Vì vậy, việc nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân khi tham gia giải quyết vụ án dân sự tại tòa án cấp sơ thẩm phù hợp với thực tiễn, vừa để bảo đảm nguyên tắc pháp chế
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ NGHIỆP
ĐỀ TÀI
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự
và thực tiễn thực hiện tại các Tòa án trên địa bàn
thành phố Hải Phòng
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ NGHIỆP
ĐỀ TÀI
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự
và thực tiễn thực hiện tại các Tòa án trên địa bàn
thành phố Hải Phòng
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60380103
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Thị Huyền
Hà Nội - 2017
Trang 3riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả Luận văn
Nguyễn Thị Nghiệp
Trang 4HĐXX Hội đồng xét xử
Trang 5Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA HỘI
THẨM NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 6
1.1 Khái niệm Hội thẩm nhân dân; nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự 6
1.1.1 Khái niệm Hội thẩm nhân dân 6
1.1.2 Khái niệm nhiệm vụ của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự 7
1.1.3 Khái niệm quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự 9
1.2 Vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự 10
1.3 Cơ sở khoa học của việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự 14
1.3.1 Cơ sở lý luận 14
1.3.2 Cơ sở pháp lý 16
1.3.3 Cơ sở thực tiễn 18
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự 22
1.5 Lược sử hình thành và phát triển các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự Việt Nam 26
1.5.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1950 27
1.5.2 Giai đoạn từ năm 1950 đến trước khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 có hiệu lực 28
1.5.3 Giai đoạn từ sau khi có Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
Chương 2 NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA HỘI THẨM NHÂN DÂN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ HIỆN HÀNH 32
2.1 Nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự 32
2.1.1 Mục đích của việc nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự của Hội thẩm nhân dân 33
Trang 636
2.1.3.2 Nghiên cứu về thủ tục tố tụng 38
2.1.3.3 Nghiên cứu về nội dung vụ án 38
2.2 Đề nghị Chánh án Tòa án, Thẩm phán ra các quyết định cần thiết thuộc thẩm quyền 42
2.3 Tham gia Hội đồng xét xử vụ án dân sự 43
2.4 Tiến hành các hoạt động tố tụng và ngang quyền với Thẩm phán khi biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử 45
2.4.1 Tiến hành các hoạt động tố tụng khi bắt đầu phiên tòa 45
2.4.2 Tham gia hỏi tại phiên tòa 50
2.4.3 Tham gia điều khiển tranh luận và đối đáp tại phiên tòa 52
2.4.4 Tham gia nghị án, tuyên án 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55
Chương 3 THỰC TIỄN THỰC HIỆN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA HỘI THẨM NHÂN DÂN TẠI CÁC TÒA ÁN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 56
3.1 Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân tại các Tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng 56
3.1.1 Thành phần Hội thẩm nhân dân trên địa bàn thành phố Hải Phòng 56
3.1.2 Kết quả đạt được và những hạn chế trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân tại Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hải Phòng 58
3.1.2.1 Đối với việc nghiên cứu hồ sơ vụ án 61
3.1.2.2 Đối với việc đề nghị Chánh án Tòa án, Thẩm phán ra các quyết định cần thiết 64
3.1.2.3 Đối với việc tham gia Hội đồng xét xử vụ án dân sự 65
3.1.2.4 Đối với việc tiến hành các hoạt động tố tụng và ngang quyền với Thẩm phán khi biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử 67
Trang 73.2.1 Kiến nghị về hoàn thiện pháp luật 77 3.2.2 Kiến nghị bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân 83
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86 KẾT LUẬN 87
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Khái quát về đề tài và tính cấp thiết của đề tài
Ngày 02-6-2005 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW “Về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020” đã xác định Toà án là trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm trong nhiệm vụ của cải cách tư pháp Thực hiện tinh thần Nghị quyết này, lần đầu tiên Hiến pháp năm 2013 của nước ta quy định một cách rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ của Tòa án nhân dân là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Sự hiện diện của tư pháp, mà rõ nhất là các Tòa án, nhân danh pháp luật, nhân danh nhà nước
có quyền lực tối cao bằng việc đưa ra những phán quyết cuối cùng để phân định các tranh chấp dựa trên quy định của pháp luật một cách công khai và về nguyên tắc nó mang tính bắt buộc phải được thực thi
Cũng tại Nghị quyết này, Bộ Chính trị đã xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược là “Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ
tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp, theo hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý, nâng cao và cụ thể hóa tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội đối với từng loại cán bộ, tiến tới thực hiện chế độ thi tuyển đối với một số chức danh” Nhiệm
vụ trên đã và đang đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với công cuộc cải cách tư pháp đó
là phải xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp trong đó có Hội thẩm nhân dân phải thực sự đủ về số lượng, mạnh về chất lượng nhằm phục vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trong những năm qua, thông qua việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được Hiến pháp và pháp luật quy định, Hội thẩm nhân dân đã có sự đóng góp không nhỏ trong việc giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án, đặc biệt là trong những năm gần đây, các tranh chấp về dân sự tăng cả về số lượng và sự phức tạp Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, trong quá trình xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự cũng phát sinh nhiều vướng mắc, bất cập ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân Từ đó làm ảnh
Trang 9hưởng trực tiếp đến hoạt động xét xử của Tòa án, đến quyền, lợi ích của Nhà nước và nhân dân
Vì vậy, việc nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân khi tham gia giải quyết vụ án dân sự tại tòa án cấp sơ thẩm phù hợp với thực tiễn, vừa để bảo đảm nguyên tắc pháp chế, vừa để xem xét xây dựng các quy định, chế độ đối với Hội thẩm nhân dân phù hợp với vị trí, vai trò của họ trong tố tụng dân sự, góp phần thực hiện đúng mục tiêu, quan điểm cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước
Để làm rõ các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự và thông qua thực tiễn việc thực hiện các quy định đó để đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thện quy định của pháp luật và bảo đảm cho các quy định đó được thực hiện hiệu quả trên thực tế, tác giả lựa chọn
nghiên cứu đề tài “Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện tại các Tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Dưới góc độ nghiên cứu luật học, đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về chế định Hội thẩm nhân dân cũng như nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân được đăng trên các tạp chí và trong các luận văn, tiêu biểu
phải kể đến là: Bài viết “Quyền và nghĩa vụ của Hội thẩm theo quy định của
pháp luật hiện hành và những vấn đề đặt ra” của PTS Phạm Văn Lợi đăng trên
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 8/1999, bài viết “Đổi mới chế định Hội thẩm,
nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án” của tác giả Nguyễn Tất Viễn đăng
trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 01/2000, bài viết “Một số vấn đề về quyền
và nghĩa vụ của Hội thẩm Tòa án nhân dân” của tác giả Lê Thu Hà đăng trên
Tạp chí Tòa án nhân dân số 23/2009, bài viết “Mấy ý kiến về đổi mới, nâng cao
hiệu quả hoạt động của Hội thẩm” của ThS.Hoàng Hùng Hải đăng trên Tạp chí
Tòa án nhân dân 6/2005
Bên cạnh đó, còn có một số công trình nghiên cứu khác có liên quan tới Hội thẩm nhân dân, nhiều nhất là các luận văn thạc sĩ nghiên cứu về đề tài
“Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” của nhiều tác giả khác nhau, các đề tài về “Chế định Hội thẩm
Trang 10nhân dân”
Những công trình trên đã đưa ra được một số vấn đề lý luận cơ bản về vị trí, vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự, đồng thời cũng chỉ ra một số hạn chế, bất cập trong các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân và trong quá trình thực hiện các quy định này trên thực tiễn Các tác giả đã chỉ ra được việc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân không được tuân thủ thực hiện trên thực tế, những đảm bảo về mặt pháp luật và thực tiễn cho Hội thẩm nhân dân thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình còn thiếu và đưa ra một số lý giải cho vấn đề này; cùng với đó các tác giả cũng đưa ra một số giải pháp khắc phục
Tuy nhiên, các công trình, bài viết vẫn chưa nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự; quyền hạn của Hội thẩm nhân dân nên quy định đến đâu, việc tổ chức, quản lý đoàn Hội thẩm như thế nào để sự tham gia của nhân dân trong hoạt động xét xử các vụ án dân sự không mang tính hình thức, đồng thời nâng cao chất lượng các bản án, quyết định của Tòa án
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự Việt Nam theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cũng như việc thực hiện các quy định đó trên thực tế tại các Tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn được giới hạn trong các vấn đề sau:
- Nghiên cứu vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân; sự cần thiết phải có Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự
- Nghiên cứu sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự
- Nghiên cứu nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành Thông qua thực tiễn thực hiện các quy định này tại các Tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng để đánh giá sự phù hợp của các quy định của pháp luật, từ đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao tinh thần trách nhiệm, hiệu quả hoạt động của Hội thẩm nhân dân trong việc giải quyết các vụ án dân sự
Trang 114 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
Mục tiêu của Luận văn là nghiên cứu một cách có hệ thống về mặt lý luận
và thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự tại Tòa án hai cấp thành phố Hải Phòng để giải quyết những vướng mắc
về mặt lý luận, khắc phục những hạn chế trong các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân, qua đó nâng cao hiệu quả xét xử của Hội thẩm, góp phần tăng cường năng lực xét xử của Tòa án - một khâu quan trọng trong cải cách tư pháp
Từ mục tiêu đó, nhiệm vụ của Luận văn là: Làm rõ khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân; tìm hiểu, so sánh với nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân một số quốc gia khác khi giải quyết
vụ án dân sự sơ thẩm; từ việc nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân, Luận văn đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm cho Hội thẩm nhân dân thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa
vụ và trách nhiệm trên thực tế
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt hiệu quả tốt trong việc giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, trong Luận văn tác giả sử dụng hệ thống phương pháp lịch sử, so sánh, phân tích các quy phạm pháp luật có liên quan kết hợp với thực tiễn, dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nền
tư pháp của dân, do dân và vì dân Đây là những công cụ hữu hiệu và phù hợp để tiếp cận, xem xét, đánh giá, phân tích và xây dựng những cơ sở lý luận cho các
đề xuất, giải pháp được nêu ra trong Luận văn
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu riêng biệt và chuyên sâu về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự Việt Nam theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và thực tiễn thực hiện tại các Tòa
án trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Những đóng góp của Luận văn được thể hiện trên những phương diện sau đây:
Trang 12- Làm sáng tỏ nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành
- Là công trình nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực trên, do vậy, Luận văn
đã chỉ ra được những hạn chế của pháp luật và bất cập trong thực tiễn thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự Việt Nam
- Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, Luận văn đề xuất hoàn thiện tổng thể quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân; các chính sách, chế độ đãi ngộ đối với Hội thẩm nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Hội thẩm
7 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn được chia làm 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm
nhân dân trong tố tụng dân sự
Chương 2: Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân theo quy định
của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành
Chương 3: Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân
dân tại các Tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng và một số kiến nghị
Do những nguyên nhân chủ quan và khách quan nên việc thu thập tài liệu liên quan đến đề tài còn hạn chế, một số vấn đề có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân tác giả vẫn chưa có điều kiện nghiên cứu sâu hơn và không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được
sự góp ý, sửa chữa của các thầy, cô để Luận văn được hoàn thiện hơn
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA
HỘI THẨM NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1 Khái niệm Hội thẩm nhân dân; nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự
1.1.1 Khái niệm Hội thẩm nhân dân
Theo từ điển Tiếng Việt, Hội thẩm là “đại biểu nhân dân hoặc đại biểu quân nhân cùng ngồi xử án với các Thẩm phán”1
Theo khoản 2 Điều 7 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân thì: “Chế độ bầu Hội thẩm nhân dân được thực hiện đối với Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương Chế độ cử Hội thẩm quân nhân được thực hiện đối với Tòa án
quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực”
Như vậy, Hội thẩm tham gia xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa
án nhân dân địa phương thì gọi là Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm tham gia xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự thì gọi là Hội thẩm quân nhân Hội thẩm nhân dân là “người do Hội đồng nhân dân bầu ra trong một thời gian nhất định cùng với Thẩm phán làm nhiệm vụ xét xử các vụ án xảy ra ở địa phương”2
Với quy định của pháp luật, để một người có thể được bầu làm HTND, đòi hỏi phải đáp ứng những điều kiện nhất định HTND phải là những công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết, trung thực, có kiến thức pháp lý, có sức khỏe đáp ứng những tiêu chuẩn của người Hội thẩm và được nhân dân tin tưởng, tín nhiệm thì sẽ được bầu làm HTND
Vậy, có thể nói Hội thẩm nhân dân là những cá nhân có uy tín trong
xã hội, có đủ điều kiện để trở thành Hội thẩm nhân dân, được Hội đồng nhân dân bầu ra để cùng Thẩm phán thực hiện hoạt động xét xử của Tòa án
Trang 141.1.2 Khái niệm nhiệm vụ của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân
sự
Với tư cách là cơ quan thực hiện chức năng tư pháp và xét xử của một nhà nước, Tòa án luôn có một vị thế hết sức đặc biệt Cùng với lập pháp, hành pháp thì tư pháp được hiểu là quyền xét xử hoặc để chỉ một nhánh quyền lực nhà nước phụ trách công việc xét xử và bảo vệ pháp luật Nhằm để cho các phán quyết của Tòa án được đưa ra đúng pháp luật, thể hiện sự công bằng, dân chủ nên vấn đề
có Hội thẩm hay Bồi thẩm đoàn, Phụ thẩm tham gia HĐXX cùng với Thẩm phán luôn được quan tâm, ghi nhận và thực hiện ở các nhà nước khác nhau
Từ xa xưa, người Hy Lạp cổ đại đã có Hội thẩm tham gia xét xử và việc
có nhiều hay ít Hội thẩm tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của phiên tòa, nhưng bao giờ cũng là số lẻ Tại Mỹ sự tham gia của người dân vào hoạt động xét xử cũng được quy định khá chặt chẽ thông qua Bồi thẩm đoàn, còn ở Nhật Bản khi xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm nghiêm trọng thì HĐXX bao gồm 3 Thẩm phán và 6 HTND3
Thực tiễn cho thấy, việc quy định và áp dụng xét xử có Hội thẩm cùng với
ý nghĩa nhân đạo, góp phần giải quyết vụ án được khách quan còn giúp tăng cường nhận thức và hiểu biết pháp luật của người dân, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật; giúp người dân giám sát hoạt động của Tòa án một cách trực tiếp, dân chủ Đây được xem là những giá trị chung của chế định hội thẩm đối với nền tư pháp của mỗi chính thể và mỗi quốc gia
Ở nước ta, HTND là thành phần không thể thiếu trong HĐXX sơ thẩm các
vụ án dân sự Việc tham gia của HTND vào thành phần HĐXX là sự thể hiện bản chất dân chủ nhân dân của Nhà nước ta, biểu hiện cho nền dân chủ trong hoạt động tư pháp Chế định Hội thẩm bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án
Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm
2014 thì “chế độ bầu Hội thẩm nhân dân được thực hiện đối với TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương Chế độ cử Hội thẩm quân nhân được thực hiện đối với Tòa
3 Chí Trung - Nguyên Hùng (2015), “Đôi điều về chế định Hội thẩm trong xét xử hình sự”, Tạp chí Luật
sư Việt Nam online, 2015,tại địa chỉ: trong-xet-xu-hinh-su-39/ ngày truy cập 22/4/1017
Trang 15http://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/doi-dieu-ve-che-dinh-hoi-tham-án quân sự quân khu và tương đương, Tòa http://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/doi-dieu-ve-che-dinh-hoi-tham-án quân sự khu vực.” Và Điều 8 của Luật này quy định: “Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án có Hội thẩm tham gia theo quy định của luật tố tụng, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn”
Như vậy, Hội thẩm tham gia xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa
án quân sự thì gọi là Hội thẩm quân nhân và được thực hiện theo chế độ cử, Hội thẩm tham gia xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền của TAND địa phương thì gọi
là Hội thẩm nhân dân và được thực hiện theo chế độ bầu
Hội thẩm làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án với tư cách là thành viên của HĐXX nhưng không phải là người xét xử chuyên nghiệp như Thẩm phán Họ là người đại diện cho nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án Xét xử không phải là nghề nghiệp chính của Hội thẩm,
họ công tác, làm việc trong các lĩnh vực khác hoặc đã nghỉ hưu
Với quy định của pháp luật, để một người có thể được bầu làm HTND, đòi hỏi phải đáp ứng những điều kiện nhất định HTND phải là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có uy tín trong cộng đồng dân cư, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực; có kiến thức pháp luật; có hiểu biết xã hội; có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao và được Hội đồng nhân dân bầu làm HTND trên cơ sở giới thiệu của Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam cùng cấp để cùng Thẩm phán xét xử các vụ án theo quy định của pháp luật
Theo từ điển Tiếng Việt, nhiệm vụ được hiểu là “công việc phải làm, phải gách vác”4
hay “công việc phải làm vì một mục đích và trong một thời gian nhất định”5
Theo cách giải thích này thì nhiệm vụ nói chung là công việc mang tính chất bắt buộc đối với chủ thể phải thực hiện Nhiệm vụ của một chủ thể xuất phát từ tư cách chủ thể trong quan hệ xã hội mà chủ thể đó tham gia và được pháp luật quy định Cùng một chủ thể nhưng đối với mỗi quan hệ xã hội khác nhau thì pháp luật cũng xác định nhiệm vụ khác nhau cho chủ thể đó
HTND là người tiến hành tố tụng được bầu ra theo quy định của pháp luật
để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án Nhiệm vụ
Trang 16của HTND trong TTDS là những yêu cầu, những công việc cụ thể do Nhà nước đặt ra và được quy định trong Hiến pháp, Luật Tổ chức Toà án, BLTTDS mà HTND phải thực hiện bằng những hình thức, biện pháp nhất định trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự
Như vậy, nhiệm vụ của HTND trong tố tụng dân sự là những công việc cụ
thể do pháp luật quy định mà HTND phải thực hiện kể từ khi được Chánh án Tòa án cấp sơ thẩm phân công giải quyết vụ án dân sự cho đến khi ban hành bản án, quyết định giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm
1.1.3 Khái niệm quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân
sự
Dưới góc độ pháp lý, “quyền của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp và chức vụ, vị trí công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của pháp luật Quyền hạn của một chủ thể được pháp luật quy định đồng thời cũng là nhiệm vụ của chủ thể đó được sử dụng để thực hiện chức năng, trách nhiệm nhất định của chủ thể đó”6
Theo đó, quyền hạn thường gắn chủ thể với một cương vị, một tư cách cụ thể
Như vậy, có thể thấy, giữa “nhiệm vụ” và “quyền hạn” có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và không thể tách rời Bản thân nhiệm vụ cũng đã có nội dung chứa đựng quyền hạn Nhiệm vụ - quyền hạn tạo nên sự thống nhất trong trạng thái cân bằng do pháp luật quy định Khi pháp luật quy định cho một chủ thể có một nhiệm vụ nào đó thì cũng sẽ trao lại cho họ những quyền hạn nhất định để đảm bảo họ thực hiện được nhiệm vụ đó
Đối với HTND, nhiệm vụ là những công việc mang tính bắt buộc khi họ tham gia giải quyết các vụ án dân sự, đó là phải thực hiện các hoạt động tố tụng
đã được BLTTDS quy định; quyền hạn là các vấn đề được tham gia quyết định khi tiến hành các hoạt động tố tụng đó Tuy nhiên, ranh giới giữa nhiệm vụ và quyền hạn của HTND là không rõ ràng cho nên ngay cả các nhà làm luật khi quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của HTND cũng không tách biệt nhiệm vụ và quyền hạn mà quy định chung trong một điều luật
6 Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa & Nxb Tư
pháp, Hà Nội, tr.651
Trang 17Nhiệm vụ, quyền hạn của HTND khi giải quyết vụ án dân sự được pháp luật TTDS quy định cụ thể tại Điều 49 BLTTDS năm 2015, cho phép họ thực hiện những hoạt động tố tụng cần thiết nhằm giải quyết vụ án dân sự, gồm có: Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa; đề nghị Chánh án Tòa án, Thẩm phán ra các quyết định cần thiết thuộc thẩm quyền; tham gia Hội đồng xét xử; tiến hành các hoạt động tố tụng và biếu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử
Như vậy, quyền hạn của HTND trong tố tụng dân sự là quyền tham gia
quyết định thực hiện các hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật
kể từ khi được Chánh án Tòa án cấp sơ thẩm phân công giải quyết vụ án dân sự cho đến khi ban hành bản án, quyết định giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm
1.2 Vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân (khoản 1 Điều 2 Hiến pháp năm 2013) Trong đó, quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Quyền hạn của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp, chức vụ, vị trí công tác
và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của pháp luật Toà án nhân dân với chức năng xét xử - một hoạt động cơ bản của quyền tư pháp, là cơ quan có vị trí độc lập và là bộ phận quan trọng, không thể thiếu trong
bộ máy nhà nước Trong các cơ quan tư pháp, Toà án là cơ quan xét xử và là cơ quan có vị trí, vai trò quan trọng nhất
Nhiệm vụ của Toà án là thực hiện việc xét xử, giải quyết các vụ việc phát sinh từ các quan hệ pháp luật hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh doanh thương mại, hành chính Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật thì chức năng của Tòa án là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân7 Để thực hiện được nhiệm vụ đó, pháp luật quy định, Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, đồng thời quy định khi xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự phải có sự tham gia của HTND
7
Khoản 3 Điều 102 Hiến pháp năm 2013, Khoản 1 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014
Trang 18Tại Hội nghị cán bộ ngành tư pháp năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Trong công tác xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch Như thế cũng chưa đủ Không thể chỉ hạn chế hoạt động của mình trong khung Tòa án Phải gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân Giúp dân, học dân để giúp mình thêm liêm khiết, thêm công bằng Thêm nữa là phải luôn luôn cố gắng học tập lý luận, học tập đường lối, chính sách của Chính phủ.8
Muốn đưa ra phán quyết đúng, giải quyết các tranh chấp đúng pháp luật, hợp với lẽ công bằng đòi hỏi những người làm công tác xét xử phải có đạo đức trong sáng, có bản lĩnh, có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ vững vàng Ngoài
ra, để HĐXX có phán quyết đúng đắn, đòi hỏi họ cũng phải có kiến thức và vốn hiểu biết cuộc sống, có kinh nghiệm hoạt động xã hội Chính vì thế pháp luật quy định khi xét xử có HTND tham gia Khi xét xử, Hội thẩm là đại diện của các giới, các ngành, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp nên Hội thẩm có thể phản ánh một cách khách quan cách nhìn nhận về sự kiện, vụ việc từ suy nghĩ, tâm tư của quần chúng nhân dân chứ không phải từ góc độ của một luật gia thuần túy
Việc Hội thẩm tham gia xét xử cùng Thẩm phán sẽ góp phần bảo đảm cho bản án và quyết định của Tòa án được toàn diện, đầy đủ và khách quan, đúng pháp luật Hội thẩm gồm những người công tác trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, họ đến với Tòa án là mang hơi thở từ cuộc sống, từ bầu không khí đời thường, cách suy nghĩ, nhận định, đánh giá chứng cứ của họ về mặt nào
đó không giống như những người xét xử chuyên nghiệp Do đó Hội thẩm là người bổ sung những vốn quý về các lĩnh vực của cuộc sống, những quan niệm
về đạo đức, truyền thống cho Thẩm phán - người có kiến thức pháp lý vững vàng, tinh thông về nghiệp vụ xét xử Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các thành viên của HĐXX (Thẩm phán và Hội thẩm) cùng nhằm mục đích xét xử công minh, đúng pháp luật, hợp lòng dân, mặt khác sự tham gia của Hội thẩm thể hiện
tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong hoạt động của Tòa án, thể hiện sự giám sát, kiểm tra trực tiếp của nhân dân từ bên trong.9
Trang 19Ở nước ta, việc tham gia của HTND - những người đại diện của Nhân dân vào quá trình xét xử của Tòa án được Nhà nước ta ghi nhận là một nguyên tắc hiến định, được ghi nhận trong tất cả các bản Hiến pháp Hội thẩm chính là những cá nhân được nhân dân tín nhiệm bầu ra (thông qua Hội đồng nhân dân cùng cấp), đại diện cho người dân địa phương tham gia vào hoạt động xét xử tại các Tòa án dân sự ở khu vực của mình HTND có địa vị pháp lý và vai trò rất quan trọng trong công tác xét xử, vì khi tham gia xét xử ở cấp sơ thẩm, Hội thẩm chiếm đa số trong HĐXX (2/3 hoặc 3/5) và khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán khi biểu quyết các vấn đề của vụ án Nhận thức thật đúng đắn về vai trò, tính chất của HTND là hết sức cần thiết để đáp ứng được đòi hỏi của thực tế, tránh những quy định mang tính hình thức và những lãng phí về mặt xã hội, phát huy được quyền làm chủ của nhân dân, giúp cho Tòa án ban hành được những bản án “thấu tình, đạt lý” Khi tham gia xét xử các vụ án dân sự vị trí, vai trò của HTND được xác định như sau:
Thứ nhất, HTND là những người do nhân dân bầu ra thông qua việc tham
gia vào quá trình xét xử mà thực hiện quyền tư pháp do nhân dân giao phó, giúp nhân dân quản lý có hiệu quả lĩnh vực tư pháp
Sự tham gia của HTND vào hoạt động xét xử của Toà án nhằm bảo đảm nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân tham gia vào mọi hoạt động của Nhà nước Cùng với Thẩm phán, HTND trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình nhân danh nhà nước để đưa ra phán quyết giải quyết vụ án đúng pháp luật, công bằng, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân và bảo đảm pháp chế Xã hội chủ nghĩa; thông qua việc tham gia vào quá trình xét xử để thực hiện quyền tư pháp do nhân dân giao phó, giúp nhân dân quản lý có hiệu quả lĩnh vực tư pháp Để làm được điều đó, HTND không những phải vô tư, khách quan mà còn phải có tầm nhìn, có bản lĩnh, có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng
Mặc dù việc xét xử công khai cũng là một hình thức để nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động xét xử của Tòa án, nhưng đây chỉ là sự giám sát bề ngoài, mang tính hình thức, không đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân và cũng không phát huy một cách có hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân Vì vậy, cần phải để nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án thông qua HTND
Trang 20“Nếu coi nguyên tắc xét xử công khai là sự kiểm tra có tính chất tổng thể, chung nhất của xã hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án thì nguyên tắc Hội thẩm tham gia xét xử là sự kiểm tra trực tiếp, cụ thể và từ bên trong của hoạt động này”.10
Đây chính là sự thể hiện sinh động nhất, rõ nét nhất bản chất dân chủ, nhân dân của Tòa án, nó thể hiện được tư tưởng lấy dân làm gốc của Nhà nước
ta
Thứ hai, ở nước ta pháp luật là sự thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân
dân Do đó, chế định Hội thẩm không chỉ giúp nhân dân tham gia có hiệu quả vào hoạt động xét xử mà còn giúp nhân dân kiểm tra hoạt động áp dụng và đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống Trong xét xử, để việc áp dụng pháp luật được đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân thì các thành viên trong HĐXX không chỉ là những người có trình độ chuyên môn cao
về mặt luật pháp mà còn phải có kiến thức và kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xã hội sâu sắc Vì vậy, việc quy định chế độ xét xử có HTND tham gia là hết sức quan trọng HTND là những người có đời sống hòa nhập với cộng đồng dân cư ở địa phương, là các cá nhân ưu tú, có hiểu biết, có uy tín được chọn ra từ đại diện của các giới, các ngành, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp ở địa phương Khi được bầu làm HTND, Hội thẩm không tách khỏi hoạt động lao động sản xuất của cơ quan, đơn vị mình Đối với từng vụ án dân sự cụ thể, khi được phân công tham gia xét xử, HTND thường là những người am hiểu về phong tục, tập quán của địa phương, có hiểu biết sâu về đối tượng, lĩnh vực mà các bên đang tranh chấp, cũng như am hiểu về các kiến thức chuyên ngành, có kiến thức thực tiễn đời thường và kinh nghiệm hoạt động xã hội Vì vậy, với vốn hiểu biết thực tế, kinh nghiệm trong cuộc sống, sự am hiểu về phong tục tập quán địa phương họ
dễ dàng thấu hiểu được tâm tư, nguyện vọng của cộng đồng, nắm bắt được dư luận quần chúng nhân dân Do đó, họ có thể nhìn nhận một cách khách quan đối với các sự kiện, vụ việc dưới góc nhìn của quần chúng nhân dân, là người thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân chứ không phải từ góc độ của một luật gia thuần túy Chính những yếu tố đó sẽ giúp cho Thẩm phán bổ sung các kiến thức
10 Nguyễn Tất Viễn (1999), “Cải cách chế định Hội thẩm, nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án”, Thông tin khoa học pháp lý - Chuyên đề về Chế định Hội thẩm trong cải cách tư pháp ở Việt Nam, tr.26
Trang 21xã hội cần thiết trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo vụ án được giải quyết một cách đúng đắn, khách quan, được xã hội đồng tình ủng hộ
Thứ ba, vai trò của HTND trong xét xử các vụ án nói chung cũng như vụ
án dân sự nói riêng là góp phần tăng cường mối quan hệ giữa Tòa án và nhân dân
Thông qua Hội thẩm, công tác xét xử của Tòa án đến với nhân dân, nhân dân hiểu và thông cảm với công tác của Tòa án Cũng thông qua Hội thẩm, Tòa
án nắm bắt được những vướng mắc, suy nghĩ, tình cảm của nhân dân Một phán quyết của Tòa án có thể nhận được sự đồng tình của nhân dân, nhưng cũng có thể bị phản ứng, thậm chí là phản ứng gay gắt của dư luận Như vậy, công tác xét
xử của Tòa án vừa góp phần nâng cao tinh thần tự giác, tôn trọng và bảo vệ pháp luật của nhân dân, lại vừa chịu sự giám sát của nhân dân.11
Cũng thông qua hoạt động của Hội thẩm, Tòa án có điều kiện nắm bắt ý kiến của quần chúng nhân dân đối với hoạt động xét xử của Tòa án, giúp quần chúng nhân dân hiểu rõ về hoạt động của Tòa án nói chung, hoạt động xét xử nói riêng Quần chúng nhân dân được nâng cao ý thức pháp luật, tự giác chấp hành
Thứ nhất, nếu nhân dân không được tham gia trực tiếp vào hoạt động xét
xử của Tòa án thì không có điều kiện giám sát các hành vi tố tụng của các chủ thể tiến hành tố tụng và các chủ thể tham gia tố tụng Phải có đại diện của nhân
11 Trương Hòa Bình (2012), “Một số vấn đề về chế định Hội thẩm nhân dân”, Báo điện tử Chính phủ tại địa chỉ: http://baodientu.chinhphu.vn/Tin-noi-bat/Mot-so-van-de-ve-che-dinh-Hoi-tham-nhan- dan/155171.vgp ngày truy cập 22/4/2017
Trang 22dân trong HĐXX và được pháp luật trao cho các quyền năng và nhiệm vụ cần thiết để thực hiện tốt chức năng của mình
Đó là một yêu cầu tất yếu có tính khách quan của một nền tư pháp mới của dân, do dân và vì dân Bản chất nhân dân, tính chất dân chủ của Tòa án ở chế
độ Xã hội chủ nghĩa không chỉ thể hiện ở các công chức tư pháp tận tụy hết lòng với dân, mà còn thể hiện đậm nét ở việc huy động ngày càng đông đảo quần chúng nhân dân tham gia kiểm tra và giám sát công tác xét xử.12
Thứ hai, hoạt động xét xử của Tòa án hết sức khó khăn, phức tạp, liên
quan trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và xã hội Đánh giá một cách khách quan, trung thực, đầy đủ và toàn diện các tình tiết của một vụ án dân sự trong hoạt động xét xử là vô cùng khó khăn và phức tạp Làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hoạt động áp dụng pháp luật, góp phần giải quyết vụ án đúng đắn, ổn định các quan
hệ xã hội, nâng cao ý thức pháp luật của cộng đồng Trong công tác xét xử, HĐXX phải phân tích đánh giá các tình tiết của vụ án một cách biện chứng và toàn diện cả về phương diện pháp lý và xã hội, đây là hai mặt thống nhất của một vấn đề Hội thẩm tham gia xét xử sẽ bù đắp, khắc phục những hạn chế cho Thẩm phán, hỗ trợ, phối hợp với Thẩm phán tìm ra chân lý của sự việc vì họ là những người gần gũi với dân, hiểu được tâm tư nguyện vọng của nhân dân, thái độ của nhân dân đối với vụ án
Hội thẩm tham gia xét xử sẽ mang vào phiên tòa một nhận thức và sự hiểu biết pháp luật ở mức “trung bình” của đại đa số nhân dân, một bầu không khí đời thường, một kiểu đánh giá và tiếp nhận các sự kiện và tình tiết của vụ án theo một cách khác, cách của những người không có nếp quen ngồi tòa nhiều Họ mang đến phiên tòa những quan niệm, đạo đức chung của xã hội, những nhận xét, đánh giá chung của các tầng lớp nhân dân về sự công bằng, đúng, sai Hội thẩm tham gia xét xử sẽ làm tăng thêm niềm tin nội tâm của Thẩm phán, làm cho bản án, quyết định của HĐXX được thấu tình, đạt lý Tư tưởng lấy dân làm gốc được thể hiện trong hoạt động xét xử chính là ở điều đó
12 Nguyễn Tất Viễn (1999), “Cải cách chế định Hội thẩm, nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án”,
Thông tin khoa học pháp lý - Chuyên đề về Chế định Hội thẩm trong cải cách tư pháp ở Việt Nam, tr.27
Trang 23Trên cơ sở đó, việc Hội thẩm tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án là cần thiết và cùng với việc quy định cho HTND tham gia xét xử thì phải quy định
cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của HTND để họ thực sự có thể tham gia vào hoạt động xét xử
1.3.2 Cơ sở pháp lý
Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang coi việc cải cách tư pháp là một nội dung quan trọng để hoàn thiện bộ máy Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Nghị quyết của Đảng qua các thời
kỳ đã chỉ rõ, vấn đề cải cách tư pháp, hoàn thiện pháp luật là những vấn đề cấp bách trong điều kiện kinh tế xã hội có nhiều biến động, quá trình hội nhập với khu vực và thế giới đang ngày một sâu rộng Vấn đề cải cách tư pháp đã được cụ thể hoá tại các Nghị quyết của Bộ Chính trị, trong đó có Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2001, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 Một trong những nội dung trọng tâm của Nghị quyết số 49 là việc xác định vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng, bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh, nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử Như vậy, một phần quan trọng để cải cách tư pháp là nâng cao hơn nữa chất lượng xét xử
Vì vậy, việc xác định cụ thể, đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của HTND là một vấn
đề quan trọng Bởi vì, cùng với Thẩm phán, HTND tham gia vào hoạt động xét
xử sơ thẩm các vụ án dân sự tại Toà án, nhân danh Nhà nước phán quyết tính đúng - sai của các quan hệ pháp luật
Toà án là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hoạt động của Toà án trong lĩnh vực giải quyết các tranh chấp dân sự nhằm lập lại trật tự đúng của các quan hệ đó, từ đó góp phần quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, của công dân, giữ gìn trật tự, kỷ cương xã hội Bằng việc tham gia xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự, HTND có vai trò hết sức quan trọng trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hiệu quả hoạt động của Toà án cũng có sự đóng góp không nhỏ của HTND Chính vì vậy, để phát huy năng lực, trách nhiệm của HTND thì cần phải xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của họ trong TTDS, đồng thời xây dựng một cơ chế khoa học, hợp lý để HTND thực hiện được nhiệm vụ, quyền hạn của mình một cách nhanh chóng, hiệu quả, đúng pháp luật
Trang 24Việc quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của HTND là cơ sở để HTND thực hiện các hoạt động tố tụng khi được phân công xét xử các vụ án dân sự, nâng cao hiệu quả hoạt động, đồng thời là cơ sở để xác định trách nhiệm của họ khi tiến hành tố tụng không đúng
Ở nước ta, nguyên tắc “việc xét xử của Tòa án có HTND tham gia” đã được ghi nhận qua các bản Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 và tiếp tục được khẳng định tại Điều 103 Hiến pháp năm 2013
Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1.Việc xét xử sơ thẩm của Tòa
án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.”
Thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia, Điều 8 Luật Tổ chức Tòa án
nhân dân năm 2014, quy định: “Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án có Hội thẩm
tham gia theo quy định của luật tố tụng, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.”
Việc Hiến pháp và pháp luật nước ta ghi nhận sự tham gia của Hội thẩm vào trong hoạt động xét xử của Tòa án là một trong những nguyên tắc thể hiện rõ
tư tưởng “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” và chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa
Trong những năm từ 1945 đến 1950, theo quy định, Phụ thẩm nhân dân có nghĩa vụ tham gia phiên tòa khi được lựa chọn và nếu vắng mặt có thể bị phạt tiền Thậm chí, số tiền phạt sẽ tăng dần theo số lần vi phạm và có thể bị mất chức Phụ thẩm Phụ thẩm cũng có nghĩa vụ giữ bí mật nội dung nghị án và có thể bị phạt tù nếu vi phạm Trong thời kỳ này, tiêu chuẩn làm Phụ thẩm nhân dân khá cao, nhưng vai trò và thẩm quyền của Phụ thẩm có phần hạn chế hơn so với các Thẩm phán chuyên nghiệp, thẩm quyền của họ cũng có phần bị hạn chế13
Trải qua hàng chục năm qua, mặc dù có những thay đổi nhất định, nhưng
về cơ bản tinh thần của những nội dung cải cách từ năm 1950 đến nay vẫn được duy trì Tuy số lượng Phụ thẩm hoặc HTND (trong quân đội là Hội thẩm quân nhân) tham gia vào HĐXX không lớn, nhưng với những thay đổi về thành phần HĐXX, mở rộng diện người có thể làm HTND, mở rộng quyền của HTND dưới
13 Trần Minh Giang (2014), “Chế định Hội thẩm nhân dân: Tạo điều kiện cho nhân dân trực tiếp thực hiện quyền tư pháp”, Báo Công lý, tại địa chỉ: http://congly.vn/hoat-dong-toa-an/nghiep-vu/che-dinh-hoi- tham-nhan-dan-tao-dieu-kien-cho-nhan-dan-truc-tiep-thuc-hien-quyen-tu-phap-71248.html ngày truy cập 21/4/2017
Trang 25nhiều góc độ chứng tỏ rằng, tiếng nói của nhân dân có ý nghĩa đáng kể trong quyết định cuối cùng của Tòa án
1.3.3 Cơ sở thực tiễn
Việc xét xử của Tòa án có HTND tham gia xuất phát từ chế độ dân chủ của Nhà nước ta, đã được Hiến pháp và pháp luật quy định Hiện nay, quy định của pháp luật TTDS về nhiệm vụ, quyền hạn của HTND tương đối đầy đủ, góp phần quan trọng để họ phát huy năng lực, kiến thức của mình khi giải quyết các
vụ án Tuy nhiên, trên thực tế, không phải bất kỳ Hội thẩm nào cũng ý thức được nhiệm vụ, quyền hạn của mình, nhiều khi bị phụ thuộc vào Thẩm phán làm ảnh hưởng đến chất lượng xét xử và không phát huy được vai trò đại diện cho nhân dân
Theo quy định của BLTTDS thì HTND chỉ tham gia xét xử các vụ án dân
sự còn đối với việc dân sự thì HTND không tham gia
Mục đích của quy định này nhằm đảm bảo cho việc giải quyết việc dân sự được nhanh chóng, giảm bớt chi phí tố tụng, tiết kiệm cho ngân sách nhà nước đồng thời tạo điều kiện cho Thẩm phán có thể chủ động trong công việc của mình, nâng cao trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán, thực hiện những bước đi cơ bản của công cuộc cải cách tư pháp.14
Điều đó là hoàn toàn phù hợp bởi tính chất của vụ án dân sự là các tranh chấp, mâu thuẫn mang tính phức tạp hơn, quyền và lợi ích của các đương sự ảnh hướng lớn hơn, nên sự tham gia của HTND là đảm bảo sự tham gia của người dân vào việc xét xử của Tòa án, tăng cường tính công khai, minh bạch
Thành phần xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự được quy định như sau: HĐXX sơ thẩm vụ án dân sự gồm 01 Thẩm phán và 02 HTND, trừ trường hợp giải quyết theo thủ tục rút gọn; trong trường hợp đặc biệt thì HĐXX sơ thẩm có thể gồm 02 Thẩm phán và 03 HTND
Có thể thấy, HTND luôn chiếm số lượng lớn hơn so với Thẩm phán trong thành phần HĐXX sơ thẩm Theo quy định trên, số lượng HTND trong thành phần HĐXX sơ thẩm các vụ án dân sự luôn cao hơn số lượng Thẩm phán, thông
14 Bùi Thị Huyền (2011), Phiên tòa dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia -
sự thật, Hà Nội, tr.75-76
Trang 26thường là 2/3 Vậy, câu hỏi đặt ra là tại sao phải có đến 02 hoặc 03 Hội thẩm mà
chỉ cần 01 hoặc 02 Thẩm phán trong phiên tòa sơ thẩm?
Trong quá trình tìm hiểu vấn đề này tác giả đã so sánh chế định này trong
hệ thống pháp luật của nhiều nước khác nhau và thấy rằng việc đưa nhân dân vào tham gia xét xử (dưới hình thức là HTND hoặc Bồi thẩm đoàn) chính là việc đưa tiếng nói từ phía xã hội vào trong quá trình xét xử với lập luận rằng, pháp luật chỉ là những khuôn mẫu chung khá cứng nhắc được xây dựng trên sự đồng thuận theo tỷ lệ mà xã hội chấp nhận được chứ đó không phải là đồng thuận tuyệt đối, cho nên pháp luật cũng không phải là một giá trị tuyệt đối đúng để có thể áp dụng chung cho mọi trường hợp Thứ hai, “pháp luật cũng chỉ là một loại quy phạm xã hội có giá trị áp dụng cao nhất chứ không phải là toàn bộ các quy phạm
xã hội và có thể thay thế các quy định xã hội khác trong đời sống hàng ngày; do
đó, cần có những tiếng nói từ thực tiễn xã hội trong việc đưa ra các phán quyết
có tính quyết định đối với một quan hệ xã hội nào đó và người nắm giữ sứ mệnh này chính là các vị Hội thẩm nhân dân”.15
Ví dụ như trong các tập quán hôn nhân ở một số vùng thì họ chấp nhận việc thành hôn ở các độ tuổi khác nhau và nhiều khi là vi phạm pháp luật quốc gia nhưng xét về mặt cấu trúc xã hội cũng có Nhà nước chấp nhận các tập quán này vì cho rằng nó thuộc về các giá trị truyền thống cần được tôn trọng Trong những trường hợp như vậy, vai trò của các HTND ở đây phải đưa ra phán quyết
về mặt xã hội là: Hành vi này được chấp nhận hay không chấp nhận ở cộng đồng nơi họ đang sống Hay đối với một số tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại trong các điều kiện cá biệt, các giao dịch trên một địa bàn hẹp thường áp dụng các tập quán giao dịch bất thành văn, nếu các Hội thẩm không phải là những người ở địa bàn đó, không làm trong cùng lĩnh vực, ngành nghề đó thì khó có thể đưa ra những giải đáp khách quan
Ở nước ta, đã có nhiều cách giải thích khác nhau về sự ra đời của chế định HTND trong HĐXX
Có ý kiến cho rằng, với sự giao thoa và tiếp nhận văn hóa pháp lý Trung Quốc thì các tư tưởng về pháp luật của nho giáo Trung Quốc ảnh hưởng khá đậm
15 Cao Việt Thăng (2010), “Bàn về vai trò của chế định Hội thẩm nhân dân ở nước ta hiện nay”, Nhà nước và Pháp luật, (09), tr.27.
Trang 27nét văn hóa pháp lý Việt Nam Do đó, các chế định pháp luật của nước ta cũng mang đậm dấu ấn của tư tưởng Nho giáo, đó chính là tính trọng tình “trăm cái lý không bằng một tí cái tình” Cho nên, pháp luật chưa phải là quy tắc cao nhất để phán xét đối với hành vi của xã hội Vì vậy, cần phải có tiếng nói từ phía người dân, từ phía xã hội thì mới coi là đó là các phán xét “thấu tình, đạt lý” và những người góp phần mang lại tiếng nói đó chính là các HTND.16
Cũng có cách lý giải rằng, trong một Nhà nước pháp quyền của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân thì việc quy định về số lượng của HTND trong thành phần HĐXX cũng là thể hiện tính nhân dân của Nhà nước pháp quyền đó
Tuy nhiên, nhìn từ khía cạnh Nhà nước pháp quyền thì các cách lý giải trên đều có vẻ là chưa thỏa đáng Bởi lẽ, vấn đề mấu chốt của Nhà nước pháp quyền là bảo đảm tính thượng tôn pháp luật Pháp luật chỉ được thượng tôn khi
mà mọi quy định của pháp luật phải được nghiêm chỉnh tuân thủ một cách triệt
để, việc này đồng nghĩa với việc Nhà nước pháp quyền không có đất cho “tí cái tình” (tí cái tình có thể làm thay đổi bản chất của vụ án) trong các phán quyết của Tòa án, hay việc đảm bảo tuân thủ triệt để pháp luật cũng không còn chỗ cho những phán xét nhiều tính “nhân dân” nhưng thiếu tính pháp lý trong đó
Bên cạnh đó, từ thực tiễn chúng ta thấy, nguồn của các HTND ở nước ta hiện nay thường là các cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước, có thể đương chức hoặc đã về hưu thuộc nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau do Mặt trận tổ quốc giới thiệu chứ không phải là những người dân thường không nằm trong biên chế của các cơ quan nhà nước như hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra như trên, vậy nên hiểu thế nào cho đúng về chế định HTND ở nước ta hiện nay? Ở đây nên xem xét từ góc độ gốc rễ của vấn đề Chúng ta thấy, chế định HTND xuất phát từ yêu cầu của việc đưa phán xét về mặt xã hội vào trong bản án, quyết định của Toà án chứ không chỉ đơn thuần là vấn đề xem xét hoàn toàn dưới góc độ pháp lý thuần tuý Việc pháp luật quy định HĐXX sơ thẩm dân sự cần tới 2 HTND trong khi chỉ cần 1 Thẩm phán được lý giải là do chính yêu cầu tăng cường tính xã hội, đưa tiếng nói từ cuộc sống sinh động vào hoạt động xét xử Yêu cầu đối với HTND khi tham gia trong HĐXX phải là có sự đồng cảm về mặt xã hội đối với
16
Cao Việt Thăng, tlđd chú thích 13 , tr.27.
