Thậm chí vì những đau khổ, bế tắc trong bi kịch văn chương, con người nhân hậu ấy còn rơi vào bi kịch thứ 2 khi có thái độ thô bạo, phũ phàng với vợ con, cũng có nghĩa là vi phạm vào lẽ
Trang 1ĐỜI THỪA
(Nam Cao)
A KHÁI QUÁT
1 Tác giả
- Là nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại với những đóng góp xuất sắc trong dòng văn học hiện thực phê phán 30 – 45 cũng như văn học cách mạng giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp
- Ngòi bút của Nam Cao tỉnh táo sắc lạnh, nặng trĩu suy tư nhưng cũng đằm thắm tình thương yêu Đó là nguyên nhân tác phẩm của ông vừa thi vị vừa thấm đẫm phong vị trữ tình
- Sáng tác của Nam Cao trước cách mạng thường xoay quanh 1 trăn trở về tình trạng con người bị huỷ hoại về nhân phẩm do sự chi phối của đói nghèo Niềm trăn trở ấy đặc biệt nhức nhối, sâu sắc trong mảng sáng tác về đời sống trí thức và
bi kịch sống mòn Đây cũng là đề tài thấm thía sự trải nghiệm của nhà văn
2 Tác phẩm
2.1 Vị trí
“Đời thừa” là 1 truyện ngắn tiêu biểu cho mảng sáng tác của Nam Cao về đời sống của người trí thức nghèo trước cách mạng, cũng là truyện ngắn thể hiện rõ nét sở trường của Nam Cao trong nghệ thuật miêu tả, phân tích tâm lý nhân vật, nghệ thuật tạo lời văn giàu tính triết lý
2.2 Khái niệm bi kịch
Bi kịch xuất hiện khi có sự xung đột không thể điều hoà giữa khát vọng và khả năng thực hiện, giữa thiện và ác, giữa cái cao cả và cái thấp hèn Kết cục là những ước mơ đẹp đẽ bị tan vỡ, những hoài bão lớn lao bị vùi dập, những giá trị chân chính bị huỷ hoại Kết thúc bi thảm của nhân vật bi kịch thường có ý nghĩa thức tỉnh, dự báo về những điều tốt đẹp hơn sẽ nảy sinh trong cuộc sống con người
2.3 Bi kịch của nhân vật Hộ
Trang 2Từ quan niệm trên có thể thấy Hộ là 1 nhân vật bi kịch bởi những mâu thuẫn giữa những khát vọng và khả năng thực hiện, giữa những phẩm chất cao đẹp với sự tha hoá tầm thường, đau xót Đó là tấn bi kịch tinh thần đau đớn, dai dẳng, thầm lặng của 1 nhà văn nghèo khao khát có 1 cuộc sống có ý nghĩa, luôn ôm ấp “một hoài bão lớn” về 1 sự nghiệp văn chương hữu ích cho xã hội, nhưng đã bị “áo cơm ghì sát đất” mà phải sống cuộc sống vô nghĩa, vô ích, sống tiếp “đời thừa” Thậm chí
vì những đau khổ, bế tắc trong bi kịch văn chương, con người nhân hậu ấy còn rơi vào bi kịch thứ 2 khi có thái độ thô bạo, phũ phàng với vợ con, cũng có nghĩa là vi phạm vào lẽ sống tình thương của mình
2.4 Chủ đề của tác phẩm:
- Thông qua bi kịch của nhân vật Hộ, tác phẩm đã thể hiện lời tố cáo gay gắt cái xã hội phi nhân tính đã bóp chết mọi ước mơ, huỷ hoại ý nghĩa cuộc sống chân chính của con người, đầu độc tâm hồn con người và những mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người Không chỉ thể hiện niềm thương cảm với những bi kịch đau khổ của người trí thức nghèo, Nam Cao còn đem đến cho tác phẩm những giá trị nhân đạo sâu sắc khi bày tỏ niềm tin yêu, trân trọng với người trí thức trung thực,
tự trọng, luôn bằng mọi cách chống lại sự tha hoá, luôn cố gắng giữ vững lẽ sống nhân đạo của mình
- Trong truyện ngắn “Đời thừa”, thông qua nhân vật Hộ, Nam Cao cũng trực tiếp phát biểu những ý kiến tiến bộ, sâu sắc, mới mẻ về quan điểm nghệ thuật, quan điểm sáng tác khi đề cao ý nghĩa xã hội của văn chương, khi đưa ra chuẩn mực về
1 tác phẩm có giá trị, về phẩm chất của nhà văn
B TÌM HIỂU TÁC PHẨM
ĐỀ 1: PHÂN TÍCH BI KỊCH VĂN CHƯƠNG CỦA NHÂN VẬT HỘ ĐỂ LÀ
RÕ TƯ TƯỞNG NHÂN ĐẠO TRONG TRUYỆN NGẮN “ĐỜI THỪA” CỦA NAM CAO
Trang 3 MB:
- Tác giả (A.1)
- Tác phẩm và vấn đề: “Đời thừa” là 1 truyện ngắn tiêu biểu trong mảng sáng tác của Nam Cao về đời sống của người trí thức nghèo trước 1945 Thông qua việc miêu tả chân thực bi kịch văn chương của nhân vật Hộ, Nam Cao
đã đưa đến cho tác phẩm của mình những tư tưởng nhân đạo sâu sắc
TB:
Khái niệm về bi kịch
Trong truyện ngắn “Đời thừa”, Hộ là 1 nhân vật bi kịch Trước hết đó là bi kịch của 1 người trí thức có ý thức sâu sắc về cuộc sống, khao khát tự khẳng định và nâng cao ý nghĩa đời sống của mình bằng 1 sự nghiệp văn chương
có giá trị, được mọi người thừa nhận nhưng lại bị “Cái nợ áo cơm ghì sát đất”, phải chấp nhận 1 cuộc sống vô nghĩa, trở thành kẻ sống kiếp đời thừa với văn chương
Phân tích:
1 Hộ có những phẩm chất đẹp đẽ của 1 nhà văn chân chính:
1.1 Hộ có những đam mê mãnh liệt với văn chương
- Truyện ngắn mở đầu bằng đoạn văn miêu tả cảnh Hộ đọc sách Gương mặt với “đôi lông mày rậm châu đầu lại với nhau đôi mắt sáng quắc có vẻ lồi ra cái mặt hốc hác có vẻ khắc khổ, dữ tợn” chính là gương mặt của 1 người đang say
mê, chăm chú tột độ đến mức như bị hút kiệt tinh lực vào trang sách Cách miêu tả của nhà văn còn đem lại cảm giác như đó là gương mặt của 1 kẻ tội đồ, khổ hạnh trước vị Chúa mà mình ngưỡng mộ, tôn thờ - và với Hộ vị Chúa ấy chính là vẻ đẹp thánh thiện toả ra từ những trang văn Gương mặt hốc hác, gầy gò vì cuộc sống đói nghèo nhưng lại cháy rực niềm say mê mãnh liệt với văn chương
- Với Hộ, nghệ thuật là tất cả, ngoài nghệ thuật không còn gì đáng quan tâm nữa ; bởi vì theo Hộ, văn chương đem đến cho con người những khoái cảm thẩm
Trang 4mĩ cao khiết, kì diệu mà không một khoái lạc vật chất nào có thể sánh bằng Dù không mong tìm ở Từ sự đồng cảm, có lần Hộ vẫn không thể kiềm chế niềm phấn khích mà bày tỏ với vợ như 1 cách giúp anh nói thành lời niềm say mê của mình:
“Tôi mê văn quá nên mới khổ những khi được đọc 1 đoạn văn như đoạn này mà lại hiểu được tất cả cái hay, thì dẫu ăn 1 món ngon đến đâu cũng không thích bằng”
- Tuy nhiên cũng phải thấy khi Hộ cho rằng “nghệ thuật là tất cả” thì đó chỉ
là 1 cách nói cực đoan để thể hiện cao độ niềm đam mê cháy bỏng với văn chương chứ hoàn toàn không thể coi đó là tuyên ngôn của 1 người vị kỉ, vô trách nhiệm với cuộc đời, bởi vì sự nghiệp văn chương mà Hộ ấp ủ, say mê phải là 1 sự nghiệp văn chương hữu ích với con người và thấm đẫm giá trị nhân đạo Hộ đã khẳng định dứt khoát: 1 tác phẩm có giá trị phải: “chứa đựng 1 cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi, nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình Nó làm cho người gần người hơn” Và không chỉ dừng lại ở quan niệm, trong thực tế cuộc sống, Hộ không bao giờ vì văn chương mà biến mình thành kẻ ác, kẻ tàn nhẫn ; cuối cùng, dù đau khổ, tuyệt vọng, anh vẫn chấp nhận hi sinh nghệ thuật cho tình thương
1.2 Không chỉ mê văn, Hộ còn có hoài bão cao đẹp với văn chương, coi văn chương là lẽ sống, là lí tưởng của đời mình
- Vì lý tưởng đẹp đẽ trong văn chương, Hộ đã có thể hi sinh tất cả: “đói rét không có nghĩa lý gì với 1 gã trẻ tuổi say mê lý tưởng Lòng hắn đẹp Đầu hắn mang 1 hoài bão lớn” Đó là hoài bão về 1 sự nghiệp văn chương có giá trị ; và cụ thể hơn, cái đích mà cả cuộc đời Hộ khao khát hướng tới là 1 tác phẩm để đời, 1 tác phẩm khi ra đời sẽ “làm mờ hết các tác phẩm khác cùng ra 1 thời ”, 1 tác phẩm có giá trị, phải vượt lên trên tất cả bờ cõi và giới hạn Có thể thấy, niềm đam
mê và hoài bão của Hộ là được thưởng thức và sáng tạo nghệ thuật, hơn thế nữa là niềm khao khát được vẻ vang vì sự nghiệp sáng tạo ấy
Trang 5- Khao khát vinh quang đối với 1 tác phẩm “ăn giải Nôben” là được dịch ra
đủ mọi thứ tiếng trên toàn cầu, không có nghĩa Hộ là 1 kẻ háo danh tầm thường Niềm khát khao không chỉ là biểu hiện cao nhất của 1 con người có ý thức rất sâu sắc, không chấp nhận 1 cuộc sống mờ nhạt vô danh vô nghĩa Hộ muốn khẳng định cái tôi chân chính của mình bằng những đóng góp hữu ích cho cuộc đời Những người lao động sáng tạo ra của cải vật chất có thể vô danh trong 1 đám đông nhưng cuộc đời thầm lặng của họ vẫn có ý nghĩa bởi những giá trị vật chất do họ sáng tạo
ra đã giúp cho cuộc sống của nhân loại tồn tại và phát triển Những tác giả của văn học dân gian hoàn toàn vô danh nhưng sự tồn tại của họ vẫn thật có ý nghĩa vì tác phẩm của họ đã thực sự trường tồn cùng năm tháng Còn với 1 nhà văn, lao động nghệ thuật của anh ta chỉ có ý nghĩa khi sáng tạo ra 1 sự nghiệp văn chương hữu ích cho mọi người, anh ta chỉ có thể nâng cao giá trị đời sống của mình khi chính những tác phẩm văn chương có giá trị được mọi người thừa nhận Và sự
thừa nhận ấy cũng đồng thời khẳng định cái tôi cá nhân đẹp đẽ của nhà văn
1.3 Không chỉ mê văn, Hộ còn là người có lương tri nghề nghiệp
- Hộ có những quan niệm nghiêm túc và cao quý về nghề nghiệp, anh cho rằng: sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là bất lương rồi, nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện Cũng vì quan niệm ấy mà Hộ đã từng viết thật “thận trọng” dù cuộc sống của anh chỉ trông vào đồng nhuận bút ít ỏi của nghề viết văn
và cách viết ấy khiến cuộc sống thời trai trẻ của nhà văn Hộ luôn “eo hẹp, cực khổ”
- Hộ đặc biệt đề cao 1 trong những phong cách mang tính đặc trưng của văn chương đó là sáng tạo Anh khẳng định: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho, văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những
gì chưa có” Bất cứ công việc nào cũng đòi hỏi sự sáng tạo, nhưng nếu các sản phẩm vật chất có thể lặp lại về cơ bản các giá trị nội dung và hình thức thì sản
Trang 6phẩm tinh thần của nhà văn luôn là: “1 phát minh về hình thức và khám phá về nội dung, mỗi tác phẩm luôn là sự xuất hiện lần đầu tiên, cuối cùng và duy nhất trong
cả cuộc đời nghệ sĩ lẫn văn chương” Với những quan niệm tiến bộ về văn chương,
Hộ đã thể hiện nhân cách cao đẹp của 1 nghệ sĩ khao khát được sáng tạo, khao khát được dâng hiến cho cuộc đời và nghệ thuật những tác phẩm thực sự có giá trị
Đam mê văn chương, có những hoài bão cao cả, có niềm khao khát vinh quang
để nâng cao giá trị đời sống của mình, có lương tri nghề nghiệp , Hộ đã có những phẩm chất quan trọng nhất của 1 nhà văn chân chính, 1 nhà văn trung thực và tự trọng để có thể theo đuổi giấc mộng văn chương, tạo dựng 1 sự nghiệp văn chương
có giá trị
2 Tất cả những phẩm chất đẹp đẽ của 1 nhà văn chân chính đã bị huỷ hoại đau đớn, những lí tưởng khát vọng cao đẹp của Hộ đã bị đổ vỡ tan tành khi đối diện với thực tế cuộc sống
- Với riêng mình, Hộ đã từng khinh “những lo lắng tủn mủn về vật chất”, Hộ không hề bận tâm đến những “đói rét hay cực khổ” của cuộc sống đời thường Lúc
ấy, với Hộ, “nghệ thuật là tất cả”, anh hoàn toàn có thể tận hưởng những khoái cảm tinh thần cao quý trong 1 cuộc sống “eo hẹp” bởi cách viết “thận trọng” của mình Nhưng từ khi có 1 gia đình phải chăm lo, Hộ đã hiểu thế nào là giá trị của đồng tiền, hiểu những “đau khổ của 1 kẻ đàn ông khi thấy vợ con mình đói rách” Hộ phải ra sức kiếm tiền nuôi vợ con với 1 cách duy nhất là viết văn, và vì thế, đương nhiên anh phải viết nhiều, viết nhanh dẫn đến viết ẩu Khi thay đổi mục đích của văn chương, lấy văn chương làm phương tiện tầm thường để kiếm tiền, Hộ đã đi ngược lại hoàn toàn với lý tưởng nghệ thuật, cũng là lý tưởng sống của mình Nghệ thuật của Hộ bây giờ không nhằm tạo ra những “tác phẩm thật giá trị” để thoả mãn những khoái cảm tinh thần đẹp đẽ của con người, mà chỉ nhằm đổi được nhiều nhất, nhanh nhất số tiền nhuận bút để trang trải “tiền nhà tiền giặt tiền thuốc tiền nước mắm” và khi ấy, mục đích tầm thường của thứ văn chương mà Hộ hướng
Trang 7đến sẽ không thể dung nạp những đam mê, khát vọng hay lương tri nghề nghiệp của anh nữa, Hộ tất yếu bị tha hoá trong văn chương
- Vốn là người viết “thận trọng”, nay Hộ “phải cho in nhiều cuốn văn viết vội vàng”, sự vội vàng đồng nghĩa với cách viết cẩu thả mà Hộ luôn coi là “bất lương, đê tiện”, khao khát 1 tác phẩm “vượt lên bên trên tất cả bờ cõi và giới hạn”,
1 tác phẩm “ăn giải Nôben và được dịch ra đủ mọi thứ tiếng trên toàn cầu”, nay Hộ phải viết những bài báo để người ta “đọc rồi quên ngay sau khi đọc”, những cuốn sách hay đoạn văn khiến cho chính Hộ phải “đỏ mặt lên, cau mày, nghiến răng, vò nát sách và mắng mình như 1 thằng khốn nạn” ; thích “đào sâu tìm tòi khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”, bây giờ Hộ phải viết
“toàn những cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn 1 vài ý rất thông thường quấy loãng trong 1 thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi” Với cách viết như thế và những cuốn sách như thế, đương nhiên Hộ chẳng đem đến 1 chút gì mới lạ cho văn chương, cũng có nghĩa là đối với văn chương, Hộ chỉ là 1 thứ vô ích, 1 kẻ sống kiếp “đời thừa”
- Nhận thức được sự tha hoá của mình trong văn chương, Hộ đã tự sỉ vả, tự kết án mình 1 cách quyết liệt: “Khốn nạn! Khốn nạn! Khốn nạn thay cho hắn bởi vì chính hắn là 1 thằng khốn nạn!” thể nhận ra ngay trong lời tự kết án về lương tri, nhân cách của nhà văn còn hàm chứa sự cay đắng cho số kiếp, thân phận 1 con người Nỗi cay đắng khiến Hộ buồn chán: “Còn gì buồn hơn chính mình lại chán mình? Còn gì đau đớn hơn cho 1 kẻ vẫn khát khao làm 1 cái gì nâng cao giá trị đời sống của mình, mà kết cục lại chẳng làm được cái gì, chỉ mới lo cơm áo mà đã đủ mệt?”, Như tất cả các nhân vật bi kịch, Hộ luôn nuối tiếc, nhớ nhung “1 cái gì xa xôi những mộng đẹp ngày xưa 1 con người rất đáng yêu đã chẳng là mình nữa ” Nỗi nhớ tiếc làm rõ hơn sự tha hoá khiến Hộ tuyệt vọng, xót xa: “Thôi thế
là hết! Ta đã hỏng! Ta đã hỏng đứt rồi!” Sử dụng thứ ngôn ngữ nửa trực tiếp Nam
Trang 8Cao giúp người đọc nhìn sâu hơn vào nỗi đau đớn, giằng xé của Hộ trong bi kịch văn chương
3 Đánh giá bi kịch
- Thực chất bi kịch của Hộ là phải viết những thứ văn chương không có tư tưởng, không có sáng tạo, là từ bỏ vai trò của 1 nhà văn chân chính để làm 1 thợ viết tầm thường, là sự thay đổi mục đích của văn chương mà lại không thể từ bỏ tình yêu và những khát vọng văn chương
- Đó là bi kịch của 1 người không chấp nhận sự tha hoá nhưng cũng không chống nổi sự tha hoá, là bi kịch của 1 con người luôn ý thức rất rõ mình đang đánh mất mình mà không có cách nào cứu vãn, bởi “cơm áo không đùa với khách thơ”,
là bi kịch của 1 trí thức có ý thức sâu sắc về sự sống, khao khát được sống có ý nghĩa, luôn ấp ủ hoài bão được “nâng cao giá trị đời sống” bằng 1 sự nghiệp lớn lao, hữu ích nhưng lại phải chấp nhận sống vô ích trong kiếp đời thừa
- Thông qua chính những day dứt đau khổ của Hộ, Nam Cao càng khẳng định niềm tin sâu sắc vào bản chất tốt đẹp của người trí thức trung thực với những buồn vui, yêu, ghét, bởi chính những quằn quại đau đớn của Hộ trong bi kịch “đời thừa”
KL:
Miêu tả chân thực tâm trạng của Hộ trong bi kịch văn chương, Nam Cao đã gửi vào đó những trải nghiệm thấm thía của người trí thức nghèo trong xã hội cũ Qua
đó, tác phẩm không chỉ thể hiện những tư tưởng nhân đạo sâu sắc sự thương cảm trân trọng, niềm tin yêu mà còn đưa ra những tuyên ngôn tiến bộ cho sáng tác văn chương và sứ mệnh của người nghệ sĩ
ĐỀ 2: PHÂN TÍCH BI KỊCH TÌNH THƯƠNG CỦA NHÂN VẬT HỘ ĐỂ LÀM RÕ TƯ TƯỞNG NHÂN ĐẠO TRONG TRUYỆN NGẮN “ĐỜI THỪA” CỦA NAM CAO
Trang 9 MB:
- Tác giả (A.1)
- “Đời thừa” là 1 truyện ngắn tiêu biểu cho mảng sáng tác về đời sống người trí thức nghèo của nhà văn Nam Cao trước Cách mạng Thông qua việc miêu
tả chân thực bi kịch tình thương của nhân vật Hộ, Nam Cao đã đưa đến cho tác phẩm của mình những tư tưởng nhân đạo sâu sắc
TB:
Từ nỗi đau đớn dai dẳng, thầm lặng vì trở thành kẻ vô ích, Hộ đã rơi vào bi kịch thứ 2 thậm chí còn đau đớn hơn, đó là bi kịch của 1 con người coi tình thương là nguyên tắc sống cao nhất, đã hi sinh tất cả cho tình thương, vậy mà cuối cùng lại vi phạm vào lẽ sống tình thương của chính mình
1 Hộ vốn là người có tấm lòng nhân hậu, luôn đề cao lẽ sống tình thương
- Thời trẻ Hộ đã thể hiện tấm lòng nhân hậu của mình khi anh “cúi xuống nỗi đau khổ của Từ mở rộng đôi cánh tay đón lấy Từ giữa lúc Từ đau đớn không
bờ bến ”, Hộ đã “nuôi Từ, nuôi mẹ già, con dại cho Từ nhận làm bố đứa con thơ nhận Từ làm vợ ” Hộ đã làm những việc không hề dễ dàng trong hoàn cảnh kinh tế “eo hẹp, cực khổ” của anh, không dễ dàng với những quan niệm nghiệt ngã của lễ giáo và dư luận xã hội, vàng dễ dàng với những thói vị kỉ thường có của người đàn ông Như vậy, trước khi là chồng, Hộ là ân nhân đối với Từ và Hộ sung sướng bởi “hành vi đẹp” ấy, hành vi khiến anh có cảm giác mình là kẻ mạnh
- Sau này, khi đã bị áo cơm ghì sát đất, phải chấp nhận trở thành 1 kẻ vô ích,
1 người thừa đối với văn chương, những dằn vặt giằng xé của Hộ càng thể hiện rõ hơn trong trái tim nhân hậu và nguyên tắc sống tình thương của anh
+ Nỗi đau đớn trong bi kịch văn chương khiến Hộ khổ sở, bế tắc Anh hoàn toàn có thể thoát khỏi tấn bi kịch ấy, nếu “để mặc vợ con khổ sở bỏ liều ruồng rẫy chúng ” Có như thế, Hộ mới rảnh rang theo đuổi sự nghiệp văn chương, mới có thời gian thực hiện những chương
Trang 10trình hay bắt đầu cái “tác phẩm dự định từ mấy năm nay của mình” Thậm chí trong tâm trí Hộ đã lúc hiện lên câu nói hùng hồn của 1 triết gia phương Tây: “Phải biết ác, biết tàn nhẫn để sống cho mạnh mẽ” Triết lý ấy sẽ bênh vực, bào chữa cho Hộ nếu anh tự dỡ bỏ sợi dây ràng buộc của tình thương “để sống mạnh mẽ”, để hướng tới “1 tác phẩm ăn giải Nôben”, để khẳng định được giá trị cái tôi cá nhân của mình bằng 1 sự nghiệp văn chương có giá trị
+ Nhưng bất chấp sức hấp dẫn của thứ triết lý vị kỉ ấy, Hộ vẫn không đành lòng “để mặc vợ con khổ sở”, nghĩa là Hộ không thể hi sinh tình thương dẫu là vì sự nghiệp nghệ thuật mà anh mê đắm, tôn thờ, dẫu là
vì những hoài bão mà cả đời anh khao khát Hộ đã từng kiêu hãnh vì tình thương của mình khi “cúi xuống nỗi đau khổ của Từ”, trở thành chỗ dựa vững chắc cho cuộc đời Từ, anh thấy mình là kẻ mạnh khi đưa bàn tay cầm lấy bàn tay mềm yếu của Từ Với Hộ, “kẻ mạnh không phải là kẻ dẫm lên vai kẻ khác để thoả mãn sự ích kỷ, kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình Hộ không chỉ xót thương vợ con bằng 1 tình thương cảm tính, với anh, tình thương còn
là 1 tiêu chí xác định nhân cách con người, anh “Không thể bỏ tình thương” vì Hộ cho rằng nếu không có tình thương, con người chỉ là “1 thứ quái vật”
+ Thêm nữa, nghệ thuật mà Hộ tôn thờ, khao khát phải là thứ nghệ thuật thấm đẫm giá trị nhân đạo, là những tác phẩm ca tụng “lòng thương, tình bác ái, sự công bình Nó làm cho người gần người hơn” Nếu hi sinh tình thương với vợ con, những người gần gũi, thân yêu nhất bên mình thì cũng có nghĩa Hộ đã huỷ hoại chính gốc rễ nhân đạo làm nên giá trị cho những tác phẩm chân chính theo tiêu chí của