nhà Nguyễn dừng việc cho quân Pháp tự
do buôn bán tại của biển Sơn Trà và chém đầu tất cả những người truyền đạo thiên chúa giáo ở Việt Nam Và đến năm 1858 thực dân Pháp xâm lược Việt Nam Triều đình nhà Nguyễn chống cự yếu ớt rồi nhanh chóng đầu hàng Đất nước rơi vào tay thực dân Pháp Từ chế độ phong kiến, Việt Nam chuyển sang chế độ thực dân nửa phong kiến và văn hóa phương Tây bắt đầu ảnh hưởng đến xã hội Việt Nam
Cảm hứng xuyên suốt của văn học cuối TK XIX là cảm hứng yêu nước chống giặc ngoại xâm và mang một âm hưởng bi tráng bởi nó ghi lại một thời khổ nhục nhưng vĩ đại, thất bại nhưng vẫn hiên ngang của dân tộc Việt Nam Các tác phẩm tiêu biểu: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Quang Bích, Phan Văn Trị, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Thượng Hiền Đặc biệt trong thời
kì này có sự xuất hiện của một số tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ Quốc ngữ của Trương Vĩnh Kí, Huỳnh Tịnh Của đem đến những đổi mới bước
Trang 1414
đầu theo hướng hiện đại hóa Văn thơ chữ Hán và chữ Nôm của các tác giả Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Tú Xương đều có những bước phát triển mạnh mẽ
1.4.Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam
*Ước lệ trong văn học nói chung:
Trong đời sống xã hội, ước lệ là một qui ước có tính cộng đồng Ước
lệ là một tín hiệu riêng của một cộng đồng khi cảm nhận thực tại, làm cho sự vật và hiện tượng hiện lên đúng với chiều kích qui ước và đúng với cách hiểu của cả cộng đồng
Văn học nghệ thuật mọi thời, mọi dân tộc bao giờ cũng có tính ước
lệ Bởi lẽ, văn học không là phiên bản thu nhỏ của hiện thực đời sống, nhưng bắt nguồn từ mảnh đất thực tại, thanh lọc thực tại qua cái nhìn nghệ thuật của nhà văn, lăng kính thẩm mỹ của thời đại Có điều, ước lệ trong văn học là ước lệ thẩm mỹ có tính qui
Ước lệ, một đặc trưng thi pháp:
Văn học trung đại, ước lệ được nhà văn sử dụng triệt để, nghiêm túc và phổ biến Các nhà văn bao giờ cũng cảm thụ và diễn đạt thế giới bằng hệ thống nghệ thuật ước lệ Ước lệ đã trở thành một đặc trưng thi pháp của văn học
Đặc trưng thi pháp này hình thành từ bối cảnh lịch sử xã hội phong kiến và cảm quan thẩm mỹ của tầng lớp nghệ sĩ Hán học
Trang 15Viết đưa ai, ai biết mà đưa ?
– Sáng tác trong môi trường ấy, tất nhiên uyên bác có ý nghĩa thẩm mỹ Người sáng tác cũng như người tiếp nhận đều phải thông thuộc kính sử, điển cố, điển tích; phải có vốn thi liệu, văn liệu phong phú học tập được từ những áng văn bất hủ của người xưa Văn chương càng uyên bác càng có sức hấp dẫn lớn, có tính nghệ thuật cao
Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngóai còn cười gió Đông
(Nguyễn Du)
Hay:
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân gìau đủ khắp đòi phương
(Nguyễn Trãi)
Thời gian phi tuyến tính, nên trong văn chương cổ của dân tộc ta, các nhà văn luôn có xu hướng tìm về quá khứ Họ lấy quá khứ làm chuẩn mực cho cái đẹp, lẽ phải, đạo đức Chân lý quá khứ là chân lý có sức sáng tỏa muôn đời Vì thế, văn chương thường lấy tiền đề là lý lẽ và kinh nghiệm của
cổ nhân, của lịch sử xa xưa
Trang 1616