Trang 28tình hình thực tiễn Nghĩa là, Hội thẩm là những người có cùng môi trường, hoàn cảnh sống gần gũi với các quan hệ xã hội bị tranh chấp và có những kiến thức, kinh nghiệm sống thực tiễn mà trong cùng hoàn cảnh sống hoặc rất gần hoàn cảnh sống đối với đương sự trong các vụ án được đem ra xét xử thì HTND sẽ đưa được tiếng nói của xã hội vào các phán quyết của Tòa án, vụ án sẽ được xem xét một cách toàn diện, phù hợp với đặc điểm kinh tế, văn hóa, phong tục địa phương
Xét ở khía cạnh xã hội và khía cạnh lập pháp trong Nhà nước pháp quyền, chúng ta cần lưu ý đến hai khía cạnh quan trọng trong các lý thuyết cũng như thực tiễn pháp lý Đó là tính “trễ” của các quy phạm pháp luật so với thực tiễn Nghĩa là, các quy phạm pháp luật chỉ được xây dựng trên cơ sở các vấn đề đã có trên thực tiễn một hoặc nhiều lần hay bằng cách dự liệu nó sẽ xảy ra trên thực tiễn Luật pháp được xây dựng theo một quy trình chặt chẽ nhưng không bao giờ bao quát được toàn bộ thực tiễn và luôn đi chậm hơn thực tiễn Thứ hai, ngoài các quy phạm pháp luật, thực định pháp luật còn chứa đựng trong đó một giá trị lớn hơn đó là tinh thần pháp luật Tinh thần pháp luật có thể hiểu một cách đơn giản là cái đích mà pháp luật mong muốn hướng đến Từ các khía cạnh trên, có thể thấy rằng việc quy định về HTND trong HĐXX là hoàn toàn có cơ sở và không trái với các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền
Đối với các vụ án dân sự, những người được chỉ định là HTND trong các
vụ án dân sự nên là những người hiểu biết sâu về những đối tượng mà các bên tranh chấp Chẳng hạn, nếu giải quyết tranh chấp trong các lĩnh vực đất đai thì HTND có thể là những người hiểu biết về nguồn gốc, xuất xứ quyền sử dụng của mảnh đất đó Hay tranh chấp về hợp đồng thuê tàu thì HTND phải là những người am hiểu về thực tiễn các hoạt động đó
Hơn nữa, khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán Do vậy, hoạt động xét xử của HTND có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết vụ án dân
sự Mặc dù Thẩm phán là người lập hồ sơ giải quyết vụ án từ đầu, nhưng khi đưa
ra xét xử các Hội thẩm - là những người không có kiến thức pháp luật chuyên sâu như Thẩm phán lại có quyền biểu quyết ngang với Thẩm phán, điều này có thể ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết các vụ án do cảm tính chủ quan của Hội
Trang 29thẩm Chính vì vậy, việc quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của HTND trong TTDS là điều cần thiết
Đối với thành phần HĐXX phúc thẩm và trong các vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn thì không có HTND tham gia Bởi phúc thẩm là việc xét xử lại vụ
án mà cấp sơ thẩm đã xét xử, khi đó, HĐXX phúc thẩm phải đưa ra kết luận về tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án sơ thẩm Mục đích của xét xử phúc thẩm thực chất là việc đánh giá lại kết quả hoạt động nhận thức vụ án dân sự của HĐXX sơ thẩm nên thành phần HĐXX phúc thẩm được cơ cấu theo hướng chú trọng chuyên môn Đối với những vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn là những vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án
và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ (điểm a khoản 1 Điều 317 BLTTDS); Thẩm phán có thể tự mình quyết định giải quyết vụ việc dân sự Chính vì những lý do đó, pháp luật TTDS chỉ quy định bắt buộc phải có HTND tham gia xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự
Thứ nhất, trình độ của Hội thẩm nhân dân
Hoạt động xét xử của Tòa án cũng chính là hoạt động áp dụng pháp luật Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự thì HĐXX bao gồm Thẩm phán
và HTND là chủ thể thực hiện hoạt động này Các phán quyết của HĐXX chính
là kết quả của quá trình áp dụng pháp luật và để các phán quyết này đảm bảo được tính chính xác, khách quan, đúng quy định của pháp luật đòi hỏi các thành viên của HĐXX phải có trình độ chuyên môn, am hiểu pháp luật, có tinh thần trách nhiệm, có kỹ năng sống và kỹ năng xét xử Là người giữ vị trí quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án, chính vì vậy, việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của HTND ảnh hưởng rất lớn đến việc xét xử các vụ án dân sự và một trong những yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến chất lượng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của HTND đó là trình độ hiểu biết về các quy định pháp luật của họ; bởi vì, bản thân HTND là những người sẽ chủ động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của họ theo quy định của pháp luật để xét xử, giải quyết các vụ án dân sự, do đó, nếu trình độ của HTND tương xứng với vị trí, vai trò của họ trong TTDS thì nhiệm
Trang 30vụ, quyền hạn của họ mới được thực hiện một cách tốt nhất và ngược lại HTND phải là những người am hiểu pháp luật, có trình độ chuyên môn và kỹ năng xét
xử Chính vì vậy, HTND phải cần phải nắm vững các quy định pháp luật thuộc lĩnh vực tranh chấp; có khả năng phân tích, đánh giá một cách chính xác, toàn diện những tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ cho việc ra các quyết định, bản án phù hợp với thực tiễn; có khả năng lập luận, kịp thời xử lý các tình huống phát sinh tại phiên toà theo đúng quy định của pháp luật Tuy nhiên, trình độ pháp lý của HTND trên thực tế hiện nay vẫn chưa thực sự tương xứng với vị trí, vai trò của họ, chưa đáp ứng được yêu cầu
Thứ hai, điều kiện về công việc và chế độ đãi ngộ đối với Hội thẩm
Với bất kỳ HTND nào thì việc tham gia xét xử các vụ án tại Tòa án cũng không phải là nghề nghiệp chính của họ, ngoài công tác Hội thẩm, các HTND thường công tác trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội (kể cả những Hội thẩm là cán bộ hưu trí thì họ cũng thường tham gia nhiều công tác xã hội khác) Chính vì vậy, thời gian giành cho hoạt động xét xử các vụ án dân sự của HTND cũng ít nhiều bị ảnh hưởng bởi các công việc đó Điều này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của HTND trên thực tế
Ngoài ra, bên cạnh trình độ chuyên môn thì vấn đề động lực làm việc là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất và hiệu quả thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn của HTND Để tạo cho HTND tâm lý chủ động, tích cực và có tinh thần trách nhiệm cao trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình thì cần phải có biện pháp tạo động lực hiệu quả thông qua các chế độ đãi ngộ mà họ được hưởng (bao gồm cả lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần), các lợi ích này phải tương xứng với công sức của họ bỏ ra Nếu không có lợi ích đi kèm hoặc các lợi ích để bù đắp công sức của họ quá ít thì chắc chắn việc thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn của HTND sẽ không đạt được chất lượng như kỳ vọng Hiện nay, khi làm nhiệm vụ xét xử, HTND sẽ được hưởng một khoản phụ cấp theo quy định là 90.000 đồng (theo Quyết định số 01/2012/QĐ-TTG ngày 05/10/2012 về chế độ bồi dưỡng đối với người tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết việc dân sự); ngoài ra, HTND được cấp trang phục xét xử Tuy nhiên, những chế độ đãi ngộ như vậy là quá thấp, không tạo được động lực cho HTND tích cực tham
Trang 31gia hoạt động xét xử Bên cạnh những lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần của HTND cũng rất quan trọng, hàng năm, thông qua việc tổng kết công tác, biểu dương, khen thưởng đối với cá nhân những HTND có thành tích tốt trong công tác Hội thẩm, Toà án nêntổ chức cho các HTND gặp gỡ, giao lưu, học hỏi kinh nghiệm với các HTND tại các đơn vị khác để nâng cao tinh thần của HTND
Thứ ba, trách nhiệm của Hội thẩm nhân dân khi không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Bên cạnh những lợi ích được hưởng khi tham gia hoạt động xét xử thì trách nhiệm pháp lý để ràng buộc HTND với các công việc của Hội thẩm cũng là một trong những yếu tố có thể ảnh hưởng đến chất lượng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của HTND Trách nhiệm này là những hậu quả bất lợi mà HTND phải gánh chịu nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ, quyền hạn của họ theo quy định Cùng với việc tạo điều kiện, đảm bảo quyền lợi cho HTND khi tham gia công tác xét xử thì cũng phải gắn chặt quyền lợi với trách nhiệm của họ, cần phải có quy định ràng buộc trách nhiệm của HTND ở một mức độ và theo cách hợp lý Nếu trách nhiệm của HTND được pháp luật quy định cụ thể, rõ ràng, tương xứng với quyền lợi mà họ được hưởng và vị trí của
họ trong HĐXX thì chắc chắn sẽ nâng cao được ý thức thực hiện các công việc của HTND
Thứ tư, chất lượng, quy trình lựa chọn Hội thẩm nhân dân
Quy trình lựa chọn HTND có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác giải quyết, xét xử các loại án tại Tòa án chứ không riêng gì đối với các vụ án dân sự Việc có lựa chọn được HTND hội tụ đầy đủ các yếu tố cần thiết cho công tác xét
xử hay không phụ thuộc rất nhiều vào giai đoạn này Chính vì vậy, cần thiết phải quy định rõ ràng tiêu chuẩn đối với HTND; quy trình giới thiệu, cơ chế lựa chọn HTND phải đảm bảo là những người hiểu biết pháp luật, có kiến thức xã hội phong phú, thực sự đại diện cho tiếng nói của nhân dân để bầu làm Hội thẩm, vì điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình xét xử, chất lượng bản án, quyết định của Tòa án, cũng như ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, đến niềm tin của nhân dân vào hoạt động của Tòa án Nếu quy trình lựa chọn đảm bảo chọn ra được những người có kiến thức chuyên môn vững vàng, có hiểu biết pháp luật, có tinh thần trách nhiệm, có đạo đức tốt để làm Hội
Trang 32thẩm thì quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của HTND sau này cũng sẽ được đảm bảo
Thứ năm, thời gian nghiên cứu hồ sơ của Hội thẩm nhân dân
Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án là công việc có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng xét xử các vụ án dân sự Thông qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, HTND nắm bắt được nội dung và có thể đưa ra được định hướng giải quyết vụ án Tuy nhiên,
có thể khẳng định rằng trên thực tế việc nghiên cứu hồ sơ vụ án vẫn chưa được các HTND thực sự quan tâm thực hiện tốt Chính vì vậy, cần thiết phải có quy định cụ thể về thời gian nghiên cứu hồ sơ tối thiểu của HTND trước khi mở phiên tòa
Thứ sáu, đạo đức nghề nghiệp
Cùng với Thẩm phán, HTND là những người được giao nhiệm vụ xét xử, nhân danh Nhà nước để bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân Tuy nhiên, hoạt động xét xử là một hoạt động vô cùng phức tạp Chính vì vậy, HTND cần phải có những tố chất nghề nghiệp nhất định, họ vừa là người thay mặt cho quyền lực Nhà nước thông qua hoạt động xét xử, vừa phải là công dân gương mẫu trong cuộc sống hàng ngày Với vị trí và trách nhiệm xã hội đặc biệt của mình, đòi hỏi họ không những phải có những tiêu chuẩn nhất định về trình độ chuyên môn, pháp lý mà còn phải thường xuyên trau dồi đạo đức nghề nghiệp, coi đây là một yếu tố quan trọng, có tác động trực tiếp đến quá trình xét
xử của Tòa án hiện nay
Mặt khác, tiêu chuẩn về đạo đức cũng là cơ sở quan trọng để lựa chọn, bầu HTND Bởi theo các quy định của pháp luật hiện nay thì HTND không phải chịu trách nhiệm trong trường hợp bản án bị hủy, bị cải sửa Chính vì thiếu cơ chế ràng buộc trách nhiệm của HTND cho nên yếu tố đạo đức có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của HTND Trong hoạt động xét xử, HTND phải có đạo đức nghề nghiệp, phải đảm bảo được yếu tố khách quan công bằng, vô tư, không vụ lợi cá nhân, đưa ra phán quyết giải quyết các vụ án dân sự trên cơ sở có lý, có tình Sự công bằng, vô tư và khách quan là hiện thân những giá trị của một nền tư pháp dân chủ Do đó, trong quá trình xét
xử HTND phải cương quyết tôn trọng nguyên tắc này, vượt qua những tác động khách quan để đưa ra quyết định, bản án đảm bảo tính khách quan, công bằng,
Trang 33vô tư, đúng pháp luật Để làm được điều này đòi hỏi họ phải có lương tâm, sẵn sàng nhận và sửa chữa những sai sót gặp phải, có tinh thần trách nhiệm trong xét
xử, luôn đặt niềm tin vào công lý
Thứ bảy, cơ chế hợp lý bảo đảm cho Hội thẩm nhân dân thực hiện đúng
nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Yếu tố này được hiểu là trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tạo điều kiện cho HTND thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình Hầu hết HTND đều làm việc kiêm nhiệm tại các cơ quan, tổ chức cho nên việc tham gia xét xử các vụ án dân sự phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế quản lý tại đơn vị họ đang công tác Chính vì vậy, đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa Tòa án với cơ quan, đơn vị nơi Hội thẩm công tác để phân công công việc một cách hợp lý Về phía lãnh đạo các đơn vị nơi HTND công tác phải tạo điều kiện cho họ làm các công việc Hội thẩm như: Nghiên cứu hồ sơ, tham gia phiên tòa, tham gia tập huấn để nâng cao kiến thức pháp luật, kỹ năng xét xử Về phía Tòa án, phải tạo điều kiện cho Hội thẩm thực hiện việc tiếp cận, nghiên cứu
hồ sơ, cung cấp các văn bản pháp luật cần thiết đối với việc giải quyết vụ án cho Hội thẩm nghiên cứu, lắng nghe ý kiến trao đổi của HTND về các vấn đề trong từng vụ án cụ thể, không nên có tâm lý coi nhẹ các ý kiến, quan điểm của họ, trường hợp cần thiết Tòa án có thể hỗ trợ phương tiện đi lại cho HTND, tạo điều kiện tốt nhất cho HTND thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật
1.5 Lƣợc sử hình thành và phát triển các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự Việt Nam
Thấy được tầm quan trọng của việc tham gia xét xử của công dân vào hoạt động xét xử, pháp luật các nước trên thế giới đều ghi nhận chế định này dưới hình thức này hay hình thức khác Tuỳ theo chế độ chính trị và điều kiện cụ thể của mỗi nước, việc công dân tham gia vào quá trình xét xử của Tòa án dưới các tên gọi khác nhau (Hội thẩm, Bồi thẩm, Thẩm phán không chuyên ) và được quy định ở mức độ khác nhau Ở nước ta, chế định Hội thẩm xuất hiện cùng với
sự xuất hiện của Toà án nhân dân, ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời Qua các thời kỳ lịch sử, chế định Hội thẩm đã phát huy tính tích cực
Trang 34của mình và khẳng định được vai trò quan trọng trong việc tham gia xét xử ở Toà án
1.5.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1950
Ngay sau khi giành được chính quyền, để xây dựng và củng cố chính quyền cũng như để đáp ứng đòi hỏi mới của đời sống dân sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 về tổ chức Toà án và các ngạch Thẩm phán Sắc lệnh số 13 là cơ sở đại cương đầu tiên cho việc tổ chức nền tư pháp nói chung và pháp luật TTDS nói riêng, đánh dấu sự hình thành bộ máy tư pháp kiểu mới ở nước ta mà đặc trưng là tính dân chủ, thể hiện được quyền làm chủ của nhân dân, người dân được tham gia vào việc xét xử của Tòa án thông qua người đại diện là “Phụ thẩm nhân dân” Sắc lệnh chỉ mới bắt đầu định hình
về cơ cấu Tòa án, ngạch Thẩm phán và những quy định sơ lược về Phụ thẩm nhân dân Do đó, nhiệm vụ, quyền hạn, cách thức bầu Phụ thẩm nhân dân chưa được quy định rõ ràng Hơn nữa, ở giai đoạn này Phụ thẩm nhân dân chỉ tham gia xét xử các vụ án hình sự mà không tham gia xét xử các vụ án dân sự và thương sự Mức độ tham gia của Phụ thẩm nhân dân ở Tòa tiểu hình và đại hình
cũng có khác nhau, Điều 65 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Trong khi xử việc
hình thì phải có Phụ thẩm nhân dân tham gia ý kiến nếu là việc tiểu hình hoặc cùng quyết định với Thẩm phán nếu là việc đại hình”
Phụ thẩm không được đọc hồ sơ trước phiên tòa, nhưng tại phiên tòa, có quyền yêu cầu Thẩm phán hỏi bị cáo, được biết giấy tờ trong hồ sơ vụ án
Phụ thẩm phải thực thi nhiệm vụ của mình dựa trên “lý trí sáng suốt”,
“lương tâm ngay thẳng” một cách công bằng, không vì nể, không vì sợ hãi, không tư thù hay thiên vị Phụ thẩm có nghĩa vụ tham gia phiên tòa khi được lựa chọn và nếu vắng mặt, có thể bị phạt tiền tăng dần theo số lần vi phạm, có thể bị mất chức Phụ thẩm Phụ thẩm cũng có nghĩa vụ phải giữ bí mật nội dung vụ án
và có thể bị phạt tù nếu vi phạm nghĩa vụ này
Mặc dù ở giai đoạn này chưa có quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Phụ thẩm nhân dân, Phụ thẩm nhân dân cũng không được tham gia xét xử việc hộ (các vụ án dân sự) nhưng bước đầu đã khẳng định được vị trí, vai trò của Phụ thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, đặt nền móng cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về HTND trong các giai đoạn sau này
Trang 351.5.2 Giai đoạn từ năm 1950 đến trước khi Bộ luật tố tụng dân sự năm
2004 có hiệu lực
Cải cách tư pháp đầu tiên của nước ta năm 1950 có những thay đổi quan trọng về chế định HTND
Tổng kết vai trò của Phụ thẩm nhân dân tại Tòa án trong giai đoạn trước
đó, các nhà cải cách đã chỉ ra một số nhược điểm, đó là: Phụ thẩm nhân dân không có đủ điều kiện và không đủ quyền hạn để hoàn thành nhiệm vụ; quá trình lựa chọn Phụ thẩm nhân dân không được tiến hành thấu đáo, mang tính hình thức nên chất lượng người được chọn không cao; người được cử làm Phụ thẩm không nhận thức đúng mức nhiệm vụ, không nhiệt tình thực hiện công việc, thậm chí bỏ không tham dự phiên tòa, đến mức bị phạt Do vậy, để thực hiện công cuộc cải cách tư pháp, để củng cố chế định HTND, Nhà nước ta đã xác định, cần phải dân chủ hóa bộ máy tư pháp theo hướng thành phần nhân dân cần được đa số trong việc xét xử và HTND phải được tham gia xét xử cả việc hình, việc hộ và có quyền biểu quyết.17
Cải cách chế định HTND được thể hiện rõ nhất tại Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và một số văn bản pháp luật khác, theo đó:
Tăng cường vai trò của đại biểu dân cử tại Tòa án: “Phụ thẩm nhân dân” được đổi thành “Hội thẩm nhân dân”, với nghĩa là những người do dân cử không đóng vai trò phụ thuộc như trước mà ngang hàng với Thẩm phán khi cùng nhau xét xử Trước đây, Phụ thẩm nhân dân chỉ được tham gia xét xử trong vụ án hình sự, thì với Sắc lệnh 85/SL, HTND còn tham gia cả các vụ án dân sự Hơn nữa, trước đây Phụ thẩm nhân dân không được đọc hồ sơ trước thì giờ đây HTND được đọc hồ sơ và có quyền biểu quyết Hiến pháp năm
1959 ra đời đã khẳng định rõ hơn nữa vai trò của nhân dân trong việc tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án Điều 99 Hiến pháp năm 1959 quy định: “Việc xét xử ở các Tòa án nhân dân có HTND tham gia theo quy định của pháp luật Khi xét xử HTND ngang quyền với Thẩm phán” Đây là một điểm rất tiến bộ so với Hiến pháp năm1946 khi chỉ quy định việc xét xử có Phụ thẩm nhân dân tham gia chứ không quy định quyền hạn của Phụ thẩm so với Thẩm phán Thẩm phán
