1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài dự thi cuộc thi tìm hiểu hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam

29 728 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 232,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên tắc nhấtquán này thể hiện xuyên suốt tinh thần Hiến pháp năm 2013, Điều 2- Hiến pháp 2013: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước

Trang 1

BÀI DỰ THI CUỘC THI “TÌM HIỂU HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ

Họ và tên : Hồ Tiến Thành Năm sinh : 19/05/1989

Chức vụ : Học Viên Lớp : H02S-B3

Giới tính : Nam Dân tộc : Kinh

Hồ Chí Minh, 24 tháng 04 năm 2015

Trang 2

Câu 1: Từ năm 1945 khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đến nay, nước ta có mấy bản Hiến pháp? Các bản Hiến pháp đó được Quốc hội thông qua vào ngày, tháng, năm nào?

Từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đến nay, nước ta có 05 bản Hiến pháp Cụ thểnhư sau:

- Bản Hiến pháp đầu tiên là năm 1946: Cách mạng tháng Tám năm 1945

thành công, ngay sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước ViệtNam Dân chủ Cộng hòa, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ Lâm thời, Chủtịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề về sự cần thiết phải có một bản Hiến pháp choNhà nước Việt Nam Ngày 9.11.1946, Hiến pháp năm 1946 được Quốc hộiKhóa I chính thức thông qua tại Kỳ họp thứ 2

- Hiến pháp năm 1959: Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đất

nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng

và từng bước đi lên xây dựng CNXH, miền Nam tạm thời đặt dưới sự kiểm soátcủa Mỹ -Ngụy Ngày 31.12.1959, bản dự thảo Hiến pháp đã được Quốc hộikhóa I thông qua tại kỳ họp thứ 11 và ngày 01.01.1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã ký lệnh công bố Hiến pháp năm 1959

- Hiến pháp năm 1980: Ngày 25.4.1976, cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc

hội chung của cả nước đã thành công rực rỡ Kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa

VI quyết định đổi tên nước thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Hiến pháp 1980 được Quốc hội khóa VI kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 18tháng 12 năm 1980, Hiến pháp năm 1980 là Tuyên ngôn của Nhà nước chuyênchính vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hiến pháp của thời

kỳ xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước

- Hiến pháp năm 1992: Sau một thập kỷ được ban hành đã trở nên không

phù hợp với tình hình thế giới, với những chủ trương đổi mới kinh tế của Đảng

Trang 3

Chính vì vậy, ngày 15.4.1992, tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa VII, đã thôngqua bản Hiến pháp mới (Hiến pháp năm 1992).

Ngày 25.12.2001, tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội Khóa X đã chính thứcthông qua Nghị quyết số 51/2001/QH10 sửa đổi, bổ sung 23 Điều của Hiến pháp

1992

6 đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thay thếcho Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)

Câu 2: Bản Hiến pháp mới được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28/11/2013 (Hiến pháp năm 2013) có hiệu lực từ ngày, tháng, năm nào? So với Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) có bao nhiêu điều được giữ nguyên? Có bao nhiêu điều được sửa đổi, bổ sung? Điều sửa đổi, bổ sung nào bạn tâm đắc nhất? Vì sao?

- Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014

- Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 giữ nguyên 7 điều, bổ sung

12 điều mới và sửa đổi 101 điều Với bố cục 11 chương, 120 điều (giảm 1chương và 27 điều so với Hiến pháp năm 1992)

Hiến pháp năm 2013 có bố cục gọn và kỹ thuật lập hiến chặt chẽ, đáp ứngyêu cầu là đạo luật cơ bản, có tính ổn định lâu dài

- Điều sửa đổi, bổ sung mà tôi tâm đắc nhất là: Điều 2- sửa đổi, bổ sung

Điều 2.

Điều 2- Hiến pháp năm 2013, quyền lực Nhà nước ta thống nhất là ởNhân dân Quan niệm thống nhất quyền lực nhà nước là ở Nhân dân thể hiện ởnguyên tắc “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” Nguyên tắc nhấtquán này thể hiện xuyên suốt tinh thần Hiến pháp năm 2013, Điều 2- Hiến pháp

2013: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả

quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân…” và quyền lực Nhà nước là sự thống

nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trongviệc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

Trang 4

Như vậy về cơ bản Hiến pháp sửa đổi vẫn tiếp tục khẳng định những vấn

đề mang tính nguyên tắc trong xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳmới như đã được đề cập trong nội dung Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) như:Khẳng định nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,

do nhân dân, vì nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân côngtrong thực hiện quyền lực nhà nước…

Bên cạnh đó Điều 2 Hiến pháp sửa đổi có hai vấn đề mới được bổ sung:Thứ nhất; Hiến pháp khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam do Nhân dân làm chủ”; thực chất đây không phải là quy định mới, bởi tạicác bản Hiến pháp trước đây (Hiến pháp 1980; Hiến pháp 1992), đều đã quyđịnh nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân – tức lànhân dân là người làm chủ đất nước Tuy nhiên với quy định này Hiến pháp sửađổi chúng ta muốn khẳng định một cách cụ thể và rõ ràng hơn quyền làm chủcủa Nhân dân đối với Nhà nước

Thứ hai; bên cạnh việc tiếp tục khẳng định các nhánh quyền lực lập pháp,hành pháp, tư pháp được phân công thực hiện một cách rạch ròi thông qua cơchế phân công, phân nhiệm, thì còn cần phải có một cơ chế để kiểm soát cácnhánh quyền lực này một cách hiệu quả; cụm từ “kiểm soát” được đưa vào nộidung khoản 3 của điều luật này như là một cơ chế bảo đảm cho việc tổ chức vàthực hiện quyền lực nhà nước được tiến hành một cách chính xác và đạt hiệuquả; hạn chế đến mức tối đa việc lạm quyền và lộng quyền trong thực thi quyềnlực của các cơ quan nhà nước cũng như đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước; tạotiền đề, cơ sở để xây dựng thành công nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hộichủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin trình bày những nét cơ bản vềvấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước được quy định trong Hiến pháp sửa đổi đểđảm bảo việc thực hiện quyền lực từ phía các cơ quan công quyền, cán bộ côngchức được thực hiện một cách chính xác và hiệu quả nhất; bảo đảm nhà nướcngười dân thực sự chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước

Trang 5

Tại sao phải kiểm soát quyền lực nhà nước, và quyền lực nhà nước cần được kiểm soát như thế nào?

Chúng ta đều biết rằng quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân Các cơquan Nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước có trong tay quyền lực nhà nước là

do nhân dân ủy quyền; Tuy nhiên các cán bộ công quyền cũng chỉ là con người,không phải là thần thánh, chính vì vậy họ cũng hoàn toàn có thể mắc sai lầm, vìthế để hạn chế những sai lầm, thiếu sót trong thực thi quyền lực nhà nước thìphải kiểm tra, kiểm soát để tránh lạm quyền Hơn thế từ cổ đến kim khát vọnglớn nhất của con người đó chính là khát vọng quyền lực, vì vậy với một conngười cụ thể thì khi đã nắm quyền lực trong tay thì rất khó để người đó chia sẻquyền lực cho người khác, “kể cả các cơ quan, tổ chức, thậm chí cả giai cấp,tầng lớp, nhóm… trong xã hội, vì đó cũng bao gồm con người Do đó, quyền lựctrong xã hội cần được kiểm soát, nếu muốn có dân chủ, công bằng, tự do…”[1]Bên cạnh đó rõ ràng nếu chúng ta chỉ thuần túy là phân công, phân nhiệmgiữa các cơ quan trong thực hiện quyền lực nhà nước, thì rất khó để một cơ quan

ở nhánh quyền lực này khi phát hiện ra những sai sót, sai lầm trong tổ chức thựcthi quyền lực nhà nước của một cơ quan khác ở nhánh quyền lực khác lại có thểyêu cầu cơ quan đó dừng ngay lập tức những vi phạm, mà chủ yếu là lại chỉcùng cơ quan đó khắc phục hậu quả của những sai lầm đó mà thôi Vì vậy đểhạn chế đến mức cao nhất có thể những thiệt hại cho nhà nước và xã hội từnhững thiếu sót, sai lầm trong thực thi quyền lực nhà nước, thì vấn đề kiểm soátquyền lực là vô cùng cần thiết

Mục đích của việc kiểm soát quyền lực nhà nước là đảm bảo cho quyền lựcnhà nước không bị lạm dụng, ngăn chặn các hiện tượng, xu hướng quan liêu,độc tài, chuyên quyền, độc đoán trong bộ máy nhà nước, không bị sử dụng tráivới ý chí của nhân dân Khi quyền lực càng tập trung, thì khả năng kiểm soát nócàng khó Nếu không có sự kiểm soát tốt nó trở thành rào cản của tự do và dânchủ.Xã hội càng phát triển, quyền lực nhà nước càng lớn thì yêu cầu kiểm soátquyền lực nhà nước càng phải tăng lên

Vậy quyền lực nhà nước cần được kiểm soát như thế nào?

Trang 6

Chúng ta có thể kiểm soát quyền lực bằng các phương pháp khác nhau như:Kiểm soát trong hay kiểm soát ngoài; trong đó kiểm soát trong tự là tự kiểm tra,

tự kiểm soát Về mặt lý thuyết thì đây là phương pháp kiểm soát mang lại hiệuquả cao nhất và triệt để nhất Tuy nhiên trong thực tế đây lại là phương pháp rấtkhó có thể thực hiện bởi con người luôn có xu hướng tự biện minh, ngụy biện vàthỏa hiệp đối với những sai lầm của chính bản thân mình

Như vậy muốn kiểm soát được quyền lực nhà nước một cách triệt để vàhiệu quả thì cần phải thực hiện tốt cơ chế kiểm soát ngoài tức là dùng quyền lực

để kiểm soát quyền lực; và nếu muốn như vậy thì quyền lực kiểm soát phải cânbằng với quyền lực bị kiểm soát và phải ở ngoài quyền lực bị kiểm soát

Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi) năm 2013

Kiểm soát từ phía Nhân dân

Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa(Hiến pháp 1946), các nhà lập hiến đã khẳng định “Tất cả quyền bính trongnước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai,giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”, và tư tưởng nhất quán này luôn được thể hiệnqua các bản Hiến pháp sau này của chúng ta Tại hiến pháp sửa đổi lần này, đểđảm bảo quyền lực nhà nước thực sự là thuộc về nhân dân, ngoài việc định ra cơchế quan trọng để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước như: “Nhân dân thực

hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông

qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”

(Điều 6); thì Hiến pháp sửa đổi cũng đã có những quy định mới trong chế địnhQuyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân thể hiện sự giám sát,kiểm soát quyền lực nhà nước từ phía nhân dân đối với Nhà nước cũng như đốivới đội ngũ cán bộ công chức nhà nước bằng cách quy định thêm (hoặc cụ thểhơn), một số quyền của công dân, cụ thể như quy định tại khoản 2 Điều 14 quy

định quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế trong trường hợp thực sự cần thiết;

hay như quyền được tiếp cận thông tin được quy định tại điều 25 của Hiến phápsửa đổi

Trang 7

Việc quy định công dân có quyền tiếp cận thông tin không chỉ thuần túy là

mở rộng quyền thông tin của công dân đã được quy định tại điều 69 của Hiếnpháp 1992 (sửa đổi, bổ sung) năm 2001, mà thực chất đây là một trong nhữngphương pháp hữu hiệu để Nhân dân có thể kiểm soát hoạt động của các cơ quanNhà nước, cán bộ công chức Nhà nước và thông qua đó có thể kiểm soát đượcquyền lực Nhà nước Hay như nếu trước đây Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung)năm 2001 tại Điều 53 chỉ quy định “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhànước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương,kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ýdân”; thì hiện nay tại điều 28 Hiến pháp sửa đổi ngoài việc tiếp tục ghi nhậnquyền trên của công dân thì Hiến pháp cũng quy định trách nhiệm cụ thể củaNhà nước trong việc phải công khai, minh bạch trong tiếp nhận, phản hồi các ýkiến, kiến nghị của công dân

Kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước

Thứ nhất; kiểm soát thông qua việc phân công, phân nhiệm cụ thể hơn,rạch ròi hơn: Để thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong tổ chức bộ máyNhà nước, Hiến pháp sửa đổi ngoài việc vẫn quy định vấn đề phân công, phốihợp trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp thì vấn đề kiểm soátquyền lực giữa các cơ quan nhà nước cũng đã được thể hiện Và để thuận lợi cho

cơ chế kiểm soát quyền lực, vấn đề phân công, phân nhiệm, tạo ra sự cân bằngtrong thực hiện quyền lực nhà nước tại Hiến pháp sửa đổi cũng đã thể hiện mộtcách cụ thể và rõ ràng hơn Cụ thể tại Điều 69 Hiến pháp sửa đổi khẳng định

“Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp”; Điều 94 quy định “Chínhphủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp…”; Điều 102: “Tòa án nhân dân là

cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền

tư pháp”

Mặc dù không phân chia quyền lực như một số bản Hiến pháp của cácnước tư sản[2], nhưng với quy định Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyềnlập pháp; Chính phủ là cơ quan thực hành quyền hành pháp, Tòa án là cơ quan

Trang 8

thực hiện quyền tư pháp, Hiến pháp đã thể hiện sự phân công rạch ròi và dứtkhoát hơn trong việc thực hiện quyền lực Nhà nước, cũng như từng bước tạo ra

sự cân bằng giữa các nhánh quyền lực, từ đó tạo điều kiện để có thể có những cơchế hữu hiệu nhằm mục đích kiểm soát quyền lực một cách hiệu quả nhất

Thứ hai; kiểm soát thông qua cơ chế giám sát lẫn nhau trong tổ chức vàhoạt động: Tại điều 70 của Hiến pháp sửa đổi khi quy định về chức năng, nhiệm

vụ của Quốc hội, chúng ta thấy về cơ bản các nội dung thể hiện quyền giám sát,của Quốc hội về cơ bản vẫn được giữ nguyên như Hiến pháp 1992 (sửa đổi2001), thì tại khoản 8 của điều này đã có thêm một quy định mới thể hiện sựkiểm soát quyền lực chặt chẽ hơn đối với các cá nhân được Quốc hội trao quyền

đó là Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầuhoặc phê chuẩn Với quy định này, chắc chắn việc kiểm soát quyền lực từ phíaQuốc hội sẽ được thực hiện một cách thường xuyên và dĩ nhiên kết quả cũng sẽkhả quan hơn Như vậy rõ ràng với việc bổ sung thêm cho Quốc hội quyền bỏphiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn là mộtbước tiến quan trong trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước từ phía Quốchội

Cũng nhằm mục đích này, tại điều 88 Hiến pháp sửa đổi, khi quy định vềnhiệm vụ quyền hạn của người đứng đầu Nhà nước, chúng ta thấy ngoài nhữngnhiệm vụ quyền hạn như đã được thể hiện ở Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001), thìtrong Hiến pháp sửa đổi Chủ tịch nước còn có quyền: “…quyết định phong,thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hảiquân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệmTổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam”[3]; bên cạnh đó đối với tổchức và hoạt dộng của Tòa án, ngoài đề nghị Quốc hội bầu Chánh án Tòa ánnhân dân tối cao, bổ nhiệm, miễn nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thìChủ tịch nước còn có thêm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm Thẩm phán các Tòa ánkhác (quyền này trước đây thuộc về Chánh án Tòa án nhân dân tối cao), hay nhưquyền yêu cầu Chính phủ họp bàn về những vấn đề mà Chủ tịch nước xét thấycần thiết để thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình[4]; đây chính là một cơ chế

Trang 9

quan trọng để người đứng đầu nhà nước có thể kiểm soát tốt hơn, chặt chẽ hơnhoạt động của Chính phủ, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của NướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và là cơ quan thực hiện quyền hành pháp.

Kết luận

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhândân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân;chính bởi vậy muốn xây dựng thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

ở Việt Nam, thì ngoài việc cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng

mở rộng và tôn trọng các quyền tự do dân chủ của công dân, thì rất cần có sựphân định rạch ròi trong việc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, cũng nhưtạo ra một cơ chế hữu hiệu để kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước.Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi 2013), đã gópphần từng bước tạo ra sự phân định rạch ròi hơn, cụ thể hơn về quyền lực nhànước cũng như cơ chế kiểm soát, giám sát quyền lực nhà nước Đây là một trongnhững yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình xây dựng và hoàn thiện bộmáy nhà nước, hướng tới một bộ máy nhà nước hoạt động thực sự có hiệu quả,góp phần đưa đất nước tiến lên những tầm cao mới

Câu 3: Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân…” Bạn hãy nêu và phân tích ngắn gọn các quy định của Hiến pháp năm 2013 về những cách thức để Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước.

- Điều 2- Hiến pháp năm 2013, quyền lực Nhà nước ta thống nhất là ởNhân dân Quan niệm thống nhất quyền lực nhà nước là ở Nhân dân thể hiện ởnguyên tắc “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” Nguyên tắc nhấtquán này thể hiện xuyên suốt tinh thần Hiến pháp năm 2013, Điều 2- Hiến pháp

2013: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả

quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân…” và quyền lực Nhà nước là sự thống

nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trongviệc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

Trang 10

Hiến pháp năm 2013 đã có một bước tiến mới trong việc phân công quyềnlực: Điều 69 về quyền lập pháp của Quốc hội; Điều 94 về Chính phủ thực hiệnquyền hành pháp; Điều 102 Tòa án nhân dân thực hiện quyền Tư pháp.

Việc xác nhận các cơ quan khác nhau thực hiện các quyền lập pháp, hànhpháp và tư pháp là một sự đổi mới quan trọng, tạo điều kiện để làm rõ vị trí, vaitrò, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi quyền: Quyền lập pháp là quyền đại diện choNhân dân, thể hiện ý chí của quốc gia và do Quốc hội thực thực hiện, quyềnhành pháp là quyền tổ chức thực hiện ý chí chung của quốc gia do Chính phủđảm trách, quyền tư pháp là quyền xét xử, được nhân dân giao cho Tòa án vàViện kiểm sát nhân dân thực hiện độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Mặc dù có sự phân định 03 quyền nhưng cả ba quyền lập pháp, hànhpháp, tư pháp không hoàn toán tách biệt nhau mà ràng buộc lẫn nhau, cả baquyền này phải phối hợp, phải hoạt động một cách nhịp nhàng trên cơ sở làmđúng, làm đủ nhiệm vụ và quyền hạn mà Nhân dân giao cho mỗi quyền đượcHiến pháp-đạo luật gốc của Nhà nước và xã hội quy định

Mục đích của việc phân công quyền lực nhà nước là để nhằm kiểm soátquyền lực Nhà nước, bảo đảm cho tính quyền lực của nhà nước và phát huy dânchủ xã hội chủ nghĩa chứ không phải là để thỏa hiệp hay chia rẽ quyền lực Nhànước giữa các quyền

- Điều 3- Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền

làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” Như vậy, quyền lực của Nhân dân còn được thể hiện ở

việc nhà nước đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân…

- Điều 6- Hiến pháp năm 2013: Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nướccủa mình bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hộiđồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của nhà nước Điều này thể hiện,Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước của mình thông qua cơ quan quyền lựccao nhất của nhà nước là Quốc hội và cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương

Trang 11

là Hội đồng nhân dân các cấp, thông qua việc bầu, lựa chọn đại biểu, đại diệncho tiếng nói, nguyện vọng của người dân, hoạt động giám sát, hoạt động trưngcầu ý dân Ví du dụ: Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân tham gia vào Dự thảo sửađổi Hiến pháp năm 1992… Mặt khác, Nhân dân còn thực hiện quyền lực Nhànước thông qua các cơ quan khác như hành pháp, tư pháp, Ủy ban mặt trận Tổquốc Việt Nam…

- Hiến pháp năm 2013 đã bước đầu xây dựng các thiết chế để đảm bảoquyền kiểm soát của Nhân dân để Nhân nhân thực hiện quyền lực nhà nước củamình như: Khoản 8- Điều 74 về quyền quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia,điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Khoản 7- Điều 70; Điều 117; Điều118… Sự ra đời của các thiết chế độc lập này nhằm tăng cường các công cụ đểNhân nhân kiểm soát quyền lực nhà nước trong bầu cử, sử dụng tài chính ngânsách nhà nước và tài sản công một cách hiệu quả hơn

- Ngoài những điều trên, xuyên suốt bản Hiến pháp năm 2013 là tinh thầnphát huy quyền lực và dân chủ của nhân dân, nhà nước pháp quyền của Nhândân, do Nhân dân, vì Nhân dân

Câu 4: Những quy định nào của Hiến pháp năm 2013 thể hiện tư tưởng đại đoàn kết dân tộc?

Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thànhđường lối chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã và đang từng bước đượchiện thực hóa trong quá trình cách mạng

Bên cạnh Điều 5 được xác định là định hướng cho công tác dân tộc, chínhsách dân tộc, lĩnh vực dân tộc, công tác dân tộc còn được quy định cụ thể trongcác Điều 42, 58, 60, 61, 75 của Hiến pháp 2013, cụ thể:

- Về quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ của đồng bào dân tộc

thiểu số được quy định tại Điều 42 Hiến pháp: “Công dân có quyền xác định

dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp”.

- Về lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số,vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn được khẳng định tại khoản 1

Trang 12

Điều 58 của Hiến pháp: “1 Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo

vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào

ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”.

- Về lĩnh vực văn hóa, Hiến pháp tiếp tục khẳng định tại khoản 1 Điều 60

nguyên tắc: “1 Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa

Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”.

- Về lĩnh vực giáo dục, Hiến pháp quy định rõ hơn các chính sách ưu

tiên:“2 Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo

dục; chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý.

3 Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghề.”

- Về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng và Chủ tịch Hộiđồng dân tộc được làm rõ hơn, đề cao vai trò, trách nhiệm, quy định tại khoản 2,

khoản Điều 75 Hiến pháp: “2 Hội đồng dân tộc nghiên cứu và kiến nghị với

Quốc hội về công tác dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

3 Chủ tịch Hội đồng dân tộc được mời tham dự phiên họp của Chính phủ bàn về việc thực hiện chính sách dân tộc Khi ban hành quy định thực hiện chính sách dân tộc, Chính phủ phải lấy ý kiến của Hội đồng dân tộc.”

Thực hiện đúng nội dung nhất quán của Hiến pháp 2013 - văn bản có hiệulực pháp lý tối thượng của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đang hiện thực hóa mục

Trang 13

tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc khóa XI đề ra: Cộng đồng các dântộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng, giúp nhau cùng tiếnbộ.

Câu 5: Những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) về quyền con người, quyền và nghĩa

vụ cơ bản của công dân? Điểm mới nào bạn tâm đắc nhất? Vì sao?

1.Những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 1992

(Sửa đổi, bổ sung năm 2001) về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản củacông dân

CHƯƠNG II QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN

CỦA CÔNG DÂN

- Đây không phải là sự thay đổi vị trí từ chương V lên chương II một cách ngẫu nhiên mà là thể hiện tầm quan trọng của quyền con người trong Hiến pháp.

- Về tên chương: Hiến pháp năm 1992 tên là quyền

và nghĩa vụ cơ bản của công dân Hiến pháp năm 2013 nêu rõ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Điều n ày cho thấy

tư tưởng lập hiến khẳng định

vị trí quan trọng của quyền con người.

Trang 14

Điều 50

Ở nước Cộng hoà xã

hội chủ nghĩa Việt Nam,

các quyền con người về

chính trị, dân sự, kinh tế,

văn hoá và xã hội được

tôn trọng, thể hiện ở các

quyền công dân và được

quy định trong Hiến

2 Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

- So với Hiến pháp 1992 thì Hiến pháp năm 2013 quy định rõ quyền con người, quyền công dân tại các điều luật cụ thể trong Hiến pháp

và quyền con người, quyền công dân chỉ bị hạn chế theo Luật định (chứ không thể bị giới hạn tùy tiện hay trong văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư )

- Hiến pháp năm 1992, chỉ mang tính chất thừa nhận quyền con người thông qua các quyền công dân mà không quy định cụ thể cơ chế đảm bảo thực hiện quyền con người, quyền công dân Nhưng bản Hiến pháp năm

2013 đã quy định rất rõ các quyền con người, quyền công dân được Nhà nước thừa nhận, bảo đảm thực hiện.

- Nếu Hiến pháp năm 1992

sử dụng thuật ngữ “mọi công dân” tức là chỉ những người

là công dân Việt Nam, có quốc tịch Việt Nam.

- Hiến pháp năm 2013 sử dụng thuật ngữ “mọi người” tức là đó là quyền con người, cho dù là người có quốc tịch Việt Nam, không quốc tịch đều được bình đẳng

Ngày đăng: 11/05/2015, 21:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w