Tác phẩm - Đây thôn Vĩ Dạ lúc đầu có tên là Ở đây thôn Vĩ Dạ sáng tác năm 1938, in trong tập Thơ Điên, là một tác phẩm tiêu biểu cho hồn thơ Hàn Mặc Tử và cũng là một trong những thi ph
Trang 1ĐÂY THÔN VĨ DẠ
- Hàn Mặc Tử -
A KHÁI QUÁT
1 Tác giả
- Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) là một trong những nhà thơ lớn của phong trào Thơ mới, tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí, quê ở Quảng Bình, sinh ra trong một gia đình viên chức nghèo theo đạo Thiên Chúa
- Hàn Mặc Tử có hai mươi tám tuổi đời và là thi sĩ hoạn nạn nơi trần thế nhưng ông là một tài năng thi ca độc đáo và có sức sáng tạo mãnh liệt nhất trong phong trào Thơ mới Thế giới thơ Hàn Mặc Tử đầy những bí ẩn, phức tạp đan xen cả những gì thân thuộc trong sáng với những u ám, thê lương Thực ra đó đều là những sự phản ánh chân thực tâm hồn của một nhà thơ chan chứa yêu đời, yêu cuộc sống nhưng số phận lại quá bất hạnh và nghiệt ngã Vì thế trong thơ ông luôn tồn tại đồng thời cả tình yêu đời mãnh liệt cùng nỗi đau đớn quằn quại khi phải chia lìa xa cách với cuộc đời
- Những tác phẩm chính: Gái quê (1936), Thơ Điên (1938 – sau đổi tên là Đau thương), Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên (1939)…
2 Tác phẩm
- Đây thôn Vĩ Dạ (lúc đầu có tên là Ở đây thôn Vĩ Dạ) sáng tác năm 1938, in trong tập Thơ Điên, là một tác phẩm tiêu biểu cho hồn thơ Hàn Mặc Tử và cũng là một trong những thi phẩm xuất sắc của thơ Việt Nam hiện đại
- Thôn Vĩ Dạ nằm ở ngoại vi thành phố Huế, bên bờ sông Hương Làng có những ngôi nhà xinh xắn ẩn hiện giữa những vường cảnh, cây trái xum xuê
và rất đẹp Theo tài liệu của một số nhà nghiên cứu, bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ được gợi cảm hứng từ mối tình đơn phương của Hàn Mặc Tử và một cô gái
Trang 2năm vào Sài Gòn làm báo, Hàn Mặc Tử trở lại Quy Nhơn thì Hoàng Cúc đã theo gia đình về ở Vĩ Dạ Một buổi kia, cô gái Huế do sự gợi ý của người em thúc bá (bạn của Hàn Mặc Tử) gửi vào cho nhà thơ một tấm bưu ảnh chụp phong cảnh sông nước có thuyền và bến kèm theo mấy lời hỏi thăm để an ủi nhà thơ lúc này đã mắc căn bệnh hiểm nghèo Sau đó, Hoàng Thị Kim Cúc nhận được bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ do Hàn Mặc Tử tặng kèm theo mấy dòng cảm tạ chân thành Như vậy, tấm ảnh phong cảnh và lời thăm hỏi Hoàng Cúc đã gợi cảm hứng cho Hàn Mặc Tử viết bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, thể hiện tình yêu thầm kín và tâm trạng của mình trong cảnh ngộ éo le, bất hạnh
B TÌM HIỂU TÁC PHẨM
ĐỀ 1: Phân tích khổ đầu bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử
MB:
- Tác giả, tác phẩm
- “Đây thôn Vĩ Dạ” là bài thơ hay nhất của Hàn Mặc Tử trong tập “Thơ Điên” (1938) Khổ đầu là những hoài niệm của tác giả về cảnh và người thôn Vĩ cùng niềm say mê yêu đời rạo rực của nhà thơ
TB:
- “Đây thôn Vĩ Dạ” được viết khi nhà thơ từ Sài Gòn trở lại Quy Nhơn và biết