17
Trần Minh Giang (2014), tlđd chú thích, 11
Trang 36là người xét xử chuyên nghiệp, được đào tạo chuyên nghiệp và có trình độ chuyên môn cao hơn HTND rất nhiều nhưng HTND lại ngang quyền với Thẩm phán trong việc xét xử đều này chứng tỏ vai trò của người dân trong việc tham gia xét xử ngày càng được coi trọng Ngày 14/7/1960 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân đã được Quốc hội thông qua lại một lần nữa khẳng định sự ngang quyền giữa HTND và Thẩm phán, Điều 11 Luật này quy định: “Khi sơ thẩm, Tòa án nhân dân có HTND tham gia HTND do nhân dân bầu ra Khi xét xử, HTND ngang quyền với Thẩm phán”
Số lượng HTND chiếm đa số trong thành phần HĐXX Kết hợp với nguyên tắc biểu quyết theo đa số, điều này có ý nghĩa là nếu tất cả các HTND có cùng ý kiến về một vấn đề nào đó thì quyết định của HĐXX sẽ là ý kiến của HTND; Thẩm phán phải thuyết phục ít nhất được một Hội thẩm thì mới có được quyết định cuối cùng theo ý kiến của Thẩm phán chuyên nghiệp
Thẩm quyền của HTND cũng được mở rộng hơn, bao gồm xử án, hòa giải, điều tra trong nhân dân và giáo dục nhân dân
Trong xét xử, HTND có quyền quyết định như Thẩm phán trong mọi việc Trong hòa giải, HTND còn có thể thay Thẩm phán chủ tọa Trong giáo dục, Thẩm phán và HTND cùng nhau lập kế hoạch nhưng HTND có trách nhiệm thực hiện lớn hơn và gần dân hơn Về điều tra trong việc hộ, HTND có thể tiến hành điều tra như Thẩm phán.18
Có thể nói, ở giai đoạn này “Hội thẩm nhân dân” ở Việt Nam đã có thay đổi cơ bản về chất so với chế định “Phụ thẩm nhân dân” trước đây theo hướng dân chủ hóa, nhân dân hóa nền tư pháp Khi xét xử, HTND ngang quyền với Thẩm phán, độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật ở giai đoạn này, nhiệm vụ, quyền hạn của HTND vẫn chưa được quy định một cách cụ thể kể cả sau khi có Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996
1.5.3 Giai đoạn từ sau khi có Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004
18 Trương Hòa Bình (2014), “Một số mô hình công dân tham gia xét xử”, Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ
HTND, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, tr.29
Trang 37Các quy định về sự tham gia của Hội thẩm vào trong hoạt động xét xử của Tòa án trong các văn bản pháp luật như Hiến pháp, Luật Tổ chức Tòa án, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân các thời kỳ không có sự khác biệt quá lớn đối với từng giai đoạn khác nhau Ở giai đoạn này, pháp luật quy định HTND không có quyền hòa giải thay Thẩm phán cũng không có quyền điều tra, tuy nhiên, BLTTDS năm 2004 và năm 2015 đã đưa ra quy định cụ thể về nhiệm
vụ, quyền hạn của HTND tại Điều 42 của BLTTDS năm 2004 và Điều 49 của BLTTDS năm 2015, theo đó:
“Khi được Chánh án Tòa án phân công, HTND có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1 Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa
2 Đề nghị Chánh án Tòa án, Thẩm phán ra các quyết định cần thiết thuộc thẩm quyền
3 Tham gia HĐXX vụ án dân sự
4 Tiến hành các hoạt động tố tụng và ngang quyền với Thẩm phán khi biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐXX.”
Nhiệm vụ, quyền hạn của HTND khi giải quyết vụ án dân sự đã được quy định tương đối đầy đủ Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa hiệu quả xét xử, cũng như phát huy được khả năng của HTND, đồng thời không làm mất đi ý nghĩa của HTND trong công tác xét xử cần xác định đúng đắn vị trí, vai trò, trách nhiệm của HTND trong TTDS Do đó, các quy định về HTND cần tiếp tục hoàn thiện cho phù hợp, là một đòi hỏi tất yếu
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong Chương 1, tác giả đã làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về nhiệm
vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự Việc nghiên cứu những vấn đề lý luận đó là vô cùng quan trọng nhằm xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân sao cho phù hợp với vị trí, vai trò của họ trong tố tụng dân sự và phù hợp với thực tiễn Trong Chương này, tác giả cũng đã phân tích làm rõ được các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân qua các thời kỳ Có thể nhận định rằng, ở các giai đoạn lịch sử, pháp luật tố tụng dân sự quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân không có sự khác biệt quá lớn và ngày càng được quy định cụ thể, rõ ràng hơn
Với những nội dung được trình bày cụ thể trong Chương 1 sẽ là cơ sở, tiền đề cho việc phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện các quy định đó tại thành phố Hải Phòng
Trang 39Chương 2 NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA HỘI THẨM NHÂN DÂN THEO QUY
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ HIỆN HÀNH
2.1 Nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự
Một trong những biểu hiện dân chủ của nền tư pháp là có đại diện của nhân dân tham gia vào việc xét xử của Tòa án Bằng việc tham gia của mình, HTND thực hiện quyền lực tư pháp, đại diện cho nhân dân tham gia vào công tác pháp lý Nhà nước nói chung và hoạt động của Tòa án nói riêng Đồng thời, việc tham gia của HTND còn bảo đảm sự giám sát từ bên trong của nhân dân đến hoạt động xét xử của Tòa án; khi tham gia hoạt động xét xử của Tòa án, HTND không chỉ được trực tiếp đưa ra phán quyết để giải quyết vụ án mà còn là người giám sát, kiểm tra các hoạt động đó Để thực hiện được những điều này, pháp luật TTDS trao cho HTND những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định
HTND là những người kiêm nhiệm trong hoạt động xét xử, chịu sự quản
lý của Chánh án TAND theo quy chế tổ chức và hoạt động của Hội thẩm Nhiệm
vụ, quyền hạn chung của HTND được quy định tại các điều 9, 16 và 84 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014
Khoản 2 Điều 84 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định: “ Hội thẩm nhân dân thực hiện nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo phân công của Chánh án Tòa án nơi được bầu làm Hội thẩm nhân dân” Hội thẩm có nghĩa vụ thực hiện sự phân công của Chánh án Tòa
án, trường hợp không thực hiện được thì phải nêu rõ lý do Để đảm bảo hiệu quả hoạt động của HTND, BLTTDS năm 2015 quy định các nhiệm vụ cụ thể của họ tại Điều 49 và một số điều luật khác như Điều 11, 12, 264, 268
Sau khi được phân công xét xử các vụ án dân sự, HTND có quyền yêu cầu Tòa án thông báo cho biết cụ thể họ, tên từng người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong vụ án và việc đầu tiên là phải kiểm tra xem mình có thuộc trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng theo quy định tại Điều 52, 53 BLTTDS hay không Theo quy định tại Điều 55 BLTTDS thì việc từ chối tiến hành tố tụng phải được lập thành văn bản, trong đó nêu rõ lý do và căn
cứ của việc từ chối tiến hành tố tụng Nếu không thuộc các trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng, sau khi được phân công, Hội thẩm thực hiện nhiệm vụ,
Trang 40quyền hạn cụ thể của mình đã được quy định tại Điều 49 BLTTDS năm 2015, gồm có: Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa; đề nghị Chánh án Tòa
án, Thẩm phán ra các quyết định cần thiết thuộc thẩm quyền; tham gia Hội đồng xét xử; tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử Khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán trong việc đưa ra các ý kiến về những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét
xử, các ý kiến này có tính chất quyết định ngang nhau
Nghiên cứu hồ sơ trước khi mở phiên tòa là công việc rất quan trọng khi Hội thẩm tham gia xét xử, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của HTND khi tham gia xét xử vụ án, ảnh hưởng đến chất lượng của bản án, quyết định giải quyết vụ án sau này Hội thẩm có nắm chắc hồ sơ, nắm vững các tình tiết của vụ án thì mới có thể thực hiện các công việc khác thuộc phạm vi nhiệm
bộ các giấy tờ, tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án được sắp xếp theo một trật
tự nhất định, giúp cho Tòa án lưu giữ các thông tin về tiến trình thụ lý và giải quyết vụ án, phản ánh diễn biến của sự việc và quá trình giải quyết vụ án Để giải quyết đúng vụ án, sau khi được phân công xét xử, Hội thẩm phải tiến hành đọc, xem xét, tìm hiểu, phân tích, đánh giá các tài liệu có trong hồ sơ vụ án Hoạt động này được gọi là nghiên cứu hồ sơ vụ án
Theo từ điển Tiếng Việt thì nghiên cứu là “xem xét, tìm hiểu kỹ lưỡng để nắm vững vấn đề, giải quyết vấn đề hay để rút ra những hiểu biết mới”19 Vậy, nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự là hoạt động xem xét, tìm hiểu các thông tin, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án dân sự để nắm vững các vấn đề cần giải quyết trong vụ án đó để chuẩn bị cho việc giải quyết vụ án
Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự là một hoạt động thường xuyên và quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự của Thẩm phán và HTND Trong TTDS, việc nghiên cứu hồ sơ có một ý nghĩa rất quan trọng Thông qua
19
Hoàng Phê (chủ biên, 2003), tlđd chú thích 03, tr.680