Khái niệm biến đổi khí hậu Theo Ủy ban liên Chính phủ về BĐKH IPCC thì biến đổi khí hậu BĐKH là sự thay đổi thành phần của khí quyển do hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp của con người
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
(Dành cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm Địa lý hệ chính quy)
Tác giả: Nguyễn Hữu Duy Viễn
Năm 2015
Trang 2b
MỤC LỤC
MỤC LỤC b
LỜI NÓI ĐẦU 0
CHƯƠNG 1 BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU 1
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ NGUYÊN NHÂN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1
1.1.1 Khái niệm biến đổi khí hậu và các thuật ngữ liên quan 1
1.1.1.1 Khái niệm biến đổi khí hậu 1
1.1.1.2 Các thuật ngữ liên quan 1
1.1.2 Đặc điểm của biến đổi khí hậu 2
1.1.2.1 BĐKH hiện nay có nguyên nhân từ con người 2
1.1.2.2 BĐKH diễn ra chậm, khó phát hiện, khó điều chỉnh 2
1.1.2.3 BĐKH diễn ra trên phạm vi toàn cầu, có ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực đời sống con người 3
1.1.2.4 BĐKH diễn ra với cường độ ngày một tăng và hậu quả nặng nề đối với con người 3
1.1.3 Nguyên nhân của biến đổi khí hậu 3
1.1.3.1 Nguyên nhân do tự nhiên 3
1.1.3.2 Nguyên nhân do con người 4
1.2 BIỂU HIỆN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU 6
1.2.1 Nhiệt độ tăng, khí hậu trái đất nóng lên 6
1.2.2 Mực nước biển dâng cao 6
1.2.3 Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển 7
1.2.3.1 Hiệu ứng nhà kính 7
1.2.3.2 Suy giảm ôzôn tầng bình lưu 7
1.2.3.3 Ô nhiễm không khí 8
1.2.4 Sự xuất hiện và gia tăng của các thiên tai 9
1.3 KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU 9
1.3.1 Kịch bản phát thải KNK 9
1.3.2 Kịch bản nồng độ CO2 10
1.3.3 Kịch bản nhiệt độ 10
1.3.4 Kịch bản lượng mưa 11
1.3.5 Kịch bản về các hiện tượng thời tiết cực đoan 12
1.3.6 Kịch bản nước biển dâng 12
1.4 TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU 13
1.4.1 Một số biến đổi của các hệ tự nhiên và hệ sinh thái 13
1.4.2 Tác động của biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội 13
1.4.2.1 Tác động đối với sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp 13
1.4.2.2 Tác động đối với công nghiệp, năng lượng và xây dựng 14
1.4.2.3 Tác động đến giao thông vận tải và du lịch 14
1.4.2.4 Tác động đối với sức khỏe và đời sống của con người 14
Trang 3c
1.4.3 Tác động của biến đổi khí hậu đối với các khu vực đặc biệt 14
CHƯƠNG 2 BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VIỆT NAM 16
2.1 BIỂU HIỆN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM 16
2.1.1 Biến đổi của các yếu tố khí hậu cơ bản 16
2.1.1.1 Biến đổi nhiệt độ trung bình 16
2.1.1.2 Biến đổi ngày bắt đầu và kết thúc nhiệt độ qua 20oC, 25oC 18
2.1.1.3 Biến đổi của số giờ nắng 19
2.1.1.4 Biến đổi của lượng mưa 19
2.1.1.5 Sự biến đổi của các hiện tượng khí hậu khác 20
2.1.1.6 Biến đổi về thời gian và số lượng bão vào Việt Nam 20
2.1.2 Biến đổi của mực nước biển 20
2.1.2.1 Xu thế biến đổi của mực nước biển 20
2.1.2.2 Tương quan so sánh mực nước biển trung bình các thời kỳ 21
2.1.3 Sự biến động của sinh vật tự nhiên và môi trường sinh sống 22
2.1.3.1 Giảm diện tích đất ngập nước tự nhiên 22
2.1.3.2 Biến động về thủy sinh ở một số địa phương 22
2.1.3.3 Nhiều rạn san hô bị tẩy trắng, tảo độc hại xuất hiện 23
2.1.3.4 Sự gia tăng bệnh tật 23
2.2 KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CHO VIỆT NAM 23
2.2.1 Kịch bản nhiệt độ 23
2.2.2 Kịch bản lượng mưa 26
2.2.3 Kịch bản nước biển dâng 29
2.3 TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM 30
2.3.1 Khái quát về tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam 30
2.3.1.1 Tác động do mực nước biển dâng 30
2.3.1.2 Tác động do sự gia tăng các thiên tai 31
2.3.2 Tác động cụ thể đến các khu vực 32
2.3.2.1 Tác động đến vùng Tây Bắc 32
2.3.2.2 Tác động đến vùng Đông Bắc 33
2.3.2.3 Tác động đến vùng đồng bằng Bắc Bộ 33
2.3.2.4 Tác động đến vùng Bắc Trung Bộ 34
2.3.2.5 Tác động đến vùng Nam Trung Bộ 35
2.3.2.6 Tác động đến vùng Tây Nguyên 35
2.3.2.7 Tác động đến vùng Đông Nam Bộ 36
2.3.2.8 Tác động đến vùng Tây Nam Bộ 37
CHƯƠNG 3 GIÁO DỤC ỨNG PHÓ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CHO HỌC SINH THCS 38
3.1 KHÁI QUÁT VỀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 38
3.1.1 Khái niệm về ứng phó với biến đổi khí hậu 38
3.1.2 Các nhóm biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu 38
3.1.2.1 Chấp nhận tổn thất 39
Trang 4d
3.1.2.2 Chia sẻ tổn thất 39
3.1.2.3 Làm thay đổi nguy cơ 39
3.1.2.4 Ngăn ngừa các tác động 39
3.1.2.5 Thay đổi cách sử dụng 39
3.1.2.6 Thay đổi/chuyển địa điểm 39
3.1.2.7 Nghiên cứu 40
3.1.2.8 Giáo dục, thông tin và khuyến khích thay đổi hành vi 40
3.2 NHỮNG HÀNH ĐỘNG HỌC SINH CÓ THỂ LÀM ĐỂ GÓP PHẦN GIẢM NHẸ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 40
3.2.1 Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả 40
3.2.1.1 Nhận thức về vai trò của năng lượng đối với con người 40
3.2.1.2 Hiểu biết về diễn biến nguồn năng lượng 41
3.2.1.3 Nhận thức mối quan hệ giữa sử dụng năng lượng và môi trường 43 3.2.1.4 Nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng 45
3.2.2 Sử dụng các nguồn năng lượng tái sinh ít gây ô nhiễm môi trường 47
3.2.2.1 Nhiên liệu sinh học 47
3.2.2.2 Năng lượng Mặt Trời (quang năng) 47
3.2.2.3 Năng lượng gió 48
3.2.2.4 Năng lượng biển (hải năng) 49
3.2.2.5 Năng lượng từ lòng đất (địa năng) 49
3.2.2 Bảo vệ và sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả 49
3.2.2.1 Bảo vệ tài nguyên nước 49
3.2.2.2 Sử dụng nước hợp lý và tiết kiệm 50
3.2.3 Bảo vệ rừng, trồng cây tạo môi trường sống trong lành 50
3.2.4 Giảm thiểu và xử lý rác thải, chất thải 51
3.3 NHỮNG HÀNH ĐỘNG HỌC SINH CÓ THỂ LÀM ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 52
3.3.1 Học sinh biết tự bảo vệ mình (một số kỹ năng phòng chống thiên tai) 52 3.3.1.1 Hình thành ý thức thường trực phòng chống thiên tai 52
3.3.1.2 Kỹ năng bơi lội giúp học sinh tự cứu mình khi mưa lũ hoặc khi gặp nguy hiểm sông nước 52
3.3.1.3 Kỹ năng phòng chống điện giật khi mưa lũ 53
3.3.1.4 Kỹ năng phòng chống dịch bệnh trong và sau thiên tai, mưa lũ 54
3.3.2 Học sinh tham gia bảo vệ cơ sở vật chất trường học 55
3.3.3 Học sinh tham gia vào các phong trào hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng và địa phương 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 58
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Giáo trình “Giáo dục biến đổi khí hậu và nâng cao năng lực thích ứng”
được biên soạn trên cơ sở những giáo trình đã có trước đây, những giáo trình có liên quan của các trường bạn, kết quả nghiên cứu về biến đổi khí hậu trong những năm gần đây và các bài giảng nhiều năm giảng dạy cho sinh viên Địa lý
và các ngành khác thuộc nhóm ngành Các khoa học về Trái Đất
Giáo trình cung cấp những kiến thức cơ bản về biến đổi khí hậu và vấn đề giáo dục biến đổi khí hậu, thích ứng với biến đổi khí hậu cho sinh viên sư phạm trung học cơ sở được đào tạo tại Khoa Khoa học Xã hội, Trường Đại học Quảng Bình Những kiến thức này tạo điều kiện cho sinh viên có khả năng lồng ghép việc giáo dục về biến đổi khí hậu trong các nội dung bài giảng cho học sinh trung học cơ sở
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều để nội dung giáo trình đáp ứng được yêu cầu của chương trình và nâng cao chất lượng đào tạo, song chắc chắn không tránh khỏi những sai sót Tác giả kính mong nhận được sự chỉ bảo của các nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp , cùng sự góp ý của các bạn sinh viên khi sử dụng giáo trình này
Tác giả bày tỏ lòng biết ơn đến tập thể Bộ môn Địa lý – Việt Nam học – Công tác xã hội, Trường Đại học Quảng Bình đã đọc và góp nhiều ý kiến bổ ích
TÁC GIẢ
Trang 61
CHƯƠNG 1 BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ NGUYÊN NHÂN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.1.1 Khái niệm biến đổi khí hậu và các thuật ngữ liên quan
1.1.1.1 Khái niệm biến đổi khí hậu
Theo Ủy ban liên Chính phủ về BĐKH (IPCC) thì biến đổi khí hậu (BĐKH) là
sự thay đổi thành phần của khí quyển do hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp của con người xảy ra trên quy mô toàn cầu, không có sự hạn chế, ràng buộc nào về không gian, diễn ra trong một khoảng thời gian dài thể hiện qua sự khác biệt tương đối rõ rệt về trị
số của các yếu tố hay thống kê khí hậu liên tục diễn ra trong khoảng thời gian hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm theo một xu thế nhất định (có thể tăng hoặc giảm)
so với trị số trung bình nhiều năm
1.1.1.2 Các thuật ngữ liên quan
- Thời tiết là trạng thái khí quyển ở một thời điểm tại một nơi nhất định được xác
định bằng tổ hợp các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa Thời tiết là các hiện tượng và các quá trình tự nhiên diễn ra trong lớp không khí ở gần mặt đất trong một phạm vi hẹp, thời gian ngắn và rất hay thay đổi Ví dụ: thời tiết nắng đẹp, ấm áp, gió nhẹ Thời tiết phức tạp là trạng thái thời tiết khi có bão đến, khi gió mùa về, khi trời trở nóng, trở lạnh
- Khí hậu là tổng hợp của thời tiết được đặc trưng bởi các trị số thống kê (trung
bình, xác suất các cực trị v.v ) của các yếu tố khí tượng biến động trong một khu vực địa lý với thời kỳ trung bình thường là vài thập kỷ Định nghĩa chính thức của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) “Tổng hợp các điều kiện thời tiết ở một khu vực nhất định đặc trưng bởi thống kê dài hạn các biến số của trạng thái khí quyển ở khu vực đó”
- El Nino, La Nina: Vào những khoảng thời gian không đều đặn, nhưng nhìn
chung vào khoảng bốn năm một lần, nhiệt độ bề mặt nước biển phía Đông và trung tâm xích đạo Thái Bình Dương lại nóng lên trên diện rộng Sự nóng lên đó thường kéo dài
khoảng một năm, được gọi là hiện tượng El Nino (có nghĩa là “ Đứa con của Chúa”, do
hiện tượng này thường xảy ra vào mùa Giáng sinh ngoài khơi Nam Mỹ, kéo dài và mạnh lên khi hiện tượng El Nino trên toàn Thái Bình Dương xảy ra) El Nino có thể được coi
như pha nóng lên của dao động khí hậu Trong pha lạnh đi, gọi là La Nina, nhiệt độ bề
mặt biển Thái Bình Dương xích đạo lạnh đi so với bình thường Nhiệt độ bề mặt biển đi đôi với sự dịch chuyển lan rộng trong khí quyển về gió, mưa v.v
- ENSO (El Nino/Shouthem Osciliation) thường được dùng để chỉ một hiện tượng
tổng thể của những biến đổi áp suất bề mặt vùng nhiệt đới đi kèm chu trình El Nino/La Nina Các hiện tượng này bao gồm sự tương tác mạnh giữa đại dương và khí quyển Ở khu vực Thái Bình Dương, chu trình ENSO sinh ra những biến đổi lớn, rõ ràng trong các dòng hải lưu vùng nhiệt đới, nhiệt độ, gió tín phong, các khu vực mưa v.v Thông qua các mối liên hệ xa trong khí quyển, ENSO cũng ảnh hưởng đến khí hậu theo mùa ở nhiều khu vực khác trên toàn cầu
Trang 72
- Khả năng dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH là mức độ mà một hệ
thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH, kể cả biến đổi tự nhiên và cực trị Tổn thương là hàm của tính chất, mức độ và tốc độ của biến đổi và biến động khí hậu mà một hệ thống phát lộ ra cùng với độ mẫn cảm và năng lực thích ứng của nó
- Kịch bản biến đổi khí hậu là giả định có cơ sở khoa học về sự tiến triển trong
tương lai của các mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội, phát thải khí nhà kính, BĐKH và nước biển dâng Lưu ý rằng kịch bản BĐKH khác với dự báo thời tiết và dự báo khí hậu là nó chỉ đưa ra quan điểm về mối ràng buộc giữa phát triển kinh tế - xã hội và hệ thống khí hậu
- Nước biển dâng là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó
không bao gồm triều, nước dâng do bão, Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác
- Ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con người nhằm thích ứng
và giảm nhẹ các tác nhân gây ra BĐKH
- Thích ứng với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con
người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị
tổn thương do BĐKH và tận dụng các cơ hội do nó mang lại
- Giảm nhẹ biến đổi khí hậu là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường
độ phát thải khí nhà kính
1.1.2 Đặc điểm của biến đổi khí hậu
Sự biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra hiện nay trên Trái Đất có 4 đặc điểm nổi bật sau:
1.1.2.1 BĐKH hiện nay có nguyên nhân từ con người
Nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu hiện nay, tiêu biểu là sự nóng lên toàn cầu
đã được khẳng định là do hoạt động của con người Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp
(khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụng ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu ứng nhà kính, làm tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của Trái Đất
1.1.2.2 BĐKH diễn ra chậm, khó phát hiện, khó điều chỉnh
BĐKH là hiện tượng và quá trình diễn ra trong khí quyển của Trái Đất một cách rất chậm chạp, không rõ rệt (trong vòng 100 năm, nhiệt độ trung bình của Trái Đất tăng 0,74oC) Con người phải có mạng lưới quan trắc rộng khắp; có nhận xét, phát hiện tinh tế; có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại mới có khả năng nhận biết được
sự biến động này Mặt khác, sự BĐKH lại do nhiều nguyên nhân gây ra, biểu hiện ở mỗi khu vực trên Trái Đất cũng khác nhau nên khó điều chỉnh, thay đổi tình thế
Trang 81.1.2.4 BĐKH diễn ra với cường độ ngày một tăng và hậu quả nặng nề đối với con người
Các số liệu thống kê và các quan sát trong những năm gần đây cho thấy mức độ BĐKH gây ra ngày một lớn, mạnh và bất thường, trái hẳn với quy luật vốn có; và vì thế cũng gây nên những hậu quả và thiệt hại rất to lớn, khó lường như: lũ lụt, hạn hán, siêu bão, những đợt nóng lạnh bất thường hay xảy ra trên một diện rộng và vào bất kỳ thời điểm nào trong năm Đây thực sự là nguy cơ, là hiểm hoạ tự nhiên to lớn nhất mà loài người phải gánh chịu
1.1.3 Nguyên nhân của biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là hiện tượng đã từng xảy ra nhiều lần trong lịch sử phát triển của Trái Đất Tiêu biểu và rõ nét nhất của biến đổi khí hậu là sự biến động của nhiệt độ trung bình của Trái Đất theo xu thế tăng lên hoặc giảm đi khiến cho Trái Đất trải qua các thời kỳ nóng lên hoặc lạnh đi
Qua quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã đi đến kết luận là có 2 nguyên nhân chính dẫn đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu: do những quá trình tự nhiên và do ảnh hưởng hoạt động của con người
1.1.3.1 Nguyên nhân do tự nhiên
Xuất phát từ nguồn gốc năng lượng chủ yếu cho mọi quá trình tự nhiên cũng như quyết định sự sống của sinh vật trên Trái Đất là nguồn năng lượng bức xạ Mặt Trời Nguồn năng lượng này tác động trực tiếp tới Trái Đất thông qua những diễn biến trong khí quyển Khi nguồn năng lượng này có những biến động bất thường, tất yếu sẽ dẫn đến biến đổi khí hậu Trái Đất Sự biến động bất thường của nguồn năng lượng bức xạ Mặt Trời chiếu tới bề mặt Trái Đất có thể do các nguyên nhân sau:
- Cường độ bức xạ Mặt Trời thay đổi tuỳ theo sự hoạt động và biến động của Mặt Trời, là nguồn cung cấp năng lượng cho Trái Đất
- Quỹ đạo chuyển động của Trái Đất trong hệ Mặt Trời luôn thay đổi cũng như tốc độ chuyển động của Trái Đất và khoảng cách giữa Trái Đất và Mặt Trời không bao giờ ổn định
- Góc nghiêng giữa trục quay của Trái Đất với mặt phẳng hoàng đạo cũng có sự thay đổi trong quá trình hình thành và phát triển của hệ Mặt Trời
- Khói bụi do hoạt động của núi lửa phun trào; sự va đập của các thiên thạch vào Trái Đất gây nên các vụ nổ rất lớn làm lớp không khí sát bề mặt đất trở nên mù mịt, ngăn cản năng lượng bức xạ Mặt Trời chiếu tới Trái Đất, khiến cho Trái Đất bị lạnh đi trong một thời gian dài
Trang 94
- Sự biến động của thành phần các chất khí trong khí quyển cũng luôn diễn ra, thường là khi thành phần hơi nước và điôxit cacbon (CO2) tăng lên làm cho nhiệt độ không khí cũng tăng lên
Các quá trình tự nhiên này thường diễn ra trong thời gian dài tới hàng triệu năm
và cũng có khi diễn ra theo chu kỳ kế tiếp nhau từ hàng nghìn năm tới hàng chục vạn năm Bởi vậy người ta cũng thường nói đó là sự biến đổi khí hậu trong thời kỳ địa chất
Khí hậu Trái Đất đã trải qua nhiều lần biến đổi Khoảng 65 triệu năm về trước, một thiên thạch khổng lồ va vào Trái Đất làm bề mặt Trái Đất bị bao phủ một lượng khói bụi dày đặc và Trái Đất bị chìm trong bóng tối một thời gian dài do không có ánh sáng Mặt Trời Trái Đất bị lạnh đi và loài khủng long bị tiêu diệt
Khoảng 40 triệu năm trước, Trái Đất cũng trải qua nhiều lần băng hà lạnh lẽo và gian băng ấm áp với chu kỳ mỗi lần khoảng 100 nghìn năm Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa kỳ băng hà và gian băng khoảng 5 - 7oC, riêng vùng cực khoảng 10 - 15oC Thời kỳ gian băng cách đây khoảng 125 - 130 nghìn năm, nhiệt độ trung bình của
bề mặt Trái Đất cao hơn thời kỳ tiền công nghiệp (1750) khoảng 2oC và mực nước biển trung bình cao hơn trong thế kỷ XX từ 4 - 6 m
Thời kỳ băng hà cuối cùng kết thúc cách đây khoảng 10 - 15 nghìn năm Sau thời
kỳ này, Trái Đất ấm dần lên, các sinh vật mới dần dần phát triển
Đầu thế kỷ XIV, châu Âu trải qua một thời kỳ băng hà nhỏ kéo dài khoảng vài trăm năm Những khối băng khổng lồ hình thành và những mùa đông khắc nghiệt làm cho mùa màng thất bát, dẫn đến nạn đói, nhiều gia đình phải di cư đi nơi khác
1.1.3.2 Nguyên nhân do con người
Khí hậu Trái Đất hiện nay đang nóng lên cũng giống như chúng ta đang sống trong một nhà kính Trong nhà kính, ánh sáng Mặt Trời vẫn xuyên qua Mặt đất trong nhà kính hấp thu năng lượng bức xạ Mặt Trời nóng lên lại bức xạ trở lại lớp không khí trong nhà kính Lớp không khí này hấp thu và giữ lại nguồn năng lượng bức xạ sóng dài vì thế nóng lên, sinh ra hiệu ứng nhà kính Những quan trắc và đo đạc trong vòng hơn 200 năm gần đây người ta nhận thấy nhiệt độ trung bình của Trái Đất tăng lên có liên quan chặt chẽ với sự gia tăng nồng độ của các chất khí như CO2, CH4 và một số chất khí khác Các chất khí này có đặc tính hấp thu rất mạnh nguồn năng lượng bức xạ sóng dài làm cho các lớp không khí ở sát mặt đất nóng lên giống như khả năng giữ nhiệt trong nhà kính.Vì thế các chất khí này được gọi là khí nhà kính Sự tăng nồng độ của khí nhà kính sẽ dẫn đến sự tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyển và dẫn đến kết quả là làm tăng nhiệt độ trung bình của Trái Đất
Đặc điểm của khí nhà kính là chúng tồn tại khá lâu trong khí quyển, từ vài tháng đến vài trăm năm, luôn được xáo trộn nhanh chóng và làm thay đổi thành phần không khí trong khí quyển Do vậy các chất khí nhà kính được phát thải vào khí quyển bất kỳ
từ nguồn nào và bất kỳ ở đâu cũng đều có ảnh hưởng tới khắp mọi nơi trên Trái Đất
Vì thế sự biến đổi khí hậu không phải mang tính cục bộ, riêng rẽ mà là vấn đề mang tính toàn cầu
Trang 105
Chính con người qua các hoạt động sản xuất như sử dụng nhiên liệu hóa thạch để sản xuất năng lượng, hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải, sản xuất nông nghiệp, đốt phá rừng, tạo ra lượng phát thải khí nhà kính ngày một lớn, khó kiểm soát Trong số các chất khí nhà kính thì CO2 là chất khí đóng vai trò quan trọng nhất vì
nó chiếm tới một nửa khối lượng khí nhà kính và đóng góp tới 60% khả năng làm tăng nhiệt độ không khí Chính vì thế chỉ số CO2 được lựa chọn là chỉ tiêu quan trọng nhất
để xác định và tính toán các kịch bản biến đổi khí hậu
Từ giữa thế kỷ XVIII, nhân loại bước vào thời kỳ sản xuất công nghiệp đòi hỏi
sử dụng rất nhiều năng lượng, nguyên liệu Con người phải đốt nhiều loại nhiên liệu hóa thạch và thải vào khí quyển ngày càng nhiều CO2 Các số liệu đo đạc cho thấy chỉ trong vòng 250 năm, từ năm 1750 đến năm 2000, nồng độ khí CO2 trong khí quyển đã tăng lên khoảng 28%, từ 280ppm lên 370ppm và tính trung bình tổng lượng CO2 trong khí quyển tăng từ 0,5 đến 1% mỗi năm Lượng CO2 trong khí quyển tăng lên còn do việc sử dụng ngày càng nhiều các phương tiện giao thông, hoạt động sản xuất nông nghiệp và đặc biệt là nạn đốt phá rừng, cháy rừng chẳng những thải vào khí quyển nhiều khí CO2 mà còn làm giảm hẳn khả năng hấp thụ khí CO2 trong không khí
CH4 là loại khí nhà kính quan trọng thứ hai sau khí CO2 chủ yếu do hoạt động sản xuất nông nghiệp gây ra từ sự phân giải yếm khí của các thải hữu cơ Khí
CH4 cũng có thể do các mỏ than, giếng dầu và các ống dầu khí rò rỉ ra Tính chung, nồng độ khí CH4 trong khí quyển tăng lên rất nhanh và hoạt động của con người đã chiếm một nửa trong số tăng đó
Theo tính toán của các nhà khoa học, tỷ lệ phần trăm của các chất khí gây nên hiệu ứng nhà kính hiện nay là: CO2 50%; CFCs 20%; CH4 16%, O3 8%, N2O 6%; tỷ lệ phần trăm của các hoạt động con người sản sinh ra các khí nhà kính là: sản xuất điện năng 21,3%; nông nghiệp 12,5%; khai thác, chế biến và phân phối nhiên liệu 11,3%; thương mại và tiêu dùng 10,3%; sử dụng và đốt cháy sinh khối 10,0%; rác thải 3,4%
O3 là loại khí nhà kính quan trọng thứ ba sau khí mêtan Ôzôn có nguồn gốc tự nhiên và do hoạt động của con người thải vào khí quyển từ việc sử dụng các động cơ, các nhà máy điện Hiện nay hàm lượng khí ôzôn ở tầng đối lưu đã tăng lên khoảng 35% so với thời kỳ tiền công nghiệp
N2O là khí nhà kính có nguồn gốc tự nhiên, chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong thành phần khí quyển Tuy vậy, do hoạt động của con người đốt các loại nhiên liệu, đốt phá rừng, sản xuất các hóa chất, sử dụng phân hóa học đã làm cho nồng độ ôxit ni tơ tăng lên khoảng 8% trong khoảng 100 năm gần đây và làm tăng 15% lượng ôxit nitơ trong khí quyển
Ngoài các chất khí nhà kính có nguồn gốc tự nhiên kể trên, hoạt động sản xuất của con người còn tạo ra một chất khí nhà kính mới là Cloruafluo cacbon (CFCs) gọi tắt là chất CFC Chất CFC mới được sản xuất từ năm 1930 và được sử dụng rộng rãi trong kỹ thuật làm lạnh như máy làm nước đá, tủ lạnh, điều hòa nhiệt độ, máy lạnh, bình xịt bọt khí, các chất tẩy rửa Nồng độ chất CFC trong khí quyển tăng lên nhanh chóng trong mấy chục năm gần đây Chất CFC nguy hại ở chỗ vừa là khí nhà kính vừa
Trang 116
có tác động phá huỷ tầng ôzôn ở tầng bình lưu nên ảnh hưởng nhiều đến biến đổi khí hậu CFC đã bị cấm sản xuất từ 1995 vì thế từ năm 1995 trở lại đây, nồng độ khí CFC trong khí quyển đã giảm đi rõ rệt
1.2 BIỂU HIỆN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU
Những biểu hiện chính, thể hiện rất rõ nét của biến đổi khí hậu toàn cầu là: nhiệt
độ tăng, khí hậu Trái Đất ấm lên; sự dâng cao của mực nước biển; sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển; sự xuất hiện của những thiên tai bất thường, trái quy luật,
có cường độ của quy mô lớn
1.2.1 Nhiệt độ tăng, khí hậu trái đất nóng lên
Nhiệt độ không khí của Trái Đất đang có xu hướng tăng khiến cho Trái Đất ấm lên, cao hơn nhiệt độ trung bình hiện nay (15oC) Từ năm 1850 đến nay, nhiệt độ trung bình đã tăng 0,74oC; trong đó nhiệt độ tại 2 cực của Trái Đất tăng gấp 2 lần so với số liệu trung bình toàn cầu, nhiệt độ trên đất liền tăng nhiều hơn ở trên biển Nhiệt độ trung bình của Trái Đất đã tăng lên rõ rệt trong thời kỳ 1920 - 1940, sau đó giảm dần trong khoảng giữa những năm 1960 và lại tiếp tục tăng từ sau năm 1975 Đây là thời
kỳ nhiệt độ Trái Đất cao nhất trong vòng 600 năm trở lại đây và thập kỷ 1990 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua
Bước sang thế kỷ XXI, nhiệt độ Trái Đất tiếp tục tăng Năm 2002 chuẩn sai nhiệt độ (độ lệch chuẩn so với nhiệt độ trung bình) là +0,48oC Năm 2003 nhiệt độ trung bình của Trái Đất tăng 0,46oC so với trung bình của thời kỳ 1971 – 2000; trong đó chuẩn sai nhiệt độ ở bán cầu Bắc là +0,59oC, ở bán cầu Nam là +0,32oC
Ở Bắc Cực, nhiệt độ tăng nhiều hơn ở các vĩ độ ôn đới Nhiệt độ trung bình năm
ở Greenland thời kỳ 1910 - 1940 tăng trên 3oC so với cuối thế kỷ 19 Băng hà ở các vùng núi cao ở Na Uy và trên dãy Alps bắt đầu rút lui từ khoảng những năm 50 - 70 của thế kỷ XIX và mạnh mẽ hơn ở thế kỷ XX, đặc biệt vào các năm 1920, 1980
Các dự báo của các nhà khoa học cho thấy đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trung bình của Trái Đất có thể sẽ tăng 2,0oC - 4,5oC so với cuối thế kỷ XX Trái Đất sẽ nóng lên khá rõ rệt
1.2.2 Mực nước biển dâng cao
Các đo đạc và tính toán cho thấy cùng với sự tăng lên của nhiệt độ là sự tăng lên của mực nước biển trên các đại dương thế giới Tính chung, mực nước biển trung bình lên
10 - 25cm với tốc độ tăng trung bình 1 - 2mm/năm trong thế kỷ XX Thời kỳ 1993 -
2003 mức nước biển đã dâng cao khoảng 2,8mm/năm, trong đó tăng khoảng 1,6mm/năm do giãn nở nhiệt độ và khoảng 1,2mm/năm do băng tan Đáng chú ý là trong thời gian gần đây, thời kỳ 1993 - 2003, mực nước biển dâng nhanh đáng kể so với khoảng thời kỳ trước đó từ 1961 - 2003
Các ảnh vệ tinh cho thấy diện tích phủ băng ở Bắc Băng Dương đã thu hẹp khoảng 2,7% cho mỗi thập kỷ, trong đó mùa hạ giảm tới 7,4% Diện tích phủ băng trên các đảo lớn ở vùng Bắc Cực (Greenland) hoặc trên các đỉnh núi cao (Alps, Hymalaya, Kilimanjaro) cũng giảm đi rõ rệt sau mỗi thập kỷ
Trang 127
1.2.3 Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển
Tác động của những hoạt động do con người gây ra cùng với những tác động của
tự nhiên như núi lửa, cháy rừng, hạn hán, bão, lũ lụt đã làm cho thành phần của khí quyển thay đổi rất nhiều Đó là sự gia tăng của các chất khí nhà kính trong khí quyển, tuy chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, nồng độ rất thấp so với hai chất khí chủ yếu là N2 (78%) và O2
(21%) nhưng tác hại của chúng lại rất lớn Chất lượng khí quyển vì thế giảm sút rất nhanh Chẳng những chúng trực tiếp gây nên hiệu ứng nhà kính làm tăng nhiệt độ không khí và khiến Trái Đất nóng lên mà còn là các khí độc hại ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống sinh vật nói chung, của con người nói riêng; ảnh hưởng tới các quá trình tự nhiên và mọi mặt hoạt động của con người một cách trực tiếp và gián tiếp
1.2.3.1 Hiệu ứng nhà kính
Hiệu ứng nhà kính do Jean Baptiste Joseph Fourier (Pháp) đặt tên, dùng để chỉ hiệu ứng xảy ra khi năng lượng bức xạ của tia sáng Mặt Trời xuyên qua các cửa sổ hoặc mái nhà bằng kính, được hấp thụ và phân tán trở lại thành nhiệt cho bầu không khí bên trong nhà, dẫn đến việc sưởi ấm toàn bộ không gian bên trong nhà chứ không chỉ ở những chỗ được chiếu sáng Hiệu ứng này đã được sử dụng trong các nhà kính trồng cây ở nơi khí hậu lạnh Nó cũng được sử dụng trong kiến trúc, dùng năng lượng Mặt Trời một cách thụ động để tiết kiệm chất đốt sưởi ấm nhà ở Trong khí quyển cũng xảy ra hiện tượng tương tự gọi là hiệu ứng nhà kính khí quyển Khi các tia bức xạ sóng ngắn (chẳng hạn tia cực tím) từ Mặt Trời xuyên qua bầu khí quyển đến mặt đất
và được phản xạ trở lại thành các bức xạ nhiệt, một số phân tử trong khí quyển (trong
đó chủ yếu là đioxit các bon (C02) và hơi nước) có thể hấp thụ những bức xạ nhiệt này
và nhờ đó giữ hơi ấm lại trong bầu khí quyển
Sự thay đổi nồng độ của các khí nhà kính trong vòng 100 năm trở lại đây: đioxit các bon tăng 20%, metal tăng 90%, …) đã làm tăng nhiệt độ Trái Đất lên 2oC Tới cuối thế kỷ XXI nhiệt độ tăng thêm từ 1,4oC – 4oC (gọi là hiệu ứng nhà kính nhân loại, tức
là hiệu ứng nhà kính do con người gây ra)
1.2.3.2 Suy giảm ôzôn tầng bình lưu
Ôzôn là một chất độc có khả năng ăn mòn và là một chất gây ô nhiễm chung Nó
có mùi hăng mạnh Nó tồn tại với một tỷ lệ nhỏ trong bầu khí quyển Trái Đất, có thể được tạo thành từ O2 do phóng tĩnh điện, tia cực tím, ví dụ như trong các tia chớp, cũng như bởi tác động của bức xạ điện từ trường năng lượng cao
Trong điều kiện nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn ôzôn là một chất khí có màu xanh nhạt Ôzôn hóa lỏng màu xanh thẫm ở -112°C và hóa rắn có màu xanh thẫm ở -193°C Ôzôn có tính ôxy hóa mạnh hơn ôxy nhưng nó kém bền hơn ôxy, dễ bị phân hủy thành ôxy thường theo phản ứng: 2O3 → 3O2.
Ôzôn do Christian Friedrich Schonbein phát hiện năm 1840 Mật độ tập trung cao nhất của ôzôn trong khí quyển nằm ở tầng bình lưu (khoảng 20 đến 50 km tính từ mặt đất), trong khu vực được biết đến như là tầng ôzôn Tại đây, nó lọc phần lớn các tia cực tím, là tia có thể gây hại cho phần lớn sinh vật trên Trái Đất Việc giảm ôzôn trong không khí sẽ làm tăng mức độ các tia cực tím ở gần mặt đất
Trang 138
Sự suy giảm ôzôn đang được quan sát thấy và các dự đoán suy giảm trong tương lai đã trở thành một mối quan tâm toàn cầu, dẫn đến việc công nhận Nghị định thư Montreal hạn chế và cuối cùng chấm dứt hoàn toàn việc sử dụng và sản xuất các hợp chất cácbon của clo và flo (CFC - chlorofluorocacbons) cũng như các chất hóa học gây suy giảm tầng ôzôn khác như tetraclorit cácbon, các hợp chất của brôm (halon)
và methylchloroform
1.2.3.3 Ô nhiễm không khí
Ô nhiễm không khí là sự có mặt các chất lạ hoặc một sự biến đổi đáng kể trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự toả mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (do bụi)
* Nguồn gây ô nhiễm: có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí Có thể chia ra
thành nguồn tự nhiên và nguồn nhân tạo
+ Nguồn tự nhiên
- Núi lửa: Núi lửa phun ra những nham thạch nóng và nhiều khói bụi giàu sunfua, mêtan và những loại khí khác Không khí chứa bụi lan toả đi rất xa vì nó được phun lên rất cao
- Cháy rừng: Các đám cháy rừng và đồng cỏ bởi các quá trình tự nhiên xảy ra do sấm chớp, cọ sát giữa thảm thực vật khô như tre, cỏ Các đám cháy này thường lan truyền rộng, phát thải nhiều bụi và khí
- Bão bụi: gây nên do gió mạnh và bão, mưa bào mòn đất sa mạc, đất trồng và gió thổi tung lên thành bụi Nước biển bốc hơi và cùng với sóng biển tung bọt mang theo bụi muối lan truyền vào không khí
- Các quá trình phân huỷ, thối rữa xác động, thực vật tự nhiên: cũng phát thải nhiều chất khí, các phản ứng hoá học giữa những khí tự nhiên hình thành các khí sunfua, nitrit, các loại muối v.v Các loại bụi, khí này đều gây ô nhiễm không khí + Nguồn nhân tạo
Nguồn gây ô nhiễm nhân tạo rất đa dạng, nhưng chủ yếu là do hoạt động công nghiệp, đốt cháy nhiên liệu hoá thạch và hoạt động của các phương tiện giao thông Nguồn ô nhiễm công nghiệp do hai quá trình sản xuất gây ra:
- Quá trình đốt nhiên liệu thải ra rất nhiều khí độc đi qua các ống khói của các nhà máy vào không khí
- Do bốc hơi, rò rỉ, thất thoát trên dây chuyền sản xuất sản phẩm và trên các đường ống dẫn tải Nguồn thải của quá trình sản xuất này cũng có thể được hút và thổi
ra ngoài bằng hệ thống thông gió
- Các ngành công nghiệp chủ yếu gây ô nhiễm không khí bao gồm: nhiệt điện; vật liệu xây dựng; hoá chất và phân bón; dệt và giấy; luyện kim; thực phẩm; các xí nghiệp cơ khí; các nhà máy thuộc ngành công nghiệp nhẹ; giao thông vận tải; bên cạnh
đó phải kể đến sinh hoạt của con người
* Các chất và tác nhân gây ô nhiễm:
+ Các loại oxit như: nitơ oxit (NO, NO2), nitơ đioxit (NO2), SO2, CO, H2S và các loại khí halogen (clo, brom, iôt) Các hợp chất flo Các chất tổng hợp (ête, benzen); các
Trang 149
chất lơ lửng (bụi rắn, bụi lỏng, bụi vi sinh vật), nitrat, sunfat, các phân tử cacbon, sol khí, muội, khói, sương mù, phấn hoa; các loại bụi nặng, bụi đất, đá, bụi kim loại như đồng, chì, sắt, kẽm, niken, thiếc, cađimi ; khí quang hoá như ozôn, FAN, FB2N, NOX, anđehyt, etylen ; chất thải phóng xạ; nhiệt độ; tiếng ồn
+ Tác nhân ô nhiễm được chia làm hai loại: sơ cấp và thứ cấp Sunfua đioxit sinh
ra do đốt cháy than, đó là tác nhân ô nhiễm sơ cấp, tác động trực tiếp tới bộ phận tiếp nhận Sau đó, khí này lại liên kết với ôxy và nước của không khí sạch để tạo thành axit sunfuric (H2SO4) rơi xuống đất cùng với nước mưa, làm thay đổi pH của đất và của thuỷ vực, tác động xấu tới nhiều sinh vật Như vậy, mưa axit là tác nhân ô nhiễm thứ cấp được tạo thành do sự kết hợp SO2 với nước Cũng có những trường hợp, các tác nhân không gây ô nhiễm, liên kết quang hoá với nhau để tạo thành tác nhân ô nhiễm thứ cấp mới, gây tác động xấu Cơ thể sinh vật phản ứng đối với các tác nhân ô nhiễm phụ thuộc vào nồng độ ô nhiễm và thời gian tác động Các khí nhân tạo nguy hiểm nhất đối với sức khoẻ con người và khí quyển Trái Đất đã được biết đến gồm: Cacbon đioxit (CO2); Dioxit sunfua (SO2); Cacbon monoxit (CO); Nitơ oxit (N2O); Clorofluorocacbon (còn gọi là CFC) và Mêtan (CH4)
1.2.4 Sự xuất hiện và gia tăng của các thiên tai
Các thiên tai có liên quan đến khí quyển, đến sự biến đổi khí hậu trên quy mô toàn cầu như bão lớn (siêu bão), lốc xoáy, lũ lụt, lũ quét, hạn hán, trở nóng, trở lạnh, xảy
ra thường xuyên hơn, đột ngột và bất thường hơn, trái với các quy luật thông thường, cường độ cũng lớn hơn, quy mô cũng rộng lớn hơn Các thiên tai này đã gây nên những thiệt hại vô cùng nặng nề, những thảm hoạ cho nhân loại do khó dự báo trước, khó phòng tránh và lường trước hết các hậu quả do chúng mang lại
1.3 KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU
Theo Báo cáo của Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), kịch bản biến đổi khí hậu (CS) là giả định có cơ sở khoa học và tin cậy về sự tiến triển trong tương lai của các quan hệ kinh tế - xã hội, GDP, phát thải khí nhà kính (KNK), biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng Kịch bản biến đổi khí hậu khác với dự báo thời tiết /khí hậu là nó đưa ra quan điểm về mối ràng buộc giữa phát triển và hành động
Từ khi thành lập (1988) đến nay, IPCC đã 5 lần công bố báo cáo đánh giá biến đổi khí hậu vào các năm: 1990, 1992, 2001, 2007 và 2013
Trong mỗi báo cáo đánh giá biến đổi khí hậu đều có 2 - 4 trong số các kịch bản: Kịch bản phát thải KNK, kịch bản nồng độ khí CO2, kịch bản nhiệt độ trung bình, kịch bản lượng mưa, kịch bản các hiện tượng thời tiết cực đoan và kịch bản mực nước biển dâng
1.3.1 Kịch bản phát thải KNK
Kịch bản phát thải KNK 2001 bao gồm 4 họ với các đặc trưng cơ bản về kinh tế,
kỹ thuật, môi trường của thế giới
đó giảm dần; Xuất hiện nhanh chóng nhiều công nghệ hiệu quả; Cơ sở hạ tầng đồng
đều giữa các khu vực trên thế giới
Trang 1510
Họ kịch bản A1 được chia thành ba nhóm khác nhau:
- Nhóm A 1 FI: Phát triển nhiên liệu hóa thạch;
- Nhóm A 1 T: Phát triển nhiên liệu phi hóa thạch;
theo khu vực; Tăng trưởng kinh tế đầu người và chuyển giao kỹ thuật chậm hơn các kịch
bản khác
* Họ B 1: Dân số đạt đỉnh vào giữa thế kỷ như họ A1; Thay đổi nhanh cấu trúc hướng tới nền kinh tế dịch vụ và thông tin; Giảm cường độ tiêu hao năng lượng đưa ra nhiều công nghệ sạch và hiệu quả nhưng không có sáng kiến bổ sung về khí hậu
* Họ B 2: Nhấn mạnh các giải pháp khu vực về kinh tế, xã hội, môi trường bền vững; Dân số tăng đều nhưng chậm hơn họ A2; Phát triển kinh tế vừa phải, chậm hơn nhưng thay đổi kỹ thuật nhiều hơn B1, A1; Chú trọng tính khu vực trên cơ sở bảo vệ môi trường và công bằng xã hội
Căn cứ vào lượng phát thải KNK vào những năm cuối thế kỷ XXI, người ta chia kịch bản trên thành ba nhóm:
Bảng 1 Tổng lượng phát thải CO 2 theo kịch bản phát thải 2001 (GtC/năm)
Kịch bản về nồng độ CO2 năm 2001 bao gồm 6 nhóm thuộc 3 loại dựa vào nồng
độ vào cuối thế kỷ XXI:
Bảng 2 Nồng độ khí CO 2 trong khí quyển theo kịch bản năm 2001 (phần triệu)
Trang 1611
Bảng 3 Mức tăng nhiệt độ toàn cầu vào cuối thế kỷ XXI (oC)
so với thời kỳ 1980 - 1999 theo kịch bản 2007
Bảng 4 Mức thay đổi lượng mưa thời kỳ 2071 - 2100
so với thời kỳ 1961 - 1990 theo kịch bản A 2 và kịch bản B 2
Khu vực
Lượng mưa mùa đông
Lượng mưa mùa hạ
Lượng mưa mùa đông
Lượng mưa mùa hạ
Trang 1712
1.3.5 Kịch bản về các hiện tượng thời tiết cực đoan
Cũng như lượng mưa, trong các báo cáo của IPCC không có riêng kịch bản về hiện tượng thời tiết cực đoan Trong tài liệu này trình bày các nhận định về sự biến đổi hiện tượng đặc biệt trong các báo cáo đánh giá của IPCC vào các năm: 1990, 2001 và 2007
* Nhận định về thời tiết cực đoan trong báo cáo đánh giá thứ nhất
- Tần số nhiệt độ vượt qua các cực đại sẽ gia tăng trong khi tần số nhiệt độ dưới các cực tiểu giảm đi
- Số ngày rất nóng tăng lên trong khi đó số đêm giá lạnh giảm đi
- Mặc dù nhiệt độ nước biển tăng lên song các mô hình khí hậu không thể hiện được nhất quán rằng bão nhiệt đới tăng lên hay giảm đi về tần số và cường độ
* Nhận định về thời tiết cực đoan trong báo cáo đánh giá thứ ba
- Trên hầu hết các khu vực:
+ Nhiệt độ cao nhất cao hơn, nhiệt độ thấp nhất cao hơn
+ Nhiều ngày nóng hơn, nhiều đợt nóng hơn, ít đợt lạnh hơn
+ Ít ngày lạnh hơn, ít ngày sương giá hơn
- Trên nhiều khu vực, nhiều đợt mưa lớn hơn
- Trên hầu hết vĩ độ trung bình, mùa hạ ít mưa hơn dẫn đến hạn hán gia tăng
- Trên nhiều lĩnh vực khác nhau, gia tăng hạn hán và lũ lụt liên quan đến ENSO
- Gia tăng biến động của lượng mưa gió mùa châu Á
- Gia tăng cường độ bão vĩ độ trung bình
* Nhận định về thời tiết cực đoan trong báo cáo đánh giá thứ tư
- Trên hầu hết khu vực, lục địa gia tăng số ngày nóng
- Tần số đợt nóng, tần số mưa lớn gia tăng trên hầu hết khu vực lục địa
- Khu vực hạn hán gia tăng
- Gia tăng hoạt động xoáy thuận nhiệt đới mạnh, ngập lụt do nước biển dâng cao
1.3.6 Kịch bản nước biển dâng
Các kịch bản nước biển dâng được trình bày trong cả 5 báo cáo đánh giá của IPCC, tạm gọi là các kịch bản nước biển dâng 1990, 1992, 2001, 2007 và 2013
Trong kịch bản năm 2007, thời kỳ 1980 - 1999 được chọn để so sánh mực nước biển dâng vào cuối thế kỷ XXI với ba nhóm nước biển dâng khác nhau tương ứng với
ba nhóm phát thải KNK:
Bảng 5 Mực nước biển dâng vào năm 2100 so với thời kỳ 1980 - 1999
Trang 1813
1.4 TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU
1.4.1 Một số biến đổi của các hệ tự nhiên và hệ sinh thái
Các hệ tự nhiên và các hệ sinh thái trên Trái Đất đã được hình thành trong một quá trình lâu dài và tương đối ổn định Khí hậu là một thành phần quan trọng của các
hệ tự nhiên cũng như các hệ sinh thái
Theo quy luật về tính thống nhất và hoàn chỉnh trong lớp vỏ địa lý, khi có bất kỳ một thành phần nào trong số các quyển thành phần là thạch quyển, khí quyển, thủy quyển, thổ nhưỡng quyển và sinh quyển mà thay đổi thì lập tức sẽ dẫn đến sự thay đổi của cả
hệ tự nhiên trên Trái Đất Sự nóng lên của Trái Đất, sự mở rộng của các đại dương cũng như sự thu hẹp diện tích các lục địa do nước biển dâng, sự xuất hiện ngày càng nhiều và mức độ ác liệt của các thiên tai đã có tác động lớn và sâu sắc tới các hệ tự nhiên Đó là
sự mở rộng của vòng đai nhiệt đới về phía hai cực của Trái Đất, sự thu hẹp của vành đai băng tuyết trên các đỉnh núi cao, sự mất đi của nhiều loài sinh vật do không thích nghi nổi với những biến động mạnh mẽ của khí hậu
Khí hậu là một thành phần rất quan trọng, nhiều khi có ý nghĩa quyết định đến các hệ sinh thái Trong số các hệ sinh thái đã được định hình và ổn định tại các vùng tự nhiên trên Trái Đất, có nhiều hệ sinh thái dễ bị tổn thương, bị biến đổi sâu sắc do sự biến đổi khí hậu như các hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái của vùng đồng bằng thấp ven biển, hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái cỏ biển, hệ sinh thái núi cao, Ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu có thể là trực tiếp (do nhiệt độ tăng, thiên tai nhiều) có thể là gián tiếp (nước biển dâng) nhưng đều có tác động sâu sắc đến các hệ sinh thái mà rõ nét nhất là sự suy giảm của đa dạng sinh học, sự xuất hiện của nhiều loại bệnh dịch cho con người và sinh vật nói chung
1.4.2 Tác động của biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội
Các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội của con người tại các quốc gia trên thế giới rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên, tác động của BĐKH tới các lĩnh vực kinh tế -
xã hội cũng có các mức độ và quy mô khác nhau
1.4.2.1 Tác động đối với sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
Đối với sản xuất nông nghiệp, sản lượng nông nghiệp có thể tăng do lượng
CO2 tăng; nhưng đất trồng sẽ bị suy thoái nhiều hơn do bị tổn thất chất hữu cơ, nhiễm mặn và xói mòn; chăn nuôi gia súc gia cầm bị giảm do giá thức ăn tăng, dịch bệnh nhiều Các tai biến thiên nhiên như bão lụt, hạn hán sẽ làm mất mùa, đời sống của nhân dân sẽ gặp nhiều khó khăn
Đối với rừng và thảm thực vật tự nhiên, biến đổi khí hậu theo chiều hướng nóng lên sẽ mở rộng phạm vi sinh sống của cây họ Dầu (Diptero carpaceae) ra khỏi vùng nhiệt đới và lên các đai cao hơn ở miền núi; diện tích rừng rụng lá và các cây chịu hạn
sẽ mở rộng do tình trạng khô hạn kéo dài; một số loài ưa lạnh như pơmu, hoàng đàn, lát hoa, trầm hương, bị suy thoái, thậm chí bị tuyệt chủng Tình trạng sâu bệnh trong thảm thực vật tự nhiên cũng gia tăng và kèm theo đó là nguy cơ cháy rừng do bị khô hạn kéo dài
Trang 1914
Đối với thủy sản, hậu quả do biến đổi khí hậu làm nước biển dâng gây thiệt hại đáng kể cho hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái cửa sông, ảnh hưởng đến điều kiện sống của các loại thủy sản nước ngọt Theo dự báo ước tính trữ lượng của các loài thủy hải sản có giá trị kinh tế có thể bị giảm đi tới 1/3 so với hiện tại Mặt khác, nhiệt
độ nước biển tăng có thể gây xáo trộn trong phân tầng nước, cơ cấu của các loài sinh vật và nguồn thức ăn theo độ sâu dẫn đến tình trạng di chuyển đến nơi khác của nhiều loài sinh vật biển, thậm chí có thể làm giảm kích thước, trọng lượng của nhiều loài thủy sinh
1.4.2.2 Tác động đối với công nghiệp, năng lượng và xây dựng
Đối với sản xuất công nghiệp nhất là công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy hải sản bị lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu luôn có sự biến động Nguồn cung cấp nước cho nhiều ngành công nghiệp như năng lượng, dệt, khai thác và chế biến khoáng sản, cũng gặp rất nhiều khó khăn do không chủ động điều tiết được
1.4.2.3 Tác động đến giao thông vận tải và du lịch
Đối với ngành giao thông vận tải, sự biến đổi khí hậu nói chung là bất lợi Các thiên tai, lũ lụt, trượt lở đất có ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều loại phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ Nhiệt độ tăng làm tiêu hao năng lượng của các động cơ, chi phí cho đổi mới công nghệ hạn chế chất thải khí nhà kính càng tăng lên, chi phí cho đảm bảo an toàn giao thông, nạo vét luồng lạch cho giao thông thủy cũng rất tốn kém
Đối với ngành du lịch, biến đổi khí hậu theo xu thế Trái Đất nóng lên sẽ tạo điều kiện thuận lợi để kéo dài mùa du lịch hạ khiến cho miền biển và miền núi có cơ hội phát triển loại hình du lịch nghỉ mát, nghỉ dưỡng Đồng thời cũng cần phải lường trước
và nhìn nhận những khó khăn do sự biến đổi khí hậu gây ra Các bãi tắm ven biển và trên đảo vốn đã định hình nhiều năm với các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch sẵn có sẽ bị thu hẹp lại, cảnh quan rạn san hô dưới nước, rừng ngập mặn ở khu vực bãi triều bị biến đổi Dòng khách du lịch trong nước và quốc tế biến động bất thường do lệ thuộc vào điều kiện thời tiết, khí hậu và những thiên tại Chi phí cho các chuyến du lịch trở nên đắt đỏ hơn,
1.4.2.4 Tác động đối với sức khỏe và đời sống của con người
Theo đánh giá của IPCC, có 6 vấn đề chính về tác động của biến đổi khí hậu gây
ra đối với sức khỏe và đời sống của con người là: các áp lực về sự tăng nhiệt độ, các hiện tượng cực trị và các thiên tai, ô nhiễm không khí, các bệnh nhiễm khuẩn, các vấn
đề liên quan đến vùng ven biển, những vấn đề liên quan đến lương thực và dinh dưỡng, những đổ vỡ về kế hoạch dân số và kinh tế
Những vấn đề này có liên quan trực tiếp đối với mọi người dân, không loại trừ một ai và ở bất cứ nơi nào trên Trái Đất
1.4.3 Tác động của biến đổi khí hậu đối với các khu vực đặc biệt
Biến đổi khí hậu diễn ra trên phạm vi toàn cầu, tuy nhiên biểu hiện và tác động của nó tại các khu vực trên thế giới rất khác nhau
Trang 2015
Sự tăng nhiệt độ lớn nhất diễn ra ở khu vực phía Bắc của Bắc Mỹ, Bắc Á và Trung
Á Nhiệt độ tăng ít hơn ở Nam Á và Đông Nam Á vào mùa hạ, ở phía Nam của Nam
Mỹ vào mùa đông Nhiệt độ tăng không lớn lắm ở Bắc Đại Tây Dương và quanh vùng biển Nam Cực
Các dự báo cho thấy lượng mưa sẽ tăng lên ở các khu vực vĩ độ cao của bán cầu Bắc cả trong mùa hạ và mùa đông; ở các vĩ độ trung bình của bán cầu Bắc, vùng nhiệt đới châu Phi và Nam Cực vào mùa đông; Nam Á và Đông Nam Á vào mùa hạ Ở Úc, Trung Mỹ và Nam Phi lượng mưa giảm vào mùa đông
Tác động của BĐKH cũng diễn ra không đồng đều trên các khu vực Nói chung các vùng đồng bằng thấp và dải ven biển, đảo là nơi chịu ảnh hưởng to lớn và sâu sắc nhất của BĐKH
Nước biển dâng sẽ làm ngập lụt các vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn của các con sông lớn trên thế giới Đồng bằng sông Nin ở Ai Cập, sông Hằng ở Banglađet, sông Mê Công ở Việt Nam là 3 vùng đồng bằng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của nước biển dâng Nhiều đảo có độ cao dưới 3m trong đó chủ yếu là các đảo trong Thái Bình Dương thuộc châu Đại Dương đều có nguy cơ bị phủ ngập
Tại các khu vực hoang mạc và bán hoang mạc tình trạng khô hạn có thể trở nên tồi tệ hơn do tình trạng khô hạn, hạn hán kéo dài
Trang 2116
CHƯƠNG 2 BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VIỆT NAM
2.1 BIỂU HIỆN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM
2.1.1 Biến đổi của các yếu tố khí hậu cơ bản
2.1.1.1 Biến đổi nhiệt độ trung bình
Biến đổi về nhiệt độ thể hiện qua biến đổi nhiệt độ không khí trung bình tháng 1 (tháng chính đông), tháng 7 (tháng chính hạ) và nhiệt độ không khí trung bình năm
Bảng 6 Mức tăng nhiệt độ theo xu thế trong 50 năm qua ở các vùng khí hậu
và trung bình cho cả nước
- Ở đồng bằng Bắc Bộ: Trạm Hà Nội nhiệt độ trung bình tháng 1, tháng 7 và cả năm có xu thế tăng từ 0,2 - 0,4oC Tại trạm Hải Dương tháng 1 nhiệt độ trung bình có
xu thế tăng, tháng 7 nhiệt độ có xu thế giảm, cả năm nhiệt độ trung bình có xu thế tăng không đáng kể Tại trạm Nam Định nhiệt độ trung bình tháng 1 có xu thế tăng, nhiệt
độ trung bình tháng 7 có xu thế giảm không đáng kể nhưng nhiệt độ trung bình năm có
xu thế tăng gần bằng 0,5oC
- Ở Bắc Trung Bộ: nhiệt độ trung bình có xu thế tăng 0,4oC, nhiệt độ trung bình tháng 7 có xu thế tăng khoảng 0,2oC, nhiệt độ trung bình năm cũng có xu thế tăng khoảng 0,2 - 0,3oC
- Ở Nam Trung Bộ: nhiệt độ trung bình tháng 1 có xu thế tăng khoảng 0,8oC, nhiệt độ trung bình tháng 7 có xu thế tăng khoảng 0,3oC, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5oC Đối với trạm Nha Trang nhiệt độ trung bình tháng 1 có xu thế tăng như-
ng không đáng kể, nhiệt độ tháng 7 có xu thế giảm không đáng kể, nhiệt độ trung bình năm không thay đổi
- Ở Tây Nguyên: Nhiệt độ trung bình tháng 1 có xu thế tăng 1oC, nhiệt độ trung bình tháng 7 có xu thế tăng 0,9oC, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 1oC Đối với trạm Buôn Ma Thuột nhiệt độ trung bình tháng 1 tăng khoảng 0,9oC nhiệt độ trung bình tháng 7 tăng khoảng 0,38oC nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5oC
Trang 2217
- Ở miền Đông Nam Bộ: Trạm TP Hồ Chí Minh nhiệt độ trung bình tháng 1 và tháng 7 không tăng nhưng nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,2oC so với trung bình nhiều năm
- Ở đồng bằng sông Cửu Long: Trạm Cần Thơ nhiệt độ trung bình tháng 1 có xu thế tăng vào những năm gần đây khoảng 0,5oC, nhiệt độ trung bình tháng 7 cũng tăng khoảng 0,5oC và nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5oC Đối với trạm Bạc Liêu nhiệt độ trung bình tháng 1 có xu thế tăng dần và nhiệt độ trung bình tháng 7 có xu thế giảm khoảng 0,2oC nhưng nhiệt độ trung bình năm không đổi
Có thể nhận thấy nhiệt độ tháng I (tháng đặc trưng cho mùa đông), nhiệt độ tháng VII (tháng đặc trưng cho mùa hạ) và nhiệt độ trung bình năm tăng trên phạm vi cả nước trong 50 năm qua Nhiệt độ vào mùa đông tăng nhanh hơn so với vào mùa hạ và các vùng có nhiệt độ tăng nhanh hơn là Tây Bắc, Đông Bắc Bộ, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ (khoảng 1,3 - 1,5oC/50năm) Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ
có nhiệt độ tháng I tăng chậm hơn so với các vùng khí hậu phía Bắc (khoảng 0,6 - 0,9oC/50năm) Tính trung bình cho cả nước, nhiệt độ mùa đông ở nước ta tăng lên 1,2oC trong 50 năm qua Nhiệt độ tháng VII tăng khoảng 0,3 - 0,5oC/50năm trên tất cả các vùng khí hậu của cả nước Nhiệt độ trung bình năm tăng 0,5 - 0,6oC/50năm ở Tây Bắc, Đông Bắc Bộ, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, còn mức tăng nhiệt độ trung bình năm ở Nam Trung Bộ thấp hơn, chỉ vào khoảng 0,3oC/50năm Tính trung bình cho cả nước, nhiệt độ trung bình năm đã tăng lên khoảng 0,56oC trong 50 năm qua
Nghiên cứu dữ liệu khí tượng chi tiết của Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia cho thấy trong vòng 30 năm qua, ở Việt Nam nhiệt độ có xu hướng gia tăng đáng
kể, các tỉnh miền Bắc gia tăng nhiều hơn miền Nam, đặc biệt trong những tháng mùa
hạ với biên độ lớn hơn Tóm lại biến đổi nhiệt độ ở Việt Nam về cơ bản phù hợp với
xu thế biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra trên toàn cầu cũng như trong khu vực
Hình 1 Xu thế gia tăng nhiệt độ trung bình năm trên toàn cầu
(hình trên) và ở Việt Nam (hình dưới)
Trang 2318
2.1.1.2 Biến đổi ngày bắt đầu và kết thúc nhiệt độ qua 20 o C, 25 o C
Ngày bắt đầu và kết thúc nhiệt độ qua 20oC, 25oC có ý nghĩa rất quan trọng để sắp xếp cơ cấu thời vụ cho cây trồng đặc biệt là xác định mùa sinh trưởng của sinh vật
ở các vùng
* Ngày bắt đầu và kết thúc nhiệt độ qua 20 o C
Như đã biết khi nhiệt độ xuống dưới 20oC là mùa đông thì xu thế biến đổi ngày bắt đầu và kết thúc mùa đông trong những năm gần đây có sự biến đổi rất khác nhau giữa các vùng
- Miền núi trung du Bắc Bộ: Ngày bắt đầu trên 20oC xấp xỉ với trung bình nhiều năm Ngày kết thúc 20oC muộn 1 ngày nghĩa là mùa đông đến muộn hơn nhưng kết thúc xấp xỉ trung bình nhiều năm
- Đồng bằng Bắc Bộ: Ngày bắt đầu sớm hơn 1 ngày, kết thúc muộn 6 ngày nghĩa
là mùa đông đến muộn 6 ngày, kết thúc sớm 1 ngày Đối với trạm Hải Dương bắt đầu muộn 9 ngày, kết thúc sớm 1 ngày nghĩa là mùa đông đến muộn 9 ngày kết thúc sớm 1 ngày Đối với trạm Nam Định đến muộn 1 ngày, kết thúc muộn 13 ngày nghĩa là mùa đông đến muộn 13 ngày, kết thúc sớm 1 ngày
- Bắc Trung Bộ: Trạm Vinh bắt đầu sớm 1 ngày kết thúc sớm 7 ngày nghĩa là mùa đông bắt đầu muộn 7 ngày và kết thúc sớm 1 ngày
- Nam Trung Bộ: Trạm Đà Nẵng ngày bắt đầu 20oC sớm 10 ngày và kết thúc muộn 5 ngày nghĩa là bắt đầu mùa đông muộn 5 ngày, kết thúc sớm 10 ngày
- Tây Nguyên: Trạm Pleiku bắt đầu sớm 9 ngày, kết thúc muộn 8 ngày, nghĩa là mùa đông đến muộn 8 ngày kết thúc sớm 9 ngày Đối với trạm Buôn Ma Thuột ngày bắt đầu qua 20oC sớm 11 ngày, kết thúc muộn 3 ngày nghĩa là ngày bắt đầu mùa đông muộn 3 ngày, kết thúc mùa đông sớm 11 ngày
Nhìn chung biến đổi của ngày bắt đầu và kết thúc nhiệt độ qua 20oC hay ngược lại ngày bắt đầu và kết thúc mùa đông ở vùng núi cao và ở những vùng có nhiệt độ dưới 20oC biến đổi ở mỗi nơi mỗi khác, về cơ bản mùa đông rút ngắn lại so với nhiều năm
* Sự biến đổi ngày bắt đầu và kết thúc nhiệt độ qua 25 o C
Nhiệt độ bắt đầu và kết thúc qua 25oC rất có ý nghĩa cho thời vụ trỗ của lúa đông xuân và mùa là cơ sở cho việc xác định thời vụ gieo trồng lúa ở các vùng
- Trung du và miền núi Bắc Bộ: Ngày bắt đầu nhiệt độ qua 25oC sớm 2 ngày, kết thúc muộn 2 ngày
- Đồng bằng Bắc Bộ: Trạm Hà Nội không thay đổi, trạm Hải Dương bắt đầu sớm, kết thúc muộn, trạm Nam Định ngày bắt đầu qua 25oC sớm và kết thúc muộn
- Bắc Trung Bộ: Trạm Vinh nhiệt độ qua 25oC bắt đầu sớm, kết thúc muộn 12 ngày
- Nam Trung Bộ: Trạm Đà Nẵng bắt đầu sớm 12 ngày, kết thúc muộn 12 ngày Trạm Nha Trang bắt đầu sớm, kết thúc muộn
- Tây Nguyên: Trạm Buôn Ma Thuột bắt đầu sớm hơn bình thường và kết thúc muộn 10 ngày
Trang 2419
Ngày bắt đầu và kết thúc nhiệt độ 25oC ở mỗi nơi mỗi khác điều đó khẳng định thời vụ gieo trồng lúa và các cây màu lương thực cũng phải thay đổi theo các kịch bản của biến đổi khí hậu
2.1.1.3 Biến đổi của số giờ nắng
Số giờ nắng là một yếu tố quan trọng đối với quá trình quang hợp của thực vật
Do vậy để xem xét biến đổi của số giờ nắng đã nghiên cứu sự biến đổi của số giờ nắng tháng 1, tháng 7, số giờ nắng năm và theo mùa vụ (đông xuân và mùa)
- Đối với miền núi và trung du Bắc Bộ: Tháng 1 số giờ nắng có xu thế giảm so với TBNN 20 giờ, tháng 7 giảm khoảng 10 giờ, cả năm giảm 45 giờ Tổng số giờ nắng
vụ đông xuân giảm 40 giờ, vụ mùa giảm khoảng 1 giờ
- Đồng bằng Bắc Bộ: Trạm Hà Nội, trạm Hải Dương, trạm Nam Định: Đều có xu thế giảm vào tháng 1 từ 10 - 20 giờ, tháng 7 giảm 20 - 30 giờ Vụ đông xuân và vụ mùa giảm 50 - 70 giờ
- Bắc Trung Bộ: Trạm Vinh số giờ nắng giảm 5 - 10 giờ đối với tháng 1, tháng 7,
- Đối với Nam Bộ số giờ nắng giảm giống như ở Bắc Bộ
2.1.1.4 Biến đổi của lượng mưa
Để xem xét đánh giá xu thế biến đổi của lượng mưa các tác giả cũng nghiên cứu biến đổi của lượng mưa tháng 1, tháng 7, năm và theo mùa vụ cho thấy:
- Trung du miền núi Bắc Bộ: Lượng mưa tháng I hầu như không thay đổi so với TBNN, lượng mưa tháng 7 có xu thế tăng, lượng mưa năm, vụ có xu thế tăng
- Đồng bằng Bắc Bộ: Tại Hà Nội lượng mưa tháng 1, tháng 7 có xu thế tăng, lượng mưa năm tăng không đáng kể, lượng mưa vụ đông xuân tăng nhưng lượng mưa
vụ mùa có xu thế giảm Đối với trạm Hải Dương lượng mưa tháng 1 tăng, tháng 7 và năm có xu thế giảm, lượng mưa vụ đông xuân tăng nhưng lượng mưa vụ mùa giảm Tại trạm Nam Định lượng mưa tháng 1, tháng 7 có xu thế tăng, lượng mưa năm, vụ đông xuân có xu thế giảm nhưng lượng mưa vụ mùa không thay đổi
- Đối với Bắc Trung Bộ: Trạm Vinh lượng mưa tháng 1, tháng 7, năm, vụ mùa có
xu thế giảm, vụ đông xuân có xu thế tăng nhưng không đáng kể
- Nam Trung Bộ: Trạm Đà Nẵng lượng mưa có xu thế tăng là mưa năm, vụ mùa,
vụ đông xuân còn tháng 7 lượng mưa giảm, tháng 1 lượng mưa không thay đổi
- Tây Nguyên: Trạm Pleiku lượng mưa có xu thế giảm vào tháng 1, tháng 7, lượng mưa năm và các vụ có xu thế tăng Tại trạm Buôn Ma Thuột lượng mưa năm, vụ
có xu thế tăng, tháng 7 lượng mưa có xu thế giảm
- Đông Nam Bộ: Tháng 1, vụ mùa lượng mưa có xu thế giảm, lượng mưa vụ đông xuân có xu thế tăng
Trang 2520
- Đồng bằng sông Cửu Long: Trạm Cần Thơ lượng mưa tháng 1, vụ đông xuân
có xu thế giảm, lượng mưa tháng 7 có xu thế tăng, lượng mưa năm, vụ mùa hầu như không đổi Tại trạm Bạc Liêu lượng mưa tháng 7 xu thế tăng còn lại đều xu thế giảm
2.1.1.5 Sự biến đổi của các hiện tượng khí hậu khác
- Số ngày mưa phùn: Ở miền Bắc giảm một nửa, từ trung bình 30 ngày mỗi năm trong thập kỷ 1961 - 1970 xuống còn 15 ngày mỗi năm trong thập kỷ 1991 - 2000;
- Hạn hán: Có xu hướng mở rộng ở hầu hết các vùng, đặc biệt là ở các tỉnh Nam Trung Bộ, dẫn đến gia tăng hiện tượng hoang mạc hóa;
- Hiện tượng El Nino và La Nina: Ảnh hưởng đến Việt Nam mạnh mẽ hơn trong vài thập kỷ gần đây, gây ra nhiều dị thường về thời tiết như nhiệt độ cực đại, nắng nóng và hạn hán gay gắt trên diện rộng, cháy rừng khi có El Nino, điển hình là năm
1997 - 1998; mưa lớn, lũ lụt và rét hại khi có La Nina như năm 2007
2.1.1.6 Biến đổi về thời gian và số lượng bão vào Việt Nam
Số cơn bão có xu thế tăng dần từ 1950 đến 1980 Số cơn bão giảm trong thập kỷ
1990 Nên chú ý rằng vào thập kỷ 1950 số lượng bão nhiều nhất vào tháng 8 và thập
kỷ 1960, 1970 vào tháng 9 Vào thập kỷ 1980 bão nhiều nhất vào tháng 10 thập kỷ
1990 vào tháng 11 Như vậy bão có xu thế xuất hiện muộn hơn so với trước
Bảng 7 Bão đổ bộ vào Việt Nam theo tháng 1950 - 1999
2.1.2 Biến đổi của mực nước biển
2.1.2.1 Xu thế biến đổi của mực nước biển
* Mực nước biển trung bình năm
