1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Bài tập lớn môn phân tích hoạt động kinh tế

40 1,3K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 104,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về nội dung, môn phân tích hoạt động kinh tế là vậndụng những kiến thức chuyên môn cộng với những phương án phân tích để nghiên cứucác kết quả và quá trình sản xuất kinh doanh được biếu

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ 3

§1- Mục đích, ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh tế 3

§2- Các phương pháp phân tích sử dụng trong bài 3

1.1 Phương pháp so sánh: 3

1.2 Phương pháp chi tiết: 6

PHẦN II: NỘI DUNG PHÂN TÍCH 10

Chương I: Đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh 10

§1.MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA 10

1.Ý nghĩa 10

2.Mục đích 11

§2 PHÂN TÍCH 11

I)Lập biểu số hiệu 11

II) Đánh giá chung 13

III) Phân tích chi tiết 13

§3- KẾT LUẬN 24

Chương II: Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá chị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng máy móc thiết bị 26

§1.MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA 26

1.Ý nghĩa 26

2.Mục đích 26

§2 PHÂN TÍCH 27

I)Lập biểu số hiệu 27

II) Đánh giá chung 29

III)Phân tích chi tiết 29

§3- KẾT LUẬN 33

PHẦN III : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 36

I) KẾT LUẬN 36

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, mọi vấn đề, mọi hiện tượng kinh tế- xã hội đều luôn luôn vận động,chúng tồn tại và phát triển trong mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại vớinhau Khi mà xã hội càng phát triển thì mối quan hệ đó càng phức tạp và càng được biểuhiện dưới nhiều hình thái khác nhau Đó là lí do vì sao mà trong mọi vấn đề khi đưa ranhững quyết định thì cần phải xem xét, phải cân nhắc một cách kĩ lưỡng để có đượcnhững quyết định đúng đắn ,hợp lí và kịp thời Để làm được điều này thì chúng ta phải cóđầu óc biết phân tích và phán đoán Dễ hiểu việc phân tích các hoạt động nói chung vàphân tích các hoạt động kinh tế nói riêng nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó chính làmột trong những công cụ của nhận thức, có nhận thức đúng thì mới có những quyết địnhđúng có như vậy mới thu được những kết quả tốt nhất trong mọi hành động

Phân tích hoạt động kinh tế ra đời với vai trò là một môn khoa học Nó hình thành sau cácmôn khoa học khác như thống kê, kế toán tài chính, tổ chức quản lý…và có mối liên hệchặt chẽ với các môn khoa học đó Về nội dung, môn phân tích hoạt động kinh tế là vậndụng những kiến thức chuyên môn cộng với những phương án phân tích để nghiên cứucác kết quả và quá trình sản xuất kinh doanh được biếu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tếgắn liền với các nhân tố ảnh hưởng Tuy vậy môn khoa học này cũng có tính độc lập nhờnhững lĩnh vực riêng của nó Nó nghiên cứu sự hoạt động của doanh nghiệp dưới một góc

độ riêng, nghĩa là nó có đối tượng nghiên cứu riêng Trên cơ sở số liệu tài liệu được rút ra

từ hệ thống thông tin kinh tế của doanh nghiệp, các hiện tượng kinh tế được biểu hiệnbằng các chỉ tiêu kinh tế với sự tác động của các nhân tố, từ đó tìm ra phương hướng vàbiện pháp khai thác cải tiến những khả năng tiềm tàng, đưa doanh nhiệp đạt tới hiệu quảkinh doanh cao hơn Hay nói một cách tổng thể đó là quá trình phân chia phân giải cáchiện tượng và kết quả kinh doanh thành những bộ phận cấu thành rồi dùng các phươngpháp liên hệ so sánh đối chiếu và tập hợp lại nhằm rút ra tính quy luật và xu hướng vậnđộng phát triển của hiện tượng nghiên cứu

Bài phân tích này chỉ đề cập tới hai nội dung chính trong hoạt động phân tích kinh tế đó

là: Đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh và phân tích chỉ tiêu giá trị sản

