1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Cuộc thi tìm hiểu hiến pháp

40 187 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiến pháp năm 2013: Trên cơ sở Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 bổ sung, phát triển năm 2011 của Đảng Cộngsản Việt Nam, cùng với kết quả tổ

Trang 1

BÀI THAM GIA CUỘC THI

“Tìm hiểu Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013”

-*** -Câu 1 Từ năm 1945 khi thành lập nước Việt nam Dân chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đến nay, nước ta có mấy bản Hiến pháp? Các bản Hiến pháp đó được Quốc hội thông qua vào ngày, tháng, năm nào?

Trả lời:

Hiến pháp được gọi là đạo luật cơ bản, luật gốc của Nhà nước, các quy định củaHiến pháp là cơ sở pháp lý để xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ,thống nhất; đồng thời là cơ sở cho việc tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước.Hiến pháp là văn bản pháp luật có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống phápluật và đời sống chính trị của mỗi quốc gia, có thể coi là tuyên ngôn chính trị củamỗi chính thể nhà nước Lịch sử lập hiến của nước ta từ năm 1945 đến nay đãchứng kiến sự ra đời của 05 bản Hiến pháp, đó là Hiến pháp 1946, 1959, 1980,

1992 và 2013

Hiến pháp 1946: Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 02/9/1945, Chủtịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa Ngày 03/9/1945, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề về sự cần thiết phải có một bản Hiến phápdân chủ cho nước Việt Nam

Mặc dù trong điều kiện hết sức khó khăn của những ngày đầu giành được độc lập,Chính phủ lâm thời lúc đó vẫn tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốchội khóa đầu tiên vào ngày 06/01/1946 Sau 10 tháng chuẩn bị tích cực, dưới sựchỉ đạo sâu sát của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 09/11/1946, Quốc hội Khóa I (kỳ

Trang 2

họp thứ 2) chính thức thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta (với 240/242phiếu tán thành), đó là Hiến pháp năm 1946.

Quang cảnh phiên họp Quốc hội khóa I tại Nhà hát Lớn Hà Nội

Hiến pháp năm 1946 ra đời là sự khẳng định mạnh mẽ về mặt pháp lý chủ quyềnquốc gia của nhân dân Việt Nam, sự độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của nước ViệtNam Dân chủ Cộng hòa Tuy nhiên, do điều kiện chiến tranh nên bản Hiến pháp

1946 không được chính thức công bố Mặc dù vậy, những tinh thần và nội dungcủa Hiến pháp 1946 luôn được Chính phủ lâm thời và Ban thường vụ Quốc hội ápdụng, điều hành đất nước Tư tưởng lập hiến của Hiến pháp 1946 luôn được kếthừa và phát triển trong các bản Hiến pháp sau này

Hiến pháp 1959: Ngày 7/5/1954, chiến thắng lịch sử Điện Biên phủ tạo tiền đề choHiệp định Giơ-ne-vơ ký kết ngày 20/7/1954, văn kiện quốc tế đầu tiên, tuyên bố tôntrọng độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam

Tuy nhiên, ngay sau đó được sự ủng hộ trực tiếp của Mỹ, chính quyền Ngô ĐìnhDiệm ở miền Nam Việt Nam đã cự tuyệt thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, âm mưuchia cắt lâu dài đất nước Việt Nam

Trang 3

Sự thay đổi của tình hình chính trị - xã hội nói trên đã làm cho Hiến pháp 1946không có điều kiện áp dụng trên phạm vi cả nước Mặt khác, nhiều quy định củaHiến pháp 1946 cũng không còn phù hợp với điều kiện cách mạng nước ta ở miềnBắc lúc bấy giờ Vì vậy, việc yêu cầu sửa đổi Hiến pháp 1946 đã được đặt ra Đểthực hiện được nhiệm vụ này, Chính phủ đã thành lập một Ban sửa đổi Hiến phápvới 28 thành viên, do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng Ban Ngày 01/4/1959,Bản dự thảo Hiến pháp mới đã được công bố để toàn dân thảo luận và đóng góp ýkiến Đến ngày 31/12/1959, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa I đã thông qua bảnHiến pháp mới thay thế Hiến pháp năm 1946; và ngày 01/01/1960, Chủ tịch HồChí Minh đã ký lệnh công bố bản Hiến pháp này – Hiến pháp năm 1959.

Hiến pháp 1980: Ngày 30/4/1975 đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử dântộc Việt Nam, đất nước hoàn toàn thống nhất, non sông thu về một mối Ngày25/4/1976, cuộc Tổng tuyển cử theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu đã bầu ra

492 vị đại biểu Quốc hội (khóa VI) Từ ngày 24/6 đến 03/7/1976, Quốc hội khóa

VI tiến hành kỳ họp đầu tiên Tại kỳ họp này, ngày 02/7/1976, Quốc hội đã quyếtđịnh đổi tên nước ta thành nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời

ra Nghị quyết về việc sửa đổi Hiến pháp 1959 và thành lập Uỷ ban dự thảo Hiếnpháp gồm 36 người do đồng chí Trường Chinh - Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốchội làm Chủ tịch Ủy ban dự thảo Hiến pháp mới

Đến tháng 8/1979, bản Dự thảo Hiến pháp mới được đưa ra lấy ý kiến nhân dân cảnước Ngày 18/12/1980, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa VI đã nhất trí thông quaHiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Với Hiến pháp năm 1980,lần đầu tiên vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được hiến định tại Điều

4, đây là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trongthời kỳ quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội

Hiến pháp năm 1992: Trong những năm cuối của thập kỷ 80, Thế kỷ XX, do ảnhhưởng của phòng trào Cộng sản và công nhân quốc tế lâm vào thoái trào, chế độ xãhội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, nước ta lâm vào cuộckhủng hoảng kinh tế trầm trọng Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam(12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới với nhiều chủ trương, giải pháp quan trọng

Trang 4

để giữ vững ổn định về chính trị và tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội; trong bốicảnh đó, nhiều quy định của Hiến pháp năm 1980 không còn phù hợp với yêu cầuxây dựng đất nước trong điều kiện mới.

Ngày 22/12/1988, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội (khóa VIII) đã ra Nghị quyết thànhlập Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp gồm 28 đồng chí do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước

Võ Chí Công làm Chủ tịch Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp

Đến ngày 15/4/1992, trên cơ sở tổng hợp ý kiến của nhân dân cả nước, Bản dựthảo Hiến pháp mới lần này đã được Quốc hội khóa VIII thông qua (tại kỳ họp thứ11) Hiến pháp năm 1992 được gọi là Hiến pháp của Việt Nam trong thời kỳ đầucủa thời kỳ đổi mới

Ngày 25/12/2001, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa X đã thông qua Nghị quyết số51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992

Hiến pháp năm 2013: Trên cơ sở Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng Cộngsản Việt Nam, cùng với kết quả tổng kết thực tiễn qua 25 năm thực hiện công cuộcđổi mới toàn diện đất nước đã đặt ra yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm1992; nhằm thể chế hóa đầy đủ hơn, sâu sắc hơn quan điểm của Đảng và nhà nước

ta về đề cao chủ quyền nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và đảm bảo tất

cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

Ngày 06/8/2011, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIII, đã thông qua Nghị quyết

số 06/2011/QH13 thành lập Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 gồm 30thành viên, do đồng chí Nguyễn Sinh Hùng – Chủ tịch Quốc hội làm Chủ tịch Ủyban Sau thời gian 9 tháng (từ 01 đến 9/2013) triển khai lấy ý kiến góp ý của nhândân cả nước và người Việt Nam ở nước ngoài, ngày 28/11/2013, tại kỳ họp thứ 6,Quốc hội khóa XIII chính thức thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam – Hiến pháp năm 2013 Ngày 08/12/2013, Chủ tịch nước đã kýLệnh công bố Hiến pháp Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực thi hành từ ngày01/01/2014 Đây là bản Hiến pháp của thời kỳ tiếp tục đổi mới đất nước trong sựnghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế

Trang 5

Câu 2 Bản Hiến pháp mới được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28/11/2013 (Hiến pháp năm 2013) có hiệu lực từ ngày, tháng, năm nào? So với Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) có bao nhiêu điều được giữ nguyên? Có bao nhiêu điều được sửa đổi, bổ sung? Điều sửa đổi, bổ sung nào bạn tâm đắc nhất? vì sao?

