1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập lớn môn Phân tích hoạt động kinh tế: Phân tích chi phí sản xuất kinh doanh theo khoản mục và phân tích doanh thu theo mặt hàng của doanh nghiệp

42 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 92,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vớilượng tăng như vậy thì chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm đã làm cho tổng chi phí của đơn vị tăng lên đáng kể với 21,95% => đây cũng là khoản mục chi phí gây ảnh hưởng lớnnhất đến tổng

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ 4

§1 Mục đích và ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh tế 4

§2 Các phương pháp phân tích sử dụng trong bài 5

PHẦN 2: NỘI DUNG PHÂN TÍCH 10

Chương 1: Phân tích tình hình thực hiện chi phí sản xuất theo khoản mục .10

§1 Mục đích, ý nghĩa 10

§2 Phân tích tình hình thực hiện chi phí sản xuất theo khoản mục 11

§3.Kết luận 27

Chương 2: Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu doanh thu theo mặt hàng .31

§1 Mục đích, ý nghĩa 31

§2 Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu doanh thu theo mặt hàng 32

§3 Kết luận 51

PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54

Trang 2

Phân tích hoạt động kinh tế gắn liền với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Phần lớn các doanh nghiệp đều hoạt động vì mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận Vì vậy,

để đạt được mục tiêu của mình thì công tác phân tích tình hình sản xuất kinh doanh của mỗidoanh nghiệp đều rất quan trọng đối với mọi nhà quản lý Mà để đạt được lợi nhuận, doanhnghiệp chú trọng đến tình hình sử dụng chi phí sản xuất và tình hình tiêu thụ sản phẩm củamình Từ việc phân tích 2 chỉ tiêu trên doanh nghiệp có thể phát hiện những sai sót của mìnhtrong khâu sản xuất cũng như kinh doanh đề xuất các biện pháp và phương hướng cải tiếnphương pháp kinh doanh, khai thác các khả năng tiềm tàng trong nội bộ doanh nghiệp nhằmnâng cao hiệu quả kinh doanh để đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp

Là sinh viên ngành kinh tế khi học môn học “Phân tích hoạt động kinh tế” em đã đượchọc và hiểu được tác động của 2 chỉ tiêu chi phí và doanh thu đến kết quả hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp trong 1 kỳ nhất định Phân tích hoạt động kinh tế là công cụ hữuhiệu nhằm đánh giá chính xác thực trạng, kết quả và hiệu quả kinh doanh của các hoạt độngđầu tư, hoạt động tài chính trong quan hệ mật thiết với hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp

Vì vậy, với đề tài bài tập lớn : Phân tích chi phí sản xuất kinh doanh theo khoản mục và phân tích doanh thu theo mặt hàng của doanh nghiệp em xin trình bày nội dung bài theo 3

phần:

Trang 3

 Phần 1: Lý luận chung về phân tích hoạt động kinh tế

 Phần 2: Phân tích chi phí sản xuất kinh doanh theo khoản mục và phân tíchdoanh thu theo mặt hàng của doanh nghiệp

 Phần 3: Kết luận và kiến nghị

Trang 4

1 Đánh giá chung

Dựa vào số liệu bảng phân tích tình hình thực hiện chi phí theo khoản mục ta thấy:

Tổng chi phí kỳ nghiên cứu tăng lên đáng kể so với kỳ gốc Tổng chi phí kỳ nghiên cứu sovới kỳ gốc đạt gần 127 % tức tăng so với kỳ gốc gần 27% tương ứng với số tăng tuyệt đối là8.708.929.000 đồng và số tăng tương đối 8.055.578.000 đồng Điều này cho thấy xét về mặt

về tương đối hay tuyệt đối tổng chi phí của đơn vị tại kỳ nghiên cứu đều tăng do đó đơn vị

đã bội chi; chứng tỏ rằng tại kỳ nghiên cứu hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị cónhiều lãng phí hơn so vs kỳ gốc Cụ thể như sau:

+ Trong khoản mục chi phí phát sinh có xu hướng tăng tại kỳ nghiên cứu: ta thấy khoản

mục chi phí có mức tăng tương đối cao so với các khoản mục chi phí phát sinh cùng kỳ

đó là khoản mục chi phí bán hàng với mức tăng 37,04% tương ứng với mức tăng bội chituyệt đối 2.214.381.000 đồng, mức tăng bội chi tương đối 2.094.818.000 đồng so với kỳgốc Cũng tăng nhưng lượng tăng ít hơn, ta phải kể đến khoản mục chiếm tỷ trọng lớnnhất trong kỳ với 72,2% tại kỳ nghiên cứu, 69,5% tại kỳ gốc đó là khoản mục chi phí sảnxuất chế tạo sản phẩm với mức tăng 31,58% tương ứng với mức tăng bội chi tuyệt đối7.169.871.000 đồng, mức tăng bội chi tương đối 6.715.792.000 đồng so với kỳ gốc Vớilượng tăng như vậy thì chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm đã làm cho tổng chi phí của đơn

vị tăng lên đáng kể với 21,95% => đây cũng là khoản mục chi phí gây ảnh hưởng lớnnhất đến tổng chi phí của doanh nghiệp tại kỳ nghiên cứu

+ Nếu như chi phí bán hàng và chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm là 2 xu hướng có mức

tăng đáng kể thì khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp lại có xu hướng giảm tại kỳnghiên cứu Qua bảng phân tích tình hình chi phí sản xuất theo khoản mục ta có thể thấykhoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ nhất so toàn bộ chi phí bỏ ratrong kỳ chỉ với khoảng hơn 12% tại kỳ gốc nhưng tại kỳ nghiên cứu con số này đã giảmxuống chỉ còn 8% Vì vậy với mức giảm chỉ với khoảng gần 17% và chỉ tiết kiệm với675.323.000 đồng so với kỳ gốc dẫn đến mức giảm của khoản mục chi phí này chỉ làmtổng chi phí của đơn vị tại kỳ nghiên cứu tiết kiệm với 2,07% _ một con số không đáng

kể so với mức tăng của khoản mục chi phí bán hàng và chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm

Trang 5

2 Phân tích chi tiết từng nhân tố

Như đã đánh giá một cách khái quát nhất về bảng phân tích chi phí sản xuất theokhoản mục Ta có thể đưa ra một số nguyên nhân giả định dẫn đến biến động của tổng chiphí tại kỳ nghiên cứu:

- Do doanh nghiệp chủ động mở rộng qui mô sản xuất, mở thêm một số xưởng sản xuấtmới nên nhu cầu nguyên vật liệu trực tiếp của doanh nghiệp tăng lên trong kỳ nghiên cứu

- Do khối lượng sản phẩm sản xuất ra nhiều nên doanh nghiệp cần chú trọng đến việc tiêuthụ sản phẩm của mình nên đã phải đẩy mạnh công tác bán hàng

- Do xu hướng chung của thị trường đang thiếu những sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuấtnên doanh nghiệp đã đẩy mạnh công tác sản xuất sản phẩm

Nhưng để tìm hiểu sâu hơn chúng ta cần đi sâu tìm hiểu chi tiết hơn những nguyên nhândẫn đến sự biến động về những chi phí của doanh nghiệp Đồng thời đề ra các biện pháp đểcác khoản mục chi phí phát sinh là tiết kiệm, là hợp lý, tránh lãng phí

 Đối với khoản mục chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm

Từ bảng số liệu ta có thể thấy rằng: chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm kỳ nghiên cứuchiếm 72,2% trong tổng chi phí của doanh nghiệp_ chiếm mức tỷ trọng lớn nhất trong cáckhoản mục chi phí phát sinh trong kỳ So sánh với kỳ gốc, khoản mục chi phí sản xuất chếtạo sản phẩm đã tăng lên 7.169.871.000 đồng tương ứng với tốc độ tăng 31,58% Đồng thờitại kỳ nghiên cứu doanh nghệp đã bội chi 6.715.792.000 đồng về mặt tương đối, đã ảnhhưởng gần 21% đến tổng chi phí của doanh nghiệp phát sinh trong kỳ Khoản mục chi phínày gồm có: Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp; chi phí nhân công trực tiếp; chi phí sản xuấtchung

 Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp

Ở khoản mục chi phí này, ta có thể nhận thấy chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có tỷtrọng khá lớn trong tổng chi phí ở cả 2 kỳ Tại kỳ gốc, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chỉchiếm có 28,30% trong tổng chi phí cùng kỳ tương ứng với 9.244.919.000 đồng, nhưng sang

kỳ nghiên cứu con số này đã tăng lên và chiếm 30,10% trong tổng chi phí tương ứng với

Trang 6

12.454.322.000 đồng tức đã tăng lên 34,72% so với kỳ gốc Do đó ở kỳ nghiên cứu, doanhnghiệp đã bội chi 3.209.403.000 đồng về mặt tuyệt đối và bội chi 3.024.505.000 đồng về mặttương đối Sự biến động này có thể do một số nguyên nhân sau:

- Nhu cầu sản phẩm về loại sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất trên thị trưòng tăng,doanh nghiệp nhận được nhiều đơn đặt hàng Do đó doanh nghiệp phải nhập thêmnguyên vật liệu về để sản xuất thêm sản phẩm đáp ứng nhu cầu khách hàng (1)

- Doanh nghiệp chủ động mở rộng quy mô sản xuất, mở thêm một số xưởng sản xuấtmới nên nhu cầu nguyên vật liệu trực tiếp của doanh nghiệp tăng lên trong kỳ nghiêncứu (2)

- Do công tác quản lý nguyên vật liệu chưa tốt khiến doanh nghiệp thất thoát một sốlượng nguyên vật liệu đầu vào (3)

- Giá nguyên vật liệu đầu vào tăng (4)

- Doanh nghiệp tăng ca sản xuất cần nhiều nguyên liệu hơn

Trong 5 nguyên nhân nêu ra ở trên giả định nguyên nhân thứ (1) (2) (3) là những nguyênnhân chính tạo sự biến động về nguyên vật liệu trực tiếp ở kỳ nghiên cứu tăng so với kỳ gốc:

+ Xét về nguyên nhân thứ 1 (1): Nhu cầu sản phẩm về loại sản phẩm của doanh nghiệp sản

xuất trên thị trường ở kỳ nghiên cứu tăng hơn kỳ gốc, đã giúp cho đơn vị nhận thêm đượcnhiều đơn đặt hàng từ các bạn hàng với số lượng lớn Trước nhu cầu đó doanh nghiệp đãnhập nguyên vật liệu đầu vào để sản xuất sản phẩm phục vụ khách hàng Việc mua thêmnhiều nguyên vật liệu đầu vào đã làm tăng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của doanhnghiệp Đồng thời, do doanh nghiệp mua được đầy đủ số nguyên vật liệu đầu vào để sảnxuất đủ số sản phẩm mà doanh nghiệp đã ký hợp đồng trong đơn đặt hàng với khách hàngnên tạo được uy tín của doanh nghiệp với bạn hàng của mình trên thị trường, từ đó tạo lợinhuận cho doanh nghiệp từ việc bán sản phẩm đó Đây là nguyên nhân khách quan ảnhhưởng tích cực tổng chi phí của doanh nghiệp

+ Xét đến nguyên nhân thứ 2 (2): doanh nghiệp đã chủ động mở rộng quy mô sản xuất,

thêm nhà xưởng sản xuất Cùng với việc mở rộng quy mô doanh nghiệp phải mua thêmmột số máy móc thiết bị, thuê thêm công nhân và đặc biệt hơn là phải mua thêm nguyên

Trang 7

vật liệu phục vụ sản xuất sản phẩm Từ đó chi phí nguyên vật liệu tăng lên, nhưng tốc độtăng của chi phí chậm hơn tốc độ tăng của doanh thu nên doanh nghiệp vừa hoạt độngkinh doanh có hiệu quả vừa đáp ứng được nhu cầu của thị trường Đây là nguyên nhânchủ quan ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của doanh nghiệp vì vậy doanh nghiệp nên cóbiện pháp để tiếp tục phát triển về mặt này.