Trang 3

xuất theo các chỉ tiêu sử dụng máy móc thiết bị…Thông qua việc đánh giá, phân tích

đưa ra những ưu điểm cũng như hạn chế của doanh nghiệp trong công tác quản lý, thựchiên giá trị sản xuất và doanh thu, từ đó đề ra các biện pháp cần thiết để hạn chế, loại trừảnh hưởng của các nhân tố tiêu cực, phát huy được ưu điểm của các nhân tố tích cực, khaithác tối đa các nguồn lực bên trong cũng như bên ngoài để nâng cao năng suất làm việccủa doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của toàn doanh nghiệp để từ đó

Trang 4

PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

§1- Mục đích, ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh tế

a) Mục đích của phân tích hoạt động kinh tế

- Đánh giá kết quả hoạt động kinh tế, kết quả của việc thực hiện các nhiệm vụ được giao,đánh giá việc chấp hành các chế độ, chính sách của Nhà nước…

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố xác định nguyênnhân đẫn đến sự biến động các nhân tố làm ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ và xu hướngcủa hiện tượng kinh tế

- Đề xuất các biện pháp và phương pháp để cái tiến phương pháp kinh doanh, khai tháccác khả năng tiềm tàng trong nội bộ doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanhb) Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh tế

- Đối với doanh nghiệp

Phân tích hoạt động kinh tế được xem là công cụ nhận thức Bởi vì muốn doanh nghiệphoạt động một cách liên tục, nhịp nhàng, hiệu quả và phát triển một các nhanh chóng thìvới cương vị là một nhà quản lý doanh nghiệp, bạn phải thường xuyên và kịp thời đưa racác quyết định để quản lí, điều hành và giải quyết các vấn đề của doanh nghiệp Để làmđược điều đó thì cần có sự hiểu biết sâu sắc toàn diện về các yếu tố, điều kiện sản xuất vàcác vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội có liên quan Phân tích hoạt động kinh tế gắn liền vớimọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nên nó có ý nghĩa to lớn và quantrọng

- Đối với Nhà Nước

Phân tích hoạt động kinh tế thể hiện chức tổ chức và quản lý kinh tế

Trang 5

§2- Các phương pháp phân tích sử dụng trong bài

1.1 Phương pháp so sánh:

So sánh là một phương pháp sử dụng phổ biến trong phân tích nhằm xác định hayđánh giá kết quả sản xuất kinh doanh xác định vị trí và xu hướng biến động của hiệntượng kinh tế

Trong quá trình phân tích mà sử dụng phương pháp so sánh thì các hiện tượngnghiên cứu được đưa về cùng mốc thời gian, cùng mục đích nghiên cứu

Phương pháp so sánh được sử dụng trong các trường hợp sau:

- So sánh giữa trị số chỉ tiêu thực tế với trị số kế hoạch hoặc định mức

- So sánh giữa trị số chỉ tiêu thực tế kỳ này với chỉ tiêu ấy ở kỳ trước

- So sánh giữa các đơn vị với nhau, giữa các đơn vị thành phần, giữa đơn vị nghiên cứuvới ngành hoặc nền kinh tế quốc dân

*Các bước trong phương pháp so sánh:

Trang 6

Dùng để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch của các chỉ tiêu kinh tế Phương thức này

yKH, y1: là mức độ của hiện tượng nghiên cứu kỳ kế hoạch, kỳ thực tế

 Dạng liên hệ: khi tính cần liên hệ với một chỉ tiêu có liên quan để xác định mứcbiến động tương đối và qua đó đánh giá sự biến động của hiện tượng

Trị số chỉ tiêu nghiên cứu kỳ thực hiện

Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch = x 100(%) Trị số chỉ tiêu nghiên cứu kỳ KH x hệ số tính chuyển

Trị số chỉ tiêu liên hệ kỳ TH

Hệ số tính chuyển =

(chỉ số của chỉ tiêu liên hệ) Trị số chỉ tiêu liên hệ kỳ KH

* Số tương đối động thái:

Đây là phương pháp phản ánh xu hướng biến động, tốc độ phát triển của hiện tượng quathời gian

* Số tương đối kết cấu:

Phương pháp này xác định tỷ trọng của từng bộ phận chiếm trong tổng thể (xác định kếtcấu của chỉ tiêu nghiên cứu)

Trang 7

Trong đó: di: tỷ trọng của bộ phận thứ i.

yi: là mức độ của bộ phận

yt t là mức độ của tổng thể

n: mức độ của tổng thể nghiên cứu

Thông qua số lượng và tỷ trọng của từng bộ phận ta thấy đươcl vai trò của từng bộ phận

đó với tổng thể nghiên cứu đồng thời cho ta thấy nguyên nhân và bản chất của sự biếnđộng

1.2 Phương pháp chi tiết:

Phương pháp chi tiết theo các bộ phận cấu thành:

Phương pháp giúp ta biết được quan hệ cấu thành của các hiện tượng và kết quả kinh tế,nhận thức được bản chất của các chỉ tiêu kinh tế Từ đó giúp cho việc đánh giá kết quảsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chính xác, cụ thể và xác định được nguyênnhân cũng như trọng điểm của công tác quản lý

2.Các phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích được sử dụng trong bài

Phương pháp thay thế liên hoàn

tố có mối quan hệ tích, thương số, kết hợp cả tích số và thương số, tổng các tích số, hoặckết hợp tổng hiệu tích thương với chỉ tiêu kinh tế

Trang 8

y1 = a1b1c1

+ Xác định đối tượng phân tích:

Δy = yy = y1 - y0 = a1b1c1 - a0b0c0

+ Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích

Ảnh hưởng của nhân tố a đến y:

Thay thế lần 1: ya = a1b0c0

+ Ảnh hưởng tuyệt đối: Δy = yya = ya - y0 = a1b0c0 - a0b0c0

+ Ảnh hưởng tương đối: δyya =

Δyy a

y o ∗100(%)

Ảnh hưởng của nhân tố b đến y:

Thay thế lần 2: yb = a1b1c0

+ Ảnh hưởng tuyệt đối: Δy = yyb = yb – ya = a1b1c0 - a1b0c0

+ Ảnh hưởng tương đối: δyyb =

Δyy b

y o ∗100(%)

Ảnh hưởng của nhân tố c đến y:

Thay thế lần 3: yc = a1b1c1

+ Ảnh hưởng tuyệt đối: Δy = yyc = yc – yb = a1b1c1 - a1b1c0

+ Ảnh hưởng tương đối: δyy c =

Δyy c

y o ∗100 (%)

- Tổng ảnh hưởng của các nhân tố:

Δy = yy = Δy = yya + Δy = yyb + Δy = yyc

δyy = δyya + δyyb + δyyc

Bảng phân tích ( bảng loại 1)

hiệu

Đơn vị

Kì gốc

Kỳ NC

So sánh

%

Chên

h lệch

MĐAH đến y

Trang 9

2 Nhân tố thứ 2 B x b0 b1 δyb Δy = yb Δy = yyb δyyb

-Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích

+Ảnh hưởng của nhân tố a đến y

Ảnh hưởng tuyệt đối: Δy = yya = (a1 – a0) b0c0

Ảnh hưởng tương đối : δyya =

Δyy a

y o ∗100(%)

Trang 10

Ảnh hưởng tuyệt đối : Δy = yyb =a1(b1-b0)c0

Ảnh hưởng tương đối : δyyb =

Δyy b

y o ∗100(%)

+Ảnh hưởng của nhân tố c đến y

Ảnh hưởng tuyệt đối : Δy = yyc = a1b1(c1-c0)

Ảnh hưởng tương đối : δyyc =

Δyy c

y o ∗100 (%)

Trang 11

PHẦN II: NỘI DUNG PHÂN TÍCH Chương I: Đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh

§1.MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA

1.Ý nghĩa

Các doanh nghiệp luôn luôn quan tâm đến và mong muốn đến hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp mình ngày càng cao Do vậy việc đánh giá tình hình sản xuấtkinh doanh là một việc vô cùng quan trọng Thông qua việc đánh giá người ta có thể xácđịnh được các mối quan hệ cấu thành , quan hệ nhân quả qua đó phát hiện ra quy luậttạo thành, quy luật phát triển của các hiện tượng và kết quả kinh tế Từ đó có nhữngquyết định đúng đắn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc đánh giáchung tình hình sản xuất kinh doanh sẽ giúp nhà quản lý thấy rõ kết quả của các hoạtđộng của doanh nghiệp Thấy được khả năng mạnh, yếu từ hoạt động nào Qua đó có cácbiện pháp thích ứng

Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty được đánh giá thông qua một số chỉ tiêuchủ yếu, các chỉ tiêu này được chia thành bốn nhóm như sau:

- Nhóm 1: Giá trị sản xuất

Nhóm này thể hiện tổng khối lượng hàng hoá sản xuất ra trong kỳ

- Nhóm 2: Nhóm chỉ tiêu về lao động và tiền lương Bao gồm các chỉ tiêu như:

` Tổng số lao động

` Tổng quỹ lương

` Năng suất lao động bình quân

` Tiền lương bình quân

Mục đích của việc phân tích tình hình thực hiện một số chỉ tiêu chủ yếu là nhầm thôngqua đó đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh của công ty, giám sát việc thực hiện nghĩa

vụ của công ty với Nhà nước cũng như để đảm bảo quyền lợi cho người lao động

- Nhóm 3: Nhóm những chỉ tiêu tài chính Nhóm được phân thành 3 chỉ tiêu:

Trang 12

` Tổng doanh thu

` Tổng chi phí

` Lợi nhuận

- Nhóm 4: Nhóm những chỉ tiêu quan hệ với ngân sách.

Những chỉ tiêu này phản ánh các chỉ tiêu thể hiện việc thực hiện nghĩa vụ dối với ngânsách Nhà nước bao gồm thuế các loại và các khoản phải nộp khác như:

` Thuế VAT

` Thuế sử dụng vốn

` Thuế thu nhập doanh nghiệp

` Nộp bảo hiểm xã hội

2.Mục đích

§2 PHÂN TÍCH

I)Lập biểu số hiệu

12

Trang 13

BẢNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH

Trang 14

II) Đánh giá chung.

Qua bảng phân tích ta nhận thấy nhìn chung tình hình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp có sự biến động giữa hai kỳ Tất cả các chỉ tiêu ở kỳ nghiên cứu đều tăng cao hơn

so với kỳ gốc Trong đó thì lợi nhuận là chỉ tiêu có tốc độ tăng nhanh nhất Mức tăng củachỉ tiêu lợi nhuận là rất lớn So với kỳ gốc là 6.423.618(103 đồng) , ở kỳ nghiên cứu chỉtiêu tổng thu đạt 13.864.198(103 đồng) tức là tăng 7.440.580(103 đồng), tương đương vớităng 115,83% Chỉ tiêu tổng số lao động tăng ít nhất, chỉ tăng 1,33% tương đương với 9lao động Doanh nghiệp đóng đủ các loại thuế của nhà nước theo đúng quy định

Nhìn chung doanh nghiệp đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước và với người laođộng

III) Phân tích chi tiết

1 Chỉ tiêu giá trị sản xuất

Giá trị sản xuất kỳ nghiên cứu là 125.369.258 (103 đồng), tăng 30.110.889 (103 đồng),tương ứng với 31,61% so với kỳ gốc 95.258.369 (103 đồng) Biến động này là rất tốt Giátrị sản xuất của doanh nghiệp tăng lên do nhiều nguyên nhân khác nhau:

- Trong kỳ, doanh nghiệp đã có sự mở rộng quy mô sản xuất thông qua việc xâydựng thêm 2 phân xưởng sản xuất mới Hai phân xưởng này được đưa vào hoạt độngtrong năm làm cho lượng sản phẩm sản xuất ra của doanh nghiệp tăng lên đáng kể.Lượng sản phẩm sản xuất tăng lên dẫn đến giá trị sản xuất của doanh nghiệp trong kìnghiên cứu tăng lên Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

- Các yếu tố sản xuất được đảm bảo một cách kịp thời Doanh nghiệp đã tổ chứctốt công tác vận chuyển và cấp phát nguyên vật liệu, máy móc thiết bị trong doanhnghiệp cũng thường xuyên được sửa chữa và bảo dưỡng kịp thời Nhờ đó, hoạt động sảnxuất của doanh nghiệp có thể diễn ra liên tục, không bị gián đoạn, làm cho giá trị sảnxuất củâ doanh nghiệp tăng lên Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

14

Trang 15

Ngoài những nguyên nhân chủ quan do bản thân doanh nghiệp thì các yếu tố kháchquan bên ngoài tác động cũng làm cho giá trị sản xuất của doanh nghiệp cũng tăng lên.

Có thể đưa ra một số nguyên nhân chính như sau:

- Do nhu cầu trên thị trường về sản phẩm của doanh nghiệp ngày càng tăng cao.Đứng trước cơ hội kiếm lời cao, doanh nghiệp đã chủ động sản xuất nhiều hơn để đápứng nhu cầu của thị trường Do vậy, giá trị sản xuất của doanh nghiệp trong kỳ nghiêncứu tăng lên Nguyên nhân khách quan tích cực này góp phần to lớn trong việc tăngmạnh giá trị sản xuất của doanh nghiệp

Giá trị sản xuất của doanh nghiệp tăng lên cho thấy doanh nghiệp đã có sự mở rông quy

mô sản xuất, đa dạng hoá loại hình hoạt động

2 Lao động, tiền lương

Tình hình lao động của doanh nghiệp được thể hiện qua 4 chỉ tiêu : tổng số lao động,năng suất lao động, tổng quỹ lương và tiền lương bình quân Qua bảng phân tích ta thấytất cả các chỉ tiêu này ở kì nghiên cứu đều tăng lên so với kì gốc Cụ thể như sau:

a Tổng số lao động:

Tổng số lao động của doanh nghiệp ở kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc đạt 101,33%, tăng1,33% tương ứng với 9 người Đây là nhân tố có tốc độ tăng chậm nhất trong tất cả cácnhân tố Tổng số lao động của doanh nghiệp tăng lên là do:

- Để đáp ứng nhu cầu về sản phẩm trên thị trường, doanh nghiệp đã mở rộng đầu

tư sản xuất bằng việc xây dựng thêm 2 phân xưởng mới và đưa vào hoạt động Việc mởrộng quy mô sản xuất đòi hỏi doanh nghiệp phải có công nhân để vận hành máy móc vàlàm việc Do đó, doanh nghiệp đã tuyển thêm lao động ở bên ngoài làm cho số lao độngcủa doanh nghiệp tăng lên Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

- Doanh nghiệp đã đa dạng hoá loại hình công việc của mình, ngoài việc sản xuấtsản phẩm chính của công ty, doanh nghiệp còn nhận kinh doanh thêm một số dịch vụkèm theo như vận chuyển hàng hoá, tư vấn về sản phẩm Đây là một cơ hội kinh doanh

Trang 16

đem lại khả năng sinh lời tương đối lớn cho công ty Tuy nhiên, đội ngũ lao động trongdoanh nghiệp chưa đủ khả năng và chưa có đủ thời gian để có thể thực hiện công việcmột cách thành thạo Vì vậy, doanh nghiệp đã thuê thêm một số nhân viên để đảm nhậnphần công việc mới này Đây cũng là một nguyên nhân chủ quan làm cho số lao độngcủa doanh nghiệp tăng lên.

- Doanh nghiệp là một chi nhánh của tổng công ty Trong kỳ, tổng công ty đã điềuchuyển một số lao động từ chi nhánh khác sang để thực hiện luân chuyển công tác chocác cán bộ Do vậy, số lao động của doanh nghiệp trong kỳ nghiên cứu tăng lên

Tổng số lao động tăng làm tăng chi phí tiền lương Số lao động tăng cho thấy quy môsản xuất của doanh nghiệp đã được mở rộng Đồng thời, tốc độ tăng số lao động nhỏ hơnrất nhiều so với tốc độ tăng năng suất lao động Điều này cho thấy doanh nghiệp biếtkhai thác tốt khả năng của nguồn lao động và việc tăng số lao động của doanh nghiệp làhợp lý

b.Năng suất lao động

Qua bảng ta thấy năng suất lao động của doanh nghiệp ở kỳ nghiên cứu so với kì gốcđạt 129,88%, tăng 29,88% tương ứng với 42.165 (103 đồng/người) Năng suất lao độngcủa doanh nghiệp tăng lên là do những nguyên nhân sau:

- Doanh nghiệp đã mở các lớp đào tạo, nâng cao trình độ tay nghề cho các cán bộ,công nhân trong doanh nghiệp Ở các lớp đào tạo này, người công nhân được hướng dẫn

cụ thể và khoa học về các thao tác vận hành máy móc thiết bị, thao tác sử dụng nguyênvật liệu theo đúng quy trình thiết kế Nhờ đó, người công nhân làm việc hiệu quả hơn,làm ra nhiều sản phẩm hơn Kết quả là năng suất lao động tăng lên Đây là nguyên nhânchủ quan tích cực trong việc bồi dưỡng nguồn nhân lực

- Cùng với việc đào tạo tay nghề, doanh nghiệp còn chú trọng đến việc đào tạo vàrèn luyện ý thức làm việc của công nhân Song song với việc tuyên truyền về ý thứctrách nhiệm, doanh nghiệp còn sử dụng các chính sách khuyến khích người công nhânbằng cả lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần như chính sách lương, thưởng, chế độ đãi ngộ

16

Trang 17

và thăng tiến Nhờ vậy, ý thức làm việc của công nhân được nâng cao Người côngnhân có ý thức tự giác làm việc một cách nhiệt tình, không lơ là, không tự ý ngừng việchay bỏ việc Đây là một trong những nguyên nhân chủ quan làm năng suất lao động tănglên

- Đứng trước xu thế công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày nay, doanh nghiệp cũngtừng bước đầu tư, hiện đại hoá trang thiết bị máy móc của mình Những máy móc thiết bị

đã cũ kĩ hay lạc hậu đều được thay thế bằng các dây chuyền công nghệ hiện đại hơn.Nhờ vậy, mức độ cơ giới hoá, tự động hoá trong doanh nghiệp được nâng cao Máy mócthiết bị dần thay thế sức lao động của con người, làm cho năng suất lao động tăng lên

- Công tác sữa chữa bảo dưỡng máy móc thiết bị cũng được chú trọng Doanhnghiệp thường tổ chức bảo dưỡng máy móc theo định kì để đảm bảo máy móc hoạt độngliên tục, không bị trục trặc hay gián đoạn trong quá trình sản xuất Do đó, thời gian lãngphí do phải chờ đợi khi có hỏng hóc bị giảm xuống, làm cho năng suất lao động tănglên

- Công tác cung cấp và phân phối nguyên vật liệu đầu vào cũng được thực hiệnkhá tốt Nguyên vật liệu được cung cấp đầy đủ và kịp thời giúp cho quá trình sản xuấtđược liên tục, không bị gián đoạn Đồng thời, chất lượng nguyên vật liệu được đảm bảo,làm hạn chế những trục trặc về máy móc trong quá trình vận hành Nguyên nhân kháchquan tích cực này cũng góp phần làm tăng năng suất lao động

- Giữa các bộ phận có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ Hầu như bán thànhphẩm của phân xưởng này sản xuất ra đều được các phân xưởng khác hoàn thiện ngaylập tức Không có tình trạng bán thành phẩm của phân xưởng nào đó bị ứ đọng lại, hay

bộ phận này phải chờ đợi bộ phận kia, dẫn đến năng suất lao động tăng lên

Năng suất lao động tăng lên cho thấy chất lượng của đội ngũ lao động đang có xu hướngtăng Đồng thời tốc độ tăng năng suất lao động tăng nhanh hơn số lao động cho thấydoanh nghiệp đã sử dụng hiệu quả nguồn lao động của mình

c.Tổng quỹ lương:

Trang 18

Tổng quỹ lương của doanh nghiệp ở kỳ nghiên cứu so với kì gốc đạt 104,50%, tăng4,5% tương ứng với 124.362 (103 đồng) Các nguyên nhân làm cho tổng quỹ lương củadoanh nghiệp tăng lên có thể là:

- Do nhu cầu về sản phẩm trên thị trường tăng lên, đòi hỏi doanh nghiệp phải mởrộng quy mô sản xuất Đồng thời phải tuyển thêm một số lao động từ bên ngoài Điềunày làm cho số lao động trong doanh nghiệp tăng lên, cùng với đó là việc doanh nghiệpphải bỏ ra khoản chi phí lương cho người lao động nhiều hơn Vì vậy, tổng quỹ lươngtrong doanh nghiệp tăng lên Đây là nguyên nhân mang tính khách quan

- Do tốc độ lạm phát của nền kinh tế tăng lên, là cho giá cả các mặt hàng tăngtheo, đòi hỏi tiền lương bình quân của người lao động phải tăng lên để có thể thoả mãncác nhu cầu thiết yếu của họ trong cuộc sống Tiền lương bình quân tăng làm cho tổngquỹ lương tăng lên Đây là nguyên nhân khách quan

- Doanh nghiệp đã tuyển thêm một số lao động có tay nghề cao từ bên ngoàinhằm đáp ứng nhu cầu của việc đa dạng hoá loại hình hoạt động Do vậy, số lượng laođộng trong doanh nghiệp tăng lên, đồng thời chất lượng lao động cũng biến động theo xuhướng tăng Đây là một trong những nguyên nhân làm cho chi phí tiền lương của doanhnghiệp tăng lên Đây là nguyên nhân chủ quan

- Doanh nghiệp đã áp dụng chính sách tiền thưởng, phụ cấp nhằm khuyến khíchngười lao động hăng hái sản xuất Nhờ vậy, tất cả các công nhân đều ra sức làm việc, cốgắng hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch đặt ra Điều này làm cho không khíthi đua làm việc trong doanh nghiệp vô cùng náo nhiệt, đem lại nhiều hiệu quả bất ngờ.Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực tác động vào tâm lý của công nhân

Tổng quỹ lương tăng lên cho thấy quy mô sản xuất của doanh nghiệp đã có sự mởrộng, thu nhập của người lao động cũng được tăng lên Tuy nhiên, tổng quỹ lương tănglên làm tăng chi phí sản xuất, dẫn đến làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Nhưng quabảng ta cũng có thể thấy tốc độ tăng tiền lương chậm hơn rất nhiều so với tốc độ tăng

18

Trang 19

năng suất lao động và tốc độ tăng lợi nhuận, do đó có thể thấy việc tăng tổng quỹ lươngcủa doanh nghiệp là hợp lí và có hiệu quả.

d Tiền lương bình quân :

Tiền lương bình quân của doanh nghiệp ở kỳ nghiên cứu đạt 103,13% so với kỳ gốc,tăng 3,13%, tương ứng với 128(103 đồng/người-tháng).Tiền lương bình quân của doanhnghiệp tăng lên có thể do một số nguyên nhân sau :

- Lạm phát kinh tế diễn ra với tốc độ lớn, kéo theo là giá cả tất cả các mặt hàngtăng lên cao Nếu chỉ được nhận mức lương như năm trước thì người lao động khó có thểthoả mãn được các nhu cầu thiết yếu của họ trong cuộc sống Thực tế này đòi hỏi tiềnlương bình quân của người lao động phải tăng lên Đây là nguyên nhân khách quan tiêucực

