Do đó nguồn cung USD trên thị trường giảm mạnh.
Trang 1PHẦN I: GIỚI THIỆU VẤN ĐÊ
Tỷ giá là một biến số kinh tế vĩ mô quan trọng có tác động tới nhiều mặt hoạt động của nền kinh tế Nó ra đời từ hoạt động ngoại thương và quay trở lại tác động lên hoạt động xuất nhập khẩu và cán cân thương mại của mỗi quốc gia Cũng giống như vai trò của giá cả trong nền kinh tế thị trường, tỷ giá hối đoái có tác động quan trọng tới những biến đổi của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng Nó có thể thay đổi vị thế và lợi ích của các nước trong quan hệ kinh tế quốc tế Tỷ giá hối đoái tác động đến sự thăng bằng trong cán cân thanh toán của một quốc gia, sự biến động tỷ giá có thể hạn chế hoặc kích thích xuất nhập khẩu Xây dựng thành công một chính sách điều hành tỷ giá thích hợp là một vấn đề vô cùng
khó khăn phức tạp Đề tài tiểu luận “ Biến động tỷ giá ở Việt Nam va những tác động đến tăng trưởng kinh tế” sẽ phân tích sâu hơn về vấn đề
này
Trang 2II: PHÂN TÍCH NỘI DUNG
I – TỔNG QUAN VÊ TỶ GIA
1.Khái niệm
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đồng tiền này được biểu thị thông qua một đồng tiền khác Nói cách khác, tỷ giá là số đơn vị đồng tiền định giá trên một đồng tiền yết giá Tại Việt Nam sử dụng phương pháp yết giá trực tiếp, nghĩa là đồng ngoại tệ đóng vai trò là đồng yết giá ( số đơn vị = 1), còn đồng nọi tệ đóng vai trò là đồng định giá
2.Phân loại tỷ giá
Có nhiều loại tỷ giá khác nhau phụ thuộc vào từng tiêu thức phân loại khác nhau
a/ Căn cứ vao chế độ quản lý ngoại hối:
- Tỷ giá chính thức: là tỷ giá do Ngân hàng Trung ương (NHTW) của
mỗi nước công bố hàng ngày vào đầu giờ làm việc của NHTW Dựa vào tỷ giá này các Ngân hàng Thương mại (NHTM) và các tổ chức tín dụng sẽ ấn định tỷ giá mua bán ngoại tệ giao ngay, có kỳ hạn, hoán đổi
- Tỷ giá kinh doanh ( bao gồm tỷ giá mua, tỷ giá bán): là tỷ giá dùng
để kinh doanh mua bán do các NHTM hay các tổ chức tín dụng đưa ra Cơ sở xác định tỷ giá này là tỷ giá chính thức do NHTW công bố xem xét đến các yếu tố liên quan trực tiếp đến kinh doanh như: quan hệ cung cầu ngoại tệ, tỷ suất lợi nhuận, tâm lý của người giao dịch đối với ngoại tệ cần mua hoặc bán Biên độ giao động hiện nay của tỷ giá kinh doanh so với tỷ giá chính thức là 1%
- Tỷ giá chợ đen: tỷ giá được hình thành bên ngoài thị trường ngoại tệ
chính thức
Trang 3b/ Căn cứ vao tiêu thức thời điểm thanh toán
- Tỷ giá giao ngay: là tỷ giá mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận ngoại
tệ được thực hiện ngay trong ngày hôm đó hoặc một vài hôm sau Loại tỷ giá này do tổ chức tín dụng yết giá tại thời điểm giao dịch hoặc do hai bên thỏa thuận nhưng phải đảm bảo trong biên độ do NHNN quy định Việc thanh toán giữa các bên phải được thực hiện trọng vòng 2 ngày làm việc tiếp theo sau ngày cam kết mua bán
- Tỷ giá giao nhận có kỳ hạn: là tỷ giá giao dịch do tổ chức tín dụng
yết giá hoặc do hai bên tham gia giao dịch tự tính toán và thỏa thuận với nhau nhưng phải đảm bảo trong biên độ quy định về tỷ giá kỳ hạn hiện hành của NHNN tại thời điểm ký hợp đồng
- Tỷ giá mở cửa: tỷ giá mua bán ngoại tệ của giao dịch đầu tiên trong
ngày
