1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích chi tiết tác phẩm Vội vàng (Xuân Diệu)

14 4,3K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 274,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng tuần tháng mật không chỉ là mật ngọt của thiên nhiên hoa trái mà còn gợi những lien tưởng ngọt ngào đến những thời gian nồng nàn, ngây ngất, yêu đương tuần trăng mật của tình yêu đ

Trang 1

VỘI VÀNG

(Xuân Diệu)

A KHÁI QUÁT

1 Tác giả

45 Ông được coi là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới Hoài Thanh từng nhận xét: “Xuân Diệu là một nguồn sống dào dạt chưa từng thấy… Xuân Diệu say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình.” Yêu cuộc sống, khao khát tận hưởng cuộc sống nhưng lại luôn hoài nghi, chán nản, lo âu, luôn sợ thiếu thời gian cho tình yêu là nét đặc sắc trong cả tứ thơ Xuân Diệu

Nhưng trong đó đậm nét hơn là chất hiện đại Đây là ngòi bút đã đúc kết được tinh hoa của cả thơ phương Tây và thơ truyền thống trong tư tưởng và quan niệm thẩm mĩ

2 Tác phẩm

“Vội vàng” là một trong những bài thơ hay nhất trong tập “Thơ thơ” (1938), cũng

là thi phẩm tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Diệu Bài thơ vừa như một dòng cảm xúc

ào ạt, trào dâng, vừa như một bản tuyên ngôn mới mẻ và tích cực của một nhà thơ luôn khao khát giao cảm với cuộc đời

B TÌM HIỂU TÁC PHẨM

Đề 1 Phân tích 11 câu thơ đầu trong bài “Vội vàng” để làm sáng rõ niềm yêu đời say đắm của Xuân Diệu

 Mở bài

Trang 2

- Đoạn thơ phân tích là 11 câu thơ đầu của bài thơ, trong đó thể hiện rõ nét niềm đắm say tha thiết với cuộc sống tươi đẹp nơi trần thế

 Thân bài

1 Trong 4 câu thơ đầu, Xuân Diệu đã thể hiện ước muốn phi lý, thiết tha của niềm yêu Tác giả đã mở đầu bài thơ của mình bằng 4 câu ngũ ngôn bồng bột

và gấp gáp:

Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi

là cách tô đậm cái tôi chủ quan, cái tôi ước muốn luôn xuất hiênk trong văn học lãng mạn nói chung và trong thơ Xuân Diệu nói riêng

nhà thơ có vẻ như phũ phàng, khi đặt trong 2 cụm từ “tắt nắng”, “buộc gió”,

nó càng gợi lên sự phi lí, kì lạ đến trái tự nhiên của ước muốn Cái tôi chủ quan muốn chế ngự, chi phối những hiện tượng khách quan, vĩnh hằng, bất biến

sắc thái van nài, khẩn khoản thật tha thiết của ước muốn Thì ra nhà thơ muốn “tắt nắng” là để nắng đừng làm nhạt phai sắc màu của cỏ cây hoa lá, muốn “buộc gió” là để giữ cho hương đời không bị thổi bay Và như vậy, cả

4 câu thơ đầu thật mạnh mẽ, da diết ước muốn được say sưa, gần gũi với hương sắc cuộc đời của một trái tim yêu đời mãnh liệt

2 Nỗi lo sợ “màu nhạt, hương bay” ở 4 câu thơ đầu đã được lý giải thực sự thuyết phục bởi niềm say đắm tha thiết với vẻ đẹp của bức tranh cuộc sống nơi trần thế, đã được miêu tả thật tài hoa trong 7 câu thơ tiếp sau

Trang 3

- Đoạn thơ sau mở đầu bằng từ “của” đã xác định mối quan hệ ngữ pháp gắn kết giữa 2 đoạn, choc ho thấy “màu” và “hương” mà nhà thơ muốn nâng niu, gìn giữ ở đoạn trên chính là thuộc về ong bướm, là hoa, chim chóc… được miêu tả trong đoạn dưới

liệt kê, vừa bày tỏ niềm hân hoan sung sướng của thi nhân, vừa thể hiện sự giàu có, thừa thãi và phong phú của hương sắc cuộc đời “Này đây” vừa là

sự hiện hữu ngay trước mắt trong không gian, vừa là khẳng định sự tồn tại ngay lúc này của thời gian – vẻ đẹp cuộc đời đang hiện hữu ngay trước mắt, trong tầm tay, giữa cuộc đời thực, trong khoảnh khắc của hiện tại