 Biện pháp đề xuất:

- Doanh nghiệp nên tiếp tục tiến trình mở rộng quy mô sản xuất nhưng bên cạnh đódoanh nghiệp nên có kế hoạch chi tiêu để mở rộng quy mô hợp lý tránh tình trạnglãng phí tiền vốn của doanh nghiệp mà không thu được lợi, đồng thời khai thác tối

đa tiềm năng của nghiệp

- Cùng với việc mở rộng quy mô sản xuất doanh nghiệp nên đẩy mạnh công tác thăm

dò thị trường, nắm bắt cơ hội có thể sản xuất thêm sản phẩm có nhu cầu tiêu dùngcao để tăng doanh thu cho doanh nghiệp mình

- Doanh nghiệp cũng nên có một số chính sách để đẩy mạnh quy mô sản xuất củamình ra thị trường quốc tế Bằng việc cử một số cán bộ có năng lực đi tìm hiểu,điều tra phong tục, thói quên lối sống và đặc biệt là nhu cầu của một số thị trườngcủa các quốc gia lân cận từ đó lập kế hoạch chiến lược, dựa trên tiềm năng sẵn cócủa doanh nghiệp cũng như chính sách mở cửa của Nhà nước để có thể xâm nhậpvào thị trường quốc tế

+ Xét đến nguyên nhân thứ 3 (3): do doanh nghiệp chưa có một số biện pháp để quản lý

chặt chẽ cán bộ của đơn vị mình Do đó không quản lý được chặt chẽ nên một số cán bộcủa doanh nghiệp thiếu trách nhiệm lơ là trong việc quản lý nguyên vật liệu nên đã gâymất mát, hư hỏng một số nguyên liệu dẫn đến doanh nghiệp đã phải mua thêm một sốlượng nguyên vật liệu để bù vào chỗ nguyên vật liệu đã mất và hư hỏng Do đó làm tăngchi phí nguyên vật liệu, gây lãng phí cho doanh nghiệp từ đó thấy được khoản tiền nàychi ra là không hợp lý => đây là nguyên nhân chủ quan ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệpnên doanh nghiệp phải có biện pháp để giảm thiểu những chi phí này

 Biện pháp đề xuất:

Trang 8

- Doanh nghiệp nên đề ra một số mức phạt đối với những cán bộ thiếu trách nhiệm,

lơ là trong công việc đồng thời có sự khen thưởng với những cán bộ có tráchnhiệm, làm việc chăm chỉ để tránh sự lãng phí do cán bộ thiếu trách nhiệm gây ra

- Doanh nghiệp nên giám sát chặt chẽ khâu quản lý nguyên liệu đầu vào của doanhnghiệp để tránh gian lận dẫn đến lãng phí tiền của doanh nghiệp

Chi phí nhân công trực tiếp:

Qua bảng phân tích ở trên ta có thể nhận thấy: ở kỳ gốc chi phí nhân công của doanhnghiệp chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng chi phí với 29,6% tương ứng với 9.669.597.000đồng nhưng sang đến kỳ nghiên cứu con số tăng lên rất nhanh nó đã lên tới 12.206.064.000đồng tức đã tăng lên 26,23% so với kỳ gốc và nó cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể với29,5% trong tổng chi phí phát sinh ở kỳ nghiên cứu Đồng thời tại khoản mục chi phí cũng

đã cho thấy ở kỳ nghiên cứu doanh nghiệp đã bội chi 2.536.467.000 đồng về mặt tuyệt đối,2.343.075.000 đồng về mặt tương đối và chính khoản mục chi phí này gây ảnh hưởng khálớn đến tổng chi phí của toàn doanh nghiệp Sự biến động này có thể do một số nguyên nhânsau:

- Doanh nghiệp nhận thêm một số đơn đặt hàng, nên cần tuyển thêm lao động để thựchiện các đơn đặt hàng, đáp ứng nhu cầu thị trường (1)

- Doanh nghiệp chủ động mở rộng quy mô sản xuất, do vậy cần một số lượng lớn côngnhân được tuyển thêm.(2)

- Nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp tăng nên công nhân làm thêm ngoài giờ nhiều.(3)

- Trong kỳ nghiên cứu doanh nghiệp tuyển thêm nhiều nhân công trực tiếp nên doanhnghiệp tốn nhiều chi phí vào công tác đào tạo hơn.(4)

- Chính sách lương cho người lao động do nhà nước quy định tăng.(5)

Trong các nguyên nhân kể trên giả định nguyên nhân (1) (3) (5) là những nguyênnhân trực tiếp làm tăng chi phí nhân công của doanh nghiệp ở kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc:

+ Xét nguyên nhân thứ nhất (1): do nhu cầu của thị trường về sản phẩm của doanh nghiệp

tăng nhanh ở kỳ nghiên cứu nên doanh nghiệp đã nhận được một số đơn đặt hàng của cácbạn hàng Do vậy ở kỳ nghiên cứu doanh nghiệp đã tuyển thêm lao động để sản xuất

Trang 9

được đúng số lượng, chất lượng sản phẩm như đã ký với bạn hàng và kịp thời gian giaohàng Vì vậy doanh nghiệp không chỉ phải trả lương cho số lao động ban đầu của doanhnghiệp mà còn phải chi thêm để trả cho số lao động đã tuyển thêm dẫn đến chi phí nhâncông trực tiếp tăng lên ở kỳ nghiên cứu nhưng không thể không nói đến khi tuyển thêmlao động sản xuất doanh nghiệp sẽ đáp ứng kịp thời yêu cầu của bạn hàng, tạo dựng được

uy tín trên thị trường, thu hút được nhiều bạn hàng khác và đặc biệt đem lại lợi nhuận chodoanh nghiệp => khoản chi phí này chi ra là hợp lý Chính vì vậy đây là nguyên nhânkhách quan ảnh hưởng tích cực đến doanh nghiệp