- Tỷ giá đóng cửa: tỷ giá mua bán ngoại tệ của hợp đồng ký kết cuối
cùng trong ngày
c/ Căn cứ vao tiêu thức giá trị của tỷ giá
- Tỷ giá danh nghĩa: là tỷ giá được yết giá và có thể trao đổi giữa hai
đồng tiền mà không đề cập đến tương quan sức mua giữa chúng
- Tỷ giá thực: là tỷ giá đã được điều chỉnh theo sự thay đổi tương quan
giá cả của nước có đồng yết giá và giá cả hàng hóa của nước có đồng tiền định giá
d/ Căn cứ vao phương tiện thanh toán quốc tế:
- Tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay: là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu
trả tiền ngay bằng ngoại tệ
- Tỷ giá hối phiếu có kỳ hạn: là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu có
kỳ hạn bằng ngoại tệ
- Tỷ giá séc: là tỷ giá mua bán các loại séc ngoại tệ
Trang 4- Tỷ giá chuyển khoản: là tỷ giá mua bán ngoại hối bằng cách chuyển
khoản qua ngân hàng
- Tỷ giá tiền mặt: là tỷ giá mua bán ngoại hối được thanh toán bằng
tiền mặt
3.Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá
a/ Cán cân thanh toán quốc tế:
Cán cân thanh toán quốc tế của một quốc gia có thể rơi vào một trong
ba trạng thái sau: cân bằng, thâm hụt hay thặng dư, ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá Vì vậy, nếu cán cân thanh toán quốc tế dương thì tỷ giá hối đoái có chiều hướng giảm hoặc giữ vững Ngược lai, nếu cán cân thanh toán quốc tế
âm thì thỷ giá hối đoái có xu hướng tăng
b/ Mức độ tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế
Mức độ tăng, giảm GDP thực tế của một nước so với nước khác, trong điều kiện các nhân tổ khác không đổi sẽ làm tăng hoặc giảm nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu Do đó sẽ làm cho nhu cầu về ngoại hối để thanh toán hàng nhập khẩu tăng hay giảm, từ đó tác động đến cung cầu ngoại tệ và làm cho tỷ giá hối đoái giảm đi hoặc tăng lên
c/ Sự chênh lệch lạm phát của đồng tiền quốc gia
Khi tỷ lệ lạm phát của 1 quốc gia tăng lên hay giảm xuống sẽ làm cho giá trị của đồng tiền nước đó thay đổi dẫn đến tỷ giá hối đoái của đồng tiền nước đó so với nước ngoài bị biến động Nếu mức lạm phát của nước này cao hơn mức lạm phát của nước kia thì sức mua của nội tệ sẽ giảm so với ngoại tệ Lạm phát cao càng kéo dài, đồng tiền vàng mất giá, sức mua càng giảm nhanh, sức mua của đồng tiền trong nước giảm thì sức mua đối ngoại của nó cũng giảm và làm cho tỷ giá hối đoái tăng
d/ Mức chênh lệch giữa lãi suất các nước
Trang 5Ở thị trường nào có mức lãi suất ngắn hạn cao hơn thì những luồng vốn ngắn hạn có xu hướng đổ về thị trường đó làm cho cung cầu ngoại tệ tăng lên, cầu về ngoại tệ giảm do có xu hướng tỷ giá hối đoái giảm
e/ Các nhân tố khác
Một số nhân tố khác cũng tác động gián tiếp đến tỷ giá thông qua cung cầu ngoại tệ như: yếu tố chính trị, kinh tế xã hội, thiên tai chiến tranh, hoạt động đầu cơ Đặc biệt là các chỉ số và các sự kiện tại Mỹ sẽ ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái thế giới như:
- Chỉ số thất nghiệp tăng, giảm trong tháng
- Chỉ số bán le
- Kết quả các hội nghị G7, EU, Asian,…
- Sản lượng công nghiệp, GDP, GNP…
Ngoài ra,khi thực hiện cơ chế tỷ giá thả nổi thì tỷ giá rất nhạy cảm với các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, chiến tranh, kể cả yếu tố tâm lý,…
Tóm lai, những biến động của các nhân tổ nêu trên có thể tác động riêng le hoặc đồng thời lên cung cầu ngoại tệ, từ đó tác động đến tỷ giá.Việc hiểu và phân tích tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá rất quan trọng vì nó giúp chúng ta dự báo và hình thành kỳ vọng hợp lý về tỷ giá để từ đó làm cơ sở ra quyết định liên quan đến các giao dịch ngoại tệ
II – BIẾN ĐỘNG TỶ GIA Ở VIỆT NAM
1 Tỷ giá tại Việt Nam năm 2008
Giai đoạn 2008 - 2009 đánh dấu sự biến động của phản ứng chính sách tỷ giá ở Việt Nam Từ năm 2007 do sự tăng ồ ạt của luồng tiền đầu tư gián tiếp vào Việt Nam, nguồn cung USD đã tăng mạnh Trên thực tế từ tháng 10/2007 đến tháng 3/2008 thị trường ngoại hối Việt Nam đã có dư
Trang 6cung về USD khiến tỷ giá Ngân hàng Thương mại giảm xuống sàn biên độ giao động mà Ngân hàng Nhà nước công bố
Năm 2008 kinh tế thế giới bắt đầu rơi vào tình trạng khủng hoảng, nền kinh tế Việt Nam cũng ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế tác động tới tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu trong nước Cùng với lãi suất và lạm phát, năm 2008 là một năm đầy biến động với tỷ giá hối đoái với những ảnh hưởng từ các yếu tố vĩ mô, cung cầu ngoại tệ Một tiền lệ chưa từng có trong lịch sử là biên độ tỷ giá được điều chỉnh 5 lần, một mật độ dày chưa từng có Quy luật thị trường bị phá vỡ Nếu như những năm trước tỷ giá luôn được định hướng tăng nhẹ vào khoảng 1% /năm thì vào năm 2008 tỷ giá công bố liên ngân hàng thường có xu hướng duy trì ổn định đã tăng 5%, dẫn đến tỷ giá giao dịch liên ngân hàng tăng 10% Trong khi đó tỷ giá ngoài thị trường tự do tăng kịch trần vượt quá hạn mức cho phép của Ngân hàng Nhà nước nhiều lần Chênh lệch giữa tỷ giá chính thức do ngân hàng công bố và tỷ giá tự do có sự khác biệt rất lớn
a Giai đoạn 1: Từ 01/01/2008 tới 25/03/2008: Xu hướng chung của
giai đoạn này là tỷ giá USD/VNĐ giảm
Tỷ giá USD/VNĐ trên thị trường liên ngân hàng giảm mạnh từ 16.112 đồng xuống còn 15.960 đồng Tỷ giá trên thị trường tự do có lúc rơi xuống thấp hơn tỷ giá liên ngân hàng và dao động trong khoảng từ 15.700 đến 16.000 VNĐ/USD
Nguyên nhân là do cuối năm 2007 đầu năm 2008 một số tổ chức tín dụng lớn tại Mỹ bị phá sản, khủng hoảng tài chính nổ ra, nhiều người lo sợ đã rút tiền mặt về gây ra lượng tiền mặt USD trong dân chúng tăng cao, mặt khác tại Việt Nam vào thời điểm này bắt đầu gia nhập WTO, GDP tăng trưởng ở mức cao, thị trường chứng khoán đang hết sức sôi động… tất cả những điều đó đã làm cho Việt Nam trở thành một thị trường đầu tư hấp dấn
Trang 7nên đã làm lượng cung USD tăng nhanh trong những tháng đầu năm 2008 làm cho tỷ giá giảm
b Giai đoạn 2: Từ 26/03/2008 đến 16/07/2008: Tình hình chung của
giai đoạn này là tỷ giá tăng, có thời kỳ tăng mạnh
Trong giai đoạn này tỷ giá tăng dần đều và đột ngột tăng mạnh từ giữa tháng 6, đỉnh điểm lên đến 19.400 VNĐ/USD vào ngày 18/06, cách hơn 2.600 đồng so với mức trần, còn trên thị trường tự do cao hơn khoảng
100-150 VNĐ/USD sau đó dịu lại khi Ngân hàng Nhà nước nới biên độ và kiểm soát chặt chẽ các giao dịch
Nguyên nhân là do các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu rút vốn khỏi Việt Nam, ngân hàng Nhà nước không cho phép cho vay ngoại tệ đối với doanh nghiệp xuất khẩu, đồng thời theo chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng Thương mại mua USD vào giải tỏa sự ứ đọng nên nguồn cung ngoại tệ ra thị trường giảm mạnh
Lạm phát trong giai đoạn này cũng tăng cao, làm cho chi phí sản xuất trong nước cao hơn dẫn đến hoạt động xuất khẩu sang Mỹ bị giảm sút, nhập khẩu tăng cao làm cho cung USD giảm xuống, cầu USD tăng dẫn đến tỷ giá VNĐ/USD tăng cao
Chính phủ đã triển khai các giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, tăng trưởng bền vững và đảm bảo an sinh xã hội Tuy nhiên các biện pháp vẫn chưa thể tác động đến thị trường, tính tới cuối tháng 6 nhập siêu đã lên tới 14,8 tỷ USD đe dọa sự bền vững của cán cân thanh toán và gây áp lực lên tỷ giá USD/VNĐ
c Giai đoạn 3: Từ 17/07/2008 đến 15/10/2008: Tỷ giá giảm mạnh từ
19.400 VNĐ/USD xuống còn 16.400 VNĐ/USD và giao dịch bình ổn quanh mức 16.600 VNĐ/USD trong giai đoạn từ tháng 8 đến giữa tháng 10
Trang 8Nguyên nhân là nhờ có sự can thiệp của ngân hàng Nhà nước, cơn sốt USD đã bị chặn đứng Ngân hàng Nhà nước đã ban hành một loạt các chính sách nhằm bình ổn thị trường ngoại tệ như kiểm soát chặt các đại lý thu đổi ngoại tệ, nâng biên độ tỷ giá và nâng tỷ giá giao dịch liên ngân hàng lên mức 16.516 đồng/USD điều này giúp tỷ giá USD/VNĐ được đánh giá đang điều tiết linh hoạt về đúng giá trị thật
Nhập siêu hàng hóa giảm mạnh trong thời gian này làm cho lượng cung USD tăng trong khi cầu USD để chi trả cho các hoạt động nhập khẩu giảm làm cho tỷ giá VNĐ/USD giảm mạnh trong giai đoạn này
d Giai đoạn 4: Từ 16/10/2008 đến hết năm: Tỷ giá tăng trở lại từ
16.600 đồng/USD lên 17.440 đồng/USD Tỷ giá trên thị trường tuy có tăng nhưng không xảy ra cơn sốt, hoạt động mua bán ngoại tệ của ngân hàng thương mại diễn ra bình thường Tuy nhiên tâm lý kỳ vọng USD tăng giá vẫn rất lớn, người dân và các doanh nghiệp xuất khẩu thì gim giữ USD trong khi các doanh nghiệp nhập khẩu thì tranh thủ mua
Lãi suất tiền Việt Nam có xu hướng giảm còn lãi suất USD tăng trở lại trong khi tỷ giá VNĐ/USD tăng buộc các nhà đầu tư kinh doanh chênh lệch giá chuyển VNĐ sang USD nhằm bảo toàn vốn và hưởng lãi suất hợp lý Do đó lượng cung USD giảm còn lượng cầu lại tăng
2 Tỷ giá tại Việt Nam năm 2009
Xu hướng chung của năm 2009 là sự mất giá danh nghĩa của VNĐ so với USD Cho đến cuối năm 2009, tỷ giá chính thức VNĐ/USD tăng 5,6%
so với cuối năm 2008 Trong năm 2008, tỷ giá niêm yết tại các Ngân hàng Thương mại biến động liên tục, đầu năm còn có giai đoạn thấp hơn tỷ giá chính thức thì năm 2009 là một năm mà tỷ giá Ngân hàng Thương mại luôn ở mức trần của biên độ giao động mà Ngân hàng Nhà nước công bố
Trang 9a Giai đoạn 1: Từ đầu năm đến 24/11/2009: Tỷ giá tăng liên tục, biến
động mạnh trên thị trường liên ngân hàng và thị trường tự do