được hiện ra trong lăng kính của tình yêu, được nhìn bằng đôi mắt say sưa chiêm ngưỡng, được cảm nhận bằng trái tim mê đắm, khao khát sở hữu, chiếm lĩnh, tận hưởng Hương sắc cuộc đời đã hiện lên thật hấp dẫn, sống động, gợi tình và tươi tắn trong những định ngữ nghệ thuật đặc sắc:

+ Hương sắc cuộc đời trước hết hiện ra trong tuần tháng mật của bướm, ong Nhưng tuần tháng mật không chỉ là mật ngọt của thiên nhiên hoa trái mà còn gợi những lien tưởng ngọt ngào đến những thời gian nồng nàn, ngây ngất, yêu đương tuần trăng mật của tình yêu đôi lứa – với Xuân Diệu, thời gian của cuộc đời con người luôn tràn đầy niềm yêu, sự ngọt ngào, mê đắm như trong tuần trăng mật của lứa đôi

+ Sau đó là “hoa của đồng nội xanh rì” – “Lá của cành tơ phơ phất.” Nếu tính từ “xanh rì” làm hiện lên sự mênh mông của những cánh đồng xanh, trên đó nổi bật những cánh hoa tươi thắm, những cánh hoa như sự tích

tụ tinh túy nhất của sự sống tràn trề trên đồng nội xanh thì trong câu thơ sau,

sự kết hợp tài hoa giữa từ láy “phơ phất”, cách láy vần trong những âm tiết mang tới hình ảnh của “cành tơ phơ phất” lại gợi tả những lá, cành mơn

Trang 4

mởn, non tơ nhưng cũng thật mềm mại, mong manh, yếu đuối trong gió xuân, những hình ảnh khiến ta vừa say đắm, vừa e ấp thương yêu

+ Vẻ đẹp của cuộc đời không chỉ được cảm nhận bằng thị giác mà còn hiển ra qua thính giác Tiếng chim hót qua niềm yêu của thi nhân cũng không chỉ là những thanh âm véo von, ríu rít của tự nhiên mà còn là “khúc tình si” đắm đuối của lòng người bởi “yến anh” thường là biểu tượng cho hạnh phúc lứa đôi

+ Hình ảnh ẩn dụ về “ánh sáng chớp hàng mi” là một cách biểu hiện quen thuộc trong thơ Xuân Diệu Ông thường miêu tả những hình ảnh thiên nhiên theo dáng vẻ con người, bởi quan niệm con người là chuẩn mực cao nhất của cái đẹp Với cảm nhận ấy, ánh dương buổi sáng dường như không tỏa ra từ môi trường mà hiện ra sau cái chớp mắt duyên dáng của hàng mi thiếu nữ, từ đó ánh sáng tỏa ra muôn nơi, chan chứa, tràn ngập khắp thế gian Đón ánh bình minh tình tứ tuyệt vời như thế nên nhà thơ đã cảm thấy ngày mới bắt đầu khi “thần vui hằng gõ cửa.” Chính tình yêu đời và yêu người mãnh liệt đã đem đến niềm vui sống cho thi nhân khi thức dậy mỗi ngày Hình ảnh ẩn dụ “thần vui hằng gõ cửa” đã thể hiện cảm giác hồi hộp, bồn chồn, đón đợi của lòng người cùng sự hồi thúc, đón đợi của cuộc sống bên ngoài Cảm giác của một con người yêu đời say đắm tới mức không chịu

bỏ lỡ dù chỉ một ngày, một khoảnh khắc của bình minh, của ngày mới

vời, thú vị: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.”

