1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận kinh tế học lao động phân tích thực trạng việc làm và thất nghiệp tại việt nam hiện nay

30 600 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 292,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong điều kiện của tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự áp dụng các thành tựu củakhoa học công nghệ vào sản xuất mạnh mẽ như hiện nay, quan hệ tỷ lệ giữa C và Vthường xuyên biến đổi theo các

Trang 1

Đề bài: Phân tích thực trạng việc làm và thất nghiệp tại Việt Nam hiện nay.

Mở đầu

Thị trường lao động là một trong những kênh chính mà quá trình hội nhậpsâu hơn vào nền kinh tế thế giới ảnh hưởng trực tiếp ngay đến nước ta Sở dĩ nhưvậy vì 3 lý do: Thứ nhất, những thay đổi về việc làm là kết quả của thay đổi cơ cấukinh tế; Thứ hai, môi trường kinh doanh phụ thuộc chủ yếu vào khả năng tạo việclàm và tăng năng suất của thị trường lao động; Thứ ba, lao động gần như là tài sảnduy nhất mà người nghèo đang sở hữu

Trong thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa hiện nay, nguồn nhân lực làyếu tố quan trọng quyết định đến sự phát triển đất nước và sự sống còn của doanhnghiệp

Lực lượng lao động là một bộ phận của dân số bao gồm những người trong

độ tuổi lao động và những người ngoài độ tuổi lao động nhưng thực tế có khả nănglao động Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay thì chúng ta tiếp tục có các cơ hội

và gặp nhiều thách thức đối với sự phát triển thị trường lao động Quá trình phâncông sản xuất trong chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu sẽ kéo theo sự tái phân bố laođộng và sự phụ thuộc lẫn nhau của thị trường lao động các quốc gia Các công tyxuyên quốc gia không chỉ là tác nhân giúp các nước và lãnh thổ kinh tế tham giasâu hơn vào mạng sản xuất toàn cầu mà còn có vai trò là người sử dụng lao động đaquốc gia, sẽ đặt ra những tiêu chuẩn mới, thách thức các khuôn khổ tiêu chuẩn vàpháp luật lao động quốc gia Cạnh tranh quốc tế trong phân công lao động sẽ thúcđẩy cạnh tranh và phân công lao động trong nước, năng lực cạnh tranh quốc gia sẽphụ thuộc vào mức độ thành công của tái cơ cấu kinh tế của Việt Nam Trong khi

đó bối cảnh trong nước cũng có nhiều thuận lợi đan xen với những khó khăn mới

Đó là nền kinh tế tiếp tục mở cửa tạo điều kiện phát huy tốt hơn những thế mạnhtrong nước nhưng cần khắc phục những hạn chế kìm hãm nhu cầu nội địa và choxuất khẩu, các tiêu chuẩn hàng hóa sản xuất và tiêu chuẩn lao động trở thành các

Trang 2

ràng buộc cạnh tranh, kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ cao là điều kiện cơ bản

để giải quyết việc làm nhưng yêu cầu phải bền vững, thể chế thị trường lao độngtiếp tục cần hoàn thiện để phù hợp với thông lệ quốc tế

PHẦN 1

Cơ sở lý luận về việc làm và thất nghiệp

1 Việc làm

1.1.Khái niệm việc làm

Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và nhữngđiều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sàn xuất, công nghệ ) để sử đụng sức lao động đó Trạng thái phù hợp được thể hiện thông qua quan hệ tỷ lệ giữa chi phí ban đầu (C)như nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu và chi phí về sức lao động (V).Quan hệ tỷ lệ biểu hiện sự kết hợp giữa C và V phải phù hợp với trình độ công nghệcủa sản xuất

Khi trình độ kỹ thuật công nghệ thay đổi thì sự kết hợp đó cũng thay đổi theohướng công nghệ sử dụng nhiều vốn hoặc công nghệ sử dụng nhiều sức lao động.Chẳng hạn, trong điều kiện kỹ thuật thủ công một đơn vị chi phí ban đầu về tư liệusản xuất có thể kết hợp với nhiều đơn vị sức lao động Còn trong điều kiện tự độnghoá, sản xuất theo dây chuyền hiện đại thì chi phí về vốn, thiết bị, công nghệ rất caonhưng chỉ đòi hỏi sức lao động với tỷ lệ rất thấp (công nghệ sử dụng nhiều vốn) Do

đó, tuỳ từng điều kiện cụ thể mà lựa chọn phương án phù hợp để có thể tạo việc làmcho người lao động

Trong điều kiện của tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự áp dụng các thành tựu củakhoa học công nghệ vào sản xuất mạnh mẽ như hiện nay, quan hệ tỷ lệ giữa C và Vthường xuyên biến đổi theo các dạng khác nhau:

- Sự phù hợp giữa chi phí ban đầu và sức lao động có nghĩa là mọi người cókhả năng lao động, có nhu cầu làm việc đều có việc làm Nếu chỉ xem xét trênphương diện sử dụng hết thời gian lao động khi có việc làm thì việc làm đó là việc

Trang 3

làm đầy đủ; còn trong trường hợp sự phù hợp của mối quan hệ này cho phép sửdụng triệt để tiềm năng về vốn, tư liệu sản xuất và sức lao động ta có khái niệm việclàm hợp lý.

- Sự không phù hợp giữa chi phí ban đầu và sức lao động sẽ dẫn đến thiếunguồn nhân lực hoặc thừa nguồn nhân lực tức thiếu việc làm và thất nghiệp

Điều 13, chương II “Việc làm” của Bộ luật Lao động của nước CHXHCN Việt

Nam có nêu: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật

cấm đều được thừa nhận là việc làm" Theo đó, một hoạt động được coi là việc làm

cần thoả mãn hai điều kiện:

Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và chocác thành viên trong gia đình Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu thứctạo ra thu nhập của việc làm

Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật cấm Điều này chỉ rõ tính pháp lý củaviệc làm Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi và ngành nghề và hoàn toànphù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt Nam trong quá trình pháttriển nền kinh tế nhiều thành phần Người lao động hợp pháp ngày nay được đặt vào

vị trí chủ thể, có quyền tự do tìm kiếm việc làm, hoặc tạo ra việc làm cho ngườikhác trong khuôn khổ pháp luật, không còn bị phân biệt đối xử cho dù làm việctrong hay ngoài khu vực nhà nước Điều đó đã khẳng định tính chất pháp lý tronghoạt động của hàng triệu người lao động trong các khu vực kinh tế, kể cả khu vựckinh tế ngoài nhà nước và khu vực kinh tế phi chính thức vốn là những khu vực bịphân biệt đối xử nặng nề trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung

Hai tiêu thức trên có mối quan hệ chặt chẽ nhau, là điều kiện cần và đủ củamột hoạt động được thừa nhận là việc làm Nếu hoạt động chỉ tạo ra thu nhập nhưng

vi phạm luật pháp như trộm cắp, buôn bán hêrôin, mại dâm không thể được côngnhận là việc làm Mặt khác, một hoạt động dù là hợp pháp, có ích nhưng không tạo

ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm, chẳng hạn, nội trợ hàng ngàycủa phụ nữ cho chính gia đình mình như: đi chợ, nấu cơm, rửa bát, dọn dẹp, lau

Trang 4

nhà, giặt quần áo Nhưng nếu người phụ nữ đó cũng thực hiện các công việc nộitrợ tương tự cho gia đình người khác được trả tiền công thì hoạt động của họ đượcthừa nhận là việc làm.

Tuy nhiên, khái niệm trên có những hạn chế sau:

Trước hết, tính hợp pháp của một hoạt động được thừa nhận là việc làm tuỳthuộc vào luật pháp và thể chế của mỗi quốc gia và cũng có thể thay đổi theo từngthời kỳ Có hoạt động được thừa nhận là việc làm ở nước này nhưng lại không đượcthừa nhận ở nước khác Ví dụ: mại dâm của phụ nữ được thừa nhận là việc làm ởThái Lan, Philippines vì được luật pháp nước đó bảo hộ và quản lý, được Bộ Y tế

và các cơ quan quản lý sức khoẻ của những nước này theo dõi, kiểm tra sức khoẻđịnh kỳ và cấp giấy phép hành nghề Họ cho rằng, hoạt động này đáp ứng nhu cầutình dục của một nhóm người trong xã hội và nó đem lại thu nhập cho lao động nữ.Nhưng mại dâm của phụ nữ ở Việt Nam được coi là hoạt động phi pháp hay viphạm pháp luật và không được thừa nhận là việc làm

Thứ hai, không phải mọi hoạt động có ích và cần thiết cho gia đình, cho xã hộiđều tạo ra thu nhập mặc dù nó góp phần giảm chi tiêu cho gia đình thay vì thuêngười làm công (ví dụ, công việc nội trợ của chính người trong gia đình)

Tổ chức Lao động Quốc tể (ILO) cũng đưa ra khái niệm: Việc làm là nhữnghoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật

Từ các quan niệm trên có thể rút ra khái niệm việc làm như sau: Việc làm là

phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ ) để sử dụng sức lao động đó Dựa vào khái niệm

này để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm và các mô hình tạo việclàm

1.2.Sự cần thiết tạo việc làm cho người lao động

Tạo việc làm cho người lao động là cần thiết nhằm giảm thất nghiệp Côngnghiệp hoá là xu hướng tất yếu đối với các quốc gia muốn nhanh chóng thoát khỏitình trạng kinh tế nông nghiệp lạc hậu, năng suất thấp, mức sống thấp sang nền kinh

Trang 5

tế công nghiệp, năng suất cao Trong quá trình phát triển kinh tế, chuyển dịch cơcấu kinh tế là tất yếu Chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ kéo theo chuyển dịch cơ cấulao động Vì vậy, có nghề mới, hoạt động sản xuất mới ra đời, trong khi một sốnghề cũ, hoạt động sản xuất cũ bị mất đi, thất nghiệp phát sinh.

Tạo việc làm cho người lao động đáp ứng quyền lợi của người lao động, quyền

có việc làm và nghĩa vụ phải làm việc của người trong tuổi lao động, có khả nănglao động như Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã ghi nhận Có việc làmđồng nghĩa với có thu nhập, nâng cao vị thế của người lao động trong gia đình vàngoài xã hội Ngoài ra, tạo việc làm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, hạnchế các tiêu cực xã hội, góp phần xoá đói giảm nghèo và ổn định xã hội

Nếu không có việc làm sẽ không có thu nhập và không có điều kiện thoả mãncác nhu cầu chính đáng về vật chất và tinh thần của người lao động, chất lượngcuộc sống giảm sút Vì vậy, tạo việc làm cho người lao động là biện pháp trung tâmcủa mọi quốc gia, nó cho phép không chỉ giải quyết các vấn đề kinh tế mà cả cácvấn đề xã hội Có việc làm sẽ tạo điều kiện cho việc xoá đói giảm nghèo, có việclàm sẽ làm giảm các tệ nạn xã hội

1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho người lao động

Tạo việc làm cho người lao động phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố khác nhau.Sau đây đề cập đến một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến tạo việc làm cho ngườilao động

a Điều kiện tự nhiên, vốn và công nghệ

Nhu cầu có việc làm bắt nguồn từ đòi hỏi của sản xuất, phát triển kinh tế Sảnxuất càng phát triển, quy mô ngày càng mở rộng thì nhu cầu tạo việc làm càng lớn.Muốn mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế phải dựa vào những tiền đề vật chất Tiền

đề vật chất là nhân tố tiên quyết ảnh hưởng đến tạo việc làm Điều kiện tự nhiên củamột quốc gia, một vùng, một thành phố/tỉnh được hình thành một cách tự nhiên từhàng nghìn hàng vạn năm trước đây, ngoài ý muốn chủ quan của con người, như độmàu mỡ tự nhiên của đất đai, diện tích canh tác bình quân đầu người, điều kiện khí

Trang 6

hậu, thuỷ văn thuận lợi hoặc bất lợi cho phát triển các loại cây trồng và con gia súc,trữ lượng của hầm mỏ; tài nguyên rừng và biển

Trên thế giới có nước rất giàu tài nguyên thiên nhiên, đất đai rộng lớn, thuậnlọi cho phát triển các ngành sản xuất, thu hút lao động, như Liên Xô cũ; các nước cónhiều dầu lửa như Ả rập Bên cạnh đó, có những nước (như Nhật Bản) lại rất nghèotài nguyên, đất đai chật hẹp, thiên nhiên không ưu đãi, thường xuyên xảy ra các sự

cố bất lợi cho sản xuất, cho cuộc sống cùa con người như núi lửa; động đất; bãolụt

Do đó, điều quan trọng là làm thế nào để các điều kiện tự nhiên sẵn có của mỗivùng, mỗi quốc gia, mỗi thành phố đều trở thành các nguyên liệu, nhiên liệu phục

vụ cho sản xuất và đời sống, như dầu lửa phải được khai thác từ đáy biển, quặngvàng và các loại khoáng sản quý hiếm phải được lấy ra khỏi lòng đất và qua cáccông nghệ sàng lọc, tinh chế mới có ích cho cuộc sống

Để biến các điều kiện tự nhiên sẵn có của mỗi quốc gia thành có ích thì phải cóvốn để mua công nghệ kỳ thuật hiện đại, dây chuyền công nghệ, máy móc thiết bịphục vụ sản xuất, chế biến Trong thực tế có những nước rất nghèo tài nguyên thiênnhiên như Nhật Bản nhưng có công nghệ hiện đại, máy móc tiên tiến, có phươngpháp quản lý hiện đại đã tạo ra được nhiều việc làm và việc làm có chất lượng cao,nâng cao đời sống của nhân dân Đặc biệt, yếu tố sức lao động liên quan đến thểlực, trí lực, kinh nghiệm quản lý và sản xuất, cơ chế, chính sách của mỗi quốc gia,của chính quyền địa phương và những quy định cụ thể của chủ sản xuất kinh doanh

là những nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho người lao động

b Chất lượng sức lao động

Cơ chế tạo việc làm đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ của 3 phía: người chủ sử dụnglao động, người lao động và Nhà nước Do đó, nhân tố có ảnh hưởng quyết định đếntạo việc làm cho người lao động là sức lao động trên hai phương diện số lượng vàchất lượng Nhân tố này bao gồm những đòi hỏi mà người lao động cần phải có đểđáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động

Trang 7

Trong bối cảnh của một nước đang phát triển như Việt Nam, vấn đề quan trọngnhất là chất lượng sức lao động Do đó, người lao động muốn kiếm được việc làm

và nhất là việc làm có thu nhập cao phù hợp với năng lực, trình độ, cần phải có cácthông tin thị trường lao động, biết các cơ hội việc làm và đặc biệt phải đầu tư chosức lao động của mình, tức đầu tư vào vốn con người cả về thể lực và trí lực

Do đó, thông tin thị trường lao động giúp cho người lao động lựa chọn đượcngành nghề mà thị trường lao động đang cần và sẽ cần trong tương lai để thực hiệnđầu tư vào vốn con người có hiệu quả, chủ động tìm kiếm việc làm và nắm bắt các

cơ hội việc làm Mỗi người lao động cần tuỳ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh cụthể của mình, tranh thủ các nguồn tài trợ (từ gia đình và các tổ chức xã hội) để thamgia giáo dục, đào tạo, phát triển sức lao động nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng vàkinh nghiệm của mình Đó cũng chính là điều kiện cần thiết để duy trì việc làm, tạo

cơ hội việc làm có thu nhập và nâng cao vị thế của bản thân mỗi người lao động

c Cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến tạo việc làm

Cơ chế chính sách của chính phủ quốc gia, của chính quyền địa phương, cácquy định của chủ doanh nghiệp là nhóm nhân tố rất quan trọng tạo việc làm chongười lao động Trong mỗi thời kỳ khác nhau, Chính phủ quốc gia sẽ đề ra nhữngchính sách cụ thể, tạo hành lang pháp lý cho phát triển sản xuất, cải thiện đời sống,

mở rộng hoặc thu hẹp việc làm của lĩnh vực này, ngành này hay lĩnh vực khác,ngành khác, tạo môi trường để người chủ sử dụng lao động và người lao động gặpnhau

Chính sách và cơ chế của Nhà nước cũng trực tiếp hoặc gián tiếp khuyến khíchcác chủ sử dụng lao động thu hút lao động đặc thù hay sa thải họ Có thể nói rằngnhóm nhân tố này rất đa dạng, như các chính sách kinh tế vĩ mô, vi mô của Nhànước chung hoặc theo ngành, lĩnh vực, vùng và có ảnh hưởng lớn đến tạo việclàm cho người lao động Chẳng hạn, chính sách đổi mới kinh tế trên tầm vĩ mô,chuyển từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần đã làm thay đổi cơ cấu kinh

Trang 8

tế Do đó, cơ cấu lao động theo ngành kinh tế, theo lĩnh vực và theo vùng thay đổikhông chỉ về số lượng mà đặc biệt là về chất lượng lao động

Với chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, bên cạnh kinh tế nhà nước,kinh tế tập thể thì thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, thành phần kinh tế

cá thể, tư bản tư nhân cũng được khuyến khích phát triển đúng hướng Kết hợp vàđan xen giữa sản xuất kinh doanh quy mô lớn, với quy mô vừa, nhỏ và siêu nhỏcùng phát triển, tạo động lực phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trongnước và nhu cầu xuất khẩu tạo vốn cho tích luỹ mở rộng sản xuất và cải thiện đờisống nhân dân, tăng cường mối quan hệ hợp tác quốc tế giữa Việt Nam với cácnước trên thế giới

Bộ luật Lao động của nước CHXHCN Việt Nam có hiệu lực từ 1/1/1995 với

198 điều đã tạo thành nền tảng cho khung khổ pháp lý của thị trường lao động ởnước ta Bộ luật Lao động được coi là công cụ pháp luật quan trọng nhất để điềuchỉnh quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động, đặt nềntảng cho việc hình thành thị trường lao động ở Việt Nam bằng việc công nhận

"Người lao động có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và bất

kỳ chỗ nào mà pháp luật không cấm." Điều 13 còn ghi rõ: "Giải quyết việc làm,đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là tráchnhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội"

Tóm lại, cơ chế chính sách của chính phủ quốc gia, chính quyền địa phương vàviệc áp dụng nó vào thực tiễn có tác động mạnh mẽ đến cầu lao động của doanhnghiệp, của thị trường lao động Đến lượt nó trực tiếp tác động đến thái độ, hành vi,cách ứng xử của chủ doanh nghiệp trong thu hút lao động

2 Thất nghiệp

2.1 Khái niệm thất nghiệp

a Thất nghiệp là sự mất việc làm hay là sự tách rời sức lao động khỏi tư liệusản xuất, nó gắn liền với người có khả năng lao động nhưng không được sử đụng cóhiệu quả

Trang 9

Thất nghiệp và thiếu việc làm là vấn đề bức xúc cho các nước đang phát triển.Theo thống kê, thất nghiệp công khai ở thành thị một số nước nghèo chiếm từ 10đến 20% lực lượng lao động; kết hợp với số thiếu việc làm bán thất nghiệp, tỷ lệnày đạt mức 29% đối với tất cả các nước đang phát triển; trong đó, riêng châu Phi là38%.

b.Người thất nghiệp

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về người thất nghiệp Người thất nghiệpgồm những người trong khoảng thời gian xác định của cuộc điều tra không có việclàm nhưng đang tích cực tìm việc làm và có nhu cầu được làm việc Tiêu thức đểxác định người thất nghiệp là đang không có việc làm, tích cực tìm kiếm việc làm

và có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc

Theo P.A.Samuenlson và W.D.Nordhaus, người thất nghiệp là người không cóviệc làm được trả công, và đang có những cố gắng cụ thể để đi tìm một công việctrong 4 tuần qua, hoặc bị cho thôi việc nhưng đang chờ được gọi làm việc trở lại,hoặc đang chờ đợi đi làm trong tháng tới

Ở Việt Nam, để thống nhất trong điều tra lao động - việc làm được tiến hành

hàng năm từ 1996 đến nay, Bộ Lao động TBXH quy định: “Người thất nghiệp là

những người đủ từ 15 tuổi trở lên, có nhu cầu làm việc nhưng không có việc làm trong tuần lễ điều tra, tính đến thời điểm điều tra có đi tìm việc trong 4 tuần lễ qua hoặc không đi tìm việc trong 4 tuần lễ qua với các lý do chờ việc, nghỉ thời vụ, không biết tìm việc ở đâụ, hoặc trong tuần lễ trước điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 8 giờ, muốn làm thêm nhưng không tìm được việc"

2.2 Các chỉ tiêu đo lường thất nghiệp

a Chỉ tiêu tuyệt đối

Thông qua điều tra, người ta có thể thu thập được số liệu về số lượng ngườithất nghiệp

b Chỉ tiêu tương đối

Chỉ tiêu được sử dụng là tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm

Trang 10

 Số người thất nghiệp Tỷ lệthất nghiệp= 100

Lựclượng lao động

 Số người thiếu việc làm

Lựclượnglao động

Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm được sử dụng phản ánh hiệntượng thất nghiệp, nhưng do cĩ sự đánh giá khác nhau về người thất nghiệp và mụcđích nghiên cứu ở mỗi quốc gia, nên các tỷ lệ này được đo lường khơng giống nhau.Ngồi ra, cĩ thể tính tỷ lệ thất nghiệp theo các đặc trưng khác nhau, như:

- Tỷ lệ thất nghiệp theo giới tính: được tính bằng số người thất nghiệp namhoặc nữ giới trên tổng dân số nam hoặc nữ hoạt động kinh tế

- Tỷ lệ thất nghiệp theo nhĩm tuổi: được tính bằng số người thất nghiệp ở độtuổi x hoặc nhĩm tuổi (x, x+n) trên tổng dân số hoạt động kinh tế của tuổi hoặcnhĩm tuổi đĩ