rõ mình đã mắc căn bệnh hiểm nghèo Ở đây ông nhận được lá thư thăm hỏi chân tình của Hoàng Thị Kim Cúc kèm theo một số tấm ảnh phong cảnh sông nước có thuyền và bến Lời thư của người thiếu nữ mà một thời ông đã thầm yêu trộm nhớ
đã làm ông xúc động mạnh, khơi nguồn cho bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”ra đời
- Bài thơ 3 khổ, 12 dòng, mới đọc tưởng như là đơn giản, nhưng thật ra giống như nhiều bài thơ khác của Hàn Mặc Tử, bài thơ này thật không dễ hiểu Nó không đơn thuần là một bài thơ tả cảnh thôn Vĩ Giữa câu thơ này với câu khác, giữa khổ
Trang 3thơ nọ với khổ thơ kia có cảm giác như đứt đoạn, như chẳng liên hệ gì với nhau
Từ trong mạch sâu của cảm xúc, trong toàn khối ý tứ thì đây là một bài thơ gửi gắm cả bầu tâm sự của nhà thơ bất hạnh, tha thiết gắn bó với con người, với cuộc đời, với cuộc đời, mà giờ đây cảm thấy bệnh tật hiểm nghèo sắp chia lìa ông với tất
cả
- Bài thơ mở ra với ý vui tươi, trong trẻo ở cảnh, ở tình, gắn với thôn Vĩ Dạ cụ thể Sang khổ thơ thứ hai, ý thơ thoắt đã trở nên “buồn thiu”, và cảnh như trong mộng ảo Đến khổ thơ thứ ba, hình ảnh trở nên xa vời, mờ ảo trong sương khói, và xuất hiện nỗi buồn thương tiếc nhớ như trong một mối tình tuyệt vọng
- Đây thôn Vĩ Dạ, cái tên của bài thơ nghe như một tiếng chào mời, một lời giới thiệu, và bài thơ đã bắt đầu từ ý thư của Hoàng Cúc: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” Câu thơ nghe như một lời trách, nhưng có lẽ là trách yêu và người bị trách cảm thấy rất hạnh phúc khi được trách Hố sâu ngăn cách giữa Hàn Mặc Tử với mọi người vì bệnh tật hiểm nghèo khiến cho nhà thơ vô cùng cô đơn, tuyệt vọng Nay lại có người quan tâm thăm hỏi chân thành, người đó lại là người mình thầm yêu trộm nhớ, thậm chí còn “Dám ôm hồn cúc ở trong sương” Trong nỗi xúc động mãnh liệt, lập tức kỉ niệm thôn Vĩ xa xưa hiện về, bừng sáng và sống động Đây là thôn Vĩ Dạ tươi đẹp, êm đềm trong kí ức của Hàn Mặc Tử Đây là thôn Vĩ được ngắm nhìn bởi “cặp mắt xanh non” và “cái nhìn biếc rờn”, một thưở trong trắng yêu đời của chàng thi sĩ Hàn Mặc Tử Cho nên “nắng” như là nắng cõi thần tiên “nắng hàng cau nắng mới lên”, nó rất sáng, rất tươi bởi vì sương còn đọng đẫm trên lá cau, thân cau của thôn Vĩ Dạ Cây cau thường đứng cao nhất trong vườn nên mới đón được ánh hồng ban mai rực rỡ để rực sáng lên Nhưng đây cũng
là ánh nắng đầu đời của buổi thanh xuân nên nó lưu lại trong tâm hồn thi sĩ một kỉ niệm không thể nhạt phai Phải chăng đó là cái nắng rất sáng, rất tươi mà có lần Xuân Diệu đã thốt lên: “Tôi muốn tắt nắng đi – Cho màu đừng nhạt mất”
Trang 4Có lẽ đây cũng là “nắng mới” được nhắc tới hai lần trong bài thơ cùng tên của thi
sĩ Lưu Trọng Lư:
- Mỗi lần nắng mới hắt bên song, Xao xác gà trưa gáy não nùng
- Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi
Nắng kỉ niệm được nhắc tới hai lần “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên” làm bừng sáng cả câu thơ và nghe như tiếng reo vui Vườn cây thôn Vĩ Dạ trong “nắng mới”, trong kí ức và kỉ niệm cũng đẹp như tiên cảnh với lá ngọc cành vàng: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” Hai từ “mướt quá” làm cho câu thơ như một tiếng reo vui, trầm trồ thích thú Thực tế màu xanh của lá có thể “mướt quá”, long lanh dưới ánh nắng, nhưng không thể “xanh như ngọc” Đây vẫn là màu xanh trong kí ức, trong kỉ niệm của tuổi thanh xuân nên mới trong trẻo đến thế Thưở xưa có chàng thi sĩ trẻ trung, thiết tha gắn bó với đời, với người, chưa hề vương chút mặc cảm bệnh tật đau thương nên nhìn cảnh thôn Vĩ Dạ thấy cái gì cũng rực sáng, long lanh Câu thơ có một từ “ai” nghe thật thiết tha “Vườn ai” có thể là vườn nhà ai đó, nhưng “vườn ai” cũng có thể là vường của nhà người mình yêu, ở đó lưu giữ nhiều
kỉ niệm như vườn Thúy từng lưu giữ bao kỉ niệm đẹp giữa Thúy Kiều và Kim Trọng Cảnh thì đẹp thần tiên, người thì thật thân thiết, cho nên tình cảm với thôn
Vĩ thật đằm thắm Ẩn hiện sau khóm trúc, thấp thoáng trong “vườn ai” là khuông
“mặt chữ điền” thật hiền hậu
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Những câu thơ của Hàn Mặc Tử giàu chất tạo hình, hài hòa màu sắc, đường nét, ánh sáng, mảng khối: trước mắt chúng ta là bức tranh chân dung Chiếc lá trúc che ngang làm cho khuôn mặt chữ điền phúc hậu, hiền hòa trở nên dễ mến thương
Trang 5- Biết rõ hoàn cảnh đau thương của Hàn Mặc Tử lúc viết bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”, người đọc cảm động, xót thương và yêu quý ông hơn Có cảm giác sau mỗi hình ảnh đẹp về cảnh, về người thôn Vĩ Dạ là những nỗi đau mà ông nén chịu để
cố gắng bám lấy sự sống tươi đẹp Kể từ khi bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ ra đời đến nay, nhiều thế hệ bạn đọc biết và yêu thương một vùng quê trù phú, cây trái, vườn tược bốn mùa xum xuê tươi tốt ngọt lành, con người hiền hòa, phúc hậu Đằng sau cảnh thiên nhiên mỹ lệ ấy ẩn hiện một tấm lòng yêu đất nước quê hương Đoạn thơ
mở đầu Đây thôn Vĩ Dạ không chỉ là nỗi nhớ thương tha thiết của nhà thơ về một vùng đất thơ mộng mà còn là những khát khao hướng tới cái đẹp của cuộc đời, cái đẹp của tình người, đành rằng nó thấp thoáng, chập chờn, xa xôi, mờ ảo
KL:
Khổ thơ đầu là một bức tranh tuyệt đẹp của cuộc sống nơi trần thế, trong bức tranh thực tế, cảnh trong sáng, non tơ, tràn đầy sức sống; người thuần hậu chất phác, đáng yêu Thấm đẫm trong khổ thơ là những tiếng reo vui trầm trồ ngưỡng mộ, là cảm hứng rạo rực đắm say, tha thiết của thi nhân Đó là thế giới của cõi thực nhưng lại chỉ hiện lên trong ký ức của nhà thơ nên nó được soi chiếu trong màu sắc và ánh sáng của tình yêu, nỗi nhớ thương và nhất là cảm giác ngậm ngùi nuối tiếc khi cõi thực tuyệt đẹp, mơn mởn, tươi tắn đến nguyên sơ ấy không bao giờ còn có mình, không bao giờ còn thuộc về mình Với hình ảnh một khu vườn của xứ Huế, khổ thơ đầu của Đây thôn Vĩ Dạ đã thể hiện đồng thời cả tình yêu mãnh liệt và thấp thoáng niềm tiếc nhớ cuộc đời của một thi nhân tài hoa, bất hạnh