+ Câu thơ ngắt nhịp 3-5 khiến trọng tâm rơi vào chữ “ngon”, nhấn mạnh cảm giác thưởng thức bằng vị giác Phép ẩn dụ cảm giác đã khiến

“tháng giêng”, một phạm trù của thời gian vốn vô hình, trừu tượng đã trở nên hữu hình, cụ thể trong một sự tận hưởng say sưa của thi nhân lãng mạn Tháng giêng là tháng đấu tiên của mùa xuân, là hình ảnh hoán dụ cho mùa

Trang 5

xuân So sánh mùa xuân với “cặp môi gần” là cách so sánh táo bạo, tràn đầy nhục cảm khiến cuộc đời trở nên tuyệt diệu, quyến rũ như cặp môi người yêu ngọt ngào Tính từ “gần” đã nhấn mạnh cảm giác kề cận chào mời thật cám dỗ Tất cả đều như trong tầm tay

 Kết luận

Với nhiều phép so sánh, phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, những phép điệp tinh tế trong cả ngữ âm và từ vựng, những từ ngữ, hình ảnh giàu sức biểu cảm, tạo hình (

“Lá của cành tơ phơ phất” ), đoạn thơ đã vẽ nên hình ảnh cuộc đời tràn đầy hương thơm, màu sắc, âm thanh và nhất là niềm vui sống đầy quyến rũ Cuộc sống qua trái tim yêu và ánh mắt say đắm của thi nhân như đang lên hương, lên mật, như đang cựa quậy sinh sôi, đang phơi bày hương sắc Đó là thiên đường ngay trên mặt đất trong hiện tại, là bữa tiệc trần gian ngay trong cuộc đời này chứ không phải ở một cõi xa xăm nào khác Và đó cũng chính là nguyên nhân cho niềm yêu đời, mê đắm của thi nhân

Đề 2 Phân tích 11 câu giữa của bài thơ để làm rõ quan niệm của nhà thơ Xuân Diệu về thời gian và tuổi trẻ

 Mở bài

hiện rõ nhất quan niệm tích cực của thi nhân về thời gian và tuổi trẻ, góp phần làm rõ thêm ý nghĩa nhan đề bài thơ, cũng có nghía là làm rõ triết lý nhân sinh cùng tuyên ngôn sống mới mẻ, tích cực của thi nhân

 Thân bài

1 Cách cảm nhận về thời gian trong mối quan hệ với tuổi trẻ

Mở đầu đoạn là một câu thơ của những xúc cảm gần như tương phản:

“Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa.”

Trang 6

- Nhịp 3/5 và dấu chấm giữa dòng như một nốt lặng đột ngột, thể hiện trạng thái sững sờ, hẫng hụt của nhà thơ khi bất chợt nhận ra những tương phản trớ trêu của cuộc sống Nhà thơ yêu đời vì cuộc đời quá đẹp đẽ, niềm yêu đời khiến thi nhân sung sướng nhưng cũng chính niềm yêu ấy mà ông “vội vàng” bởi nỗi “hoài xuân.”

cuộc đời chưa trọn vẹn thì dòng thơ đã đứt lặng giữa chừng bởi nỗi lo âu cho cuộc đời ngắn ngủi, nỗi lo cho màu nhạt, hương bay bởi không thể “tắt nắng”, “buộc gió.” Với nỗi ám ảnh của một người quá yêu đời, luôn sợ thiếu thời gian cho tình yêu đời, Xuân Diệu không chờ “nắng hạ mới hoài xuân”, ông lo lắng nhớ nhung, tiếc nuối mùa xuân ngay khi đang ở giữa mùa xuân

hoàn khép kín: “Đêm hết, ngày sang, đông qua, xuân tới…” Con người là một phần của tự nhiên vũ trụ tồn tại vĩnh viễn trong vòng luân hồi cùng vũ trụ, vì thế các nhà thơ trung đại trong thơi gian bình ổn, vĩnh hằng của cổ thi luôn thanh thản, ung dung tự tác, không sợ tuổi già và cái chết:

“ Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”

( Mãn giác Thiền Sư )

của đời người Ông nhận thức sâu sắc sự đối lập giữa dòng thời gian của vô thủy vô chung của vũ trụ với quỹ thời gian ngắn ngủi, hữu hạn của đời người Thời gian của vũ trụ tuần hoàn vĩnh cửu còn thời gian của đời người lại trôi chảy theo dòng tuyệt tình, một đi không trở lại Vì thế thời gian đối với Xuân Diệu, mỗi khoảnh khắc đều quý giá vô cùng vì đến là đi, trôi qua

là mất hẳn, không thể lấy lại, cũng không thể lặp lại

Trang 7

- Cách cảm nhận ấy khiến Xuân Diệu phát hiện những điều tưởng như nghịch lý:

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già

Cấu trúc lặp được sử dụng với biện pháp điệp từ, điệp cú pháp đã làm tăng thêm ấn tượng cho sự khẳng định Còn những từ ngữ “tới – qua”, “non – già” lại tạo nên những cặp phạm trù tương phản diễn tả sự trôi chảy đổi thay, mất mát… Câu trên là sự tiếc nuối khi cảm nhận bước đi của thời gian – cũng là sự mất đi của thời gian trong từng khoảnh khắc, câu dưới là nỗi lo lắng cho cái phai tàn, héo úa, thậm chí chưa hề hiện hữu trong không gian Đến đây mùa xuân không chỉ còn là một hoán dụ cho dòng thời gian mà đã mang thêm nét nghĩa ẩn dụ cho tuổi trẻ của mỗi con người Mùa xuân là thời gian đẹp nhất của tự nhiên, tuổi trẻ là khoảnh khắc đẹp nhất của đời người, nhưng mùa xuân của đất trời thì tuần hoàn, vĩnh viễn còn mùa xuân của đời người thì “chẳng hai lần thắm lại.” Đó chính là “xuân bắt tái lai.” Với Xuân Diệu, trái tim yêu đời mãnh liệt không thể chấp nhận tuổi già, vì thế thời gian sống của ông nhất định phải gắn với mùa xuân, với tuổi trẻ, cho nên ông ngậm ngùi khẳng định: “Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.” Sự tương đồng giữa xuân hết – tôi mất, sự tương phản giữa lòng tôi rộng – lượng trời

cứ chật, đã đồng thời thể hiện cả niềm khát khao được sống trong tuổi trẻ và nỗi xót xa, lo sợ trước sự ngắn ngủi, hữu hạn của đời người

2 Những cảm nhận mới mẻ về thời gian đã dẫn đến những bâng khuâng, tiếc nuối trong không gian:

Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời

tôi nữa” khiến thi nhân đau đớn, tiếc nuối Sự tiếc nuối khiến ông cảm thấy

Trang 8

“Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi.” Thời gian đã được cảm nhận bằng cả khứu giác để thấy mùi ly biệt, vị giác để nhận ra vị chia phôi, cả thị giác khi liên tưởng đến những giọt lệ buồn khi mỗi khoảnh khắc vừa đến trong hiện tại lập tức bị đẩy vào quá khứ không thể lấy lại Dòng thời gian vì thế mà thấm đẫm hương vị của chia lìa, mất mát

những nỗi đau trong không gian Vì mỗi sự vật, mỗi con người đang lặng lẽ, ngậm ngùi tiễn biệt một phần đời của mình chia ly với tuổi trẻ và cuối cùng

là với sự sống của mình, sự chia ly tất yếu không thể cưỡng lại Quan niệm

ấy khiến Xuân Diệu cảm thấy như cả đất trời, tự nhiên, song núi, cỏ cây đều đang “than thầm tiễn biệt”, đều đang xót xa tiếc nuối, đều sợ hãi trước những chia ly, héo úa, tàn phai Hình ảnh cuộc đời tràn đầy hương thơm, màu sắc, âm thanh và niềm vui sống ở đoạn đầu đã thay bằng những chia phôi buồn thảm ở đoạn hai: Cơn gió lo âu thì thào và hờn giận vì lẽ phải bay

đi, chim chóc đang rộn rang bỗng bặt im tiếng hót, cuộc sống đang náo nức bỗng thảng thốt ngưng lặng vì nghĩ tới “độ phai tàn sắp sửa.”

thể hiện tuyên ngôn sống của mình: “Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…” “Mau đi thôi, mùa chưa ngả chiều hôm.”

+ Điệp ngữ “chẳng bao giờ” khiến câu thơ trên trở thành một lời than tiếc nuối, tựa như tiếng nức nở, nghẹn ngào vì sự “xuân bất tái lại”, vì sự chia phôi vĩnh viễn với thời gian, tuổi trẻ, với mỗi khoảnh khắc quý giá không thể lấy lại trong cuộc đời

+ Ngay sau đó là một giải pháp: “Mau đi thôi!” – Câu trúc cầu khiến mang sắc thái giục giã, cuống quýt rất quen thuộc của Xuân Diệu đã chỉ ra cách để thi nhân tận hưởng cao nhất cuộc sống – đó là sống nhiệt tình, sôi nổi, say mê, sống hết mình với người, với đời, sống vội vàng, gấp gáp khi