+ Xét nguyên nhân thứ 2 (3): do khối lượng công việc ở kỳ nghiên cứu tăng lên nhiều so

với khối lượng công việc ở kỳ gốc Mà do đơn vị trả lương cho công nhân tính trên sảnphẩm làm ra Vì vậy doanh nghiệp đã thu hút công nhân của mình làm thêm để có đượcthu nhập cao bằng cách làm thêm ngoài giờ Chính sách này khuyến khích người lao độnglàm thêm ngoài giờ, vừa giúp tăng thu nhập cho người lao động, nhưng hơn cả là giúpdoanh nghiệp tăng năng suất sản xuất đáp ứng được nhu cầu của thị trường Từ đó giúpdoanh nghiệp tăng doanh thu, thêm lợi nhuận Đây là nguyên nhân chủ quan ảnh hưởngtích cực đến doanh nghiệp Song doanh nghiệp cũng phải có những biện pháp để tránhngười lao động làm việc quá sức

+ Xét nguyên nhân thứ 3 (5): Tại kỳ nghiên cứu chính sách lương do Nhà nước quy định

tăng hơn so với kỳ gốc Do đời sống của nhân dân nói chung ngày một tăng lên, Nhà

Trang 10

nước đã quyết định điều chỉnh tăng mức lương cơ bản ở kỳ nghiên cứu Mức lương cơbản tăng làm cho số tiền trả công nhân sản xuất nói riêng và công nhân viên trong doanhnghiệp tăng lên Trong điều kiện số lượng công nhân làm việc trong bộ phận sản xuất củadoanh nghiệp nhiều vì thế mà số tiền mà doanh nghiệp phải chi trả lương cho bộ phận này

đã tăng lên so với kỳ gốc Do đó, làm tăng chi phí nhân công trực tiếp của doanh nghiệp

Vì vậy khi chi phí nhân công trực tiếp của doanh nghiệp tăng lên kéo theo tồng chi phítăng lên Mặc dù vậy, doanh nghiệp không thể tăng giá bán của sản phẩm lên quá caongay trong kỳ nghiên cứu để tăng doanh thu nhằm

bù mức tăng của chi phí do tăng chi phí lương này được Vì thế, việc lương phải chi trảcho công nhân tăng đột ngột do chính sách tăng mức lương cơ bản của của Nhà nước đãảnh hưởng không nhỏ đến lợi nhuận của doanh nghiệp Vì vậy khoản mục chi phí nàyphát sinh gây ảnh hưởng tiêu cực đến doanh nghiệp

 Chi phí sản xuất chung:

Ở kỳ gốc ta có thể thấy rằng khoản mục chi phí sản xuất chung của doanh nghiệpchiếm 11,6% tương ứng với 3.789.436.000 đồng trong tổng chi phí phát sinh của doanhnghiệp cùng kỳ Nhưng sang đến kỳ nghiên cứu con số này đã tăng lên 37,58% tức tăng1.424.001.000 đồng so với kỳ gốc cụ thể là khoản mục chi phí sản xuất chung chiếm 12,6%tương ứng với 12.206.064.000 đồng trong tổng chi phí phát sinh trong kỳ Sự biến động này

có thể do một số nguyên nhân sau:

- Do doanh nghiệp đưa các phân xưởng mới vào hoạt động (1)

- Doanh nghiệp tăng lương cho nhân viên phân xưởng (2)

- Doanh nghiệp chuyển một số cán bộ, công nhân viên từ bộ phận khác sang bộ phận phânxưởng (3)

- Doanh nghiệp mua thêm máy móc thiết bị dùng cho bộ phận phân xưởng.(4)

- Doanh nghiệp mua thêm một số công cụ dụng cụ sản xuất mới thay thế cho một số công

cụ dụng cụ sản xuất cũ.(5)

Trang 11

Giả định trong 5 nguyên nhân nêu trên có nguyên nhân (1) (2) là những nguyên nhânlàm tăng chi phí sản xuất chung của doanh nghiêp ở kỳ nghiên cứu:

+ Xét nguyên nhân thứ nhất (1): Do ở cuối kỳ gốc doanh nghiệp đã thấy được lợi thế của

một số mặt hàng mới nên đơn vị đã mạnh dạn đầu tư xây dựng thêm một phân xưởngmới để sản xuất mặt hàng này Do đó ở đầu kỳ nghiên cứu doanh nghiệp đã đưa ngayphân xưởng mới này vào hoạt động từ đây đã làm tăng chi phí sản xuất chung tính trêntoàn bộ phận phân xưởng của doanh nghiệp Khi chi phí sản xuất chung tăng đã làm chotổng chi phí của kỳ nghiên cứu tăng Việc đưa vào hoạt động các phân xưởng đã giúp doanh nghiệp đáp ứng được một số mặt hàng mới trên thị trường đem lại doanh thu chodoanh nghiệp Trên bước đường xa hơn doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô sản xuấtcủa đơn vị trong thời gian tới Như vậy việc mở thêm phân xưởng mới sẽ giúp doanhnghiệp đảm bảo sự phát triển về con đường phía trước của doanh nghiệp Do đó, đây lànguyên nhân chủ quan có ảnh hưởng tích cực đến tổng chi phí của doanh nghiệp

 Biện pháp đề xuất:

- Doanh nghiệp cần có những cái nhìn tổng quát về thị trường để tìm hiểu xu hướng

của các mặt hàng trên thị trường để có chiến lược đầu tư, phát triển quy mô hợp lý

và ổn định sự phát triển về lâu về dài của doanh nghiệp

- Đẩy mạnh công tác thăm dò thị trường, nắm bắt được nhu cầu của thị trường từ đó

nắm bắt cơ hội cho doanh nghiệp

- Doanh nghiệp nên có những biện pháp đề phòng những điều kiện tiêu cực như loại

sản phẩm mới của doanh nghiệp có nhu cầu tiêu dùng nhiều nhưng chỉ mang tínhthời vụ nên doanh nghiệp cần đẩy mạnh công tác marketing, quảng bá, tiếp thị sảnphẩm mới để quan tâm tín dụng, biết đến để sản phẩm của doanh nghiệp tiêu thụnhanh nhất có hiệu quả nhất

- Mặt khác, doanh nghiệp cũng không vì nghiên cứu sản phẩm mới mà quên đi

những dòng sản phẩm đang phát triển hiện tại của doanh nghiệp tránh đánh mất thịtrường của mình về những mặt hàng đang phát triển

Trang 12

+ Xét đến nguyên nhân thứ 2 (2): Trong kỳ gốc, các cán bộ công nhân viên làm việc tại bộ

phận phân xưởng làm việc có hiệu quả cao, năng suất sản xuất tốt nên để khích lệ tinhthần làm việc sang kỳ nghiên cứu doanh nghiệp đã quyết định tăng lương cho toàn bộngười lao động làm việc trong bộ phận phân

xưởng Điều này đã làm tăng chi phí sản xuất chung của toàn bộ doanh nghiệp làm ảnhhưởng đến tổng chi phí kỳ nghiên cứu Bên cạnh đó, khi tăng lương cho người công nhânviên ở bộ phận phân xưởng thúc đẩy, nâng cao trách nhiệm của công nhân viên từ đó đảmbảo được năng suất chất lượng sản xuất của toàn doanh nghiệp Do đó, đây là nguyênnhân chủ quan ảnh hưởng tích cực đến doanh nghiệp

Biện pháp đề xuất:

- Doanh nghiệp nên đưa ra một số quy định về việc tăng lương tránh tăng lương quá

mức dẫn đến số tiền chi ra không hợp lý, đồng thời cũng để giảm sự chênh lệchgiữa các bộ phận trong doanh nghiệp

- Đồng thời doanh nghiệp nên có chính sách giảm lương đối với những công nhân

không có trách nhiệm, hoặc làm việc không có hiệu quả để tránh tình trạng doanhnghiệp tăng lương mà năng suất lao động của công nhân không cao

 Từ việc đưa và phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng đến tổng chi phí của doanh nghiệp

ta có thể nhận định các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chiphí sản xuất chung đều là những chi phí chi ra hợp lý trong kỳ nghiên cứu dẫn đến chi phísản xuất chế tạo sản phẩm tăng lên là hợp lý đối với doanh nghiệp

Đối với khoản mục chi phí bán hàng

Qua bảng số liệu ta nhận thấy ở kỳ gốc khoản mục chi phí bán hàng chỉ chiếm18,3% tương ứng với 5.978.163.000 đồng trong tổng chi phí Con số này tăng lên rất nhanh

ở kỳ nghiên cứu và đạt 8.192.544.000 đồng chiếm 19,8% trong tổng chi phí cùng kỳ tức đãtăng lên 2.214.381.000 đồng với tốc độ tăng đạt 37,04% so với kỳ gốc Chính sự biến độngnày đã gây ảnh hường gần 7% đến tổng chi phí của doanh nghiệp Sự biến động này có thể

do một số nguyên nhân sau:

- Doanh nghiệp đưa ra thị trường một số sản phẩm mới.(1)

Trang 13

- Doanh nghiệp có thêm một số chương trình khuyến mại.(2)

- Do doanh nghiệp mở thêm chi nhánh bán hàng.(3)

- Do đơn vị tuyển dụng thêm nhân viên bán hàng.(4)

- Số lượng sản phẩm gửi bán qua các đại lý nhiều nên số tiền hoa hồng cho các đại lý tănglên.(5)

Trong các nguyên nhân kể trên giả định rằng nguyên nhân (1) (2) là những nguyênnhân trực tiếp gây ra biến động về sự tăng lên của chi phí bán hàng ở kỳ nghiên cứu

+ Xét nguyên nhân thứ nhất (1): do ở kỳ gốc đơn vị đã nhận thấy sự phát triển của một số

sản phẩm nên đã cho xây dựng đầu tư thêm để sản xuất sản phẩm tiềm năng này Đến kỳnghiên cứu doanh nghiệp tung ra thị trường các sản phẩm mới đôi khi nó cũng là mới vớikhách hàng vì vậy doanh nghiệp đã chi thêm một khoản tiền cho việc quảng cáo sảnphẩm đến người tiêu dùng, giúp họ nhận ra những mặt tích cực của sản phẩm mới vàchương trình đã gây ấn tượng tốt với khách hàng Từ đó thu hút sự quan tâm của ngườitiêu dùng giành được thị trường, bạn hàng với doanh nghiệp vừa đem lại hiệu quả kinhdoanh vừa đem lại doanh thu cho doanh nghiệp Do đó, đây là nguyên nhân chủ quan cóảnh hưởng tích cực đến doanh nghiệp

 Biện pháp đề xuất:

- Doanh nghiệp cần nghiên cứu thị trường một cách cẩn thận sâu sắc tránh đưa ranhững sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng gây lãng phí chiphí của doanh nghiệp

- Doanh nghiệp cần có những chiến lược quảng bá sản phẩm ấn tượng có thể qua cáctrang mạng xã hội, truyền hình, hội chợ hay triển lãm gây ấn tượng tốt với ngườitiêu dùng để có thể cạnh tranh với những doanh nghiệp khác có cùng sản phẩm vớidoanh nghiệp mình Nhưng doanh nghiệp không nên chi tiêu quá nhiều gây hoangphí vì vậy doanh nghiệp cần có kế hoạch chi tiêu hợp lý tiết kiệm mà vẫn đem lạihiệu quả kinh doanh