ĐỀ 2: Phân tích khổ 2 bài “Đây thôn Vĩ Dạ”
MB:
- Tác giả (A.1)
Trang 6- Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ hay nhất của Hàn Mặc Tử được in trong tập “Thơ Điên” (1938) Toàn bộ thi phẩm có thể coi là một tiếng lòng vừa thiết tha, mê đắm, vừa đau đớn, tuyệt vọng của một thi nhân da diết yêu đời mà phải chia lìa, cách biệt với cuộc đời Khổ thơ thứ 2 chính là bức tranh tâm cảnh và thế giới ở cõi ước
mơ trong niềm yêu nhớ và nuối tiếc vô cùng của nhà thơ với cuộc đời
TB:
Bắt đầu từ khổ 2, mạch thơ đã có sự thay đổi về cảnh và tình Nếu khổ 1 là một cõi nhân gian ăm ắp với sự sống, mướt mát sắc màu, rưng rưng một vẻ đẹp mơn mởn, trinh nguyên, trong sáng thì khổ 2 là một vũ trụ lạc điệu, vô sắc, vô hương Nếu khổ 1 là giọng thơ ấm áp, nồng hậu, mời chào với những chờ mong, những khát khao gặp gỡ (dẫu chỉ là tưởng tượng của thi nhân!) thì khổ sau là không khí ảm đạm thê lương của những xa cách, chia lìa
1 2 câu đầu dường như cũng là một bức tranh phong cảnh với đủ cả gió, mây, sông, nước:
“Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”
- Trước hết tiết tấu của 2 câu thơ gợi ra nhịp điệu nhẹ nhàng, êm ả và đượm buồn rất đặc trưng cho Huế: gió thổi nhẹ, mây bay chậm, dòng nước lững lờ trôi, hoa bắp bên bờ cũng chỉ khẽ lay động…
- Nhưng câu thơ đầu: “Gió theo lối gió, mây đường mây” có lẽ không chỉ để
tả cảnh, từ hình ảnh đến giọng điệu còn gợi lên một cảm giác buồn bã hiu hắt Thông thường, gió mây gắn kết bởi gió thổ, mây bay, vậy mà trong bức tranh thiên nhiên của Hàn Mặc Tử, những cái tưởng như không thể chia lìa, xa cách lại xa cách, chia lìa – gió một đường, mây một nẻo Nhịp ngắt 4/3 với chữ “gió”, “mây” riêng rẽ ở từng vế câu đã tạo ra cảm giác có một sự ngăn cách, chia lìa thật quyết định Từ sự phi lý về hiện tượng tự nhiên, Hàn Mặc Tử đã thể hiện những hợp lý
Trang 7của tâm trạng trong cảnh ngộ của một con người gắn bó tha thiết với đời lại vĩnh viễn phải xa cách cuộc đời Thiên nhiên đã nhuốm màu tâm trạng con người, hay đúng hơn thiên nhiên chỉ là những hình ảnh được nhà thơ nhắc đến để gửi gắm tâm trạng và cảnh ngộ của chính bản thân mình
- Câu thơ thứ 2 miêu tả dòng sông Hương và hoa bắp ven bờ: “Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”
+ Phép nhân hóa trong hình ảnh: “dòng nước buồn thiu” vừa làm hiện lên một dòng sông phẳng lặng như ngưng trệ, không trôi chảy, vừa gợi tả một nỗi buồn như đọng từ xa xưa, một nỗi buồn da diết trong thời gian được nhà thơ làm hiện lên từ không gian