– Văn học vì vậy mà đầy rẫy những điển tích, điển cố Mẫu mực của văn chương cũng như vậy Thơ ca không ai có thể vượt qua những thi thánh, thi thần như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị,…
– Chính vì vậy, các nhà văn đời sau thường “tập cổ” vay mượn văn liệu, thi tứ, hình ảnh nghệ thuật của các nhà thơ, nhà văn đời trước mà không bị đanh giá là “Đạo văn” Ngược lại, họ được đánh giá là một cây bút đạo đức, sang trọng; tác phẩm của họ rất giàu gía trị
– Văn chương của tao nhân mặc khách, nên có khuynh hướng lý tưởng hóa, “văn chương hóa”, Các nhà văn thời ấy muốn tạo ra một thế giới nghệ thuật riêng khác với thế giới đời thường Cho nên, thế giới nghệ thuật của các trang văn thời này luôn được các nhà văn cách điệu hóa cao độ Hình tượng nghệ thuật càng cách điệu hóa càng đẹp
Quan niệm này đã làm nấy sinh thái độ xem thường văn xuôi, trong thơ ca Trong cái nhìn của các nhà văn và độc giả văn học thời phong kiến, văn xuôi gần với đời sống thực tại, ít được cách điệu hóa; thơ mới là thứ ngôn ngữ giàu tính cách điệu Con người trong văn chương phải đẹp một cách lý tưởng: tóc mây, mày liễu, mặt hoa, tay tiên, gót sen, vóc hạc,… Cử chỉ, đi đứng, ăn nói tựa như đang sống trong thế giới của nghệ thuật sân khấu:
Hài văn lần bước dặm xanh
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao
Chàng Vương quen mặt ra chào
Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa
(Nguyễn Du)
Tạo vật TN đi vào văn chương cũng phải thật sang quý và đẹp như mai, cúc, tùng, bách, liễu,…
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi
Dặm liễu sương sa khách bước dồn
Trang 1717
(Bà Huyện Thanh Quan) – Nhìn chung, văn chương thời ấy không chú ý tả thực Tả thực nếu có, chỉ dùng cho những nhân vật phản diện phàm tục như Mã giám sinh, Sở Khanh, Tú bà; Bùi Kiệm, Trịnh Hâm:
Thoắt trông nhờn nhợt màu da
Ăn chi cao lớn đẫy đà lám sao ?
(Nguyễn Du)
Con người Bùi Kiệm máu dê
Ngồi thề lê mặt như sề thịt trâu !
(Nguyễn Đình Chiểu)
Người ta quan niệm con người không hòan thiện, hòan mỹ bằng tạo hóa, không tài hoa bằng hóa công Vì thế, những gì cần lý tưởng hóa đều phải được so sánh với thiên nhiên, thiên nhiên trở thành chuẩn mực cho cái đẹp của con người Con những tiểu nhân chỉ có thể so sánh với xác của chúng, mới tả thực
Tính sùng cổ:
– Do quan niệm thời gian phi tuyến tính, nên trong văn chương
cổ của dân tộc ta, các nhà văn luôn có xu hướng tìm về quá khứ Họ lấy quá khứ làm chuẩn mực cho cái đẹp, lẽ phải, đạo đức Chân lý quá khứ là chân
lý có sức sáng tỏa muôn đời Vì thế, văn chương thường lấy tiền đề là lý lẽ và kinh nghiệm của cổ nhân, của lịch sử xa xưa
– Văn học vì vậy mà đầy rẫy những điển tích, điển cố Mẫu mực của văn chương cũng như vậy Thơ ca không ai có thể vượt qua những thi thánh, thi thần như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị,…
– Chính vì vậy, các nhà văn đời sau thường “tập cổ” vay mượn văn liệu, thi tứ, hình ảnh nghệ thuật của các nhà thơ, nhà văn đời trước
Tính phi ngã:
Trang 1818
– Thời phong kiến, ý thức cá nhân chưa có điều kiện phát triển Con người chưa bao giờ “sống là mình” Con người chỉ sống với không gian mà không sống cùng thời gian