- Tỷ lệ thất nghiệp theo trình độ chuyên mơn kỹ thuật: được tính bằng số ngườithất nghiệp của một trình độ chuyên mơn kỹ thuật trên tổng dân số hoạt động kinh

tế của trình độ chuyên mơn kỹ thuật đĩ

- Tỷ lệ thất nghiệp theo vùng: được tính bằng số người thất nghiệp của mộtvùng trên tổng dân số hoạt động kinh tế của vùng đĩ

2.3 Các hình thức thất nghiệp

Để hiểu rõ tầm quan trọng của vấn đề thất nghiệp, ngồi số người thất nghiệpcơng khai ra phải tính đến một số lớn những người khác cĩ vẻ là hoạt động tích cực,nhưng xét theo ý nghĩa kinh tế lại cĩ hiệu suất sử dụng thấp Edgar O Edvvard đãphân biệt năm hình thức khiếm dụng lao động (hay khơng tồn dụng lao động) nhưsau:

- Thất nghiệp chính thức (hay cơng khai) Hình thức thất nghiệp này gồm cảthất nghiệp tự nguyện và khơng tự nguyện Thất nghiệp tự nguyện là hiện tượngnhững người khơng chịu làm một số cơng việc mà họ cĩ đủ khả năng làm, chúng cĩ

ý nghĩa như một phương kế sinh nhai hơn là một cơng việc

Trang 11

- Bán thất nghiệp, bao gồm những người làm việc ít hơn mức mà mình mongmuốn (hàng ngày, hàng tuần hoặc theo từng mùa); có công ăn việc làm chỉ là hìnhthức.

- Thất nghiệp trá hình: loại hình này liên quan đến những người dành toàn bộthời gian của mình cho một tổ chức nào đó nhưng công việc họ làm thực ra khôngcần nhiều thời gian như vậy Nếu như những người có việc làm công khai chia nhau

số công việc hiện có, thì tình trạng thất nghiệp trá hình sẽ mất và bán thất nghiệp sẽtrở nên rõ ràng hơn

- Thất nghiệp ẩn, gồm những người tham gia vào các hoạt động phi lao động,chủ yếu vì không tìm được các cơ hội công ăn việc làm với trình độ học vấn hiệncó

- Những người về hưu sớm: về hưu sớm (trước tuổi, khi các điều kiện về hưuchưa đạt) có tác dụng như một phương tiện tạo ra những cơ hội việc làm cho nhữngngười khác

- Những người suy yếu, là những người có thể vẫn làm trọn ngày công, nhưngcường độ lao động có thể bị sút kém nghiêm trọng do suy dinh dưỡng hay khôngđược chăm lo y tế đầy đủ

- Những người làm việc không hiệu quả Họ là những người có đủ năng lựccần thiết cho công việc, nhưng lại phải vật lộn nhiều giờ mà không có đủ các nguồnlực bổ trợ để biến những nỗ lực của họ thành sản phẩm cho cuộc sống

2.4 Phân loại thất nghiệp

Đối với hình thức thất nghiệp công khai, một số nhà kinh tế học đã phân loạinhư sau:

- Thất nghiệp tự nguyện, gồm những người có khả năng được tuyển dụngnhưng họ chỉ đi làm khi có mức lương cao hơn mức lương bình quân phổ biển củangành nghề mà họ có năng lực trên thị trường lao động (mức lương đang thịnhhành) Một nền kinh tế có thể đang vận hành tốt nhưng vẫn tồn tại một lượng thấtnghiệp nhất định Có nhiều nguyên nhân gây ra thất nghiệp tự nguyện, có thể do

Trang 12

người lao động thích nghỉ ngơi hay tham gia những hoạt động khác hơn là làm việctại mức lương hiện hành.

- Thất nghiệp không tự nguyện, gồm những người muốn làm việc với mứclương bình quân phổ biến của ngành nghề mà họ có năng lực trên thị trường laođộng nhưng họ không được tuyển dụng Điểm cơ bản của cách tiếp cận này là tiềnlương không tự điều chỉnh được cân bằng thị trường lao động Tiền lương có xuhướng phản ứng chậm hơn với những biến động lớn Nếu tiền lương không điềuchỉnh để cân bẳng thị trường thì sẽ xuất hiện sự bất cập giữa những người tìm việc

và những vị trí công việc còn trống Những bất cập này đưa đến hình thái thấtnghiệp không tự nguyện