+ Vế sau của câu thơ cho thấy cảnh có hoa, có gió nhưng chỉ là một thứ hoa bắp nhợt nhạt, rũ buồn, vô sắc vô hương và một thứ gió uể oải, vô hồn Động từ “lay” coh thấy gió thật nhẹ, thật buồn trong cái lay động khẽ khàng của hoa, nhưng có lẽ cũng chính nhờ chút gió xao xác mà cái buồn bã, tĩnh lặng, hiu hắt của thiên nhiên xứ Huế được hiện hữu rõ ràng
- 2 câu thơ đầu vẽ nên một không gian hoang vắng, chia lìa trong môtj thế giới như ngưng trệ, cảnh vật hờ hững, lạnh lẽo với con người, bức tranh phong cảnh đã trở thành bức tranh tâm cảnh, thiên nhiên như đã không còn là đối tượng miêu tả mà trở thành phương tiện biểu hiện cõi lòng u ám, buồn bã của con người
2 2 câu sau:
Không tìm thấy sự đồng cảm ấm áp trong cuộc đời thực với gió, mây, sông nước bởi tất cả đều hờ hững, lạnh lẽo, chia lìa, lòng khao khát yêu đời, nhớ đời đã đưa thi sĩ lãng mạn đến với thế giới của cõi mơ với các câu hỏi khắc khoải:
“ Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”
Trang 8- Nếu cõi thực trong khổ 1 trong trẻo, tươi tắn, rực rỡ với ánh nắng ban mai thì thế giới mộng ảo của khổ 2 tràn ngập ánh trăng; nếu ánh trăng ấm áp chiếu rọi trong không gian đem lại sinh khí rạo rực cho cuộc sống nơi trần thế thì ánh trăng khiến vạn vật mờ ảo, nhạt nhòa, lạnh lẽo, như thực như mơ Trong thế giới của cõi mộng, trong cảm giác mông lung của thi nhân, sông trở thành “sông trăng”, bến trở thành “bến trăng”, thuyền trở thành “thuyền chở trăng” và cả bóng người cũng trở thành hình ai thấp thoáng nhòa mờ trong trăng
- Hình ảnh “sông trăng” có thể hiểu là ánh trăng chan chứa trên dòng sông, cũng có thể hiểu là ánh trăng trên trời cao tuôn chảy thành dòng sông trăng lai láng khắp thế gian Tuy nhiên dù hiểu theo cách nào thì dòng sông Hương của xứ Huế qua cảm nhận của thi nhân lãng mạn đã từ cõi thực chảy trôi về cõi mộng
- 2 câu thơ đựng trong đó ít nhất 2 câu hỏi da diết, đau đáu về một cõi mơ đẹp huyền ảo, ngập tràn sắc trắng cứu rỗi vốn luôn xuất hiện trong thế giới nghệ thuật của thơ Hàn Mặc Tử
+ Người xưa chán đời mong thoát tục ở cõi mơ tiên (Muốn làm thằng Cuội – Tản Đà), Hàn Mặc Tử khao khát sống, khao khát yêu đời lại phải chia lìa cách biệt với cuộc đời trong một thực tại nghiệt ngã nên ông chỉ còn cách miên man dõi theo bóng ai trong ánh trăng huyền ảo, bấu víu vào cõi mộng
để tưởng tượng như đang được trở lại với đời
+ Cách diễn đạt phiếm chỉ trong câu hỏi thứ 1: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó” tạo ra một cảm giác thật tội nghiệp: dường như nhà thơ đang bị vây bọc trong một thế giới tăm tối, lạnh lẽo, chới với, vọng hỏi một ai đó ở thế giới bên ngoài, một thế giới đẹp đẽ, huyền diệu, lai láng ánh trăng – một câu hỏi da diết bởi khát khao và đau đớn bởi vô vọng