Trả lời:

Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 được Quốchội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua vào ngày 28 tháng 11 năm 2013 với sốphiếu thuận áp đảo (486/488 đại biểu bấm nút thông qua) Ngày 8 tháng

12 năm 2013, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ký Lệnh số 18/2013/L-CTN công

bố Hiến pháp và Nghị quyết số 64/2013/QH13 quy định một số điểm thi hành Hiếnpháp, theo đó Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2014 Bản Hiến pháp thể hiện đầy đủ hơn bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước và chế

độ ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, về xây dựng Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do Đảng lãnh đạo,quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quy định đúng đắn, đầy

đủ và khái quát hơn về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ vàmôi trường, bảo vệ Tổ quốc, tổ chức bộ máy nhà nước, về hiệu lực và quy trìnhsửa đổi Hiến pháp

Hiến pháp năm 2013 có tổng cộng 11 Chương với 120 điều, giảm 01 chương và 27điều so với Hiến pháp 1992 (được sửa đổi bổ sung năm 2001), trong đó có 12 điềumới, 07 điều được giữ nguyên và 101 điều được sửa đổi, bổ sung

Có thể nói Hiến pháp năm 2013 là sự hội tụ trí tuệ của cả dân tộc khi khi từng câutừng chữ được nhân dân cả nước tham gia đóng góp ý kiến Vì vậy mỗi điều đượcthêm mới hay sửa đổi, bổ sung đều chứa đựng giá trị sâu sắc Tuy nhiên, điều đượcsửa đổi, bổ sung tại Hiến pháp 2013 khiến tôi tâm đắc nhất là nội dung Điều 4, quyđịnh về vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng cộng sản Việt Nam, trong

đó khoản 2 ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục

vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”.

Trang 6

Lãnh tụ Hồ Chí Minh với nhân dân

Ngay từ ngày đầu thành lập Đảng ta đặc biệt quan tâm đến việc phải tăng cườngmối liên hệ mật thiết giữa Đảng với quần chúng nhân dân; thường xuyên củng cố

và tăng cường mối liên hệ này nhằm nhân lên nguồn sức mạnh nội sinh của Đảng

là chủ trương xuyên suốt và nhất quán trong mọi thời kỳ lịch sử Đảng luôn gắn bóvới nhân dân, bởi lý do để Đảng tồn tại là vì nhân dân; mục đích cao nhất củaĐảng là lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, xâydựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đảng vừa làngười lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân, Nhân dân yêu mếngọi Đảng là “Đảng ta” Chính vì vậy, có ý kiến cho rằng một mối quan hệ mangtính tất yếu, đã được lịch sử đã chứng minh như thế thì không nhất thiết phải quyđịnh trong Hiến pháp Tuy nhiên, có nhiều ý kiến ủng hộ việc bổ sung nội dungtrên vào Hiến pháp bởi những lý do:

Thứ nhất, chúng ta khẳng định một lần nữa mục tiêu hoạt động của Đảng:

Như Bác đã nói: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trong xã hội,không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”, vì “gốc có

Trang 7

vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” Đảng ta lãnh đạo quầnchúng giành chính quyền, xóa bỏ chế độ áp bức bóc lột để xây dựng chế độ xã hội

do nhân dân làm chủ; Đảng luôn hoạt động vì mục tiêu cao cả là vì quyền lợi củanhân dân, làm cho đời sống nhân dân ngày cảng ấm no, hạnh phúc, đưa đất nước đilên xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa làm bước đệm tiến tới xã hội cộng sản – một

xã hội nhân văn, là đỉnh cao trong tiến trình lịch sử hình thành và phát triển của cáchình thái kinh tế - xã hội Để thực hiện được mục tiêu ấy thì Đảng phải gắn bó mậtthiết với nhân dân, chịu trách nhiệm trước dân về hoạt động lãnh đạo của mình

Thứ hai là đề cao “quyền lực nhân dân”:

Đảng ta kế thừa và phát huy truyền thống, thấu triệt sâu sắc triết lý, “nước lấy dân

làm gốc”, “chở thuyền cũng là dân và lật thuyền cũng là dân”, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã nhấn mạnh: “xét về mặt lịch sử, giai cấp nào lãnh đạo được quần chúngnhân dân thì giai cấp đó sẽ chiến thắng” với đường lối chiến lược đúng đắn, sáchlược mềm dẻo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Nước ta là nước dân chủ,địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ”, Bác cũng từng nói “dễ trăm lần không dâncũng chịu/Khó vạn lần dân liệu cũng xong” và nhắc nhở ấy vẫn luôn được Đảng tathấu triệt và thực hiện và được khẳng định trong các Văn kiện của Đảng qua các kỳĐại hội Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng của người công bộc,trong đó, quyền lực đối với Người chỉ là sự ủy thác của nhân dân và Người đónnhận nó “như một người lính vâng lệnh quốc dân ra mặt trận”

Đảng ta là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, nhưng Đảng phải chịu sự giámsát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.Đồng thời nhân dân có quyền tham gia trong công tác xây dựng và chỉnh đốnĐảng, trong giám sát việc rèn luyện đạo đức cách mạng theo tấm gương đạo đức

Hồ Chí Minh của đội ngũ cán bộ, đảng viên

Bổ sung nội dung trên trong Hiến pháp là thể hiện sự tôn trọng nhân dân, lực lượngluôn sát cánh bên Đảng trong mọi thời kỳ cách mạng làm nên những trang sử vẻvang trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời thể hiện tính dân chủ trong đờisống chính trị của chế độ xã hội chủ nghĩa

Trang 8

Thứ ba là nâng cao ý thức rèn luyện của mỗi đảng viên:

Mặt khác quy định trên còn có ý nghĩa nhắc nhở người đảng viện cộng sản luôn có

ý thức phấn đấu, rèn luyện đều “sẵn lòng cầu tiến bộ, sẵn chí phụng sự nhân dân”.Trong vấn đề đạo đức người đảng viên Bác đã sớm chỉ ra nguy cơ một bộ phận cán

bộ, đảng viên “tự đánh mất mình”, rời xa quần chúng; “những người trong lúctranh đấu thì hăng hái, trung thành Song đến khi có ít nhiều quyền hạn trong taythì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, không tự giác

mà biến thành người có tội với cách mạng” Theo Người, bản chất của Đảng cáchmạng chân chính khác với các đảng phái khác chính là ở chỗ “Đảng không phải làmột tổ chức để làm quan phát tài”, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải luôngiữ tư cách của người cách mạng, tận trung với nước, tận hiếu với dân và thườngxuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng “như ngọc càng mài càng sáng,vàng càng luyện càng trong”

Quy định về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân một lần nữa nhắc cho mỗi đảngviên về trách nhiệm của mình trước nhân dân, đất nước, trước lý tưởng cao cả củaĐảng rằng hơn ai hết người đảng viên phải rèn luyện phẩm chất để cùng chung taythực hiện

Từ những suy nghĩ trên tôi thấy tâm đắc nhất với nội dung bổ sung tại Điều 4 Hiếnpháp

Câu 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…” Bạn hãy nêu và phân tích ngắn gọn các quy định Hiến pháp năm

2013 về những cách thức để Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước?

Trả lời:

Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là một nguyên tắc cơ bản, được ghi nhậnxuyên suốt trong cả bốn bản Hiến pháp của nước ta (Hiến pháp: 1946, 1959,1980

và 1992) Đến Hiến pháp năm 2013, một lần nữa tiếp tục khẳng định tại Điều 2:

“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân

Trang 9

dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và độingũ trí thức”

So với Hiến pháp 1992, Hiến pháp năm 2013 đã quy định cụ thể hơn các phươngthức để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước Cụ thể, Hiến pháp năm 1992 chỉghi nhận nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồngnhân dân là các cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhândân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân Đến Hiến pháp năm 2013, tại Điều

6 quy định: "Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằngdân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quankhác của Nhà nước" Như vậy, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung đầy đủ hơn cáchình thức thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân, không chỉ bằng dân chủ đạidiện thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân như trước đây mà còn thông quacáccơ quan khác của Nhà nước và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp

Dân chủ đại diện là phương thức thực hiện quyền lực nhà nước cơ bản và phổ biếnnhất của nhân dân Theo đó, nhân dân thông qua các cơ quan đại biểu do mình bầu

ra và ủy thác quyền lực như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; rồi đến lượtmình Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp tiếp tục lập ra các cơ quan khác củaNhà nước để thực hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân Như vậy, hiểu một cáchđầy đủ, cơ quan nhà nước được nhân dân ủy quyền không chỉ là các cơ quan dân

cử như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp mà còn bao gồm cả các cơ quantrong hệ thống hành pháp và tư pháp; các cơ quan này thay mặt nhân dân sử dụngquyền lực nhà nước để điều hành, quản lý xã hội và chịu sự giám sát của nhân dân

Trang 10

Biểu hiện rõ nét và tập trung nhất của hình thức dân chủ đại diện ở nước ta là việc

tổ chức và hoạt động của Quốc hội Điều 69 Hiến pháp năm 2013, với quy định:

"Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nướccao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" đã nhấn mạnh vai trò củanhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, tất cả quyền lực nhà nước đềuthuộc về nhân dân và do nhân dân ủy thác cho Quốc hội Tính chất đại diện thểhiện ở sự hình thành của Quốc hội - cơ quan duy nhất ở nước ta bao gồm nhữngngười thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước do cử tri cả nước bầu ratheo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín Tính chất đại diệncao nhất của Quốc hội còn thể hiện ở chỗ Quốc hội bao gồm những đại biểu đạidiện cho các thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo và các nhóm xã hội khác; đồngthời là đại diện cho khối đại đoàn kết toàn dân trong cả nước

Dân chủ trực tiếp, là phương thức người dân trực tiếp thể hiện ý chí, nguyện vọngcủa mình mà không phải thông qua cá nhân hay tổ chức đại diện Các hình thứcthực hiện dân chủ trực tiếp của người dân, có thể như: tham gia ứng cử đại biểuQuốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, thực hiện quy chế dân chủ cơ sở,đối thoại trực tiếp giữa nhân dân với đại diện cơ quan Nhà nước, biểu quyết khiNhà nước trưng cầu ý dân, biểu tình v.v

Về hình thức trưng cầu ý dân, trong Hiến pháp năm 1946, tại Ðiều 21 có quyđịnh: "Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc có quan hệ đếnvận mệnh quốc gia " và Ðiều 32 quy định: "Những việc có quan hệ đến vận mệnhquốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba số nghị viên đồng ý ".Các bản Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 sau này đều có đề cập đến việc trưng cầu ýdân nhưng chưa có cơ chế thực hiện cụ thể nên những quy định của Hiến phápchưa được thực hiện trong thực tế Sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành, để

cụ thể hóa các quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân, Quốc hội khóa XIII đã thôngqua Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015, trong đó có hai đạo luật rấtquan trọng đó là Luật trưng cầu ý dân và Luật biểu tình (Luật trưng cầu ý dângiao Hội Luật gia Việt Nam chủ trì xây dựng, Luật biểu tình giao Bộ Công an chủtrì xây dựng) Cả hai dự án luật này Chính phủ dự kiến sẽ trình Quốc hội xem xétthông qua tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII vào cuối năm 2015

Trang 11

Về hình thức dân chủ ở cơ sở, ngay từ năm 1998, Bộ Chính trị khóa VIII đã banhành Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998 về xây dựng và thực hiện quy chế dânchủ ở cơ sở Thể chế hóa Chỉ thị của Bộ Chính trị, Chính phủ đã ban hành Nghịđịnh số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 và sau đó là Nghị định số 79/2003/NĐ-

CP ngày 7/7/2003 về Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường thị trấn Đến năm

2007, trước yêu cầu về việc tăng cường thực hiện dân chủ ở cơ sở, ngày 20/4/2007,

Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI đã ban hành Pháp lệnh số UBTVQH11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn

34/2007/PL-Như vậy có thể nói, trước khi Hiến pháp năm 2013 ra đời, vấn đề dân chủ trực tiếp

đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, vì tính chất cấp bách và quantrọng của nó trước yêu cầu tiếp tục đổi mới và phát triển đất nước

Dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện là hai hình thức cơ bản để nhân dân thựchiện quyền lực nhà nước; có mối quan hệ tác động qua lại với nhau và đều có vaitrò quan trọng trong nền dân chủ đương đại Nếu như bằng hình thức dân chủ đạidiện nhân dân lập ra bộ máy nhà nước từ trung ương tới cơ sở để quản lý, điềuhành xã hội một cách thường xuyên liên tục, giữ vững ổn định thể chế và phát triểnđất nước thì với hình thức dân chủ trực tiếp nhân dân lại góp phần làm cho bộ máynhà nước đó ngày càng hoàn thiện hơn bằng việc giám sát, tham gia ý kiến haybiểu thị thái độ với chính các cá nhân hay cơ quan nhà nước do mình lập nên Thựchiện tốt và bảo đảm hài hòa cả hai hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp

là cơ sở vững chắc để hướng tới một thể chế Nhà nước hoàn thiện mà nhân dân

Trang 12

là sự kiện chính trị, pháp lý đặc biệt quan trọng, đánh dấu một bước tiến mới tronglịch sử lập pháp của nước ta, là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, toànquân, của các vị đại biểu Quốc hội, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của tuyệtđại đa số nhân dân, khẳng định sức mạnh đại đoàn kết toàn dân.

Trên nền tảng lý luận Chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Cương lĩnhxây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH về dân chủ và quyền làm chủ củanhân dân trong mối quan hệ giữa nhân dân với nhà nước, Hiến pháp sửa đổi 2013quy định tại Điều 2: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân NướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; Tất cả quyền lực nhànước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giaicấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phâncông, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện cácquyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Cũng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủXHCN là một hình thức chính trị - nhà nước của xã hội Trong đó, con người làthành viên trong xã hội được tập hợp và phát huy thành khối đại đoàn kết toàn dântộc có đầy đủ tư cách công dân - tư cách làm chủ xã hội và như thế mọi công dân

có quyền làm chủ nhà nước mà mình cử ra

54 Dân tộc anh em trong Dân tộc Việt Nam

Trang 13

Vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong chế độ chính trị tiếp tục được

kế thừa, bổ sung, khẳng định và phát triển trong Hiến pháp 2013 tại Điều 9: Mặttrận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổchức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêubiểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định

cư ở nước ngoài Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyềnnhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân;tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăngcường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng,Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Cùng với đó, Hiến pháp quy định, các tổ chức thành viên của MTTQ như Côngđoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ ChíMinh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam là các tổchức chính trị - xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình; cùngcác tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trongMặt trận Tổ quốc Việt Nam Khẳng định MTTQ là chỗ dựa vững chắc của nhànước, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, có sự phân công, phối hợp,kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,hành pháp, tư pháp để thống nhất Quyền lực nhà nước

Bổ sung và phát triển vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong chế độchính trị là điều kiện để nâng cao vị thế của Mặt trận trong phát huy truyền thốngđoàn kết toàn dân tộc, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhândân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, giáo dục và động viênnhân dân đề cao ý thức làm chủ tập thể, ra sức thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội

và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời, cùng với nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chínhđáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thihành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểudân cử và cán bộ, viên chức nhà nước Các nội dung sửa đổi đảm bảo sự phù hợpvới nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ mới, trong đó có nội

Trang 14

dung về giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chứcchính trị - xã hội và nhân dân theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng vàThông báo kết luận của Bộ Chính trị về giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam; tiếp tục khẳng định và nâng cao vai trò, vị thế to lớn của Mặttrận và Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong việc tạodựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Một trong tám phương hướng cơ bản trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳquá độ lên Chủ nghĩa xã hội (năm 2011) là “Xây dựng nền dân chủ Xã hội chủnghĩa, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, tăng cường và mở rộng Mặt trận thốngnhất” Trong một chế độ chính trị “xã hội, quốc gia, dân tộc”, Đảng ta xác định dânchủ XHCN là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự pháttriển đất nước Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóabằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm” Trong chế độ dân chủ đó, “Mặt trận Tổquốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đạiđoàn kết dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Cương lĩnh chỉ rõ: “Mặt trận Tổquốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chứcchính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trongcác giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ởnước ngoài Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị, là

cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thànhviên vừa là người lãnh đạo Mặt trận” Với vị thế của Mặt trận Tổ quốc Việt Namnên trên, Mặt trận cùng với Nhà nước là chủ thể đại diện của nhân dân đối với mọiquyền lực trong nước Cộng hòa XHCN Việt Nam

Theo Hiến pháp, sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước(trong đó có MMTQ) trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp

để thống nhất Quyền lực nhà nước bao hàm cả giám sát và phản biện xã hội, thamgia vào quản lý nhà nước nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

và hạn chế quyền lực nhà nước Phản biện xã hội là xây dựng Đảng, xây dựng Nhànước; tham gia vào việc hoạch định đường lối, chủ trương chính sách, quyết địnhlớn của Đảng; phản biện các dự án sửa đổi bổ sung Hiến pháp, luật và pháp lệnh

Trang 15

cũng như các văn bản quy phạm pháp luật khác Giám sát hoạt động của Đảng,hoạt động của Nhà nước, của cán bộ công chức trong việc thực hiện chủ trương,đường lối, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Thực chất,giám sát là chống các bệnh quan liêu, cửa quyền, lạm quyền, mất dân chủ và thamnhũng của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, hậu quả của những hành vi viphạm Hiến pháp và pháp luật Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Hồ Chủtịch vào tháng 10-1947, Người dạy cán bộ, đảng viên cách lãnh đạo và kiểm soát:

“Muốn chống bệnh quan liêu; bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thihành không; thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm; ai làm qua chuyện,chỉ có một cách là khéo kiểm soát Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi rahết, hơn nữa kiểm tra khéo, về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”

Với vị trí và thành phần của Mặt trận cho thấy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổchức chính trị - xã hội có vai trò hết sức quan trọng trong thực hiện kiểm soát mộtcách hệ thống thường xuyên và bằng pháp luật đối với quyền lực nhà nước; là cơ

sở để nhân dân giám sát và phản biện; nhằm nâng cao hiệu lực giám sát và chấtlượng hiệu quả phản biện của nhân dân, vừa nâng cao nhận thức và ý thức phápluật của nhân dân vừa tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, trong khối đại đoàn kếttoàn dân tộc

Câu 5 Những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Điểm mới nào bạn tâm đắc nhất? vì sao?

Trang 16

chế dân chủ, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và

vì Nhân dân Để giúp hiểu rõ hơn về tính chất ưu việt đó, trong bài viết này tác giảtiếp cận, trình bày khái quát về một số nội dung liên quan đến vấn đề quyền conngười, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các quy định của bản Hiếnpháp mới này như sau:

Những điểm mới thể hiện sự tiến bộ về chất trong các quy định về quyền conngười, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 2013 sửađổi Ngoài việc tiếp tục ghi nhận về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bảncủa công dân từ giá trị lập pháp của các bản hiến pháp trước đó mà nhất là từ Hiếnpháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001) Các quyền con người, quyền và nghĩa vụ

cơ bản của công dân được ghi nhận trong Chương II của bản Hiến pháp mới này đãthể hiện đầy đủ về tính dân chủ, nhân văn và cơ chế nhằm đảm bảo, bảo vệ tuyệtđối của Nhà nước ta bằng pháp luật đối với mọi người dân về quyền con người,quyền công dân Đồng thời, thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng về vấn đềquyền con người, quyền công dân trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa và nổ lực của Nhà nước ta trong việc hiến định những vấn đề cóliên quan đến quyền con người trong các công ước quốc tế về nhân quyền mà ViệtNam là thành viên Cụ thể đó là:

Một là, Hiến pháp năm 2013 sửa đổi quy định đầy đủ hơn và đã có sự phân địnhrạch ròi về quyền con người, quyền công dân Mặc dù, trong Hiến pháp năm 1992

đã ghi nhận về quyền con người, nhưng các quyền đó chỉ được thể hiện thông quacác quy định về quyền công dân Điều này dẫn đến rất khó khăn khi cần xácđịnh “ranh giới” đâu là quyền con người để thể chế hóa quy định của Hiến phápcũng như xác định, đưa ra những biện pháp để bảo đảm cho mọi người dân thựchiện quyền của mình Vì thế, trong Hiến pháp năm 2013 sửa đổi, đã có sự phânđịnh rõ ràng về vấn đề này, đồng thời các quy định về quyền con người, quyềncông dân được đặt ở vị trí trang trọng trong đạo luật cơ bản tại Chương II của Hiếnpháp Mặt khác, trong các quy định cụ thể của bản Hiến pháp này cũng đã thể hiện

rõ ràng về vấn đề đó, chẳng hạn chúng ta thấy những quy định nào ghi nhận“mọingười có quyền”, thì đó là sự thể hiện cụ thể về quyền con người, còn những quy

Trang 17

định nào ghi nhận “công dân có quyền” thì đó là thể hiện cụ thể về các quyền cơbản của công dân;

Trẻ em được chăm sóc và giáo dục

Trang 18

Hai là, Hiến pháp năm 2013 sửa đổi đã xác định rõ ràng hơn về các nguyên tắc đểđảm bảo quyền con người, quyền công dân theo hiến định Hiến pháp năm 1992chỉ quy định “các quyền con người được tôn trọng”, nhưng trong các quy định củaHiến pháp năm 2013 sửa đổi đã xác định rõ ràng rằng “ở nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự,kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiếnpháp và pháp luật Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theoquy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia,trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Điều 14) Nhưvậy, trong các chế định này có hai nội dung mới được ghi nhận, đó là 1) quyền conngười, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế trong trường hợp cần thiết vì lý doquốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏecộng đồng chứ không thể vì lý do nào khác và 2) việc hạn chế quyền con người,quyền công dân phải do quy định của pháp luật, tức là phải được quy định trongcác đạo luật do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước ban hành chứ không thể bịhạn chế một cách tùy tiện Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 2013 sửa đổi còn xác định

cụ thể về cách thức để mọi người thực hiện được các quyền này, đó là “việc thựchiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia,dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” (khoản 4 Điều 15) Đồng thời,xác định về sự bình đẳng, bình quyền của mọi người trước pháp luật, đó là “mọingười đều bình đẳng trước pháp luật, không ai bị phân biệt đối xử trong đời sốngchính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” (Điều 16);