Con người được nhìn nhận, đánh giá trên cơ sở của tầng lớp, giai cấp, dòng tộc, địa vị xã hội Con người chỉ phân thành hai loại: quân tử và tiểu nhân
– Chính điều kiện xã hội ấy đã sinh ra hệ thống ước lệ trong văn chương, một ước lệ nghệ thuật có tính phi ngã Nhà văn cảm thụ và diễn tả thiên nhiên không bằng cái nhìn hữu ngã và bằng ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu do cá nhân mình sáng tạo
– Tuy nhiên, nói văn học trung đại có tính phi ngã không
có nghĩa trong tác phẩm văn chương không có dấu ấn bản ngã của người nghệ sĩ Bởi lao động nghệ thuật là một họat động sáng tạo; văn học chân chính không chấp nhận công thức, phi ngã Trong văn học thời trung đại của dân tộc ta, các cây bút lớn đều khẳng định tư tưởng, cá tính và tài nghệ độc đáo của họ
* Quy phạm là một đặc trưng loại hình của văn học trung đại VN (từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XVII)
- Quy phạm là khuôn phép, những công thức nhằm đảm bảo cho hoạt động sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật có hiệu quả cao nhất và bộc lọ hết khả năng nghệ thuật của nó Tính quy phạm thể hiện trên các phương diện: + Về quan niệm, ý thức nghệ thuật: một số công thức thường gặp: văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí, văn chương cao nhã, hậu cổ bạc kim, thuật nhi bất tác, sính điển phạm và kỵ huý
+Về phương thức diễn đạt:
- Các lựa chọn và xử lý chủ đề, đề tài: xoay quanh ác khuôn mẫu: Cảm, Thuật, Hoài, Tặng, Đề, Tiễn, tán, Tống, Biệt, Vịnh, Ngâm, Điếu, Vãn…
- Mô hình cấu trúc theo thể thơ Đường, Phú, Hát nói…
Trang 19Bài thơ bày tỏ khát vọng mãnh liệt của tuổi trẻ trong xã hội phong kiến đương thời: làm trai phải trả cho xong món nợ công danh, có nghĩa là phải thực hiện đến cùng lí tưởng trung quân, ái quốc
Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu
Tam quân tì hổ khí thôn ngưu
Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu
Bài thơ được sáng tác trong bối cảnh đặc biệt có một không hai của lịch sử nước nhà Triều đại nhà Trần (1226 – 14001) là một triều đại lẫy lừng với bao nhiêu chiến công vinh quang, mấy lần quét sạch quân xâm lược Mông - Nguyên hung tàn ra khỏi bờ cõi, giữ vững sơn hà xã tắc, nêu cao truyền thống bất khuất của dân tộc Việt
Phạm Ngũ Lão sinh ra và lớn lên trong thời đại ấy nên ông sớm thấm nhuần lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc và nhất là lí tưởng sống của đạo Nho là trung quân, ái quốc Ông ý thức rất rõ ràng về trách nhiệm công dân trước vận mệnh của đất nước: Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách
Bài thơ Thuật hoài (Tỏ lòng) được làm bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn tứ tuyệt luật Đường, niêm luật chặt chẽ, ý tứ hàm súc, hình tượng kì vĩ,
âm điệu hào hùng, sảng khoái Hai câu thơ đầu khắc họa vẻ đẹp gân guốc,
Trang 2020
lẫm liệt, tràn đầy sức sống của những trang nam nhi - chiến binh quả cảm đang xả thân vì nước, qua đó thể hiện hào khí Đông A ngút trời của quân đội nhà Trần thời ấy
Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu (Dịch nghĩa: cầm ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu); dịch thơ: Múa giáo non sông trải mấy thu So với nguyên văn chữ Hán thì câu thơ dịch chưa lột tả được hết chất oai phong, kiêu hùng trong tư thế của người lính đang chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Hoành sóc là cầm ngang ngọn giáo, luôn ở tư thế tấn công dũng mãnh,
áp đảo quân thù Tư thế của những người chính nghĩa lồng lộng in hình trong không gian rộng lớn là giang sơn đất nước trong suốt, một thời gian dài (giang sơn kháp kỉ thu) Có thể nói đây là hình tượng chủ đạo, tượng trưng cho dân tộc Việt quật cường, không một kẻ thù nào khuất phục được Từ hình tượng ấy, ánh hào quang của chủ nghĩa yêu nước ngời tỏa sáng Câu thơ thứ hai: Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu (Dịch nghĩa: khí thế của ba quân mạnh như hổ báo, át cả sao Ngưu trên trời) Dịch thơ: Ba quân hùng khí át sao Ngưu, đặc tả khí thế chiến đấu và chiến thắng không gì ngăn cản nổi của quân dân ta Tam quân tì hổ là một ẩn dụ so sánh nghệ thuật nêu bật sức mạnh vô địch của quân ta Khí thôn Ngưu là cách nói thậm xưng để tạo nên một hình tượng thơ kì vĩ mang tầm vũ trụ
Hai câu tứ tuyệt chỉ mười bốn chữ ngắn gọn, cô đúc nhưng đã tạc vào thời gian một bức tượng đài tuyệt đẹp về người lính quả cảm trong đạo quân Sát Thát nổi tiếng đời Trần
Là một thành viên của đạo quân anh hùng ấy, Phạm Ngũ Lão từ một chiến binh dày dạn đã trở thành một danh tướng khi tuổi còn rất trẻ Trong con người ông luôn sôi sục khát vọng công danh của đấng nam nhi thời loạn Mặt tích cực của khát vọng công danh áy chính là ý muốn được chiến đấu, cống hiến đời mình cho vua, cho nước Như bao kẻ sĩ cùng thời, Phạm Ngũ Lão tôn thờ lí tưởng trung quân, ái quốc và quan niệm: Làm trai đứng ở
Trang 2121
trong trời đất, phải có danh gì với núi sông (Chí làm trai - Nguyễn Công Trứ) Bởi thế cho nên khi chưa trả hết nợ công danh thì tự lấy làm hổ thẹn:
“Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu
(Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu)
Vũ Hầu tức Khổng Minh, một quân sư tài ba của Lưu Bị thời Tam Quốc Nhờ mưu trí cao, Khổng Minh đã lập được công lớn, nhiều phen làm cho đôi phương khốn đốn; vì thế ông rất được Lưu Bị tin yêu
Lấy gương sáng trong lịch sừ cổ kim soi mình vào đó mà so sánh, phấn đấu vươn lên cho bằng người, đó là lòng tự ái, lòng tự trọng đáng quý cần phải có ở một đấng nam nhi Là một tùy tướng thân cận của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quôc Tuấn, Phạm Ngũ Lão luôn sát cánh bên cạnh chủ tướng, chấp nhận xông pha nơi làn tên mũi đạn, làm gương cho ba quân tướng sĩ, dồn hết tài năng, tâm huyết để tìm ra cách đánh thần kì nhất nhằm quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi Suy nghĩ của Phạm Ngũ Lão rất cụ thể và thiết thực; một ngày còn bóng quân thù là nợ công danh của tuổi trẻ với giang sơn xã tắc vẫn còn vương, chưa trả hết Mà như vậy là phận sự với vua, với nước chưa tròn, khát vọng công danh chưa thỏa Cách nghĩ, cách sống của Phạm Ngũ Lão rất tích cực, tiến bộ ông muốn sống xứng đáng với thời đại anh hùng
Hai câu thơ sau âm hưởng khác hẳn hai câu thơ trước Cảm xúc hào sảng ban đầu dần chuyển sang trữ tình, sâu lắng, như lời mình nói với mình cho nên âm hưởng trở nên thâm trầm, da diết
Phạm Ngũ Lão là một võ tướng tài ba nhưng lại có một trái tim nhạy cảm của một thi nhân Thuật hoài là bài thơ trữ tình bày tỏ được hùng tâm tráng trí và hoài bão lớn lao của tuổi trẻ đương thời Bài thơ có tác dụng giáo dục rất sâu sắc về nhân sinh quan và lối sống tích cực đối với thanh
Trang 2222 niên mọi thời đại Thuật hoài đã làm vinh danh vị tướng trẻ văn võ song toàn Phạm Ngũ Lão
Trang 2323
Chương 2 VĂN HỌC THẾ KỶ X – THẾ KỶ XIV
2.1 Những tiền đề lịch sử, xã hội, tư tưởng, văn hoá
Thời gian Tiền đề lịch sử xã hội Tiền đề tư
tưởng, văn hoá
Từ thế kỷ X
– thế kỷ XIV
Thời kỳ phục hưng dân tộc và văn hoá dân tộc
Trải qua triều đại phong kiến Ngô (939 – 967), Đinh (966-968), Tiền Lê (980-1009), Lí (1010 – 1225), Trần (1225-1400), Hồ (1400-1407)
Văn hoá bản địa
Ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo
Về chính trị:
- Thời đại Lý- Trần đảm đương hai sứ mệnh lịch sử to lớn: Hưng văn trị và định vũ công, bảo vệ tổ quốc, chống họa xâm lăng và xây dựng nền móng vững chắc cho chế độ phong kiến vừa hình thành
- Ðời Lý, Lý Thường Kiệt chống Tống; đời Trần, Trần Hưng Ðạo chống Nguyên Mông (3 lần) Thời kỳ này, triều đại Lý- Trần còn phải tiến hành những cuộc chiến tranh chống họa xâm lăng phương Nam (Chiêm Thành) Chiến tranh tất yếu phải có hủy hoại, hao người tốn của nhưng tính chất chính nghĩa và thắng lợi vẻ vang của những cuộc kháng chiến vệ quốc đã tạo thêm khí thế hào hùng, bản lĩnh, sự tự tin cho một dân tộc nhỏ bé ở phương Nam
- Mặt khác, thời đại Lý- Trần còn phải đảm đương sứ mệnh xây dựng chế độ phong kiến, chế định kỷ cương, điển lễ, văn hiến cho một quốc gia phong kiến có chủ quyền, tạo nền tảng cho sự ổn định và phát triển của chế
độ phong kiến Việt Nam trong các thế kỷ sau
Trang 2424
* Về xã hội
Sự phát triển của các học thuyết Nho- Phật- Lão trong giai đoạn đầu tiên của chế độ phong kiến Việt Nam đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành, phân chia đẳng cấp trong xã hội Lý- Trần Cụ thể:
Ở thời Lý, đạo Phật lan truyền khắp nước ta, có xu hướng phát triển thành quốc giáo Vai trò độc tôn của Phật giáo đã dẫn đến việc phân chia các giai cấp trong xã hội thời Lý Ở thời Trần, đạo Phật vẫn còn ảnh hưởng rất sâu sắc đến đời sống tinh thần của dân tộc nhưng vị trí độc tôn của nó đã dần phải nhường chỗ cho Nho giáo Từ triều Trần trở đi, tính chất trung ương tập quyền cao hơn dẫn đến nhu cầu gạt bỏ vị trí cố vấn tối cao của các vị quốc sư trong triều đình Chính sách đề cử và thế tập bị bãi bỏ Nhà Trần
tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn nhân tài vào làm việc cho triều đình Nội dung thi cử là kinh sách của đạo Nho Do đạo Nho phát triển, nho sĩ trở thành giai cấp được trọng vọng bên cạnh giai cấp quý tộc và trở thành lực lượng chính trong công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc, góp phần nắm giữ, thiết chế kỷ cương, ca ngợi, bảo vệ uy quyền phong kiến và đấu tranh chống nạn ngoại xâm
2.2 Đặc điểm về lực lượng sáng tác và tác phẩm văn học
2.2 1 Lực lượng sáng tác
Trước thời Lí, có nhiều thiền sư như Ngô Chân Lưu, Đỗ Pháp Thuận, Vạn Hạnh…giữ vai trò quan trọng trong việc ngoại giao, chính trị…Một số bài thơ của họ sang tác khi ứng đối và tiếp sứ Trung Hoa được coi là những tác phẩm văn học viết đầu tiên của dân tộc