Trang 9+ Chữ “kịp” trong câu hỏi thứ 2 thấm thía một nỗi tiếc nuối xót xa khi biết là không bao giờ kịp nữa trong quỹ thời gian ngắn ngủi Vậy mà Hàn Mặc Tử vẫn cố hỏi khiến câu hỏi vừa gấp gáp, bồn chồn trong niềm khao khát được trở về, được gặp gỡ và giao cảm vừa chua xót bất lực vì biết rằng hỏi chỉ để hỏi, để tiếc, để tự mình dày vò mình hơn trong vô vọng Cụm từ “tối nay” càng làm tăng thêm ý nghĩa và những cảm xúc ấy khi “tối” là khoảng thời gian cuối cùng của một ngày, “tối nay” lại mang ý nghĩa xác định khiến quỹ thời gian của người càng ngắn ngủi – chỉ còn tối nay – chỉ có tối nay – chỉ còn tối nay nữa thôi, trăng không thể về kịp và thi nhân sẽ vĩnh viễn chìm sâu trong bóng tối
KB:
Sự thay đổi bút pháp miêu tả trong khổ 2 từ tiết tấu, giọng điệu cho đến nghệ thuật
ẩn dụ cùng những hình ảnh khách quan được soi chiếu qua tâm trạng của chủ thể trữ tình đã làm hiện lên thế giới của cõi mơ với cảm giác chia lìa xa xôi cùng niềm khát khao tuyệt vọng được trở về với cõi thực, với cuộc đời mà nhà thơ nhớ và yêu tha thiết Tình yêu và nỗi đau đớn đã được Hàn Mặc Tử thể hiện chân thực, thấm thía qua từng chi tiết ngôn từ của khổ thơ
ĐỀ 3: Phân tích khổ 3 “Đây thôn Vĩ Dạ”
MB:
- Tác giả: A – 1
- Tác phẩm: Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ hay nhất của Hàn Mặc Tử trong tập
“Thơ điên” (1938), bài thơ gồm 3 khổ Khi không còn ánh nắng ấm áp của quá khứ trong khổ 1, cũng không còn ánh trăng mộng ảo cùng những tiếc nuối khao khát trong hiện tại buồn bã của khổ 2, thi sĩ đã đưa người đọc đến
Trang 101 cõi xa xăm, mờ nhòa sương khói của khổ cuối, đó là thế giới hư vô rợn ngợp, nơi thi nhân đang chới với trong hiện tại, sắp chìm rơi trong tương lai
TB:
1 Câu thơ đầu tạo cảm giác như nhà thơ dù vô vọng vẫn cố bám víu vào thế giới của cõi mơ
“Mơ khách đường xa, khách đường xa”
- Chữ “mơ” đầu câu vừa thể hiện niềm mong ước cháy bỏng của thi nhân muốn được cảm nhận, gần gũi với những hình bóng của con người và cuộc đời nơi trần thế, dù tất cả như đã theo con thuyền trăng rời bỏ bến sông trăng nhưng chữ “mơ” cũng là hình ảnh cuộc đời đang nhòa dần trong cõi khác, cõi thật xa vời với nhà thơ
- Điệp ngữ “khách đường xa” và âm tiết mở ở cuối 2 vế câu như tái hiện hình ảnh con người nơi trần thế đang xa dần, mờ khuất dần trong cái nhìn, tiếc nuối, vô vọng của thi nhân Nếu ở vế đầu trong cái nhìn tiếc nuối, vô vọng của thi nhân Nếu ở vế đầu bóng người còn gắn tới một chữ “mơ” thì tới vế sau chỉ còn “khách đường xa” chơ vơ, hẫng hụt, tạo cảm giác như khi thi sĩ tỉnh mộng ngơ ngác, buồn bã trước thực tại cô độc lạnh lẽo của riêng mình
2 Câu thơ thứ 2 đem đến nhiều cách hiểu:
“Áo em trắng quá nhìn không ra”
- Có thể hiểu là cảm hứng ngưỡng mộ, ngợi ca theo cách cực tả của Hàn Mặc
Tử như “vườn ai mướt quá”, cùng với “vườn nắng, sông trăng, thuyền trăng…”, hình ảnh “Áo em trắng quá” đã tạo ra một không gian đầy ánh sáng khiến nhà thơ khao khát, đam mê
- Tuy nhiên, hình ảnh “áo trắng quá” còn có mối quan hệ nhân quả với cụm từ
“nhìn không ra” của vế sau khiến câu thơ có thể hiểu theo cách khác: Trong màn sương khói mơ hồ của cả khổ thơ, trong sự nối tiếp cảm giác chơ vơ tỏa