Ba là, Hiến pháp năm 2013 sửa đổi khẳng định rõ ràng và với đầy đủ trách nhiệm

về các mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, giữa Nhà nướcvới công dân, với người Việt Nam định cư ở nước ngoài và trách nhiệm quốc tếđối với những người đấu tranh vì tự do, độc lập và chủ nghĩa xã hội Để đảm bảođiều này, tại Điều 2, Hiến pháp năm 2013 sửa đổi khẳng định hùng hồnrằng, “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cảquyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân ” (khoản 2) Đồng thời, một lần nữakhẳng định lại về mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ công dân, theo đó “quyền

Trang 19

công dân không tách rời nghĩa vụ công dân” (khoản 1 Điều 15); xác định rõ tráchnhiệm của cá nhân, công dân trong việc thực hiện quyền con người, quyền côngdân là phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, khôngđược xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc (khoản 2, khoản 4 Điều 15) Xácđịnh rõ về mối quan hệ và trách nhiệm giữa Nhà nước, xã hội và công dân, theo đótrong Hiến pháp ghi nhận rõ ràng rằng“công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụđối với Nhà nước và xã hội” (khoản 3 Điều 15); đồng thời “Công dân Việt Namkhông thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác Công dân Việt Nam ở nướcngoài được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ” (Điều17) Đặc biệt, với các quy định hiện hành Hiến pháp đã làm rõ thêm về tình cảm,đạo lý và trách nhiệm đối với bộ phận người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Điều18) và trách nhiệm quốc tế đối với những người nước ngoài đấu tranh vì tự do, độclập, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, theo đó “Người nước ngoài đấu tranh vì tự do vàđộc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, dân chủ và hoà bình hoặc vì sự nghiệp khoahọc mà bị bức hại thì được Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xemxét cho cư trú” (Điều 49);

Bốn là, Hiến pháp năm 2013 sửa đổi đã bổ sung và quy định rõ ràng, đầy đủ hơn

về các quyền cụ thể của quyền con người, quyền công dân phù hợp với đời sốngthực tiễn Về vấn đề này và để đảm bảo cho các quyền tự nhiên của con người phùhợp với điều kiện của đời sống thực tiễn, trong các quy định của bản Hiến phápnày đã bổ sung thêm các quyền con người, quyền công dân như, quyền sống (Điều19); quyền hiến mô, bộ phận người và hiến xác (khoản 3 Điều 20); quyền đượcđảm bảo an sinh xã hội (Điều 34); quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế (khoản

2 Điều 32); quyền được bảo vệ sức khỏe, quyền bình đẳng trong việc sử dụng cácdịch vụ y tế (khoản 1 Điều 38); quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ (Điều40); quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, quyền tham gia vào đời sốngvăn hóa và sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41); quyền xác định dân tộc của mình,quyền sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ và tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều42); quyền sống trong môi trường trong lành (Điều 43) Đồng thời, bổ sung vàquy định rõ hơn về quyền của các nhóm đối tượng đặc thù, như trẻ em, thanh niên,

Trang 20

người cao tuổi Đó là, Hiến pháp quy định rõ rằng, trẻ em có quyền được tham giavào các vấn đề liên quan tới trẻ em; nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏmặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em(khoản 1 Điều 37); người cao tuổi được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng,chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (khoản

3 Điều 37) Liên quan đến quyền lao động Hiến pháp năm 2013 sửa đổi quy định

rõ ràng, đầy đủ hơn về quyền này, Theo đó, công dân có quyền làm việc, lựa chọnnghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc Đặc biệt, Hiến pháp còn đưa ra các quyđịnh để bảo đảm thực hiện các quyền này, chẳng hạn bên cạnh việc quy định mọingười bình đẳng trước pháp luật, thì Hiến pháp cũng quy định rõ ràng rằng “Không

ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xãhội” (khoản 2 Điều 16) ;

Trên đây là một số điểm mới, tiến bộ thể hiện về tính ưu việt, dân chủ trong hoạtđộng lập hiến của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tiến trìnhxây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, doNhân dân và vì Nhân dân

Câu 6 Những điểm mới, quan trọng về vị trí, chức năng của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân trong Hiến pháp năm 2013 Phân tích điểm mới về mối quan hệ giữa các cơ quan đó trong thực hiện Quyền lực nhà nước.

về tổ chức bộ máy nhà nước

Ngày đăng: 23/08/2017, 20:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh đất nước ta với sức sống mới - Cuộc thi tìm hiểu hiến pháp
nh ảnh đất nước ta với sức sống mới (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w