- Thất nghiệp tạm thời, phát sinh do sự di chuyển không ngừng của con ngườigiữa các khu vực địa lý, các công việc hoặc các giai đoạn khác nhau của cuộc sống.Thất nghiệp tạm thời luôn tồn tại thậm chí ngay trong những nền kinh tế có đầy đủcông ăn việc làm, do vẫn luôn có một số chuyển động nào đó khi người ta đi tìmviệc làm sau tốt nghiệp các trường, hoặc chuyển đến nơi ở mới, hoặc phụ nữ quaylại lực lượng lao động sau khi sinh con Thẩt nghiệp tạm thời thường do chuyển nơilàm việc hoặc tìm kiếm những công việc tốt hơn, thường là thất nghiệp tự nguyện

- Thất nghiệp cơ cấu, gồm những người không có việc làm khi tay nghề hoặc

kỹ năng làm việc của họ không đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các ngành nghềđang cần lao động, tức là ngành nghề hoặc kỹ năng của họ không còn phù hợp vớinhu cầu tuyển dụng trên thị trường lao động nữa Theo lý thuyết kinh tế học củaDavid Begg và các đồng tác giả Stanley Fischer, Rudiger Dombusch, thất nghiệp cơcấu xuất hiện do không có sự đồng bộ giữa tay nghề và cơ hội có việc làm khi nhucầu và sản xuất thay đổi Đây là loại hình thất nghiêp luôn làm nhiều người lo lắng

và chiếm nhiều thời gian thảo luận nhất của các nhà lập chính sách

- Thất nghiệp chu kỳ, gắn với chu kỳ của ngành và của nền kinh tế, gồm nhữngngười có nhu cầu làm việc với mức lương thịnh hành nhưng không tìm được việc

Trang 13

do mức cầu chung về lao động của ngành và của nền kinh tế thấp Tình trạng thấtnghiệp tăng lên ở hầu hết các vùng là dấu hiệu của thất nghiệp chu kỳ.

- Thất nghiệp do thiếu cầu, là thất nghiệp theo lý thuyết của Keynes, khi tổngcầu giảm mà tiền lương và giá cả chưa kịp điều chỉnh để phục hồi mức toàn dụnglao động

- Thất nghiệp chuyển tiếp hay thất nghiệp thiếu thông tin, là thất nghiệp nảysinh do cả người lao động và người sử dụng lao động đều cần có thời gian để tìmkiếm và xừ lý thông tin về việc thuê lao động hoặc làm thuê

- Thất nghiệp mùa vụ, thường xảy ra với các công việc mang tính chất thời vụnhư nghề thu lượm hoa trái, xây dựng và thường dễ dự đoán trước,

Trong bất kỳ quốc gia nào, luôn tồn tại một lượng thất nghiệp nhất định, ngaytrong tình trạng được đánh giá là toàn dụng lao động Đó là mức độ thất nghiệp tốithiểu phải chấp nhận, được gọi là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Giảm thất nghiệp đếnmức độ tối thiểu là có thể xem như thành công trong mục tiêu toàn dụng lao động

Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên tồn tại vì những nguyên nhân khách quan, như luôntồn tại một lượng lao động, thực sự không muốn làm việc và có những lao độngchấp nhận thất nghiệp tạm thời để tìm cơ hội có việc làm khác với mức lương caohơn vì không hài lòng với thu nhập hiện tại; nhiều lao động không nâng cao taynghề, bị đào thải, đang chờ xin việc khác hoặc phải học lại nghề; lao động đang chờphân công do chuyển việc; lao động làm việc một phần thời gian; lao động thấtnghiệp vào những thời điểm nông nhàn ở nông thôn

Trên thực tế, nhóm nhất nghịêp tự nhiên này cũng có những giá trị ở phươngdiện khác Họ là nguồn nhân lực dự trữ cho quốc gia khi cần phải sản xuất vượttiềm năng vì lý do này hay khác; họ cũng là đối trọng để giữ cân bằng tiền lương,không làm lương bổng tăng vọt và bất hợp lý mỗi khi thị trường lao động khanhiếm

3 Thực trạng việc làm và thất nghiệp ở Việt nam

Trang 14

Ngày 10 tháng 11 năm 2014, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã ban hànhQuyết định số 1287/QĐ-TCTK về Điều tra lao động việc làm năm 2015 Mục đíchcủa cuộc điều tra nhằm thu thập các thông tin về tình trạng tham gia thị trường laođộng năm 2015 của những người từ 15 tuổi trở lên hiện đang sống tại Việt Nam làm

cơ sở tổng hợp, biên soạn các chỉ tiêu thống kê quốc gia về lao động, việc làm, thấtnghiệp và thu nhập của người lao động

Các kết quả chủ yếu về việc làm và thất nghiệp ở Việt Nam được tóm tắt như sau:

1 Lực lượng lao động trung bình cả nước năm 2015 là 53,984 triệu người,tăng so với năm trước 236 nghìn người (0,4%) Lực lượng lao động bao gồm 52,8triệu người có việc làm và hơn 1 triệu người thất nghiệp

2 Lực lượng lao động của khu vực nông thôn chiếm 68,7%

3 Năm 2015, có hơn ba phần tư (chiếm 77,8%) dân số từ 15 tuổi trở lên thamgia lực lượng lao động Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chênh lệch đáng kể giữanam và nữ và không đồng đều giữa các vùng Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động củadân số khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị

4 Lực lượng lao động thanh niên (15-24 tuổi) cả nước chiếm 14,8% tổng lựclượng lao động, tương đương với hơn 8 triệu người Tỷ trọng nữ thanh niên thamgia hoạt động kinh tế đều thấp hơn nam theo thành thị nông thôn và 6 vùng kinh tế-

xã hội

5 Cả nước chỉ có khoảng 10,5 triệu người có việc làm, tương ứng với 19,9%,

đã được đào tạo Có sự chênh lệch đáng kể về tỷ lệ lao động đang làm việc đã quađào tạo giữa thành thị và nông thôn, mức chênh lệch này là 23,7 điểm phần trăm

6 So với năm 2009, tỷ trọng của nhóm làm công ăn lương tăng 5,9 điểm phầntrăm, chiếm hơn một phần ba tổng số lao động đang làm việc Trong nhóm lao độnggia đình, lao động nữ vẫn chiếm vai trò chủ đạo (chiếm 65,7%) Tỷ trọng lao động

tự làm và lao động gia đình chiếm tới 57,8%, cao gần gấp rưỡi so với tỷ trọng người

Trang 15

làm công ăn lương Đáng chú ý, tỷ trọng lao động tự làm và lao động gia đình của

nữ cao hơn nam 11,8 điểm phần trăm

7 Tỷ trọng người làm công ăn lương trong lĩnh vực phi nông nghiệp chiếm35,3% trong tổng số người có việc làm Tỷ trọng này của khu vực thành thị cao gấphơn hai lần của khu vực nông thôn (55,2% so với 26,3%)

8 Thu nhập từ việc làm bình quân/tháng năm 2015 của lao động làm công ănlương là 4,7 triệu đồng/tháng Nam giới có thu nhập từ việc làm bình quân/thángcao hơn 10,1% so với nữ giới

9 Khoảng 41,3% lao động làm từ 40-48 giờ/tuần và con số đáng lo ngại đó là

có tới 35,8% lao động làm việc trên 48 giờ một tuần Số lao động làm việc dưới 20giờ/tuần chiếm tỷ trọng rất thấp (4,1%) Tỷ trọng lao động làm việc dưới 35giờ/tuần là 16,2%;

10 Tỷ lệ lao động làm công ăn lương không có hợp đồng lao động của nữ thấphơn của nam và của nông thôn cao hơn thành thị Tỷ trọng lao động từ 60 tuổi trởlên làm việc không có hợp đồng lao động là cao nhất (17,8%) Tỷ lệ này cao nhất ởvùng Đồng bằng sông Cửu Long (11,1%) và thấp nhất ở vùng Đồng bằng sôngHồng (5,2%)

11 Năm 2015, cả nước có 1,14 triệu người thất nghiệp; trong đó khu vựcthành thị chiếm 46,9% và số nữ chiếm 45,2% tổng số người thất nghiệp

12 Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động (nam từ 15-59 tuổi và nữ từ 15-54tuổi) của Việt Nam năm 2015 là 2,33%, trong đó ở khu vực thành thị là 3,37%, khuvực nông thôn là 1,82%

13 Số thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi chiếm 49,2% tổng số người thấtnghiệp Năm 2015, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên cao hơn gần 5,4 lần so với tỷ lệthất nghiệp của những người từ 25 tuổi trở lên Xu hướng chung của cả nước tỷ lệthất nghiệp của nữ thanh niên cao hơn của nam thanh niên Hiện là 7,3% so với6,8% (2015)

Ngày đăng: 19/03/2017, 11:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2 chỉ ra tỷ trọng lao động có việc làm giữa các nhóm ngành kinh tế cho từng vùng lấy mẫu - Tiểu luận kinh tế học lao động  phân tích thực trạng việc làm và thất nghiệp tại việt nam hiện nay
Hình 2 chỉ ra tỷ trọng lao động có việc làm giữa các nhóm ngành kinh tế cho từng vùng lấy mẫu (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w