Trang 9

“mùa chưa ngả chiều hôm”, khi đang còn ở trong mùa xuân, trong tuổi trẻ

“Mùa” và “chiều hôm” là hai khái niệm chỉ thời gian không cùng một hệ thống, nhưng chính độ chênh giữa thời gian của một năm với thời gian của một ngày đã làm đậm thêm sự gấp gáp của một nhà thơ luôn sợ thiếu thời gian, một nhà thơ muốn tận hưởng hương vị mùa xuân trong từng giây phút mỗi ngày của mùa xuân, khi không thể “tắt nắng” hay “buộc gió” thì chỉ có cách vội vã tận hưởng hương sắc cuộc đời khi còn có thể, khi màu chưa kịp ngả, hương chưa kịp bay

+ Quan niệm ấy luôn xuất hiện trong thơ Xuân Diệu, từ những câu thơ sôi nổi mạnh mẽ: Mau lên chứ! Vội vàng lên mấy chứ! Đến những câu thơ thấm đẫm lo âu: “Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai – Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn.”

 Kết luận

Đoạn thơ với kết cấu trùng điệp, với giọng điệu gấp gáp đã thể hiện những quan niệm mới mẻ của Xuân Diệu cùng những triết lý nhân sinh tích cực, mạnh mẽ của một trái tim tha thiết, sôi nổi Những quan niệm triết lý cùng cách cảm nhận cuộc sống tích cực và tươi trẻ ấy đã góp phần khẳng định cái tôi và tâm thế con người trong cuộc đời, cái tôi của những khát khao cảm nhận, sống vội vàng trong quỹ thời gian hữu hạn của cuộc đời mình

Đề 3 Phân tích đoạn thơ cuối trong bài “Vội vàng” của Xuân Diệu để làm rõ triết lý sống mạnh mẽ của nhà thơ ( 9 câu cuối )

 Mở bài

Xuân Diệu đã thể hiện rõ nhất triết lý sống mạnh mẽ, tích cực của mình qua niềm khát khao tận hưởng cuộc đời

Trang 10

 Thân bài

1 Nhận xét chung về bài thơ

Bài thơ có thể được coi là một áng chính luận – trữ tình trong đó quan niệm sống của Xuân Diệu được thể hiện vừa khúc chiết, chặt chẽ, vừa rạo rực, đắm say Theo cấu tứ bài thơ, có thể cảm nhận ra hệ thống quan niệm nhân sinh tiến bộ của Xuân Diệu: Cuộc sống nơi trần thế như một bữa tiệc lớn với vẻ đẹp “mơn mởn, non tơ”, tràn đầy nhựa sống Con người sinh ra là để được tận hưởng hương sắc cuộc đời Vậy mà đời người lại quá ngắn ngủi, thời gian sống của mỗi con người trôi theo dòng thời gian một đi không trở lại.Triết lý trên đã được thể hiện trong hai đoạn một và hai của bài thơ Khi không thể “tắt nắng” hay “buộc gió”, không thể cất giữ hương sắc cuộc đời, cũng không thể kéo dài quỹ thời gian ngắn ngủi của cuộc đời thì con người chỉ có một cách duy nhất là sống “vội vàng”, sống hết mình Đó chính là câu trả lời đúng đắn hiện ra trong một áng văn chính luận trữ tình, khúc chiết và đầy suy tư: Vì sao phải sống vội vàng! Phải sống mãnh liệt và say mê, sống có ý nghĩa trong từng phút giây, khoảnh khắc, để được tận hưởng nhiều nhất trong quỹ thời gian ngắn ngủi, để cuộc đời trôi qua không phi nghĩa, phí hoài Đây cũng là câu trả lời cho câu hỏi thứ hai đặt ra trong đoạn cuối bài thơ: Sống vội vàng là sống như thế nào!

2 Phân tích đoạn thơ

1 Nội dung

mẽ về ý muốn được hưởng cuộc sống Đại từ “tôi” trong bốn câu thơ đầu bộc lộ ý muốn chủ quan của một cá nhân đơn lẻ đã chuyển thành đại từ “ta” như thể hiện những ý muốn lớn lao mạnh mẽ của con người khi đối diện với cuộc sống Câu thơ còn mang giá trị tạo hình khi gợi ra hình ảnh một con người với tầm vóc lớn lao đang đứng giữa cõi trần gian, dang rộng vòng tay mong được ôm trọn vẹn những cảnh sắc quyến rũ nơi trần thế Tư thế lớn lao

Ngày đăng: 17/08/2017, 17:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm