Nhiệm vụ nghiên cứu Tập trung nghiên cứu, dạy và học những vấn đề kinh tế - xã hội thế giới chủ yếu trong thời kỳ hiện đại như bản đồ chính trị thế giới; đặc điểm và tác động của cuộc C
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
GIÁO TRÌNH (Lưu hành nội bộ)
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG 4
1.1 ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU CỦA MÔN HỌC 5 1.1.1 Đối tượng nghiên cứu 5
1.1.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
1.1.3 Quan điểm nghiên cứu 5
1.2 KHÁI QUÁT CÁC VẤN ĐỀ ĐỊA LÝ KINH TẾ - XÃ HỘI HIỆN NAY TRÊN THẾ GIỚI 6
1.3 Ý NGHĨA THỰC TIỄN 7
CHƯƠNG 2 SỰ THAY ĐỔI BẢN ĐỒ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI 12
2.1 TRƯỚC, TRONG VÀ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT 12
2.2 TRONG VÀ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI 14
2.3 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ TAN RÃ HỆ THỐNG XHCN THẾ GIỚI 16
2.4 CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ HÕA BÌNH VÀ ỔN ĐỊNH LÀ ĐIỀU KIỆN CHO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MỖI QUỐC GIA 17
CHƯƠNG 3 TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THẾ GIỚI TRONG THỜI KỲ HIỆN ĐẠI 19
3.1 CUỘC CÁCH MẠNG KHOA HỌC KỸ THUẬT (KHKT) HIỆN ĐẠI 19
3.1.1 Khái quát về cuộc cách mạng KHKT hiện đại 19
3.1.2 Tác động của CM KHKT hiện đại đến nền KT – XH thế giới 22
3.2 MỘT SỐ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN KT – XH TRÊN THẾ GIỚI TRONG NHỮNG THẬP KỶ GẦN ĐÂY 24
3.2.1 Xu hướng ưu tiên cho phát triển kinh tế đang lôi cuốn cả cộng đồng 24
3.2.2 Xu thế đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của tất cả các nước 24
3.2.3 Xu hướng tăng cường hợp tác khu vực (khu vực hóa) 25
3.2.4 Xu hướng tăng cường sự quốc tế hóa nền kinh tế thế giới 25
3.2.5 Xu hướng quốc tế hóa - toàn cầu hóa ngày càng tăng 25
3.2.6 Xu hướng phát triển bền vững 26
3.3 MỘT SỐ TỔ CHỨC HỢP TÁC KINH TẾ - XÃ HỘI TIÊU BIỂU 29
3.3.1 Tổ chức Liên Hiệp Quốc – United Nations Organization 29
3.3.2 Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc – United Nations Development Program (UNDP) 29
3.3.3 Quỹ tiền tệ quốc tế - IMF (International Moneytary Fund) 29
3.3.4 Ngân hàng thế giới – World Bank (WB) 30
3.3.5 Ngân hàng phát triển châu Á – Asia Development Bank 30
3.3.6 Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc – Food and Agriculture Organization of the United 30
3.3.7 Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế - Organization for Economic Cooperation and Development 30
Trang 33.3.8 Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ - Organization of Petroleum Exporting
Countries 30
3.3.9 Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hiệp Quốc – United Nations Educational, Scientifics and Cultural Organization 31
3.3.10 Tổ chức y tế thế giới – World Health Organization 31
3.3.11 Tổ chức thương mại thế giới – World Trade Organization 31
3.3.12 Liên minh châu Âu (European Union) 32
3.3.13 Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (North American Free Trade Area - NAFTA) 33
3.3.14 Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (Asia Pacific Economic Cooperation – APEC) 33
3.3.15 Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – (Asoociation of South – East Asian Nations – ASEAN) 34
CHƯƠNG 4 SỰ BÀNH TRƯỚNG CỦA CÁC QUỐC GIA LỚN TRÊN THẾ GIỚI 36
4.1 SỰ TƯƠNG PHẢN NỀN KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN VÀ CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 36
4.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của các nước phát triển 36
4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển 37
4.2 SỨC ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC QUỐC GIA LỚN TRÊN THẾ GIỚI 38
4.2.1 Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 38
4.2.2 Liên Bang Nga 38
4.2.3 Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) 39
4.2.4 Pháp 39
4.2.5 Vương Quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland 40
4.2.6 Nhật Bản 40
4.2.7 Ấn Độ 40
4.3 CÁC SIÊU CƯỜNG HIỆN NAY VÀ ĐANG NỔI LÊN TRÊN THẾ GIỚI 41
4.3.1 Các vấn đề chung 41
4.3.2 Những siêu cường hiện nay 41
4.3.3 Những siêu cường mới nổi lên 40
CHƯƠNG 5 VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ VÀ AN SINH XÃ HỘI 46
5.1 NHỮNG BẤT ỔN CHÍNH TRỊ XÃ HỘI VÀ CHỦ NGHĨA KHỦNG BỐ 46
5.2 QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 47
5.3 BÙNG NỔ DÂN SỐ 47
5.4 Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 48
5.5 CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI KHÁC 52
5.5.1 Vấn đề thương mại quốc tế 52
5.5.2 Hệ thống tín dụng quốc tế 52
5.5.3 Sự phân hóa giàu nghèo 52
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Giáo trình Các vấn đề địa lí kinh tế thế giới là giáo trình dành cho sinh viên ngành CĐSP Địa lí Nội dung giáo trình bao gồm 5 chương đề cập đến Khái quát chung;
Sự thay đổi bản đồ chính trị thế giới; Tình hình kinh tế - xã hội thế giới trong thời kỳ hiện đại; Sự bành trướng của các quốc gia lớn trên thế giới và Vấn đề đô thị và an sinh xã hội
Trong quá trình biên soạn giáo trình, tác giả đã sử dụng nhiều tài liệu tham khảo
và luôn cập nhật sự thay đổi của các số liệu thống kê Xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học, các cơ quan về những kết quả nghiên cứu mà tác giả đã sử dụng và đưa vào giáo trình
Giáo trình Các vấn đề địa lí kinh tế thế giới chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, nhất là thiếu sự cập nhật số liệu mới Hi vọng rằng giáo trình sẽ là tài liệu bổ ích cho sinh viên chuyên ngành cũng như những người quan tâm khác
Trang 5CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG 1.1 ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU CỦA MÔN HỌC
1.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Học phần Các vấn đề địa lý kinh tế thế giới hiện nay là một bộ phận của Địa lý kinh tế - xã hội, nó nghiên cứu những vấn đề khái quát chung của nền kinh tế thế giới, đặc điểm, các quá trình phát triển và những vấn đề nổi bật của thế giới trong thời gian gần đây Trong đó, có sự phân chia bản đồ chính thế giới hiện đại; các xu hướng liên kết tiêu biểu và các tổ chức khu vực; sự bành trướng, sức mạnh của các quốc gia lớn trên thế giới và các vấn đề toàn cầu hiện nay Không gian của Các vấn đề địa lý kinh tế thế giới hiện nay được xác định là các quốc gia, nhóm các quốc gia và toàn bộ thế giới
1.1.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu, dạy và học những vấn đề kinh tế - xã hội thế giới chủ yếu trong thời kỳ hiện đại như bản đồ chính trị thế giới; đặc điểm và tác động của cuộc Cách mạng Khoa học kỹ thuật (KHKT) đến nền kinh tế - xã hội thế giới; những biến động chính trị xã hội môi trường; những đặc điểm phát triển kinh tế nổi bật của các nước phát triển và nước đang phát triển; một số xu hướng phát triển kinh tế - xã hội; một số tổ chức hợp tác kinh tế - xã hội tiêu biểu; sự bành trướng của các quốc gia lớn và các vấn đề đô thị, an sinh xã hội cần được giải quyết trên phạm vi toàn cầu
1.1.3 Quan điểm nghiên cứu
1.1.3.1 Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Các hiện tượng kinh tế - xã hội luôn tồn tại trong sự vận động và phát triển không ngừng theo các quy luật khách quan, trong mối quan hệ qua lại biện chứng Vì vậy, khi nghiên cứu các vấn đề địa lý kinh tế - xã hội thế giới cần phải nghiên cứu trong mối quan
hệ qua lại biện chứng, trong sự vận động và phát triển giữa các nguồn lực với sự phát triển kinh tế - xã hội, giữa các ngành kinh tế, trong các ngành của từng quốc gia, giữa các quốc gia, trong mỗi khu vực cũng như quy mô trên toàn cầu Các vấn đề cần nghiên cứu trong quá khứ, hiện tại và dự báo sự phát triển trong tương lai, từ đó rút ra những đặc điểm chung, những quy luật phát triển Nguồn thông tin tư liệu nghiên cứu cần phải chính xác và cập nhật
1.1.3.2 Quan điểm hệ thống
Các vấn đề địa lý kinh tế thế giới hiện nay là một khoa học bộ phận của khoa học địa lý và có quan hệ với một số khoa học khác như: khoa học môi trường, kinh tế, lịch sử, triết học, toán học… Vì vậy, khi nghiên cứu, học tập địa lý kinh tế thế giới hiện nay cần vận dụng, kế thừa kiến thức lý luận và thực tiễn của các khoa học địa lý bộ phận như địa
Trang 6lý tự nhiên, địa lý dân cư, địa lý giao thông vận tải… cũng như các ngành khoa học có liên quan khác
Quan điểm hệ thống còn được vận dụng trong việc sắp xếp, xử lý các thông tim, tri thức của môn học Các tri thức được sắp xếp trước bao giờ cũng là cơ sở nền tảng cho việc xây dựng các tri thức sau, tri thức định lượng được sắp xếp trước tri thức định tính Kiến thức chung, khái quát thường được sắp xếp trước kiến thức riêng, kiến thức cụ thể
1.1.3.3 Quan điểm lãnh thổ tổng hợp và chuyên môn hóa
Phương pháp luận của Các vấn đề địa lý kinh tế thế giới hiện nay là dựa vào quan điểm lãnh thổ Con người ở bất kỳ nơi nào trên bề mặt Trái Đất cũng đều tiến hành khai thác tài nguyên, cải tạo thiên nhiên, sản xuất ra của cải vật chất phục vụ cho đời sống và
sự phát triển của xã hội loài người, do đó đã hình thành nên thể tổng hợp sản xuất lãnh thổ, chính là các mối quan hệ kết hợp sản xuất và lãnh thổ Các mối quan hệ này được biểu hiện qua hệ thống sản xuất ngành và sản xuất theo từng vùng lãnh thổ Giữa các ngành sản xuất cũng như các vùng sản xuất đều có mối quan hệ tương tác với nhau tạo nên lãnh thổ sản xuất riêng biệt
Các đối tượng địa lý kinh tế thế giới hiện nay khi nghiên cứu cần được xác định rõ
vị trí phân bố trong không gian, và xem xét việc tổ chức không gian lãnh thổ về dân cư cũng như kinh tế có hợp lý và mang lại hiệu quả cao về các mặt hay không
1.1.3.4 Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Phát triển bền vững trong những năm gần đây đã trở thành mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia cũng như toàn thế giới Vì vậy, người học cần vận dụng cơ sở lý luận phát triển bền vững để nghiên cứu, luận giải các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội thế giới Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho bản thân cũng như cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1.1.3.5 Quan điểm kế thừa
Khi nghiên cứu, học tập các vấn đề địa lý kinh tế thế giới hiện nay, người học cần
kế thừa quan điểm, phương pháp nghiên cứu, nguồn thông tin, số liệu từ những công trình nghiên cứu địa lý kinh tế - xã hội đã có cũng như tài tiệu, công trình nghiên cứu của những khoa học có liên quan khác
1.2 KHÁI QUÁT CÁC VẤN ĐỀ ĐỊA LÝ KINH TẾ HIỆN NAY TRÊN THẾ GIỚI
Các vấn đề địa lý kinh tế hiện nay trên thế giới khá rộng lớn, phức tạp và đầy biến động Thế giới bao gồm nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau về quy mô diện tích,
Trang 7dân số, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, trình độ sản xuất, thu nhập quốc dân…Thế giới lại phân chia ra những nước phát triển và những nước đang phát triển Trong đó, có những nước mặc dù nghèo tài nguyên thiên nhiên nhưng với bước đi đúng đắn trong thời gian ngắn đã trở thành nước giàu có, phồn vinh (Nhật Bản)
Đặc biệt, trong thời đại bùng nổ của cuộc cách mạng KHKT và nền kinh tế tri thức như hiện nay, với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, yếu tố thành công hay thất bại của một nước là hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, là khả năng tạo dựng và củng cố vị trí của mình trong phân công lao động quốc tế… Tham gia toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một xu thế tất yếu đối với tất cả các nước, góp phần củng cố an ninh chính trị của mỗi quốc gia Vì vậy, không một nước nào muốn phát triển mà lại đứng ngoài xu hướng chung của nhân loại
Sau hai cuộc chiến tranh thế giới, một trật tự thế giới mới được hình thành kéo theo đó là sự xuất hiện của một loạt các quốc gia độc lập trẻ tuổi Các nước với các bước
đi khác nhau về chủ trương, chính sách trong phát triển kinh tế xã hội Có những nước với bước đi đúng đắn đã trở thành các cường quốc kinh tế như Hoa Kỳ trở thành siêu cường kinh tế, hay Trung Quốc, Ấn Độ là những siêu cường mới nổi có sức ảnh hưởng to lớn đến tình hình kinh tế xã hội trên toàn thế giới
Trái Đất là một thực thể thống nhất (về cấu trúc địa chất, vật lý địa cầu, môi trường sinh thái) nhưng lại rất đa dạng, phong phú (về các yếu tố tự nhiên, sự rộng lớn về mặt không gian lãnh thổ, sự phức tạp về mặt kinh tế xã hội…) Những vấn đề có tính chất toàn cầu là những vấn đề có liên quan đến lợi ích và sự sống còn của tất cả các quốc gia trên thế giới Nó hình thành và phát triển một cách khách quan trên cơ sở tự phát huy tác dụng của các quy luật tự nhiên và KTXH Nó không phụ thuộc ý muốn khách quan của con người lại chính là tác nhân quan trọng đưa đến sự hình thành và phát triển các vấn đề
có tính chất toàn cầu Các vấn đề có tính chất toàn cầu phản ánh trình độ ngày càng cao của nền kinh tế thế giới và các quan hệ kinh tế quốc tế, thể hiện tính thống nhất và tùy thuộc lẫn nhau của quá trình tồn tại và phát triển giữa các nước trên thế giới
1.3 Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỊA LÝ KINH TẾ
Ý nghĩa thực tiễn của địa lý kinh tế đối với xã hội bị thay đổi từ thời kỳ lịch sử này đến thời kỳ lich sử khác, nó được biểu hiện khác nhau trong những nước khác nhau,
nó phụ thuộc vào chế độ xã hội, trình độ phát triển lực lượng sản xuất và các điều kiện khác, kể cả trạng thái của chính khoa học, lực lượng của các trường phái khoa học…
Nhu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa đã đặt ra những vấn đề phân vùng kinh tế, quy hoạch vùng, phát triển vùng kinh tế tổng hợp sản xuất theo lãnh thổ
Trang 8(TPK) những hệ thống năng lượng của các vùng và giữa các vùng, những cụm công nghiệp và các vùng phân bố và chuyên môn hoá nông nghiệp xã hội chủ nghĩa
Trong các nước tư bản phát triển, địa lý kinh tế đã đặt ra những nhiệm vụ thực tiễn, chủ yếu là sự phân bố khu vực phục vụ dân cư, đặc biệt là thương nghiệp, xây dựng thành phố, và quy hoạch thành phố, phân bố mạng lưới ống dẫn nước, tổ chức các mạng lưới đường ô tô chính và sự hoạt động của ô tô
Trong hệ thống các ngành khoa học phục vụ nhu cầu thực tiễn của chủ nghĩa tư bản độc quyền hiện đại, thì địa lý kinh tế chiếm một vị trí rõ rệt Nhưng qua ví dụ về địa
lý kinh tế ta thấy rẩt rõ là những nhu cầu thực tiễn của chủ nghĩa tư bản độc quyền đang mâu thuẫn với chính bản chất của khoa học này như thế nào
Địa lý kinh tế có thể cung cấp cho thực tiễn một quan điểm rộng rãi đối với những mối liên hệ không gian - thời gian của những hiện tượng - từ tự nhiên đến khoa học và văn hoá, còn chủ nghĩa tư bản độc quyền thì lại thoả mãn với những quan điểm cục bộ hẹp hơn
Địa lý kinh tế đang bị xới lên mạnh mẽ trong việc nghiên cứu các không gian không có những ngăn cách tư hữu Địa lý kinh tế là một ngành khoa học thù ghét tất cả các loại rào dậu, còn chủ nghĩa tư bản thì đã phân chia, phần thế giới còn lại của nó bằng hàng triệu địa giới sở hữu cá nhân, kể cả những khu dầu khí cơ bản ở những thềm lục địa Đến cả biển, các độc quyền dầu mỏ khổng lồ cũng đã phân chia với nhau cả rồi
Địa lý kinh tế trong các nước xã hội chủ nghĩa nhìn thấy mục đích của mình trong việc làm sáng tỏ những hệ thống tồn tại khách quan của các vùng kinh tế và những
hệ thống phức tạp của mỗi một vùng, để sử dụng phân vùng vào những mục đích thực tiễn đối với sự phát triển tổng hợp của các nước và các vùng, đối với những quy hoạch vùng, đối với việc sử dụng đầy đủ các tổng thể tự nhiên, lao động và các nguồn vật tư kỹ thuật Các độc quyền tư bản đối lập với lý thuyết và thực tiễn của phân vùng kinh tế tổng hợp ở cấu trúc tổ chức, kỹ thuật và kinh tế của mình Vì thế mà địa lý kinh tế tư sản phủ nhận sự tồn tại khách quan của các vùng kinh tế
Vậy ý nghĩa thực tiễn của địa lý kinh tế được biểu hiện cụ thể bằng cái gì trong những điều kiện của chủ nghĩa tư bản độc quyền
Khi tác giả cuốn sách này đến thăm “Đế quốc Ford” gần thành phố Detroi (Mỹ), năm 1961, thì mới hiểu rằng trong bang của công ty Ford có chuyên viên địa lý kinh tế Thực ra thì chuyên viên này làm việc theo lập luận địa lý tiêu thụ ô tô, nghiên cứu cácthị trường tiêu thụ chúng Chính vì giành thị trường tiêu thụ mà nổ ra cuộc đấu tranh giữa các độc quyền tư bản, và trong cuộc đấu tranh đó chúng càng cần có sự giúp đỡ của địa lý kinh tế Nếu nghiên cứu kỹ những tác phẩm nghiên cứu địa lý kinh tế xuất bản ở
Trang 9Mỹ, Anh, Pháp, Nhật và các nước tư bản phát triển khác (nhiều tácphẩm có ý nghĩa phục
vụ thì không thấy xuất hiện trong phát hành rộng rãi) thì thấy rõ ràng, những vấn đề được để lên hàng đầu là những vấn đề có liên quan với sự tiêu thụ sản phẩm, với những nhu cầu của nó Chúng gây nên “những phản ứng dây chuyền” tiến tương đối xa trong những cuộc nghiên cứu thực dụng Một số ngành sản xuất này là thị trường tiêu thụ của cácngành sản xuất khác, bởi vậy những vấn đề nhu cầu sản xuất là những vấn đề cấp bách trong cuộc đấu tranh giữa các độc quyền Và khi các nhà điạ lý kinh tế của các nước tư bản nghiên cứu địa lý các ngành kinh tế quốc dân, thì phần lớn họ xem các ngành đó như những người tiêu dùng với nhau, như một hệ thống những thị trường tiêu thụ lẫn nhau
Cả sự phân tích địa lý kinh tế về dân cư và hệ thống các điểm cư dân chủ yếu cũng phụ thuộc vào chính quan điểm tiêu thụ đó Địa lý thương nghiệp bán buôn và bán
lẻ cũng được đặc biệt chú ý Từ quan điểm thị trường tiêu thụ thành phẩm, ngành du lịch cũng được nghiên cứu ở khía cạnh địa lý (tiêu thụ ván trượt tuyết, thuyền thoi, lều bạt và những trang bị khác)
Như ta đã biết, những tác phẩm địa lý kinh tế đầu tiên xuất hiện vào thế kỷ XVI, đều ghi lại cuộc đấu tranh giành những thành phố thương nghiệp Còn bây giờ thì, ở trình độ mới, cácđộc quyền lớn nhất lại quan tâm đến những tác phẩm địa lý kinh
tế viết về các đối thủ kinh tế - thực tế và có tiềm lực Thật là lạ Những độc quyền khổng
lồ Mỹ đã xuất bản những tác phẩm địa lý kinh tế riêng dành cho những ngành công nghiệp Liên Xô
Những tác phẩm địa lý kinh tế ở các nước tư bản phát triển có một ý nghĩa thực tiễn đối với các ngành kinh tế quốc dân do Nhà nước đỡ đầu Việc nghiên cứu thành lập các mạng lưới đường ô tô chính được đặt lên hàng đầu Trong một số nước phải chú ý đến việc nghiên cứu tính chất ứng dụng nhằm phát triển các ngành công nghiệp đã được quốc hữu hóa
Trong những điều kiện của nền kinh tế có kế hoạch của các nước xã hội chủ nghĩa, địa lý kinh tế có một tính chất khác về nguyên tắc Trong lĩnh vực ứng dụng thực tiễn nó là kế hoạch hóa lãnh thổ và quản lý lãnh thổ bằng sự phát triển kinh tế của đất nước, bao gồm cả quan điểm lãnh thổ của sự phân công lao động quốc tế
Ở Liên Xô cũng như ở các nước xã hội chủ nghĩa khác, các nhà địa lý kinh tế đang giải quyết những vấn đề có liên quan tới sự phân bố các ngành công nghiệp, sự chuyên môn hóa các xí nghiệp công nghiệp và nông nghiệp trong các vùng khác nhau, tới những lập luận xây dựng các tuyến đường mới và cải tạo các đường cũ, phát triển và quy hoạch các thành phố, phân bố các cơ quan thuộc lãnh vực phục vụ, tới những giải pháp xây dựng các công trình thủy lợi kỹ thuật đảm bảo lao động cho các vùng mới xây
Trang 10dựng, tới việc đặt các ống dẫn nước và các đường dây tải điện v.v… Tất cả những lĩnh vực hoạt động thực tiễn cần cho các nhà địa lý kinh tế, khó mà kể hết được Ví dụ, một
số loại tác phẩm mới nổi lên trong những thời gian gần đây nhất của những nhà địa lý kinh tế trẻ tốt nghiệp trường đại học tổng hợp Maxcơva: việc thiết kế những thành phố khoa học; việc thiết kế những hệ thống lãnh thổ du lịch và nhà nghỉ ngơi cho thiếu nhi; việc thiết kế những hệ thống lãnh thổ tối ưu phục vụ y tế dân cư
Những lĩnh vực ứng dụng thực tiễn khác nhau như vậy trong tác phẩm của các nhà địa lý kinh tế có thể gây nên sự lo ngại, nếu không có một cơ sở chung, một cương lĩnh khoa học chung đối với những lĩnh vực đó Đa số những giải quyết thực tiễn đó đều dựa vào sự phân tích và dự báo, phát triển hệ thống các vùng kinh tế tồn tại khách quan,
mà mỗi vùng trong hệ thống đó đến lượt mình lại là một hệ thống lãnh thổ nguyên vẹn Khi giải quyết mỗi một vấn đề thực tiễn cụ thể, nhà địa lý kinh tế chú ý tới hai laọi hệ thống đó, phải tuân theo những quy luật phát triển của chúng, trước hết là những quy luật phân công lao động theolãnh thổ, phát triển tổng hợp nền kinh tế quốc dân Bởi vậy thậm chí những đề nghị riêng về sự xây dựng một xí nghiệp thuộc một ngành công nghiệp hẹp nào đó, về sự phát triển một thành phố nhỏ, về sự phát triển du lịch ở một địa phương nào đó, về các khu vực tiêu thụ một sản phẩm này hay khác v.v… đều được nhà địa lý kinh tế xem như là một khâu của “giây xích” của những hệ thống lãnh thổ sản xuất lớn hay nhỏ
Trong quá trình công tác thực tiễn đối với nền kinh tế quốc dân, những nhà địa lý kinh tế Liên Xô và các nước XHCN khác phải tính đến cả những hiện tượng tiêu cực khác như tính chất bản vị và địa phương …
Trong cuộc sống những hiện tượng tiêu cực thường liên kết lại với nhau Việc giải quyết ngành hẹp của vấn đề về sự phân bố, ví dụ của các xí nghiệp công nghiệp kỹ thuật ánh sáng sẽ trở nên không đúng, nếu việc giải quyết đó không được xem xét đồng thời trên quan điểm phát triển tổng hợp toàn bộ nền kinh tế quốc dân của đất nước, của
sự phát triển vùng kinh tế tổng hợp sản xuất theo lãnh thổ (TPK) các vùng kinh tế, và thậm chí trên quan điểm khả năng phát triển dân cư và sản xuất của các cụm công nghiệp nào mà trong đó được dự kiến phân bố những xí nghiệp đó Cả những giải quyết địa phương đều không xác đáng khi mà các cán bộ của các nước cộng hoà, hay của khu vực nào đó yêu cầu các cơ quan kế hoạch Nhà nước và các tổ chức khác của Nhà nước giải quyết phân bố trên lãnh thổ của họ những xí nghiệp, mà đối với sự phát triển của chúng trong các nước cộng hoà đó (khu vực) không dựa vào quan điểm lợi ích của đất nước nói chung và sự hình thành TPK của các vùng kinh tế và sự phát triển của cụm công nghiệp của nó
* Dự báo trong địa lý kinh tế
Trang 11Khi ta nhìn vào tương lai càng hiện thực và chính xác hơn, ta càng chú ý nhiều hơn đến những mầm mống hiện tại của tương lai đó
Nhiều khi những mầm mống ấy lại vượt xa trình độ phát triển chung Rất quan trọng đói với phương pháp dự báo là việc thực hiện một loạt “những liên hệ cứ điểm” nghĩa là sự chú ý tới các phương pháp và kết quả của dự báo trong những lĩnh vực liên quan
Sự có mặt vô vàn “những liên hệ cứ điểm” và các chỉ tiêu do những đại diện của nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu thực ra vẫn chưa xây dựng được một dự báo địa lý kinh tế Dự báo địa lý kinh tế không phải là tổng số dự báo của các ngành khoa học liên quan Tất cả “những liên hệ cứ điểm” và chỉ tiêu này cần phải được giải thích thông qua một dự báo có ý nghĩa độc lập của tổ chức sinh hoạt xã hội theo lãnh thổ Dự báo có tính chất toàn Trái đất dược xác định trên những đặc điểm của các nhóm nước khác nhau và của các nước riêng biệt Dự báo theo từng nước nói chung được xác định trên những đặc điểm của các nhóm khác nhau của các vùng kinh tế và các vùng riêng biệt, các vùng thứ cấp, các đầu mối công nghiệp, v.v của nước đó
Những sự chỉnh lý nảy sinh trong những “xác định” tượng tự quan trọng đến nỗi
do đó mà người ta đang đánh giá lại cả những chỉ tiêu có tính chất toàn Trái đất (hoặc trung bình theo từng nước) Như vậy, địa lý kinh tế đưa sự xác định theo khu vực vào dự báo chung
Cần chú ý là những vùng nằm trong một hệ thống lãnh thổ nhất định thường phản ánh các giai đoạn phát triển lịch sử khác nhau Bởi vậy trong khi phân tích các thiết đồ không gian,có thể hình dung cả đường cong phát triển theo thời gian X.t Xtrumilin đã viết về sự áp dụng biện pháp so sánh không gian, thời gian cho công tác dự báo (các tỉ lệ
sử dụng): “chúng ta không thể liếc mắt vào tương lai mà xác định những tỉ lệ rất xa lạ này đối với chúng ta” Song điều đó không quan trọng Vấn đề là ở chổ: những biến chuyển cấu trúc gian thì chúng ta đã được cung cấp vào thời điểm lập kế hoạch – trong không gian Những biến chuyển ấy có hàng loạt ở bất kì thời điểm nào trong các nhóm dân cư có “mức tiện nghi khác nhau” Việc sử dụng các phương pháp so sánh không gian, thời gian đối với công tác dự báo kinh tế có thể là khá rộng rãi Nhưng dầu sao cũng cần có khái niệm rõ ràng về tính giai đoạn của một quá trình nào đó và về tính liên kết của từng giai đọan phát triển gắn với những đặc điểm lãnh thổ nào đó, với vị trí địa
lý kinh tế, với “bức tranh” không gian
Trang 12CHƯƠNG 2 SỰ THAY ĐỔI BẢN ĐỒ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI
2.1 TRƯỚC, TRONG VÀ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT
Những cuộc phát kiến lớn về địa lý vào cuối thế kỷ XV và đầu thế kỷ XVI mở đầu cho việc xâm chiếm thuộc địa Đi đầu trong cuộc xâm chiếm này là các nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Đến giữa thế kỷ XVI hai nước nói trên đã trở thành các cường quốc thuộc địa Đầu thế kỷ XVII, Hà Lan cũng bắt đầu xâm chiếm thuộc địa
Từ nửa cuối thế kỷ XVII, nước Anh cũng bắt đầu tham gia cuộc chiến tranh giành thuộc địa Tiếp đó là Pháp và một số nước TBCN khác như Đức, Mỹ, Nhật Bản, Bỉ… cũng đẩy mạnh việc xâm chiếm thuộc địa
Từ cuối thế kỷ XIX các đế quốc Mỹ, Đức lúc bấy giờ chiếm ưu thế về kinh tế, giữ các vị trí số 1 và số 2 về sản xuất công nghiệp trên thế giới Lực lượng giữa các
đế quốc lớn đã thay đổi, mâu thuẫn giữa các nước đó ngày càng trầm trọng và cuộc đấu tranh nhằm chia lại thị trường thế giới ngày càng trở nên gay gắt Hai khối đế quốc, một khối do Anh, Pháp, Nga làm nòng cốt và một khối do Đức, Áo - Hung đứng đầu đã hình thành trong hoàn cảnh lịch sử đó
Ngày 1/8/1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ Cuộc đấu tranh nhằm chia lại thị trường thế giới và phạm vi giữa các nước đế quốc là nguyên nhân chủ yếu của cuộc chiến tranh này Cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất mang tính chất đế quốc chủ nghĩa rõ rệt Trên 30 nước, với số dân là 1,5 tỷ người đã bị lôi cuốn vào chiến tranh Cuối năm 1918, chiến tranh kết thúc với sự thất bại của Đức và các đồng minh của Đức
Trong khi Chiến tranh thế giới thứ nhất đang diễn biến thì ở Nga cuộc Cách mạng XHCN tháng Mười vĩ đại nổ ra và thành công Cuộc cách mạng có ý nghĩa lịch
sử toàn thế giới này đã mở ra một thời đại mới, thời đại thắng lợi của tư tưởng Mác - Lênin thời đại sụp đổ của chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ) Chiến tranh thế giới thứ nhất và Cách mạng tháng Mười đã đánh dấu giai đoạn thứ nhất cuộc tổng khủng hoảng của CNTB Những thay đổi to lớn bắt đầu diễn ra trên bản đồ chính trị thế giới
Sau khi chiến tranh chấm dứt, Hội nghị Hòa bình được triệu tập ở Vecxây Hệ thống hòa ước Vecxây được ký kết Những nước thua trận chịu khá nhiều thiệt thòi, còn những nước thắng trận, đặc biệt là Anh và Pháp được hưởng nhiều quyền lợi Đức mất toàn bộ thuộc địa của mình Các thuộc địa của Đức ở châu Phi theo nghị quyết của Hội Quốc Liên thuộc quyền ủy trị của Anh, Pháp, Bỉ và Liên bang Nam Phi Các thuộc địa của Đức ở châu Đại dương chủ yếu thuộc quyền ủy trị của Nhật Đức phải trả lại cho Pháp hai tỉnh Andat và Loren mà Đức đã chiếm từ cuộc chiến tranh Pháp - Phổ
Trang 13Ngoài ra, Đức còn phải trả lại cho Bỉ, Đan Mạch và Ba Lan một số vùng đất đai
mà trước đây Đức chiếm và sáp nhập vào lãnh thổ của mình Diện tích nước Đức so với trước chiến tranh giảm đi 1/3 Nước Ba Lan sau chiến tranh đã có một lối hẹp thông ra biển Ban Tích Những năm 1917 - 1918, các nước Ba Lan, Phần Lan và các nước giáp biển Ban Tích (Extonia, Latvia, Litva) nguyên là các bộ phận lãnh thổ của
đế quốc Nga trước đây đã trở thành các nước cộng hòa tư sản Lợi dụng lúc nước Nga
Xô Viết gặp phải muôn vàn khó khăn, nhà nước Địa chủ tư sản Ba Lan đã cho quân chiếm đóng miền Tây Ukrana và miền Tây Bêlarus, còn Rumani thì chiếm miền Betxarabi (thuộc Mônđavia) và miền Bắc Bucôvin (thuộc Ukraina)
Tại miền Trung Âu, đế quốc Áo - Hung tan rã và các quốc gia mới đã ra đời
là Tiệp Khắc, Áo, Hungari Trên miền Tây bán đảo Bancăng, nước Nam Tư cũng đã xuất hiện trên cơ sở sự thống nhất lãnh thổ giữa Secbia, và một số vùng đất đai của người Slavơ tại miền Nam đế quốc Áo - Hung trước đây
Bungari là đồng minh trong chiến tranh của Đức, ở vào địa vị nước thua trận nên đã bị cắt một phần đất phía nam cho Hy Lạp, do đó không còn lối thông ra biển Angiê nữa
Đế quốc Ôttôman mà trung tâm là Thổ Nhĩ Kỳ, vốn đã suy yếu từ thế kỷ XVII, nay sụp đổ hoàn toàn Là nước thua trận, Thổ Nhĩ Kỳ mất toàn bộ các thuộc địa cũ của mình Những thuộc địa này ở châu Phi, Trung Cận Đông được chuyển giao cho Anh
và Pháp dưới hình thức đất đai ủy trị Bị quân đội nước ngoài chiếm đóng, đứng trước nguy cơ trở thành thuộc địa của CNĐQ, nhưng cuộc Cách mạng Tư sản Thổ Nhĩ Kỳ (1923) đã cứu nước này thoát khỏi nguy cơ đó và Thổ Nhĩ Kỳ trở thành nước cộng hòa
tư sản
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Anh và Pháp có thêm cơ hội để mở rộng hơn nữa các hệ thống thuộc địa của mình, vì phần lớn các thuộc địa trước đây của nước Đức được Hội Quốc Liên giao cho hai nước này cai trị
Hội Quốc Liên là một tổ chức quốc tế ra đời năm 1919 Tổ chức này theo quy định có nhiệm vụ ngăn ngừa chiến tranh, duy trì hòa bình trên thế giới, nhưng trên thực tế đã trở thành công cụ bảo vệ những thành quả mà các nước thắng trận đã giành được chiến tranh, là công cụ để củng cố các hệ thống thuộc địa của các đế quốc Anh
và Pháp
Việc phân chia lại thế giới trên cơ sở hệ thống hòa ước Vec xây mang tính chất tạm thời Mâu thuẫn giữa hệ thống XHCN và hệ thống TBCN không ngừng tăng lên Liên Xô, nước XHCN đầu tiên trên thế giới ngày càng trở nên vững mạnh Trong khi
đó, hệ thống TBCN thế giới những mối mâu thuẫn, kể cả mâu thuẫn giữa các nước
Trang 14thắng trận và các nước bại trận ngày càng gay gắt Cuộc khủng hoảng kinh tế lớn 1929
- 1933 làm suy thoái nghiêm trọng nền kinh tế nhiều nước tư bản và làm cho hệ thống TBCN thế giới thêm suy yếu
Được sự giúp đỡ của Hoa Kỳ và các nước phương Tây, chủ nghĩa quân phiệt Đức nhanh chóng được phục hồi, tiềm lực kinh tế và quân sự của nước này ngày càng được tăng cường Sau khi chế độ phát xít Hitle được thiết lập (1933), nước Đức ngày càng lộ rõ ý đổ đòi chia lại thị trường thế giới một lần nữa và đẩy mạnh việc chuẩn bị chiến tranh thế giới mới
Trục Beclin - Rooma - Tôkyô được thành lập và sau đó không lâu, các nước phát xít Đức, Ý, Nhật bắt đầu tiến hành xâm chiếm đất đai một số nước Ở miền Viễn Đông châu Á, ngay từ năm 1931 Nhật đã chiếm miền Đông Bắc của Trung Quốc và đến năm 1937 mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược nước này Năm 1935, quân đội phát xít Ý xâm chiếm Êtiôpia Năm 1939, Ý tấn công Anbani Bọn phát xít Hitle ngày càng tăng cường những hành động xâm lược, năm 1938 thôn tính nước Áo, năm 1939 chiếm đóng nước Tiệp Khắc và tỉnh Claipet của Litva
Nguy cơ của một cuộc chiến tranh thế giới mới ngày càng tăng và thực tế, việc phân chia lại thị trường thế giới giữa các nước đế quốc đã bắt đầu
Như vậy sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, nền kinh tế thế giới bắt đầu chia thành hai hệ thống XHCN và TBCN, song sức mạnh kinh tế vẫn thuộc về các nước TBCN (Mỹ chiếm 35%, Anh 15%, Đức 10,5%, Pháp 5%, Nhật 4,5%, Ý 3,6% sản lượng công nghiệp thế giới) Hệ thống XHCN lúc này mới chỉ có một nước đó là Liên
Xô
2.2 TRONG VÀ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI
Sự phân chia đất đai sau CTTG I làm cho bản đồ chính trị thế giới có nhiều biến đổi sâu sắc, sau đó tạm thời ổn định Nhưng sự ổn định không lâu bền Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc ngày càng tăng Anh, Pháp là những nước thắng trận nhưng lại suy yếu về nhiều mặt, bước vào thời kỳ đình đốn Trong khi đó Hoa Kỳ vươn lên trở thành nước có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh nhất, thay thế địa vị của Anh ở những thế kỷ trước Khi có tiềm lực, Mỹ giúp Đức khôi phục kinh tế, ráo riết chuẩn bị chiến tranh phục thù để chia lại thị trường thế giới Năm 1937 trục phát xít Đức - Ý - Nhật chiếm các nước khác trên lãnh thổ châu Âu và châu Á, tấn công Liên Xô Đến cuối năm 1941 các nước bị lôi cuốn vào cuộc chiến hao người, tốn của do phe phát xít gây
ra Phe đồng minh chống phát xít gồm Anh, Pháp, Mỹ, Nga Chiến tranh kết thúc với thắng lợi của Đồng minh (1945) Phát xít Đức - Nhật đầu hàng vô điều kiện, bị bại trận và mất thuộc địa Hồng quân Liên Xô giúp nhiều nước châu Âu (Đông Âu) và
Trang 15châu Á giải phóng đất nước đi theo con đường XHCN Bản đồ chính trị thế giới một lần nữa thay đổi đáng kể, biên giới các quốc gia lại được phân chia lại
Từ năm 1945, nền kinh tế và chính trị thế giới chia thành hai hệ thống CNXH trước đây chỉ có một nước, nay thành hệ thống từ châu Âu sang châu Á bao gồm 7 nước Đông Âu: Ba Lan, Hunggari, Anbani, Bungari, Rumani, Tiệp Khắc, CHDC Đức Châu Á: Mông Cổ, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Việt Nam Tây Bán Cầu có Cu Ba (1959) Hai hệ thống này phát triển song song với nhau, tuân theo quy luật riêng của mình, tác động với nhau qua thị trường toàn thế giới
Các nước XHCN thực hiện công hữu tư liệu sản xuất, kế hoạch hóa toàn diện dưới sự lãnh đạo của các Đảng Cộng sản, nền kinh tế khép kín, giữa các nước này hình thành một tổ chức kinh tế là Hội đồng Tương trợ Kinh tế (Khối SEV), hoạt động không hiệu quả đã giải tán
Các nước TBCN: Đặc trưng tư hữu tư liệu sản xuất, nền kinh tế thực hiện theo
cơ chế thị trường tự do, có sự phân hóa khác nhau về trình độ phát triển sức sản xuất
Cơ cấu ngành và sự phân bố sản xuất luôn được điều chỉnh theo lợi nhuận của các công ty tư bản lớn Tình trạng này dẫn đến sự phát triển kinh tế trong mỗi nước mất cân đối giữa các ngành và các vùng Có những vùng phát triển kinh tế ở trình độ cao
và tạo ra giá trị chủ yếu trong tổng thu nhập quốc dân như vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, vùng Pari - Lyon của Pháp, vùng Rua của Đức, vùng Đông Nam của Anh… Đây là những vùng có điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế, còn những vùng khác điều kiện tự nhiên khó khăn không được đầu tư phát triển
Trong hệ thống các nước TBCN đã hình thành các tổ chức kinh tế hoạt động có hiệu quả phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, đó là Khối thị trường chung châu Âu (EEC) là cơ sở để hình thành Liên minh châu Âu (EU) ngày nay Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Khối chuyên ngành có tổ chức các nước xuất khẩu dầu
mỏ (OPEC)…
Một đặc điểm của thời kỳ này là sự ra đời và giành độc lập của hàng loạt các quốc gia nằm trong hệ thống thuộc địa ở châu Á, Phi và Mỹ la tinh Phong trào đấu tranh giành độc lập ngày càng lên cao và giành thắng lợi từ sau CTTG II Đến năm
1990, hệ thống thuộc địa cơ bản đã chấm dứt, chỉ còn một số bộ phận lãnh thổ còn chế
độ thuộc địa không đáng kể: Ma Cao, Hồng Kông và đã được trao trả cho Trung Quốc tháng 7/1997 và tháng 12/1999 Nhà nước XHCN Xô Viết và các nước XHCN khác đã đóng góp to lớn đến quá trình đấu tranh giải phóng khỏi ách áp bức của chủ nghĩa đế quốc và giành độc lập của các nước nằm trong hệ thống thuộc địa Từ năm 1960 của
Trang 16thế kỷ XX đã xuất hiện khái niệm “Thế giới thứ ba, và hình thành nên nhóm kinh tế các nước đang phát triển”
Thế chiến thứ II đã dẫn đến những hệ quả to lớn: Hệ thống TNCN trở nên suy yếu Hệ thống XHCN gồm các nước ở châu Âu và châu Á được hình thành Phong trào GPDT có phát triển mạnh mẽ, dẫn tới sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa CNĐQ, các quốc gia độc lập trẻ tuổi xuất hiện
2.3 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ TAN RÃ HỆ THỐNG XHCN TRÊN THẾ GIỚI
Trong những năm sau CTTG II, các nước XHCN đã đạt được nhiều thành tựu
to lớn trong nhiều lĩnh vực, đã làm thay đổi bộ mặt đất nước, làm chỗ dựa cho nhiều dân tộc Mô hình kinh tế XHCN trong suốt thời gian dài đã thể hiện nhiều ưu việt và huy động tối đa nguồn lực cho phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân lao động Sự quản lý thống nhất và có kế hoạch đã tạo ra sự phát triển nhanh chóng nền kinh tế nhiều nước như: Nga trước CM tháng Mười là nước lạc hậu, kém xa so với nhiều quốc gia Tây Âu, đến đầu thập kỷ 70 trở thành cường quốc công nông nghiệp hiện đại và trình độ KHKT tiên tiến hàng đầu thế giới
Nhưng từ đầu thập kỷ 80 (thế kỷ XX), hệ thống các nước XHCN đã bước vào thời kỳ khủng hoảng, khó khăn do cơ chế bao cấp, quan liêu, mệnh lệnh, bộc lộ nhiều hạn chế và nảy sinh nhiều mâu thuẫn cản trở sự phát triển sản xuất Cơ cấu kinh tế chưa hợp lý, hàng hóa khan hiếm (hàng tiêu dùng, lương thực) chậm đổi mới về quản
lý, kỹ thuật công nghệ, nền kinh tế trì trệ, đời sống nhân dân giảm sút Trong những năm cuối thập kỳ 80 đầu 90 (thế kỳ XX), với những khó khăn và khủng hoảng trên đã làm cho các nước XHCN châu Âu (Đông Âu và Liên Xô cũ) bị sụp đổ, khi mở cửa ra thế giới bên ngoài, hệ thống XHCN tỏ ra có nhiều mặt yếu kém, thua các nước khác, bản đồ thế giới một lần nữa thay đổi, Liên Xô tách ra thành 15 quốc gia độc lập, Tiệp Khắc chia thành 2, Liên bang Nam Tư phân làm 6, hai nước CHDC Đức và Tây Đức sát nhập lại thành một…
Những năm cuối thế kỷ XX trôi qua với những biến đổi dồn dập và nhanh chóng trong đời sống quốc tế Sau khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, chiến tranh lạnh kết thúc, sự đối đầu giữa hai cực không còn, nhưng mâu thuẫn vẫn còn đan xen lúc này hay lúc khác, nơi này hay nơi khác, nhiều vấn đề xã hội nổi cộm diễn ra suốt thập kỷ 90 và đến đầu thế kỷ XXI, khiến loài người phải quan tâm lo lắng Điều đó đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới
Trang 172.4 CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ HÕA BÌNH VÀ ỔN ĐỊNH LÀ ĐIỀU KIỆN CHO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MỖI QUỐC GIA
Thời kỳ hậu chiến tranh lạnh, thế giới đang đứng trước những biến động to lớn, đan xen những xu hướng đối lập: đối thoại và xung đột, hợp tác và cạnh tranh, thống nhất và phân rã Đó là một trong những nét đặc trưng nhất của thời đại toàn cầu hóa khi mà những kẻ đầy tham vọng và đơn cực của chính phủ Mỹ muốn vượt trội hơn hẳn lên áp đặt cho các nước những tiêu chí riêng, thường nảy sinh những toan tính vụ lợi, ích kỷ của mình đã làm cho tình hình kinh tế thế giới ngày càng phức tạp hơn
Các cuộc chiến tranh, nội chiến vẫn đan xen lúc này hay lúc khác, nơi này hay nơi khác như cuộc Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ 1 năm 1991, lần thứ 2 vào năm
2003 Cuộc chiến giữa NATO với Liên bang Nam Tư vì sự kiện Kôsôvô năm 1999, cuộc chiến ở Ápganistan năm 2001, chiến tranh giữa Israel và Li Băng (2006), giữa Israel với Palextin và một số nước Ả Rập khác tại vùng Trung Đông nóng bỏng không mấy khi được yên bình Có thể nói những cuộc nội chiến, mâu thuẫn tôn giáo, xung đột sắc tộc, li khai diễn ra khắp nơi trên các châu lục
Tại châu Âu: xung đột ở Bắc Au Len, Tây Ban Nha, Kôsôvô đòi tách khỏi Liên Bang Nam Tư
Châu Mỹ: Nội chiến ở Peerru, Chiapats đòi li khai
Châu Á: Nội chiến ở Ápganistan, việc thống nhất trên bán đảo Triều Tiên Căng thẳng kéo dài giữa Israel và Palextin, giữa Ấn Độ và Pakixtan Tỉnh Axê (Inđônêxia), đảo Minđanao (Philippin), phong trào đòi ly khai diễn ra mạnh qua các cuộc xung đột với quân chính phủ, bắt cóc con tin kể cả khách du lịch kiến nhiều người quan tâm lo lắng
Một trong những tội ác nguy hiểm và phổ biến là chủ nghĩa khủng bố nhằm phá hoại sự ổn định kinh tế xã hội, đe dọa dân chúng, bắt giữ con tin, gây chiến, chiếm lĩnh các trung tâm vô tuyến, phát thanh, thay đổi chế độ chính trị, lật đổ giới lãnh đại ở nước này hay nước khác, gán ép những quan điểm bè phái, dân tộc chủ nghĩa và những quan điểm khác… Gần đây những phần tử khủng bố còn lợi dụng thành quả KHKT để thực hiện hành động khủng bố kỹ thuật cao như tấn công bằng vũ khí sinh học, chất nổ Những vụ khủng bố đã xảy ra nhiều nơi trên thế giới, điển hình là vụ 11/9/2001 tại Trung tâm Thương mại New York (Mỹ), khủng bố ở Ai Cập (2005)…
Trong thập niên đầu của thế kỷ XXI, thế giới phải đối mặt với nhiều vấn đề nan giải, được xem là những thách thức, đòi hỏi các quốc gia trên thế giới cùng nỗ lực hợp tác vì sự phát triển hòa bình và thịnh vượng Các nhà lãnh đạo các nước ở cấp vĩ mô cần có những biện pháp cứng rắn và mềm dẻo, một tư duy chính trị tỉnh táo, một trí tuệ
Trang 18đủ sức tìm ra những biện pháp phù hợp trong việc giải quyết các vấn đề của nước mình cũng như quốc tế, tránh những điều đáng tiếc xảy ra khiến cộng đồng thế giới phải quan tâm lo lắng, để nhân loại được sống trong hòa bình, ổn định là điều kiệ cho
sự phát triển của mỗi quốc gia
Trang 19CHƯƠNG 3 TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THẾ GIỚI TRONG THỜI KỲ
HIỆN ĐẠI 3.1 CUỘC CÁCH MẠNG KHOA HỌC KỸ THUẬT (KHKT) HIỆN ĐẠI
3.1.1 Khái quát về cuộc cách mạng KHKT hiện đại
Cách mạng KHKT là một quá trình thay đổi cơ bản của hệ thống kiến thức về KHKT diễn ra trong mối quan hệ khăng khít với quá trình phát triển của xã hội loài người Cho đến nay, loài người đã trải qua 2 cuộc cách mạng KHKT Cuộc cách mạng KHKT gắn với cuộc cách mạng công nghiệp vào thế kỷ XVIII, XIX và cuộc cách mạng KHKT hiện đại diễn ra từ 1940 đến nay
CMKHKT lần thứ nhất vào thế kỷ XVII ở nước Anh với sự ra đời của những chiếc máy dệt đầu tiên, máy quay xa, máy hơi nước… làm cho ngành công nghiệp nhẹ nhanh chóng, mau lẹ lớn nhanh và trở thành nổi tiếng, đứng đầu thế giới, tiếp theo là các ngành khác, đưa nước Anh trở thành “Một công xưởng của thế giới” rồi lần lượt là các nước Pháp, Đức, Mỹ…
CMKHKT lần thứ II diễn ra từ những năm 1940 đến những năm giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX, chia thành hai giai đoạn, phát triển với tốc độ nhanh, quy mô rộng, đạt nhiều thành tựu
Cuộc cách mạng KHKT gồm 2 giai đoạn:
* Giai đoạn I (từ giữa những năm 1940 đến giữa những năm 1970)
Phù hợp với thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế sau những tàn phá và mất mát bởi Chiến tranh thế giới lần II Đặc điểm phát triển theo chiều rộng, tập trung vào
cá ngành công nghiệp nặng, đòi hỏi nhiều năng lượng, nguyên liệu, lao động, quy mô sản xuất theo không gian rộng lớn Các hướng chủ yếu:
- Tăng cường khai thac các nguồn năng lượng, nguyên vật liệu
- Tăng cường cơ khí hóa, nâng cao năng suất lao động
- Chú trọng phát triển các ngành sản xuất sử dụng nhiều nguyên liệu như luyện kim, cơ khí chế tạo, hóa chất, dệt
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu ra các đại dương và vũ trụ
- Nghiên cứu ứng dụng di truyền học nhằm nâng cao năng suất cây trồng, vật
nuôi nhằm tăng sản lượng lương thực thực phẩm
Kết quả: khối lượng sản phẩm hàng hóa tăng nhanh, tốc độ tăng trưởng nền kinh
tế thế giới trung bình khá cao ( 5 – 6%), nguồn của cải vật chất dồi dào, đời sống kinh
tế xã hội được cải thiện
Trang 20* Giai đoạn II (từ giữa những năm 1970 đến những năm 1990)
Đây là cuộc cách mạng đưa loài người chuyển sang một nền văn minh mới “Nền văn minh công nghiệp” Xu hướng phát triển theo chiều sâu đã làm thay đổi tính chất của sự phát triển kỹ thuật, cách mạng KHKT hướng vào đổi mới công nghệ Các hướng phát triển chính:
- Thay thế và giảm bớt việc sử dụng các nguồn năng lượng, nguyên vật liệu
truyền thống bằng nguyên vật liệu mới, nhẹ, nhỏ, tính năng tốt hơn, ô nhiễm ít hơn
- Tăng cường tự động hóa trong sản xuất công nghiệp và nhiều ngành kinh tế
- Phát triển nhanh và không ngừng hoàn thiện kỹ thuật điện tử, tin học viễn
thông
- Phát triển các ngành công nghệ sinh học, vũ trụ, nghiên cứu đại dương, vật lý
hiện đại
- Phát triển công nghệ môi trường
- Cuộc CM KHKT lần thứ 3 diễn ra mạnh mẽ cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI
với nền kinh tế mới là nền kinh tế hậu công nghiệp: Nền kinh tế tri thức Kinh tế thế
giới đang chuyển từ nền sản xuất hàng hóa sang nền kinh tế thông tin Đây là cuộc cách mạng diễn ra sâu, rộng chưa từng thấy
Thế kỷ XXI, nhân loại đang tiến hành cuộc cách mạng KH và công nghệ hiện đại, đặc trưng là xuất hiện và bùng nổ công nghệ cao Đây là các công nghệ dựa trên những thành quả khoa học mới nhất với hàm lượng tri thức, hàm lượng khoa học sáng tạo cao nhất
Những công nghệ trụ cột có tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến phát triển KTXH là: công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu và năng lượng mới, công nghệ thông tin, công nghệ hàng không vũ trụ, công nghệ biển và công nghệ nông nghiệp
* Công nghệ thông tin
Hướng vào nghiên cứu sử dụng các vi mạch, chíp điện tử có tốc độ cao, kỹ thuật
số hóa, công nghệ laze, cáp quang truyền thông đa phương diện, thông tin vi sóng, thông tin di động, siêu lộ cao tốc thông tin…đã làm cho việc chuyển thông tin không những có dung lượng lớn, chất lượng tốt, diện phủ rộng, nhanh chóng, linh hoạt, an toàn, tin cậy; thực hiện các dịch vụ truyền tin đa dạng, phức tạp đáp ứng mọi nhu cầu truyền tin của từng cá nhân như truyền tiếng nói, hình ảnh tĩnh, động, các dữ liệu, văn bản khắp mọi nơi, mọi miền trên Trái Đất
* Công nghệ vật liệu và năng lượng mới
Trang 21Công nghệ vật liệu mới là công nghệ chế tạo ra các vật liệu thay thế cho vật liệu
tự nhiên bằng các phương pháp khoa học (vật liệu composit, vật liệu điện tử, vật liệu siêu dẫn, vật liệu năng lượng mới) Vật liệu được tạo ra theo công nghệ nano đã đưa đến những khả năng mới cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực như: giao thông, xây dựng, điện tử, kỹ thuật trên biển, hàng không vũ trụ, y sinh học bởi khả năng siêu dẫn, siêu bền, siêu nhẹ
Công nghệ năng lượng mới với sự phát triển năng lượng nguyên tử, gió, mặt trời,
địa nhiệt, thủy triều sẽ an toàn, sạch, không gây ô nhiễm môi trường thay thế các nguồn nguyên, nhiên liệu hóa thạch đã cạn kiệt Nguồn năng lượng mới phải có khả năng tái sinh được, ít độc hại và thỏa mãn nhu cầu của nhân loại Trong thế kỷ XXI, năng lượng hạt nhân sẽ tăng lên và là nguồn năng lượng chủ yếu Về khía cạnh an toàn phóng xạ, các lò phản ứng tiên tiến hiện nay có khả năng đảm bảo tuyệt đối
Công nghệ sinh học
Bao gồm công nghệ gen, công nghệ tế bào, công nghệ vi sinh, công nghệ enzim… cho phép con người làm chủ và điều kiển được quá trình sinh học đối với các vật thể sống, tạo ra các phế phẩm mới, các giống vật nuôi có đặc tính tốt phục vụ cho lợi ích của con người Công nghệ sinh học sẽ tạo ra những bước tiến quan trọng để chuẩn đoán và điều trị các bệnh nan y, tạo ra những dược phẩm mới Thế kỷ XXI sẽ có
sự kết hợp tuyệt vời nhất giữa công nghệ sinh học, nông nghiệp và công nghệ sinh học,
y học và cách mạng tin học xâm nhập vào nhau sẽ tạo ra nhiều thành tựu kỳ diệu khó lường trước như sản xuất vắc xin ăn được, bản đồ gen con người sẽ được giải mã trong tương lai không xa Sẽ có bản đồ gen cho các loài sinh vật, cây trồng thế hệ mới sẽ tạo
ra lợi ích kinh tế cao, nhân bản các bộ phận cơ thể của con người tạo ra các cơ quan thay thế…
* Công nghệ hàng không vũ trụ
Công nghệ hàng không vũ trụ sẽ có bước phát triển vượt bậc, có những phương
án thiết kế, sản xuất máy bay siêu lớn, tăng kích thước, trọng lượng, có sức chở 1.000 hành khách đã xuất xưởng vào 2005 tại châu Âu Ngành công nghiệp vũ trụ sẽ có sự phát triển mới trong thế kỷ XXI để loài người có cơ hội khai thác tài nguyên vũ trụ như xây dựng trạm phát điện vệ tinh bằng năng lượng mặt trời, vận hành trên quỹ đạo trái đất, khai thác bề mặt trăng và các hành tinh khác, sẽ phát triển những phòng thí nghiệm trên không, xây dựng trạm vũ trụ để sử dụng môi trường trên không, năng lượng mặt trời, môi trường vi trọng lượng để mở ra con đường thương mại hóa vũ trụ, sản xuất dược phẩm trong vũ trụ sẽ là ngành thu hiệu quả kinh tế nhất
* Công nghệ nông nghiệp
Trang 22Trong thế kỷ XXI, nông nghiệp sẽ là ngành sản xuất cơ bản, cung cấp lương thực cho dân số ngày càng đông Tự động hóa trong nông nghiệp chủ yếu dựa vào công nghệ vi điện tử để ứng dụng các máy móc thiết bị, nông nghiệp sẽ phát triển mạnh Điện khí hóa nông nghiệp là công nghiệp về các dạng năng lượng mới nên có nhiều cơ hội để thực hiện điện khí hóa NN Sinh hóa học NN là xu thế phát triển công nghệ sinh học trong nông nghiệp sẽ có khả năng ứng dụng rất lớn như khả năng ứng dụng kỹ thuật gen, nuôi cấy tế bào, kỹ thuật lên men…
Trong thế kỷ XXI, bằng kỹ thuật và công nghệ hiện đại, con người sẽ mở rộng không gian nông nghiệp ra biển, sa mạc, và có thể cả không gian vũ trụ NN sẽ trồng cây trên sa mạc, trên các hành tinh ngoài trái đất, tàu vũ trụ…
* Công nghệ biển
Trong thế kỷ XXI, con người sẽ sử dụng nước biển tưới cho cây trồng NN, xây dựng các cảng hàng không trên biển, thành phố trên biển, đảo nhân tạo, di dân ra biển, bãi phế thải dưới đáy biển để xử lý chất thải hạt nhân Trong thế kỷ XXI, sẽ mở ra không gia biển và đại dương rộng lớn để phục vụ cuộc sống của con người
3.1.2 Tác động của CM KHKT hiện đại đến nền KT – XH thế giới
- Cách mạng KHKT đã và đang đưa loài người chuyển sang nền văn minh mới,
“Nền văn minh hậu công nghiệp”
- Cách mạng KHKT làm thay đổi sâu sắc phương thức lao động của con người:
từ nền sản xuất nông nghiệp thủ công đến sản xuất cơ khí hóa và ngày nay là tự động hóa quá trình hoạt động kinh tế với sự giúp đỡ của tin học
- Cách mạng KHKT làm thay đổi cơ cấu kinh tế quốc dân, thay đổi cơ cấu các
ngành kinh tế, thay đổi hình thức và cơ chế tổ chức sản xuất, thay đổi cơ cấu lao động, thay đổi cơ cấu sản phẩm…
- Cách mạng KHKT làm thay đổi phân bố sản xuất
- Cách mạng KHKT góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, đưa văn minh đến
cho cuộc sống con người
- Với sự kết hợp giữa máy tính, các phương tiện nghe nhìn và mạng lưới thông
tin viễn thông đang hình thành một kết cấu hạ tầng văn hóa quan trọng của thời đại
- Công nghệ hiện đại, đặc biệt là kỹ thuật điện tử tin học đang có cống hiến to
lớn vào việc cải thiện điều kiện làm việc, hợp lý hóa lối sống, nâng cao năng tực tư duy của con người
- Cách mạng KHKT tác động đến quá trình quốc tế hóa nền kinh tế thế giới
Trang 23- Cách mạng KHKT làm cho quá trình quốc tế hóa phát triển nhanh cả chiều
rộng lẫn chiều sâu Cách mạng KHKT đã mở ra những khả năng to lớn, để khai thác khả năng này các nước cần phải hợp tác với nhau, thể hiện ở sự gia tăng về phân công lao động, chuyển giao công nghệ, quan hệ xuất nhập khẩu nhằm phát huy thế mạnh của từng nước trên thị trường quốc tế
- Cách mạng KHKT với sự phát triển kinh tế theo chiều sâu
Từ giữa những năm 70, XX, đứng trước vấn đề môi trường và sự cạn kiệt tài nguyên thì những yếu tố KH- công nghệ càng trở nên quan trọng, thể hiện qua việc sử dụng có hiệu quả các yếu tố; tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao công suất sử dụng máy móc thiết bị Đây là quan điểm phát triển kinh tế theo chiều sâu
- Cách mạng khoa học - kĩ thuật làm cho các nước ngày càng phụ thuộc vào
nhau về vốn, nguyên, nhiên liệu, lao động và khoa học công nghệ
- Bên cạnh những thành tự to lớn thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, cuộc
Cách mạng khoa học – kĩ thuật cũng gây nhiều hậu quả đến sự phát triển kinh tế - xã hội, môi trường đối với từng quốc gia cũng như toàn thế giới: một lượn lớn tài nguyên
bị khai thác, bị cạn kiệt, ô hiễm môi trường, khan hiếm nước sạch, suy giảm đa dạng sinh học… Cách mạng khoa học – kĩ thuật còn góp phần làm gia tăng sự chênh lệch
về trình độ phát triển và khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia các tầng lớp trên thế giới…
c Nền kinh tế tri thức
Kinh tế tri thức là giai đoạn phát triển mới của lực lượng sản xuất Kinh tế tri thức là nền kinh tế dựa trên chất xám, kỹ thuật và công nghệ cao Vai trò của thông tin, công nghệ, giáo dục đào tạo đối với năng lực nền kinh tế ngày na trở nên đặc biệt quan trọng, vị trí của tri thức và công nghệ ngày càng cao trong các nền kinh tế phát triển
OECD và APEC đã đưa ra định nghĩa” Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sản sinh ra, truyền bá sử dụng tri thức là động lực chủ yếu nhất của sự tang trưởng, tạo
ra của cải, tạo ra việc làm trong tất cả các ngành kinh tế” Định nghĩa này muốn nhấn mạnh việc sử dụng trí thức trong tất cả các lĩnh vực kinh tế
Chỉ tiêu đánh giá mức độ của nền kinh tế tri thức:
OECD đề xuất 4 yếu tố là đầu vào của tri thức, đầu ra của tri thức, mạng tri thức, tri thức và học tập
APEC đưa ra một hệ thống chỉ tiêu cụ thể: Doanh nghiệp đổi mới (tổng chi phí cho nghiên cứu và phát triển, số lượng sáng chế, doanh thu qua thương mại điện tử)
Cơ sở tri thức (chỉ số HDI, số người đi học, số cán bộ nghiên cứu và phát triển/1000 dân, số thư viện báo chí, ti vi/1000 dân, tỷ lệ phần trăm của công nhân tri thức so với
Trang 24tổng lao động) Cơ sở hạ tầng (số máy tính/100 dân, số điện thoại và điện thoại di động, tỷ lệ số người nối mạng, số người sử dụng internet, thương mại điện tử) Cơ cấu kinh tế (đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, tổng chi phí cho nghiên cứu và phát triển, xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao, giá trị kinh tế %GDP) Vai trò của chính phủ (dân chủ công khai, thúc đẩy sáng tạo…) Trong các chỉ số trên có 2 chỉ số cơ bản nhất là tỷ lệ công nhân tri thức và tỷ lệ giá trị của tri thức
Ngân hàng thế giớ đưa ra 64 chỉ tiêu tập hợp thành 4 nhóm: 1) Môi trường kinh doanh; 2) Khoa học và công nghệ; 3) Giáo dục và đào tạo; 4) Công nghệ thông tin và truyền thông Mỗi nhóm có 16 chỉ tiêu Để tiện dung người ta sử dụng chi tiêu ít hơn nhưng thêm 2 chỉ tiêu cơ bản là tốc độ tăng trưởng GDP và HDI (chỉ số phát triển con người)
Kinh tế tri thức là nền tảng cho sự tăng trưởng kinh tế Hiện nay kinh tế tri thức phát triển và đạt mức cao trong nhiều nước thành viên OECD Những ngành dựa vào
vị trí thực hiện chiếm trên 50% GDP và trở thành quan trọng nhất ở Mỹ, Đức, Pháp, Australia, Singapore, các nước Bắc Âu, Hàn Quốc Đầu tư cho tri thức chiếm 8% GDP (Mỹ), đầu tư cho Công nghệ thông tin chiếm 7% GDP (Đức), Bắc Âu và Pháp đầu tư cho các nguồn lực vô hình (9 đến 10%) đạt tỷ lệ cao nhất thế giới
Đến năm 2030, các nước phát triển đều trở thành nền kinh tế tri thức
3.2 MỘT SỐ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN KT – XH TRÊN THẾ GIỚI TRONG NHỮNG THẬP KỶ GẦN ĐÂY
3.2.1 Xu hướng ưu tiên cho phát triển kinh tế đang lôi cuốn cả cộng đồng
Chiến tranh lạnh kết thúc, sự đối đầu giữa hai cực không còn, cuộc chạy đua kinh tế trên phạm vi toàn cầu đang thay thế cuộc chạy đua vũ trang Kinh tế trở thành nhân tố quyết định trong sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia, ngày càng có vị trí quan trọng trong quan hệ quốc tế ngày nay
Trong thời kỳ cuối thế kỷ XX, đầu XXI, đang diễn ra một cuộc chạy đua toàn cầu về kinh tế và KHKT trong bối cảnh các nước trên thế giới đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình
3.2.2 Xu thế đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của tất cả các nước
Đây là đòi hỏi khách quan của tình hình mới dưới tác động mạnh mẽ của cách mạng KHKT đem lại sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong nền sản xuất được quốc tế hóa Các nước ra sức mở rộng quan hệ quốc tế không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở lợi ích dân tộc
Trang 253.2.3 Xu hướng tăng cường hợp tác khu vực (khu vực hóa)
Các nước đều coi trọng chính sách khu vực, ưu tiên phát triển quan hệ với các nước láng giềng, đẩy mạnh hợp tác và liên kết khu vực, nhất là về kinh tế Khu vực hóa chính là hướng chuẩn bị để tiến tới toàn cầu hóa Khu vực hóa có nhiều mức độ khác nhau, từ một vài nước và lãnh thổ đến nhiều nước tham gia vào một tổ chức khu vực địa lý Các tổ chức khu vực này nhằm hỗ trợ nhau phát triển, tận dụng những ưu thế của khu vực trong quá trình từng bước tham gia nền kinh tế toàn cầu Các nước nhỏ đẩy mạnh liên kết kinh tế khu vực đồng thời có sự cân bằng với các nước lớn, khai thác mọi khả năng và những điểm đồng nhất trên từng vấn đề, từng lúc để mở rộng hợp tác vì lợi ích của mạnh Các nước đều coi trọng chính sách khu vực, đẩy mạnh
hợp tác, liên kết Bắc – Nam, Nam – Nam
Những năm gần đây xu hướng hợp tác khu vực được thúc đẩy mạnh mẽ Đến nay có khoảng > 120 tổ chức hợp tác khu vực với quy mô, hình thức khác nhau (NAFTA, EU, ASEAN, APEC, MERCOSUR…)
3.2.4 Xu hướng tăng cường sự quốc tế hóa nền kinh tế thế giới
Ngày nay thế giới đang hình thành một thị trường thống nhất bao gồm các nước
có chế độ chính trị, xã hội khác nhau Thương mại thế giới phát triển nhanh (WTO với
151 thành viên - năm 2007) chiếm 90% số dân chi phối 95% hoạt động thương mại thế giới có vai trò thúc đẩy thương mại thế giới, làm cho kinh tế thế giới phát triển năng động hơn
Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, nổi bật là lĩnh vực dịch vụ Thị trường tài chính quốc tế mở rộng (IMF, WB…) Các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng lớn
3.2.5 Xu hướng quốc tế hóa - toàn cầu hóa ngày càng tăng
Theo tổ chức OECD: “Toàn cầu hóa như là một quá trình trong đó thị trường
và sản phẩm của các quốc gia ngày càng phụ thuộc lẫn nhau nhờ sự trao đổi năng động về hành hóa, dịch vụ, tài chính và công nghệ”
“Toàn cầu hóa kinh tế là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới quốc gia, khu vực, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sự vận động phát triển hướng tới nền kinh tế phát triển thống nhất Sự gia tăng của xu thế này được thể hiện ở sự mở rộng mức độ, quy mô mậu dịch thế giới, sự lưu chuyển vào các dòng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu”
* Những biểu hiện của toàn cầu hóa:
- Sự phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc Sản phẩm mang tính quốc
tế hóa cao
Trang 26- Thị trường tài chính quốc tế mở rộng (IMF, WB) Sự chuyển dịch tài chính giữa các nước thông qua các hoạt động: FDI, ODA…
- Thương mại thế giới phát triển nhanh
- Ngày càng nhiều các tổ chức quốc tế và khu vực được thành lập và hoạt động
có hiệu quả: UN, UNDP, UNESCO, APEC, NAFTA, APEC, NAFTA, EU, ASEAN…
- Đầu tư nước ngoài tăng nhanh
- Các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng lớn (thế giới có trên 60.000 công ty với khoảng 500.000 chi nhánh, chiếm 30% GDP thế giới, 75% FDI, 75% chuyển giao công nghệ, KHKT, sở hữu 80% cơ sở nghiên cứu công nghiệp
- Di dân và xuất khẩu lao động, vấn đề lao động nhập cư
- Các chính sách, quy chế điều tiết hoạt động kinh tế, thương mại các quốc gia tiến tới chuẩn mực chung của thế giới
- Sự phát triển của Internet
- Tăng và giảm tính đa dạng văn hóa
* Hệ quả của toàn cầu hóa kinh tế
- Thúc đẩy sự tăng trưởng, phát triển kinh tế toàn cầu, tăng cường đầu tư, sự hợp tác quốc tế Các nước tham gia toàn cầu hóa đều có sự tăng trường cao, các điều kiện cuộc sống tốt hơn, các nguồn lực phát triển được cải thiện Toàn cầu hóa mang lại lợi ích khác nhau cho các nước (các nước trên thế giới có sự giàu nghèo khác nhau nên
sẽ có những thuận lợi, khó khăn khác nhau)
- Gia tăng khoảng cách giàu nghèo: nguy cơ mất bản sắc văn hóa, các giá trị truyền thống Gia tăng khoảng cách các chênh lệch về trình độ phát triển giữa các nước phát triển và đang phát triển Các rào cản thương mại, sự áp đặt các giá trị nhân văn luôn là sự ngăn cản phát triển Cạnh tranh kinh tế trở nên gay gắt (môi trường đầu
tư, sản phẩm, công ty trong nước và quốc tế…)
3.2.6 Xu hướng phát triển bền vững
Phát triển bền vững là đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu cầu của họ (Theo Ủy ban môi trường và phát triển, 1987)
Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên Hợp Quốc, Riode Janeiro, Brazil, 1992: Phát triển bền vững không chỉ là quan điểm và xu hướng phát triển kinh tế xã hội mà là mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế kỷ XXI Điều kiện cơ bản cho phát triển bền vững: bền vững về môi trường, về kinh tế và xã hội
Trang 27Các nguyên tắc của một xã hội phát triển bền vững đều có liên quan với nhau
và hỗ trợ lẫn nhau Trong số 9 nguyên tắc do Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc đề ra, nguyên tắc thứ nhất là rất quan trọng, làm cơ sở đạo lý cho các nguyên tắc khác Bốn nguyên tắc tiếp theo định rõ những tiêu chuẩn cần đạt tới và bốn điều cuối cùng là phương hướng phải theo để đạt được một xã hội phát triển bền vững đối với từng cá nhân, từng địa phương, quốc gia và quốc tế
a Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng
Nguyên tắc này nói lên trách nhiệm phải quan tâm đến việc khác và các hình thức khác của sự sống trong hiện tại và tương lai Đó là một nguyên tắc đạo đức Điều
đó có nghĩa rằng sự phát triển cua nước này không được làm thiệt hại đến nước khác
và của các thế hệ mai sau Chúng ta phải chia sẻ công bằng những phúc lợi và chi phí trong việc sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường giữa các cộng đồng với các nhóm
có liên quan, giữa người nghèo với người, giữa thế hệ chúng ta với thế hệ mai sau
Toàn thể các dạng sự sống trên Trái Đất tạo thành một hệ thống có mối quan hệ lẫn nhau, tác động phụ thuộc vào những thành tố vô sinh như đá, đất, không khí và nước Sự sống còn của chúng ta dựa trên các loài khác, cho nên chúng ta không nên và không được khai thác chúng một cách bừa bãi và tàn bạo
b Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người
Mục đích thực sự của việc phát triển là cải thiện chất lượng cuộc sống của loài người Đó là một cách để con người nhận biết được khả năng của mình, xác lập niềm tin và sống một cuộc sống vinh quang, thành đạt Phát triển kinh tế là một yếu tố quan trọng của việc phát triển, nhưng nó không phải là mục đích tự thân, vô hạn định
c Bảo vệ sự sống và tính đa dạng của Trái Đất
Sự phát triển trên cơ sở bảo vệ đòi hỏi phải có hành động thận trọng để bảo vệ được cấu trúc, chức năng và tính đa dạng của những hệ thống thiên nhiên, của Trái Đất
mà loài người chúng ta phụ thuộc vào Điều này đòi hỏi chúng ta phải: bảo vệ hệ thống nuôi dưỡng sự sống, bảo vệ tính đa dạng sinh học và bảo đảm chắc chắn và bền vững các nguồn tài nguyên tái tạo
d Hạn chế đến mức thấp nhất việc làm suy giảm nguồn tài nguyên không tái phạm
Quặng mỏ, dầu, hơi đối và than là những tài nguyên không thể tái tạo Khác với cây cối, cá hoặc đất đai những tài nguyên này không thể dùng bền vững được, tuy vậy,
“tuổi thọ” của chúng có thể kéo dài bằng cách quay vòng, hoặc dùng một số lượng ít ỏi hay thay thế bằng những tài nguyên tái tạo được nếu có thể
e Giữ vững khả năng chịu đựng của Trái Đất