3 tháng đầu năm là giai đoạn khá ổn định của tỷ giá VNĐ/USD ở cả thị trường chính thức và thị trường tự do Tỷ giá liên ngân hàng dao động trong khoảng 17.450 đến 17.700 VNĐ/USD Đến 24/03/2009 tỷ giá giảm từ 16.980 VNĐ/USD xuống còn 16.940 Từ giữa tháng 6, tỷ giá bình quân liên ngân hàng có xu hướng tăng và chính thức vượt mốc 17.000 VNĐ/USD vào ngày 10/10/2009, sau đó tỷ giá này tiếp tục tăng đều đặn Đến 23/11/2009 cùng với sự tăng giá vàng, tỷ giá trên thị trường tự do mở cửa chỉ ở mức 19.550 VNĐ/USD sau 5 lần thay đổi giá đến trưa tỷ giá đã là 19.900 VNĐ/USD
Nguyên nhân là do tâm lý bất ổn của cả doanh nghiệp và người dân khi tỷ giá tăng nhanh dẫn đến hiện tượng găm giữ ngoại tệ
Cán cân thương mại sau khi thặng dư trong 3 tháng đầu năm thì bắt đầu từ tháng 4 cán cân thương mại này bắt đầu thâm hụt và mức thâm hụt ngày càng gia tăng vào các tháng cuối năm do nhu cầu nhập khẩu tăng cao vào giai đoạn này Thâm hụt trong tháng 11 năm 2009 ước tính khoản 10,5 tỷ USD đã tạo nên sức ép giảm giá VNĐ
Luồng vốn đầu tư trực tiếp FDI, đầu tư gián tiếp FII năm 2009 giảm đáng kể so với năm 2008 và đã ảnh hưởng không nhỏ tới cán cân tổng thể, từ đó gây sức ép tới tỷ giá
Nhà nước có chính sách hỗ trợ lãi suất 4% cho các doanh nghiệp bằng tiền Việt Nam đồng, phạm vi và thời gian vay được mở rộng theo chủ trương của Chính phủ nên một số doanh nghiệp có ngoại tệ có xu hướng không bán ngoại tệ và chỉ muốn vay tiền VNĐ Đây là một tác động thiếu tích cực không mong muốn khi triển khai gói kích cầu Nguồn cung USD giảm do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, xuất khẩu, du lịch của Việt Nam Hết tháng
Trang 109/2009 xuất khẩu của Việt Nam giảm 11,6%, khách quốc tế đến Việt Nam giảm 12,3% so với cùng kỳ năm 2008 Do đó nguồn cung USD trên thị trường giảm mạnh
b Giai đoạn 2: Từ 25/11 đến hết năm 2009: Tỷ giá giảm về quanh
mức 18.500 VNĐ/USD
Chênh lệch tỷ giá giữa ngân hàng thương mại và thị trường tự do đã giảm đáng kể từ 2.000 đồng xuống còn 1.000 đồng Từ ngày 10/12 ngân hàng nhà nước còn giữ nguyên tỷ giá bình quân liên ngân hàng ở mức 17.941 VNĐ/USD và tỷ giá bán cảu các ngân hàng thương mại đạt mức trần là 18.479 VNĐ/USD
Nguyên nhân là do ngân hàng nhà nước đã cho nhập khẩu vàng nhằm giảm sức ép lên cung vàng qua đó hạ bớt sức nóng của đồng USD trên thị trường tự do, đồng thời mạnh tay can thiệp trực tiếp vào việc điều chỉnh tỷ giá Nền kinh tế Việt Nam được phục hồi khá ấn tượng sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu: tăng trưởng kinh tế đạt 5,32%, lạm phát ở mức thấp nhất trong 6 năm trở lại đây, ở mức 6,88%
3 Tỷ giá Việt Nam năm 2010
Năm 2010 tiếp tục chứng kiến các xu hướng tương tự trên thị trường ngoại hối như trong năm 2009 Cụ thể là các ngân hàng thương mại vẫn tiếp tục đặt tỷ giá tại trần biên độ của tỷ giá chính thức trong hầu hết các tháng trong năm và khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do có lúc tăng lên những mức cao chưa từng có vào cuối năm 2010
Do các áp lực vẫn tiếp tục tăng cao dù ngân hàng nhà nước đã có nhiều nỗ lực vào cuối năm 2009 đến ngày 11/02/2010, ngân hàng nhà nước đã phải tăng tỷ giá chính thức từ 17.941 VNĐ/USD lên 18.544 VNĐ/USD Cùng với việc nâng tỷ giá này ngân hàng nhà nước đã thực hiện hàng loạt các biện pháp hành chính nhằm giảm áp lực lên thị trường ngoại hối góp