Đến thời Lí, nước ta có một nền văn học viết đặc sắc Ngoài các vị vua quan, lực lượng các nhà sư sáng tác chiếm đa số trên văn đàn Theo sách Thiền uyển tập anh, đời Lý có khoảng hơn 40 nhà sư sáng tác với những tên tuổi tiêu biểu như: Mãn Giác, Viên Chiếu, Viên Thông, Không Lộ, Quảng
Trang 25Tác phẩm văn học
2.2.1 Hệ thống văn tự và ngôn ngữ văn học
Từ đầu Công nguyên, người Hán đã truyền bá chữ Hán vào nước ta Sau thế kỷ X chữ Hán được coi làm văn tự chính thống trong mọi hoạt động của đất nước Dòng văn học chữ Hán có nhiều thành tựu nổi bật
Khoảng từ thế kỷ XIII, chữ Nôm ra đời để ghi âm tiếng nói dân tộc, thể hiện sự sang tạo và ý chí tự cường của dân tộc Cùng với chữ Hán, chữ Nôm được dung để sáng tác văn chương
Văn học là nghệ thuật ngôn từ Văn tự là phương tiện sáng tác Ngôn ngữ văn học thời kỳ này không tách rời khỏi ngôn ngữ văn học trung đại: da nghĩa, đa chức năng và có tính cao nhã, hàm súc
2.2.2 Thể loại văn học:
Văn vần (thể cổ phong và Đường luật), Văn xuôi: chiếu, biểu, truyền kì, tiểu thuyết,…;
- Các thể loại chiếu, cáo, sách, dụ, hịch,… mà chủ thể phải là thiên tử hoặc chủ tướng, dù người viết là ai
- Các thể loại tấu, nghị, khải, biểu,… chủ thể là thần tử trình bày với thiên tử
- Các thể loại thư, luận, thuyết, biện bàn về tư tưởng, đạo lý, chân ngụy
- Các thể văn tế, ai điếu hướng tới người đã mất
- Các thể bi, minh,chí viết để ghi nhớ lâu dài, khắc trên kim thạch
- Các thể tự bạt
Trang 2626
- Các thể truyện, trạng ghi về hành trạng, sự tích của một con người Các thể ký ghi đủ loại việc, cốt để ghi nhớ, từ du ký đến tạp ký, ký sự
2.3 Những khuynh hướng văn học
2.3.1.Khuynh hướng cảm hứng tôn giáo
* Văn học đời Lý mang nặng hệ ý thức Phật giáo
Ðặc điểm của văn học đời Lý là lực lượng các nhà sư sáng tác chiếm
đa số trên văn đàn Theo sách Thiền uyển tập anh, đời Lý có khoảng hơn 40 nhà sư sáng tác với những tên tuổi tiêu biểu như: Mãn Giác, Viên Chiếu, Viên Thông, Không Lộ, Quảng Nghiêm, Trong số đó, nhiều nhà sư chiếm địa vị cao trong xã hội và triều đình nhà Lý Ở thời kỳ này, Phật giáo chiếm địa vị độc tôn trong đời sống tinh thần của dân tộc Sự bành trướng của Phật giáo dẫn đến nhu cầu rộng rãi trong nhân dân là tìm hiểu, học tập những vấn đề triết lý của đạo Phật Ðể đáp ứng nhu cầu đó, bên cạnh việc thuyết giảng, các nhà sư còn tìm cách truyền phổ đạo Phật bằng cách thể hiện các nội dung triết lý vốn rất trừu tượng khó hiểu qua hình thức các bài kệ ngắn gọn, sinh động, dễ nhớ, dễ hiểu để giúp người học đạo được thuận lợi hơn trong quá trình nghiên cứu, học tập
- Văn học thời kỳ này viết bằng chữ Hán nên chủ yếu, chỉ có các nhà sư mới có đủ trình độ uyên bác để sáng tác thơ văn
Thiền Tông là chi phái thể hiện khà rõ quan niệm triết học trong tác phẩm của các nhà sư đời Lý Nó thiên về sự tu dưỡng tự thân, lấy tâm định làm phép tu dưỡng Ðiều này được Thượng sĩ Trần Quốc Tảng tóm tắt trong một câu ngắn gọn nhưng có giá trị khái quát toàn bộ những vấn đề cơ bản của triết học Thiền tông: Phật tức tâm, tâm tức Phật (Phật tâm ca) Quan niệm Thiền tông rất gần với đạo Phật nguyên thủy Thiên địa vạn vật cùng một bản thể và chính vì thế, trước đức Phật, mọi người đều bình đẳng Dựa trên quan niệm đó, văn học Phật giáo đời Lý thường thể hiện sự tương đồng, sự vĩnh cửu của bản ngã