Trong thời kỳ 1960 - 2008, mức độ tăng của mực nước biển trung bình năm là 3,88 mm/năm ở trạm Hòn Dấu, tiêu biểu cho vùng biển Bắc Bộ; 3,10 mm/năm ở Sơn Trà, tiêu biểu cho vùng biển Trung Bộ và 3,38 mm/năm ở Vũng Tàu tiêu biểu cho vùng biển Nam Bộ Giữa các trạm hải văn tiêu biểu cho 3 vùng không có sự khác biệt đáng
kể về mức độ tăng của mực nước biển trung bình năm
Trong khoảng 50 năm qua, mực nước biển tại Trạm Hòn Dấu dâng lên khoảng 20cm
* Mực nước biển cao nhất năm
Mức độ tăng của mực nước biển cao nhất năm là 5,60 mm/năm ở Hòn Dấu; 1,29 mm/năm ở trạm Sơn Trà và 4,34 mm/năm ở Vũng Tàu So với mực nước biển trung bình năm, mức độ tăng của mực nước biển cao nhất có sự khác nhau đáng kể giữa các trạm tiêu biểu
* Mực nước biển thấp nhất năm
Trang 26Hình 2 Diễn biến của mực nước biển tại Trạm hải văn Hòn Dấu
2.1.2.2 Tương quan so sánh mực nước biển trung bình các thời kỳ
Trong hầu hết trường hợp, mực nước biển trung bình thời kỳ gần đây (1991 - 2008) đều cao hơn thời kỳ 1961 - 1990
Về mực nước biển trung bình thời kỳ gần đây cao hơn 7,2 cm ở Hòn Dấu và 3,5
cm ở Sơn Trà, Vũng Tàu Trong khi đó, mực nước biển cao nhất thời kỳ gần đây cao hơn 7,8 cm ở Hòn Dấu; 0,5 cm ở Vũng Tàu song thấp hơn 0,5 cm tại Sơn Trà Mực nước biển thấp nhất, thời kỳ gần đây cao hơn 2,7 cm ở Hòn Dấu; 5,0 cm ở Sơn Trà và 11,0 cm ở Vũng Tàu
Có thể rút ra một số nhận định như sau về xu thế mực nước biển dâng:
- Trong số không nhiều trạm hải văn ở Việt Nam, có thể chia được 3 trạm đại diện cho 3 vùng bờ biển để nghiên cứu về xu thế mực nước biển
- Trong 50 năm qua, mực nước biển trung bình dâng với tốc độ 3 - 4 mm/năm hay 3 - 4 cm/thập kỷ, nghĩa là trong gần nửa thế kỷ vừa qua, nước biển ở Việt Nam dâng lên khoảng 15 - 20 cm
- Mực nước biển cao nhất có tốc độ xu thế cao hơn, còn mực nước biển thấp nhất thì ngược lại, tăng ít hơn thậm chí có nơi thấp so với mực nước biển trung bình
- Trong thời kỳ gần đây, mực nước biển cao hơn thời kỳ 1961 - 1990 về trị số trung bình cũng như trị số cao nhất và trị số thấp nhất
Trang 27Cao nhất
Thấp nhất
Trung bình
Cao nhất
Thấp nhất
Trung bình
Cao nhất
Thấp nhất
Thời kỳ
quan trắc 60-80 60-80 60-70 81-08 83-08 83-08 80-08 80-08 80-08 Trung bình
Max (cm) 204 376 57 103 161 49 275 405 58 Năm 1984 2008 1997 2001 2006 1999 2001 2001 1995
Năm 1962 1960 1964 1983 1993 85-93 1987 1986 1991
2.1.3 Sự biến động của sinh vật tự nhiên và môi trường sinh sống
2.1.3.1 Giảm diện tích đất ngập nước tự nhiên
Tính đến năm 2001 diện tích đất ngập nước tự nhiên ở nước ta giảm 38,1% trong khi diện tích đất ngập nước nhân tạo tăng 61,9%, diện tích rừng ngập mặn năm 2005 giảm 183.274 ha so với năm 1985 trong khi diện tích nuôi trồng thủy sản tăng 1,1 triệu
ha vào năm 2003 Cụ thể là, ở khu vực Bạch Đằng (Hải Phòng) diện tích đất ngập mặn
từ 64.169 ha năm 1934 chỉ còn 30.729 ha năm 1995; ở vùng U Minh, diện tích rừng ngập mặn năm 1990 là 90.000 ha đến năm 2005 chỉ còn 12.000 ha
Theo một số tài liệu nghiên cứu, tổng diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam năm
1943 là 408.500 ha, đến năm 1962 chỉ còn 290.000 ha, cụ thể là: Ở vùng Đông Bắc (Quảng Ninh), diện tích rừng ngập mặn từ 39.400 ha giảm xuống còn 22.969 ha Ở vùng ven biển Trung Bộ, diện tích rừng này đã giảm từ 14.300 ha xuống còn 3.000 ha, tại vùng ven biển Đông Nam (Biên Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu) giảm từ 65.800 xuống còn 26.092 ha; Ở vùng biển Tây Nam từ 126.000 ha giảm xuống còn 82.387 ha
2.1.3.2 Biến động về thủy sinh ở một số địa phương
Do tác động của biến đổi khí hậu, nhiệt độ trên bề mặt nước biển ấm lên, nồng độ muối thay đổi làm nguy hại đến các rạn san hô, các thảm thực vật Bằng chứng là nhiều rạn san hô chậm phát triển, các thảm thực vật như rong biển chết, trôi dạt vào bờ với khối lượng lớn
Các bãi cá nổi, cá đáy ở khu vực ven bờ cũng có xu hướng ra xa dần; mùa vụ cá cơm, cá ồ, cá thu, cá nục hàng năm tại các ngư trường bị thay đổi và xáo trộn trong những năm gần đây Đồng thời nước biển dâng cao có khả năng làm thay đổi hướng của dòng chảy, đường di cư của một số loài thủy sản quý hiếm
Tại Bạc Liêu, do nắng nóng kéo dài, phần lớn nguồn nước trên các kênh rạch cạn kiệt, nhiệt độ nước ban ngày quá nóng, biên độ nhiệt độ nước ngày đêm quá lớn Hậu quả là, chỉ trong 7 tháng đầu năm 2010 đã có 5.600 ha tôm sú bị thiệt hại Ở Trà Vinh, nhiều ao nuôi tôm sú cũng bị chết hàng loạt trong cùng thời gian
Trang 2823
2.1.3.3 Nhiều rạn san hô bị tẩy trắng, tảo độc hại xuất hiện
Ở vùng biển nước ta, do biến đổi khí hậu trong những năm gần đây đã xác định được 50 loại tảo độc hại (22 loài ở vùng biển Nam Bộ, 28 loài ở biển phía Bắc), cụ thể là: Tháng 8/1999 xuất hiện các đợt nở hoa của tảo độc ở Đồ Sơn (Hải Phòng); tháng 8/1999 có hiện tượng thủy triều đỏ xảy ra trên diện tích 225km2 ở vùng biển Bình Thuận, tảo nở hoa đến 39,5 triệu tế bào/lít, làm chết hầu hết tôm, cua, cá, san hô, rong,
cỏ biển; Tháng 11/2002, có dấu hiệu tảo nở hoa ở Đà Nẵng
Hiện tượng tẩy trắng san hô do nhiệt độ nước cao trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1998 làm 14% tập đoàn san hô ở Côn Đảo bị chết
Diện tích rạn san hô ở một số vùng bị giảm tới 30%, rõ rệt nhất là ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Nha Trang và Côn Đảo Các vùng cỏ biển ở Vịnh Hạ Long và đầm phá Tam Giang bị suy giảm về diện tích tới 6.774 ha trong những năm từ 1997 đến 2003
2.1.3.4 Sự gia tăng bệnh tật
Theo báo cáo “Khái quát về biến đổi khí hậu ở Việt Nam”, trong thời gian qua xuất hiện một số bệnh mới ở người và động vật (cúm gia cầm,…) một số bệnh cũng quay trở lại (bệnh tả), nhiều bệnh có diễn biến phức tạp và bất thường hơn (sốt xuất huyết),…
2.2 KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CHO VIỆT NAM
Bắc
A2 1,3 3,2 1,5 3,8 1,5 3,5 0,8 2,1 1,3 3,4
B2 1,2 2,5 1,4 3,1 1,4 2,8 0,8 1,6 1,3 2,6
B1 1,2 1,7 1,4 2,0 1,4 1,8 0,8 1,1 1,3 1,7 ĐBBB
A2 1,3 3,1 1,4 3,5 1,8 3,9 0,8 2,2 1,1 2,7
B2 1,2 2,4 1,3 2,8 1,7 3,1 0,8 1,7 1,1 2,2
B1 1,2 1,6 1,3 1,8 1,5 2,0 0,8 1,1 1,1 1,4 Bắc TB
A2 1,5 3,6 1,6 3,7 1,9 4,1 1,3 3,3 1,4 3,4
B2 1,5 2,8 1,4 2,9 1,8 3,2 1,3 2,6 1,4 2,7
B1 1,4 1,9 1,4 ,19 1,6 2,0 1,3 1,7 1,3 1,8 Nam
TB
A2 1,0 2,4 1,0 2,5 0,9 2,2 1,1 2,8 0,7 1,8
B2 0,9 1,9 1,0 2,0 1,0 2,2 0,7 1,4 1,0 2,1
B1 0,9 1,2 1,0 1,3 1,0 1,2 0,7 0,9 1,0 1,4
Trang 29so với mùa hạ, riêng Nam Bộ thì ngược lại
- Theo kịch bản phát thải trung bình vào cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trung bình năm tăng lên 2,4 - 2,8oC ở các vùng khí hậu phía Bắc và 1,6 - 2,2oC ở các vùng khí hậu phía Nam Trên hầu hết các vùng khí hậu mức tăng nhiệt độ mùa đông nhanh hơn
so với mùa hạ, riêng Nam Bộ thì ngược lại
- Theo kịch bản phát thải cao, vào cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trung bình năm tăng lên 3 - 3,6oC ở các vùng khí hậu phía Bắc và 2,1 - 2,6oC ở các vùng khí hậu phía Nam Cũng như kịch bản thấp và trung bình, trên hầu hết các vùng khí hậu mức tăng nhiệt
độ mùa đông cao hơn so với mùa hạ, trừ Nam Bộ
Bảng sau trình bày mức tăng nhiệt độ (oC) trung bình năm của từng thập kỷ của thế kỷ XXI so với thời kỳ 1980 -1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) cho 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Đối với các mốc thời gian vào giữa và cuối thế
kỷ XXI có bổ sung khoảng dao động của mức tăng nhiệt độ, ví dụ vào năm 2050, ở Lai Châu, mức tăng nhiệt độ dao động trong khoảng từ 1,0 đến 1,6oC, nhưng khả năng cao nhất có thể xảy ra là 1,2oC
Bảng 10 Mức tăng nhiệt độ ( o C) trung bình năm so với thời kỳ 1980-1999
theo kịch bản phát thải trung bình (B 2 )
Trang 31Hình 3 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm ( o C) vào cuối thế kỷ XXI
theo kịch bản phát thải trung bình
2.2.2 Kịch bản lượng mưa
Nội dung chủ yếu của kịch bản lượng mưa là mức thay đổi (tăng hay giảm) của lượng mưa so với thời kỳ 1980 - 1999 vào các năm 2020, 2030,…., 2090 và 2100