- Nhà nước đã đưa ra chính sách tăng mức lương cơ bản cho người lao động Làmột doanh nghiệp tồn tại trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, doanhnghiệp phải thực hiện đúng các chủ trương chính sách của nhà nước Do đó, tiền lươngbình quân trong doanh nghiệp tăng lên Đây là nguyên nhân khách quan

- Doanh nghiệp thực hiện hình thức trả lương theo sản phẩm kết hợp với lươngthời gian Đồng thời doanh nghiệp cũng có kế hoạch quản lý tốt thời gian làm việc.Năngsuất lao động và thời gian làm việc tăng lên làm cho số sản phẩm sản xuất ra nhiều hơn,làm tăng tiền lương bình quân Đây là nguyên nhân chủ quan

Tiền lương bình quân tăng lên góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động,cải thiện đời sống của họ Đồng thời nó cũng thể hiện phần nào vị thế cạnh tranh củadoanh nghiệp trên thị trường, tạo khả năng thu hút những lao động có trình độ cao vàolàm việc

3 Chỉ tiêu tài chính

Các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp được thể hiện qua 3 chỉ tiêu: tổng doanh thu,tổng chi phí và lợi nhuận Nhìn chung, cả 3 chỉ tiêu này ở kì nghiên cứu so với kì gốcđều tăng lên

Trang 20

a.Tổng thu:

Qua bảng ta thấy, doanh thu của doanh nghiệp ở kỳ nghiên cứu đạt 119,20% so với kỳgốc, tăng 19,2%, tương ứng với 14.332.667(103 đồng) Doanh thu của doanh nghiệp tănglên cho thấy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đã có nhiều tiến triển thuận lợi Cácnguyên nhân làm cho doanh thu củâ doanh nghiệp tăng lên có thể là:

- Công tác quảng cáo trong doanh nghiệp đã được chú trọng Ngoài việc quảngcáo sản phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng, doanh nghiệp còn in nhiềucatalog quảng bá về sản phẩm và mở các cuộc hội thảo chuyên đề nhằm giới thiệu sảnphẩm của mình Vì vậy, ngày càng nhiều người tiêu dùng biết đến và sử dụng sản phẩmcủa doanh nghiệp Khối lượng hàng hoá tiêu thụ tăng vọt làm cho tổng doanh thu củadoanh nghiệp tăng lên Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

- Doanh nghiệp đã mở thêm nhiều đại lý phân phối mới trên các thị trường mới

Do chất lượng sản phẩm hoàn toàn vượt trội, doanh nghiệp đã đánh bại các đối thủ cạnhtranh trên các thị trường này, thị phần của doanh nghiệp ngày càng mở rộng Doanhnghiệp đã chiếm lĩnh được một thị trường vô cùng rộng lớn, cả ở trong nước và nướcngoài Điều này đẩy khối lượng hàng tiêu thụ của doanh nghiệp tăng lên, làm tăng doanhthu Đây là nguyên nhân chủ quan

-Việc làm tốt các dịch vụ trong và sau bán hàng cũng là thế mạnh góp phần giúpdoanh nghiệp tăng khối lượng tiêu thụ, dẫn đến tăng doanh thu

- Trong năm, Nhà nước đã thực hiện chính sách giảm thuế xuất khẩu đối với cáccông ty xuất khẩu nhằm khuyến khích xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho đất nước Một sốmặt hàng xuất khẩu của công ty nằm trong diện được miễn hoặc giảm thuế Nhờ vậy,doanh thu của công ty tăng lên do khoản thuế xuất khẩu phải nộp giảm xuống

Tổng doanh thu tăng lên là một xu hướng tốt đối với hoạt động của doanh nghiệp Tổngdoanh thu tăng làm tăng lợi nhuận, đồng thời thể hiện quy mô và lợi thế cạnh tranh củadoanh nghiệp trên thị trường

b Tổng chi

20

Ngày đăng: 23/08/2017, 19:50

w