Trang 2727
Bát nhã chân vô tông
Nhân không ngã diệc không
Quá hiện vị lai Phật
Pháp tính bản tương đồng (Lý Thái Tông)
Bản ngã của mọi người đều giống nhau, đều quy về chữ Không vốn là bản thể vũ trụ, là cái hằng thường, bất diệt, là điểm tận cùng của mọi quá trình biến đổi Cho nên, Ðoàn Văn Khâm trong bài Vãn Quảng Trí thiền sư đã viết:
Các đạo hữu không nên đau thương về sự vĩnh biệt
Nùi sông trước chùa trông ra ấy là chân hình của nhà sư
Nhà sư đã mất nhưng chân thể, bản thể vẫn còn tồn tại trong thế giới, trong vạn vật Ðó chính là sự tương đồng và vĩnh cửu của bản ngã
+ Quan niệm Sắc không cho rằng thế giới biến hóa vô cùng Kiều Bản Tịnh trong Kính trung xuất hình tượng đã so sánh cái có trong thế giới hiện hữu của con người thực chất chỉ là huyễn, cái không mới chính là thực, là sự tồn tại vĩnh cửu của con người Ðiều này giống như sự tồn tại của cái bóng trong gương:
Huyễn thân bản tự không tịch mịch
Do như kính trung xuất hình tượng
Hình tượng giác liễu nhất thiết không
Huyễn thân tu du chứng thực tướng
Nguyên phi Ỷ Lan kêu gọi hãy gạt bỏ mọi phán đoán về cái sắc và cái không trong thế giới vật chất và chỉ có như vậy, người học đạo mới tiến đến chỗ khế hợp với chân tông:
Sắc tức không, không thị sắc
Không thị sắc sắc tức không
Sắc không câu bất quản
Phương đắc khế chân tông
Trang 2828
Bài kệ nổi tiếng Cáo tật thị chúng của nhà sư Mãn Giác là một ví dụ tiêu biểu cho quan niệm sắc không thâm thúy của nhà Phật qua sự đối sánh giữa thời gian tuần hoàn, vô cùng vô tận của vũ trụ với thời gian tuyến tính ngắn ngủi trong cuộc đời con người Bài thơ tuy thể hiện quan niệm triết học của Phật giáo nhưng cũng mang lại niềm hy vọng cho con người trong cuộc sống:
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Ðình tiền tạc dạ nhất chi mai
Tuy nhiên, là nhà thơ, các vị tăng lữ vẫn trải cảm xúc chân thành của mình trong những bài thơ tả cảnh thiên nhiên tươi đẹp Khung cảnh thiên nhiên trong thơ của các nhà sư vẫn chịu sự chi phối của cái nhìn sắc không Chẳng hạn:
Vạn lý thanh giang vạn lý thiên
Nhất thôn tang giá nhất thôn yên
Ngư ông thụy trước vô nhân hoán
Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền (Ngư nhàn- Không Lộ)
Mặt khác, trong thơ văn của các nhà sư đời Lý, ta còn có thể bắt gặp những tư tưởng tích cực, tiến bộ, xa lạ với quan niệm của phật giáo chính thống:
- Những ý kiến chống quan điểm giáo điều của trường phái cực đoan cho rằng phải tuyệt đối thoát ly trần tục
- Thái độ nhiệt tình, ý thức trách nhiệm của các nhà sư, khát vọng hòa nhập vào cuộc đời, tham gia gánh vác những khó khăn của đất nước trong thời kỳ đầu xây dựn
Trang 2929
2.3.2.Khuynh hướng cảm hứng về thiên nhiên
Thơ giai đoạn này vừa thể hiện sự rung động của thi nhân trước thiên nhiên bằng cảm quan Thiền học vừa có phản ánh phóng khoáng của tư tưởng Nho gia và cái nhàn dật của Lão Trang Khác với thời Lý, những hình ảnh thiên nhiên xuất hiện trong thơ như là những biểu tượng của lẽ Thiền, chất lí trí còn đậm Đến thời Trần thì đa phần trong sáng tác của các thi nhân, thiền sư, thiên nhiên đã thực sự trở thành đối tượng thẩm mĩ thật sự Các thi nhân, Thiền sư đã thật sự trải lòng với cảnh núi cao sông dài, với ánh trăng trên đoá mộc tê, trải tầm mắt với cánh bạch âu lưng trời, theo đàn