- Bên cạnh đó trong một kỳ doanh nghiệp không nên đưa ra thị thường quá nhiều sảnphẩm mới tránh gây bão hòa dẫn đến sự nhàm chán của thị trường

Trang 14

+ Xét nguyên nhân thứ hai (2): do kỳ nghiên cứu doanh nghiệp tri ân khách hàng kỷ niệm

ngày thành lập doanh nghiệp nên đã đưa ra một số chương trình khuyến mại đặc biệt như:tặng quà, bốc thăm trúng thưởng, cho khách hàng của mình để kích thích nhu cầu tiêudùng sản phẩm Với việc mở thêm các chương trình khuyến mại, doanh nghiệp tiêu thụđược lượng sản phẩm lớn đem lại doanh thu cho doanh nghiệp đồng thời cũng làm tăngchi phí bán hàng của doanh nghiệp Do đó đây là nguyên nhân chủ quan tác động tích cựcđến doanh nghiệp

 Biện pháp đề xuất:

- Doanh nghiệp nên có kế hoạch chi tiêu cho các chương trình khuyến mại một cáchhợp lý đối với doanh nghiệp, không quá cao để có thể đem lại lợi nhuận cho doanhnghiệp Đồng thời cũng tránh lãng phí cho doanh nghiệp

- Doanh nghiệp cần chọn đúng sản phấm, mặt hàng để áp dụng khuyến mại để kíchthích cầu thị thường Nếu chọn sai sản phẩm doanh nghiệp sẽ lãng phí một số tiềncho bán hàng mà không đem lại lợi ích cho doanh nghiệp

- Đồng thời, doanh nghiệp cũng nên ký hợp đồng với một số nhà cung cấp các mặthàng khuyến mại để tạo mối quan hệ lâu dài với họ từ đó doanh nghiệp sẽ đượcchiết khấu hàng bán, chiết khấu thương mại, giảm chi phí, tăng lợi nhuận

- Ngoài ra, doanh nghiệp cũng không nên chỉ áp dụng những ưu đãi khi có dịp màcần đẩy mạnh công tác chăm sóc khách hàng sau mua hàng thường xuyên Tạo sự

uy tín, tin dùng cho người tiêu dùng

Đối với khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp.

Ta có thể thấy khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp chỉ chiếm 12,2% tương ứngvới 3.985.442.000 đồng trong tổng chi phí kỳ gốc Nhưng sang kỳ nghiên cứu con số này đãgiảm nhưng không đáng kể gần 17% so với kỳ gốc tức sang kỳ này chi phí này chỉ cònchiếm 3.310.119.000 đồng tức chiếm 8% trong tổng chi phí kỳ nghiên cứu Khoản mục chiphí này đã tiết kiệm 675.323.000 đồng về mặt tuyệt đối và 755.032.000 đồng về mặt tươngđối cho doanh nghiệp Sự biến động này có thể do các nguyên nhân sau:

Trang 15

- Chi phí vật liệu quản lý, đồ dùng văn phòng dùng cho công tác quản lý kỳ này của doanhnghiệp giảm so với kỳ trước (1)

- Doanh nghiệp chủ động cắt giảm biên chế của bộ phận quản lý trong kỳ nghiên cứu.(2)

- Do trong kỳ nghiên cứu doanh nghiệp có một số cán bộ nghỉ hưu (3)

- Do đơn vị tìm kiếm, ký kết và thực hiện hợp đồng đúng thời hạn nên giảm được chi phí bịphạt về vi phạm hợp đồng so với kỳ gốc (4)

- Chi phí dịch vụ mua ngoài ở kỳ nghiên cứu giảm so với kỳ gốc Do các giác cước điệnthoại, internet giảm hơn so với kỳ gốc.(5)

Giả định rằng trong các nguyên nhân trên có các nguyên nhân (1) (2) (3) là nguyêngây tác động trực tiếp đến sự biến động của chi phí quản lý doanh nghiệp trong kỳ nghiêncứu:

+ Xét nguyên nhân thứ nhất (1): Chi phí vật liệu quản lý, đồ dùng văn phòng dùng cho công

tác quản lý kỳ này của doanh nghiệp giảm so với kỳ trước Ở kỳ gốc, doanh nghiệp đãchủ động đầu tư nâng cấp mua sắm các đồ dùng văn phòng nhằm hỗ trợ tích cực cho bộphận quản lý do đó khi bước sang kỳ

nghiên cứu doanh nghiệp đã trang bị đầy đủ các vật liệu, đồ dùng văn phòng cho bộ phậnbán háng vì vậy mà doanh nghiêp không trang bị thêm nữa Do đó đã giảm được lượngchi phí này trong kỳ nghiên cứu Đây là nguyên nhân chủ quan ảnh hưởng tích cực đếntổng chi phí của doanh nghiệp

 Biện pháp đề xuất:

- Doanh nghiệp cần xác định đúng các trang thiết bị, vật liệu, đồ dùng cần mua đểđáp ứng sao cho bộ phận bán hàng hoạt động có hiệu quả nhất không nên mua quánhiều những đồ dùng không cần thiết gây lãng phí Khiến chi phí bán hàng bỏ ra ở

kỳ gốc quá nhiều mà không phục vụ cho doanh nghiệp

+ Xét nguyên nhân thứ hai (2): trong nền kinh tế hiên nay, mỗi doanh nghiệp cần không

ngừng hoàn thiện mình, nâng cao khả năng cạnh tranh và đặc biệt phải nắm bắt thị trườngmột cách nhanh nhạy Do đó đòi hỏi phải có bộ máy điều hành đơn giản chặt chẽ mà lạihiệu quả nên doanh nghiệp đã thực hiên chính sách cắt giảm biên chế ở bộ phận quản lý

Trang 16

doanh nghiệp Cắt giảm một số phòng ban không cần thiết hoặc hoạt động kém, cắt giảmnhân viên điều hành có trình độ kém để đơn giản hóa bộ máy quản lý của doanhnghiệp Do đó, doanh nghiệp đã giảm được một phần chi phí cho bộ phận quản lý doanhnghiệp Đây là nguyên nhân chủ quan gây ảnh hưởng tích cực đến doanh nghiệp.

 Biện pháp đề xuất:

- Doanh nghiệp cần lựa chọn đúng các phòng ban không cần thiết, nhân viên quản lý

có trình độ kém tránh cắt giảm sai đối tượng ảnh hưởng đến hoạt động, năng suấtcủa bộ phận quản lý

- Sau khi cắt giảm các phòng ban hay nhân viên tại một bộ phận nào đó doanhnghiệp cần bố trí lại các phòng ban hợp lý nhất để các bộ phận không bị thiếungười hoặc làm giảm năng suất của bộ phận đó

+ Xét nguyên nhân thứ ba (3): theo đúng chính sách của nhà nước quy định tuổi nghỉ hưucủa các cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp Trong kỳ nghiên cứu tại bộ phân quản

lý doanh nghiệp có một số cán bộ đến tuổi về hưu nghỉ theo đúng chế độ Song đây lại lànhững cán bộ có kinh nghiệm lâu năm, có trình độ cao, gắn bó với doanh nghiệp từ lâuhiểu rất rõ về doanh nghiệp nên dù cho giảm được một phần chi phí để chi trả lương chonhững người cán bộ này thì doanh nghiệp vẫn mất đi một số cán bộ có năng lực Đồngthời, doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng chi phí đào tạo cán bộ trẻ để đảm bảo năng lựcquản lý doanh nghiệprồi sau đó thay thế vào chỗ của các cán bộ này Do đó đây là nguyênnhân khách quan ảnh hưởng tiêu cực đến doanh nghiệp

§3.Kết luận

1 Kết luận

Qua việc đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua phântích tình hình thực hiện chỉ tiêu chi phí sản xuất theo khoản mục Ta có thể thấy rằng tổngchi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng lên so với kỳ trước là do các khoản mục chi phí có sựbiến động rõ rệt Xét các nguyên nhân dẫn đến sự biến động của các khoản mục chi phí đó ta

có thể thấy một số khoản mục chi phí biến động hợp lý và một số khác lại gây ảnh hưởng

Trang 17

tiêu cực đến doanh nghiệp từ đó đã có những biện pháp đề xuất đảm bảo hoạt động củadoanh nghiệp Từ việc xem xét đâu là nguyên nhân chủ quan (nguyên nhân xuất phát từ bảnthân doanh nghiệp), đâu là nguyên nhân khách quan (nguyên nhân ngoài doanh nghiệp) ta cóthể tổng hợp lại như sau:

 Một số nguyên nhân chủ quan làm tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng lên gâyảnh hưởng tích cực đến doanh nghiệp:

- Doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, thêm nhà xưởng sản xuất Dẫn đến khoảnmục chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp tăng lên

- Do khối lượng công việc của doanh nghiệp ở kỳ này tăng lên so với kỳ gốc nêndoanh nghiệp đã có chính sách tổ chức cho bộ phận công nhân trực tiếp sản xuấtlàm thêm giờ để đảm bảo khối lượng công việc của mình mà không cần thuê thêmcông nhân bên ngoài Vừa không phải mất chi phí đào tạo công nhân mới mà còntạo năng suất cho công việc

- Doanh nghiệp chủ động đưa một số phân xưởng mới vào hoạt động để sản xuấtmặt hàng đang có tiềm năng phát triển trên thị trường

- Doanh nghiệp kích thích tinh thần, nâng cao năng suất lao động của đội ngũ côngnhân phân xưởng của mình bằng cách tăng mức lương hợp lý vừa đảm bảo chi phíbảo tiền lương bỏ ra vừa làm cho chất lượng cũng như số lượng các sản phẩm sảnxuất tăng lên Đem lại hiệu quả công việc cho doanh nghiệp

- Doanh nghiệp thực hiện một số ưu đãi khuyến mại đặc biệt đối với sản phẩm đang

có tiềm năng của mình kích thích sự nhu cầu tiêu dùng sản phẩm mạnh hơn

- Doanh nghiệp cắt giảm niên chế một số bộ phận cũng như cán bộ, nhân viên cótrình độ thấp hay làm việc không hiệu quả một cách hợp lý không ảnh hưởng đếnhiệu quả công việc của doanh nghiệp mình

 Bên cạnh những nguyên nhân chủ quan ảnh hưởng tích cực đến doanh nghiệp còn có một

số nguyên nhân chủ quan làm tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng lên không hợp

lý, ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp:

Trang 18

- Doanh nghiệp vẫn chưa có công tác quản lý cán bộ công nhân viên chặt chẽ nênvẫn còn tồn tại một số cán bộ, công nhân viên thiếu trách nhiệm, lơ là trong côngviệc dẫn đến thất thoát một số nguyên vật liệu gây tổn thất cho doanh nghiệp.

 Ngoài ra, tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp có biến đông mạnh còn bị tác động bởimột số yếu tố từ môi trường bên ngoài doanh nghiệp (nguyên nhân khách quan) Ta cóthể liệt kê một số nguyên nhân như:

+ Nguyên nhân khách quan ảnh hưởng tích cực đến doanh nghiệp:

- Trên thị trường nhu cầu tiêu dùng về loại sản phẩm của doanh nghiệp sản xuấttương đối cao, doanh nghiệp đã nắm bắt được cơ hội từ đó đẩy mạnh sản xuất

- Doanh nghiệp nhận được thêm một số đơn đặt hàng từ phía các đối tác kinh doanhcủa doanh nghiệp

+ Nguyên nhân khách quan ảnh hưởng tiêu cực đến doanh nghiệp:

- Nhà nước có quyết định về việc tăng mức lương cơ bản cho người lao động

- Một số cán bộ quản lý lâu lăm của doanh nghiệp nghỉ hưu theo đúng độ tuổi laođộng mà Nhà nước quy định

2 Kiến nghị

Từ những nguyên nhân kể trên, ta có thể đưa ra một số biện pháp khắc phục nhữngmặt chưa tốt, duy trì những mặt tốt để doanh nghiệp hoạt động một cách có hiệu quả nhất:

- Doanh nghiệp bên cạnh việc mở rộng quy mô sản xuất cần có sự xem xét thị trường để

mở rộng quy mô cho doanh nghiệp mình một cách hợp lý đạt hiệu quả kinh doanh tốtnhất Tránh lãng phí nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp mà không đem lại hiểu quả kinhdoanh Đồng thời doanh nghiệp cần phải có những chiến lược phát triển để đưa sản phẩmcủa mình đến với bạn bè các nước làng giềng

- Doanh nghiệp có những chính sách khen thưởng với những cán bộ công nhân viên hoànthành tốt nhiệm vụ, hết lòng, có trách nhiệm cao với công việc để họ có thể cống hiến chodoanh nghiệp cao nhất Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải có mức phạt với những cán bộcông nhân viên thiếu trách nhiệm, lơ là trong công việc Đồng thời doanh nghiệp cũngnên nâng cao năng lực quản lý, công tác quản lý đội ngũ lao động của mình

Trang 19

- Cần đảm bảo máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất sản phẩm hoạt động tốt, tránh xảy rahỏng hóc, làm gián đoạn công việc của doanh nghiệp.

- Đẩy mạnh công tác thăm dò thị trường, nắm bắt được nhu cầu của thị trường từ đó nắmbắt cơ hội cho doanh nghiệp

- Doanh nghiệp có chiến lược marketing, quảng cáo, tiếp thị sản phẩm đối với những sảnphẩm mới của mình Tạo sự tin cậy cho khách hàng về sản phẩm của doanh nghiệp mình

Từ đó, tạo mối quan hệ lâu dài với người tiêu dùng về dòng sản phẩm doanh nghiệp sảnxuất

- Doanh nghiệp tiếp tục nghiên cứu, phát triển ra nhiều sản phẩm mới có tính năng tốt hơn,hiệu quả hơn đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng

- Bên cạnh đó doanh nghiệp nên tổ chức các cuộc thi ngoài việc giả trí cho công nhân viêncòn có thể tìm ra những ý tưởng mới để công nhân cùng với doanh nghiệp tạo ra các sảnphẩm có nhiều ưu việt hơn nữa

- Ngoài ra bên cạnh những chiến lược marketing, quảng cáo sản phẩm doanh nghiệp cũngnên có dịch vụ chăm sóc khách hàng khi tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp mình.Thông qua đó có thể tìm hiểu được khách hàng cần gì, muốn gì từ những sản phẩm màdoanh nghiệp sản xuất Hơn nữa, thông qua những chương trình như vậy doanh nghiệp có

cơ hội tạo sự uy tín cho khách hàng về dòng sản phẩm của doanh nghiệp

Chương 2: Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu doanh thu theo mặt hàng

§1 Mục đích, ý nghĩa

1 Ý nghĩa

Tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hànghóa Qua tiêu thụ sản phẩm chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ và kết thúcvòng luân chuyển vốn

- Có tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, Doanh nghiệp mới thu hồi vốn để tái sản xuất mở rộng,tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Trang 20

- Có tiêu thụ được sản phẩm mới chứng tỏ năng lực kinh doanh của doanh nghiệp, mới xácđịnh được kết quả tài chính cuối cùng là lãi hay lỗ và ở mức độ nào.

- Sau quá trình tiêu thụ doanh nghiệp không những thu hồi được tổng chi phí có liên quanđến chế tạo và tiêu thụ sản phẩm mà cũng thực hiện được giá trị lao động thặng dư, đây lànguồn quan trọng nhằm tích lũy vào ngân sách, vào các quỹ doanh nghiệp nhằm mở rộngquy mô sản xuất và nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên

Vì vậy phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm, xác định được đúng đắn những nguyênnhân, tìm ra những biện pháp tích cực nhằm đưa quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa củadoanh nghiệp đạt mục tiêu là: tiêu thụ với khối lượng lớn sản phẩm hàng hóa, giá bán cao thịtrường ổn định và thu được lợi nhuận cao trong kinh doanh

2 Mục đích

- Đánh giá chung tình hình tiêu thụ về mặt số lượng, chất lượng, mặt hàng

- Tìm ra những nguyên nhân và xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hìnhtiêu thụ

- Đề ra những biện pháp nhằm đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ cả về mặt số lượng và chất lượng

§2 Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu doanh thu theo mặt hàng.

Giá trị chỉ tiêu kỳ nghiên cứu: ∑D1 = 48.321.466.000 đồng

Đối tượng phân tích: ∆D = ∑D1 - ∑D0 = 864.145.000 đồng

Trong đó:

∑D0: tổng doanh thu kỳ gốc

Trang 21

∑D1: tổng doanh thu kỳ nghiên cứu

+ Trong nhóm mặt hàng có xu hướng tăng ở kỳ nghiên cứu chúng ta không thể không nhậnthấy sự tăng lên mạnh mẽ về mức tiêu thụ của mặt hàng vở Chỉ chiếm với 3,5% tức1.661.006.000 đồng trong tổng chi phí ở kỳ gốc nhưng sang kỳ nghiên cứu con số nàykhông dừng lại ở đó nó đã tăng lên đến 8.021.363.000 đồng chiếm 16,6% trong tổng chiphí Từ đây ta có thể thấy rằng doanh thu từ mặt hàng vở tăng lên với con số ấn tượnggần 383% so với kỳ gốc Điều này cho thấy đơn vị hoạt động có hiệu quả cao trong côngtác đẩy mạnh tiêu thụ mặt hàng này Đây cũng là mặt hàng có mức độ ảnh hưởng lớn nhấtđến tổng doanh thu kỳ nghiên cứu với hơn 13% Ngoài ra còn có một số mặt hàng khác

Ngày đăng: 22/07/2020, 17:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w