cò liệng xuống cánh đồng chiều vãn, rồi ngắm cảnh bướm xuân phơi phới trên những đóa hoa thắm tươi đầy hương sắc Con người Thiền sống giữa thiên nhiên để thấy tâm hồn mình về với Chân Như, với những cảm xúc hồn nhiên không gợn niềm trần tục
Thiền gia cảm nhận thiên nhiên bằng tâm hồn tĩnh tại, an nhiên, bởi họ cho rằng Bản thể của vũ trụ là trống không khi tâm đạt tới độ tĩnh tại tuyệt đối, tâm trong suốt vắng lặng thì có thể hòa nhập vào bản thể của vũ trụ vạn vật
Thiên nhiên qua cái nhìn của Thiền gia mặc dù bình dị nhưng lại thấm đẫm hơi hướng mỹ cảm Thiền Đọc bài thơ Nguyệt của Trần Nhân Tông chúng ta có thể dể dàng nhận ra điều đó:
Bán song đăng ảnh mãn sàng thư,
Lộ trích thu đình dạ khí hư
Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ,
Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ
(Bóng đèn soi nửa cửa sổ, sách đầy giường - Móc rơi trên sân thu, hơi trống không - Tỉnh giấc tiếng chày nện không còn nghe thấy - Trên chùm hoa quế, trăng vừa mọc)
Trang 3030
Bài thơ mở đầu bằng không gian hẹp - không gian của đời sống thường nhật từ đó mở rộng ra không gian vũ trụ Một đêm thu lặng có thể nghe được tiếng sương rơi Cái động nhờ cái tĩnh mà sinh ra Âm thanh của tiếng sương rơi hẳn là rất nhỏ, không gian phải rất tĩnh lặng thì mới có thể nghe được 2.3.3 Khuynh hướng cảm hứng yêu nước
*Yêu nước thời kỳ này gắn liền lí tưởng trung quân
- Nội dung thể hiện: yêu nước là có ý thức tự tôn dân tộc, yêu giống nòi, tinh thần bảo vệ tổ quốc chống kẻ thù xâm lược
Khi vận mệnh đất nước gặp nguy nan thì cảm hứng chủ đạo của văn học là cảm hứng yêu nước và văn học trung đại luôn bám sát lịch sử dân tộc, phản ánh những sự kiện trọng đại liên quan đến vận mệnh đất nước Cảm hưng yêu nước luôn gắn liền với tư tưởng trung quân như là một tất yếu trong lịch sử xã hội phong kiến, bởi xã hội phong kiến quan niệm nước là vua, vua là nước Do đó văn học có một quan niệm: yêu nước là phải trung với vua và trung với vua là phải yêu nước (trung quân ái quốc) Cảm hứng yêu nước được thể hiện phong phú, đa dạng qua mội thời kì lịch sử, khi đất nước có giặc ngoại xâm (căm thù giặc ngoại xâm, xót xa trước cảnh người bị đàn áp, ý chí tiêu diệt kẻ thù, sẵn sàng xả thân vì nước), khi đất nước hòa bình (khát khao xây dựng Tổ quốc, yêu thiên nhiên, con người, tự hào với truyền thống dân tộc), âm hưởng hào hùng, khi thì bi tráng, khi thì trầm lắng, thiết tha
Tác phẩm tiêu biểu: Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo, Bạch Đằng giang phú, Hịch tướng sĩ, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc,
Có thể nói, bắt đầu từ thời Lý, truyền thống yêu nước trong văn học hình thành và phát triển mãi mãi trong các giai đoạn sau Hai tác giả tiêu biểu của chủ nghĩa yêu nước trong văn học đời Lý là Lý Công Uẩn và Lý Thường Kiệt Chủ đề yêu nước trong thơ văn họ thường thể hiện ở những cung bậc trầm hùng khác nhau nhưng ý nghĩa chung nhất vẫn là tiếng nói lạc