Trải qua gần 70 năm với 4 lần sửa đổi nhưng vai trò và vị trí của Công đoàn Việt Nam tiếp tục được khẳng định tại Điều 10 Hiến pháp 2013 cụ thể "Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị -
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN VĂN THẮNG
PHỐI HỢP GIỮA BAN GIÁM HIỆU VỚI TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRONG CHĂM LO ĐỜI SỐNG CHO GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Trần Quốc Thành
HÀ NỘI, 2017
Trang 2Lời cảm ơn
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự động viên, dạy bảo, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi của các cấp lãnh đạo, quý thầy cô, các bạn đồng nghiệp và gia đình
Tác giả xin chân thành cảm ơn Khoa quản lý Giáo dục, Hội đồng khoa học, trường Đại học sư phạm Hà Nội; Sở Giáo dục và Đào tạo, Công đoàn ngành Giáo dục Hải Phòng, Ban Giám hiệu, Ban Chấp hành công đoàn cùng toàn thể các thầy cô giáo của các trường THPT huyện Thủy Nguyên đã tận tình cung cấp tài liệu, tạo điều kiện thuận lợi và có những ký kiến đóng góp quý báu cho việc nghiện cứu hoàn thành đề tài Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS TS Trần Quốc Thành đã tận tâm bồi dưỡng, chỉ bảo, hướng dẫn giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn cũng như bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng trong công tác hiện hành
Tuy đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót, tồn tại và hạn chế, tác giả kính mong nhận được những lời chỉ dẫn chân thành của các thầy giáo, cô giáo, ý kiến trao đổi của đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Hải Phòng, ngày 15 tháng 5 năm 2017
Tác giả
Trần Văn Thắng
Trang 3CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP GIỮA BAN GIÁM HIỆU VÀ TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRONG CHĂM LO ĐỜI SỐNG CHO GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Tổ chức công đoàn trên thế giới 6
1.1.2 Tổ chức Công đoàn ở Việt Nam 6
1.2 Các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 9
1.2.1 Ban Giám hiệu 9
1.2.2 Công đoàn 10
1.2.3 Quản lý: 11
1.2.4 Phối hợp: 11
1.2.5 Chăm lo đời sống cho giáo viên: 12
1.3 Tính chất, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của tổ chức Công đoàn 12
1.3.1 Tính chất của Công đoàn 12
1.3.2 Vị trí của tổ chức công đoàn 13
Trang 51.3.3 Vai trò của tổ chức công đoàn 14
1.3.4 Chức năng của tổ chức công đoàn 15
1.3.5 Nhiệm vụ của tổ chức công đoàn 17
1.3.6 Thẩm quyền của tổ chức công đoàn 18
1.4 Trường THPT và tổ chức Công đoàn trong sự nghiệp giáo dục 19
1.4.1 Trường THPT trong hệ thống giáo dục Quốc dân 19
1.4.2 Vị trí, vai trò của tổ chức Công đoàn trong ngành Giáo dục 20
1.5 Phối hợp giữa ban Giám hiệu và tổ chức Công đoàn trong trường THPT 24
1.5.1 Vị trí, vai trò của Ban Giám hiệu và tổ chức Công đoàn trong trường THPT 24
1.5.2 Đặc điểm của hoạt động phối hợp giữa Ban Giám hiệu và tổ chức Công đoàn trong trường THPT 30
1.5.3 Cơ sở pháp lý của phối hợp giữa Ban Giám hiệu với tổ chức
Công đoàn trong THPT 30
1.5.4 Các nội dung phối hợp giữa Ban Giám hiệu với tổ chức Công đoàn trong trường THPT 33
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến phối hợp giữa Ban Giám hiệu và tổ chức Công đoàn trong trường THPT 35
1.6.1 Các yếu tố chủ quan 35
1.5.2 Các yếu tố khách quan 35
Tiểu kết chương 1 35
Chương 2 THỰC TRẠNG PHỐI HỢP GIỮA BAN GIÁM HIỆU
VÀ TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRONG CHĂM LO ĐỜI SỐNG CHO
GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 37
2.1 Khái quát vài nét cơ bản về huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng 37
2.1.1 Vị trí địa lý, dân cư và tình hình kinh tế- xã hội của Thủy Nguyên 37
2.1.2 Vài nét về thực trạng giáo dục THPT ở Huyện Thủy Nguyên 40
2.1.3 Đánh giá chung về giáo dục THPT của huyện Thủy Nguyên 44
Trang 62.2 Thực trạng việc chăm lo đời sống cho giáo viên ở trường THPT
huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng 46
2.2.1 Chủ trương của cấp uỷ, chính quyền về công tác chăm lo đời sống
cho giáo viên ở các trường THPT 46
2.2.2 Thực trạng nhận thức về công tác chăm lo đời sống cho giáo viên
ở các trường THPT trong huyện Thủy Nguyên 47
2.2.3 Thực trạng thực hiện chăm lo đời sống cho giáo viên ở các trường THPT trong huyện Thủy Nguyên 49
2.3 Thực trạng phối hợp giữa Ban Giám hiệu và tổ chức Công đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên ở các trường THPT huyện Thủy Nguyên 53
2.3.1 Hoạt động của Công đoàn các trường THPT trong huyện Thủy Nguyên 53
2.3.2 Những hình thức và nội dung phối hợp giữa Ban Giám hiệu và tổ chức Công đoàn trong các hoạt động chăm lo đời sống cho giáo viên ở các trường THPT trong huyện Thủy Nguyên 54
2.3.3 Những biện pháp phối hợp giữa Ban Giám hiệu và tổ chức Công đoàn trong công tác chăm lo đời sống cho giáo viên ở các trường THPT trong huyện Thủy Nguyên 57
2.4 Đánh giá chung về thực trạng phối hợp giữa Ban Giám hiệu và tổ chức Công đoàn trong chăm lo đời sống của giáo viên 60
2.4.1 Thành tựu và hạn chế 60
2.4.2 Thuận lợi và khó khăn 62
Tiểu kết chương 2 65
Chương 3 BIỆN PHÁP PHỐI HỢP GIỮA BAN GIÁM HIỆU VÀ
TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRONG CHĂM LO ĐỜI SỐNG CHO
GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 66
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 66
3.1.1 Cần quán triệt các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về
chăm lo đời sống cho cán bộ, viên chức 66
Trang 73.1.2 Phải đảm bảo đúng các quy định của pháp luật và chính sách
của ngành Giáo dục và Đào tạo 66
3.1.3 Phải bám sát mục tiêu phát triển giáo dục THPT 67
3.1.4 Phải đồng bộ với hệ thống quản lý các hoạt động khác của nhà trường 68
3.2 Các biện pháp cụ thể 68
3.2.1 Tuyên truyền nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc phối hợp giữa ban Giám hiệu và tổ chức Công đoàn trong chăm lo đời sống của giáo viên 68
3.2.2 Thống nhất mục đích, yêu cầu và nội dung phối hợp giữa ban Giám hiệu và Ban Chấp hành Công đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên 71
3.2.3 Thành lập Ban chỉ đạo phối hợp giữa ban Giám hiệu và Ban Chấp hành Công đoàn nhà trường 75
3.2.4 Xác định rõ trách nhiệm và hình thành qui chế phối hợp giữa chặt chẽ giữa Công đoàn và ban Giám hiệu nhà trường 78
3.2.5 Phát huy vai trò, tinh thần trách nhiệm của các cấp công đoàn trong nhà trường và cá nhân mỗi đoàn viên công đoàn 81
3.2.6 Huy động các nguồn lực trong và ngoài nhà trường tham gia vào công tác chăm lo đời sống giáo viên 83
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 85
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp 87
Kết luận chương 3 92
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94
1 Kết luận 94
2 Khuyến nghị 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Quy mô trường lớp 40
Bảng 2.2 Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên 41
Bảng 2.3 Xếp loại văn hóa 42
Bảng 2.4 Xếp loại hạnh kiểm 42
Bảng 2.5 Chất lượng tốt nghiệp THPT 43
Bảng 2.6 Số học sinh đỗ vào các trường Đại học và Cao đẳng 43
Bảng 2.7 Cơ sở vật chất - thiết bị dạy học 44
Bảng 2.8: Thống kê số liệu kinh phí đầu tư đóng góp một năm 2016 47
Bảng 2.9 Nhận thức về tầm quan trọng của công tác chăm lo đời sống cho giáo viên 48
Bảng 2 10: Mức độ thực hiện các nội dung chăm lo đời sống cho giáo viên ở các trường THPT 49
Bảng 2.11 Mức độ thực hiện các biện pháp phối hợp giữa Ban Giám hiệu
và tổ chức Công đoàn 58
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết của các biện pháp 87
Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 89
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Để thực hiện thắng lới Nghị quyết 29 của BCH Trung ương đảng khóa
XI, trước hết chúng ta cần phải xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu loại hình, có trình độ chuyên môn tốt, có đạo đức và lối sống lành mạnh trong sáng và mẫu mực, có phẩm chất chính trị vững vàng [2]
Khi chưa có bất cứ tổ chức chính trị - xã hội nào được quy định trong Hiến pháp thì đã có quy định về công đoàn Việt Nam tại Điều 10 Hiến pháp
1959 Lúc đó công đoàn chưa được quy định thành điều riêng những cũng đã thể hiện rất rõ vai trò và vị trí của tổ chức Công đoàn trong xã hội Đến Hiến pháp năm 1980 đã dành riêng điều 10 quy định về Công đoàn Việt Nam Trải qua gần 70 năm với 4 lần sửa đổi nhưng vai trò và vị trí của Công đoàn Việt Nam tiếp tục được khẳng định tại Điều 10 Hiến pháp 2013 cụ thể "Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm
lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [16, tr 14]
Nội dung Nghị quyết Đại hội Công đoàn Việt Nam khóa X, Nghị quyết Đại hội Công đoàn thành phố Hải Phòng lần thứ XIII, Nghị quyết đại hội Công đoàn ngành giáo dục thành phố lần thứ XVII, đã nhấn mạnh vai trò của
tổ chức Công đoàn ngành giáo dục Tổ chức Công đoàn có nhiệm vụ chăm sóc đời sống cho giáo viên để họ có thêm tinh thần, điều kiện, thêm nghị lực tập trung trong công việcTrong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục nói chung và hoạt động của tổ chức Công đoàn trong trường THPT nói riêng,
Trang 10công tác phối hợp giữa Ban Giám hiệu và tổ chức Công đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên ở trường THPT có vị trí quan trọng Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, ngành giáo dục đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức đòi hỏi năng lực của nhà quản lý theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm đảm bảo chất lượng đội ngũ, đời sống vật chất và tinh thần của giáo viên, chất lượng giáo dục toàn diện phải được nâng cao
Hiện nay ở nhiều trường THPT, công tác phối hợp giữa Ban Giám hiệu
và tổ chức Công đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên đã có những chuyển biến tích cực nhưng chưa được tiến hành một cách khoa học và bài bản Năng lực quản lý của cán bộ quản lý còn hạn chế, điều kiện kinh tế vùng miền và trình độ dân trí đã ảnh hưởng nhiều tới chất lượng hoạt động chăm lo đời sống cho giáo viên của tổ chức Công đoàn
Để chăm lo đời sống cho giáo viên, giúp họ toàn tâm toàn ý với sự nghiệp giáo dục học sinh, rất cần thiết phải nghiên cứu về sự phối hợp giữa Ban Giám hiệu với tổ chức Công đoàn trong nhà trường Trước hết là tìm hiểu
để nắm vững chức năng của tổ chức Công đoàn, sau đó là hiểu rõ mối quan hệ phối hợp giữa Ban Giám hiệu và Công đoàn nhà trường trong chăm lo đời sống cho giáo viên để qua đó nâng cao chất lượng giáo dục ở mỗi đơn vị
Từ những lý do nêu trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: Phối hợp giữa Ban
Giám hiệu với tổ chức Công đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên ở các
trường trung học phổ thông huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng phối hợp giữa Ban Giám hiệu và tổ chức Công đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên ở các trường THPT huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng Đề xuất một số biện pháp phối hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động chăm lo đời sống cho giáo viên ở các trường THPT huyện Thủy Nguyên nói riêng và thành phố Hải Phòng nói chung
Trang 113 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động chăm lo đời sống cho giáo viên ở trường Trung học phổ thông
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp phối hợp giữa Ban Giám hiệu và tổ chức Công đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên ở trường THPT huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
4 Giả thuyết khoa học
Hoạt động phối hợp giữa Ban Giám hiệu và tổ chức Công đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên ở trường THPT huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng trong một số năm gần đây có những kết quả đáng ghi nhận Song công tác chăm lo đời sống cho đội ngũ giáo viên vẫn còn những hạn chế nhất định Có một nguyên nhân quan trọng là việc phối hợp giữa lãnh đạo nhà trường và tổ chức Công đoàn chưa thật sự hợp lý Nếu đề xuất và thực hiện một cách đồng bộ các biện pháp phối hợp phù hợp với tình hình thực tiễn của nhà trường thì hiệu quả hoạt động của tổ chức Công đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên ở các trường THPT huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng sẽ được cải thiện
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xác lập cơ sở lý luận về phối hợp giữa Ban Giám hiệu và tổ chức Công đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên ở trường THPT
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng sự phối hợp giữa Ban Giám hiệu và
tổ chức Công đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên ở trường THPT huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
5.3 Đề xuất một số biện pháp phối hợp giữa Ban Giám hiệu và tổ chức Công đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên ở trường THPT huyện Thủy
Nguyên, thành phố Hải Phòng
Trang 126 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn đối tượng nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu và đề xuất biện pháp phối hợp giữa Ban Giám hiệu và tổ chức Công đoàn trường THPT trong huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng trong chăm lo đời sống cho giáo viên
6.2 Giới hạn khách thể khảo sát
Tập thể cán bộ, giáo viên các trường THPT trong huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu để phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các nội dung có liên quan đến hoạt động quản lý của Ban Giám hiệu, của tổ chức Công đoàn trong trường THPT nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra, thống kê
Sử dụng phiếu hỏi để thu thập thông tin về thực trạng công tác chăm lo đời sống, mức thu nhập cá nhân bình quân và tăng thêm, hoạt động của tổ chức Công đoàn trong nhà trường, công tác quản quản lý hoạt động Công đoàn và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt công tác phối hợp giữa Ban Giám hiệu và tổ chức Công đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên trong trường THPT
7.2.2 Phương pháp quan sát
Quan sát hoạt động đời sống vật chất và tinh thần; trách nhiệm thực hiện chuyên môn và cử chỉ giao tiếp, đoàn kết nội bộ, sự quan tâm đến đồng nghiệp trong trường THPT để thu thập thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn trực tiếp các cán bộ quản lý về công tác phối hợp giữa Ban Giám hiệu và tổ chức Công đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên trường THPT Phỏng vấn giáo viên có mức thu nhập khác nhau, có độ tuổi khác nhau
Trang 13xem thực trạng đời sống và sự quan tâm tạo điều kiện của các cấp lãnh đạo, của nhà trường, của các đoàn thể trong và ngoài nhà trường như thế nào; xem
họ có yêu cầu hay mong đợi gì từ các nhà lãnh đạo, các tổ chức đến vấn đề
thiết thực gần gũi nhất
7.2.4 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý chính quyền và đoàn thể để khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề tài đề xuất
7.2.5 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng các công thức thống kê toán học trong khoa học giáo dục để
xử lý kết quả nghiên cứu
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài các mục Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phối hợp giữa Ban Giám hiệu và tổ chức
Công đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên trường THPT
Chương 2: Thực trạng phối hợp giữa Ban Giám hiệu và tổ chức Công
đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên ở trường THPT huyện Thủy
Nguyên, thành phố Hải Phòng
Chương 3: Biện pháp phối hợp giữa Ban Giám hiệu và tổ chức Công
đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên ở trường THPT huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
Trang 141.1.1 Tổ chức công đoàn trên thế giới
Cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra giữa thế kỷ XVIII ở Anh, sau đó diễn ra ở nhiều nước khác Từ cuộc cách mạng công nghiệp, giai cấp công nhân
và giai cấp tư sản đã ra đời Hai giai cấp này đối lập nhau về quyền lợi Do bị bóc lột tàn tệ, giai cấp công nhân đã đấu tranh chống giai cấp tư sản từ những nhà máy, phân xưởng nhỏ lẻ, rời rạc và tự phát Trong cuộc đấu tranh, công nhân nhận thấy cần tập hợp lực lượng, thống nhất hành động mới bảo vệ được quyền lợi của mình Do đó đã hình thành một tổ chức để đáp ứng yêu cầu ấy- đó là tổ chức Công đoàn Tổ chức Công đoàn ra đời là tất yếu khách quan và sự ra đời
đầu tiên là ở Anh vào đầu năm 1776, Pháp năm 1789, Mỹ năm 1827
Trải qua một thời gian dài phát triển, nhiều tổ chức Công đoàn ở các quốc gia đã có đủ điều kiện nhận thức và kinh nghiệm xây dựng tổ chức Công đoàn, vai trò và vị trí Công đoàn ngày càng được khẳng định Nhiều tổ chức Công đoàn đã đứng ra đấu tranh đòi dân chủ, công bằng xã hội, đưa ra nhiều kiến nghị đòi tăng tiền lương, giảm giờ làm, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống… cho người lao động Từ khi ra đời cho đến nay, tổ chức Công đoàn đã
có nhiều đóng góp đáng kể cho tiến trình cách mạng thế giới và trở thành một
Tổ chức quan trọng trong hệ thống chính trị của nhiều quốc gia.[32]
1.1.2 Tổ chức Công đoàn ở Việt Nam
Sự ra đời của tổ chức Công đoàn Việt Nam gắn liền với sự hình thành, phát triển của giai cấp công nhân và hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Người đặt nền móng về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của tổ chức Công đoàn Việt Nam
Trang 15Sau Đại chiến thế giới lần thứ I, thực dân Pháp tiến hành ồ ạt đợt khai thác thuộc địa lần thứ II (1919-1929) ở nước ta Đây là lúc giai cấp công nhân Việt Nam tăng nhanh về số lượng và chuyển biến mau lẹ về chất lượng Đến cuối năm 1929, số công nhân chuyên nghiệp đã lên tới 22.000 người với
cơ cấu thuần nhất
Ảnh hưởng từ Cách mạng tháng 10 Nga, sau đó đặc biệt là với sự truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, phong trào công nhân Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, hoàn thành bước chuyển biến từ tự phát sang tự giác, từ đó sự hình thành và phát triển của tổ chức Công đoàn Việt Nam gắn chặt với cuộc vận động thành lập Đảng Có thể nói, từ khi Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội được thành lập (tháng 6-1925) đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2-1930) cũng là lúc xuất hiện các Tổ chức Công đoàn đầu tiêntrong lịch sử phong trào công nhân nước ta
Ngày 20-7-1946, tại thủ đô Hà Nội, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam chính thức tuyên bố thành lập đánh dấu bước ngoặt của phong trào công đoàn Việt Nam với một tổ chức thống nhất và ổn định thật sự trong cả nước Tháng 1-1949, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam lần thứ I họp ở Thái Nguyên đã bầu ra Ban chấp hành Trung ương do đồng chí Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch danh dự và đồng chí Hoàng Quốc Việt làm Chủ tịch
Trong sự nghiệp cách mạng Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và sự nghiệp giải phóng miền Nam (1954-1975), công đoàn Việt Nam lớn mạnh vượt bậc Ngày 14-9-1957, Quốc hội nhất trí thông qua Luật công đoàn qui định vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của công đoàn Việt Nam.[32]
Vì vậy, khi nghiên cứu về tổ chức Công đoàn cũng mang một ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu pháp luật lao động vì hoạt động của Công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động phải thông qua một hệ thống
tổ chức nhất định Việc nghiên cứu tổ chức Công đoàn là một biện pháp tiếp
Trang 16cận địa vị pháp lý của Công đoàn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động
Luật Công đoàn và những văn kiện của Công đoàn Việt Nam qua các
kỳ đại hội đã khẳng định vị trí của Công đoàn giữa các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, xã hội và mối quan hệ của Công đoàn với các tổ chức khác
Tại điều 1 của Luật Công đoàn 2012 ghi rõ: “Công đoàn là tổ chức chính trị -
xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán
bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình
độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.[33, tr 8]
Trong bài nói chuyện của Bác tại trường cán bộ Công đoàn, ngày
19/1/1957, Người đã nhấn mạnh rằng “Mục đích Công đoàn là phải cải thiện
đời sống công nhân, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của giai cấp công nhân nói riêng và nhân dân nói chung” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.7, tr 567)
Đồng chí Vũ Minh Đức, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt
Nam, Chủ tịch Công đoàn Giáo dục Việt Nam đã viết: “Chăm lo đời sống
cho đoàn viên, người lao động là một trong ba chức năng chính của tổ chức công đoàn nói chúng và Công đoàn Giáo dục Việt Nam Đặt biệt trong giai đoạn hiện nay, khi điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của người lao động ngày càng cao, đòi hỏi công tác chăm lo đời sống cho người lao động càng cần được quan tâm, thực hiện chăm lo cả về vật chất và tình
Trang 17thần Xác định công tác chăm lo đời sống, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của cán bộ giáo viên và người lao động là nhiệm vụ trọng tâm của công đoàn giáo dục trong giai đoạn hiện nay, nhằm động viên, khuyến khích cán bộ, nhà giáo và người lao động trong ngành, tạo động lực nâng cao chất lượng trong công tác, góp phần thực hiện thành công đổi mới giáo dục đào tạo.”
Trải qua gần 90 năm xây dựng, phát triển tổ chức Công đoàn Việt Nam luôn là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
là lực lượng nòng cốt, tiên phong trong công cuộc đổi mới đất nước, nhất là thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước; góp phần tạo nên những thành tựu rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng an ninh; xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Hiện nay, đất nước ta đang hội nhập ngày càng sâu rộng và toàn diện với thế giới, tạo cơ hội phát triển kinh tế - xã hội nhưng cũng kéo theo nhiều thách thức, tác động trực tiếp tới việc làm, đời sống của cán bộ, giáo viên, người lao động Trước tình hình đó, hơn lúc nào hết Các cấp Công đoàn giáo dục nói riêng và tổ chức Công đoàn Việt Nam nói chung cần quyết tâm đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tiếp cận với hình thức tổ chức kinh tế mới, công nghệ mới hiện đại, chủ động, tích cực hơn trong việc chăm lo, bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động
1.2 Các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Ban Giám hiệu: Là thuật ngữ thường dùng chỉ Hiệu trưởng và các
hiệu phó trong nhàtrường Theo Điều lệ trường phổ thông (năm 1979) thì trong trường phổ thông không có Ban Giám hiệu (hiệu: nhà trường) mà chỉ
có Hiệu trưởng và người giúp việc cho Hiệu trưởng là Phó Hiệu trưởng Nhà trường thực hiện chế độ thủ trưởng (khác với chế độ lãnh đạo theo Ban là quyết định theo đa số) Song kể từ khi có Luật Giáo dục năm 2005, Điều lệ
Trang 18trường phổ thông (2011) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành thì từ này được dùng lại (với nghĩa được hiểu là tập hợp gồm Hiệu trưởng và các Phó Hiệu trưởng ở một trường học), Ban Giám hiệu không thực hiện chế độ lãnh đạo theo Ban (thiểu số phục tùng đa số, như các Ban chấp hành của các tổ chức, đoàn thể)
1.2.2 Công đoàn: Là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công
nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động), cùng với
cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của
cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.[33, tr 8]
* Ban chấp hành Công đoàn là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội của mỗi cấp công đoàn, do đại hội công doàn cấp đó bầu ra Ban chấp hành công đoàn cấp dưới phải được ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp công nhận [30, tr19]
Trang 19- Ban chấp hành công đoàn các cấp hoạt động theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá thể phục tùng tổ chức
- Nghị quyết của công đoàn các cấp được thông qua theo đa số và phải được thi hành nghiêm chỉnh.[30, tr 13]
* Hệ thống tổ chức công đoàn Việt Nam:
Luật công đoàn (2012) và Điều lệ công đoàn (2013) qui định về phân cấp tổ chức công đoàn Việt Nam như sau:
- Cấp Trung ương: Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam
- Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và công đoàn ngành trung ương và tương đương
- Liên đoàn lao động huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; công đoàn ngành địa phương; công đoàn khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh
tế, khu công nghệ cao, công đoàn tổng công ty và một số công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở đặc thù
- Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn [33, tr 11] [30, tr 14]
Theo GS.TS Trần Quốc Thành và PGS.TS Dương Hải Hưng:
“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu của tổ chức đã đề ra” [19, tr 11]
1.2.4 Phối hợp:
Theo PGS TS Trần Kiểm “Quản lý là Công tác Phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác chung một tổ chức” [20, tr 13]
Theo GS.TS Trần Quốc Thành và PGS.TS Dương Hải Hưng:
“Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất” [19, tr 14]
Như vậy ta có thể hiểu phối hợp chính là một trong những chức năng
Trang 20tổ chức trong quản lý Sự phối hợp chính là xác lập mối quan hệ giữa các cá nhân, tổ chức, các lực lượng để đạt mục tiêu đề ra
1.2.5 Chăm lo đời sống cho giáo viên:
Chăm lo đời sống cho giáo viên chính là nâng cao đời sống vật chất, tinh thần Bác Hồ trong buổi nói chuyện tại trường cán bộ công đoàn người đã
nói “Mục đích Công đoàn là phải cải thiện đời sống công nhân, nâng cao đời
sống vật chất, văn hóa của giai cấp công nhân nói riêng và nhân dân nói chung” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.7, tr 567)
+ Đời sống vật chất: Chế độ chính sách, quyền lợi, lương thưởng, tăng nguồn thu nhập, trang thiết bị phục vụ tại nơi làm việc, điều kiện kinh tế …
+ Đời sống tinh thần: Công tác động viên, thăm hỏi; tham quan học tập, du lịch; văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, giao lưu, sinh hoạt các
nhóm, câu lạc bộ, tinh thần đoàn kết nội bộ…
+ Đời sống lao động: Môi trường làm việc, cơ sở vật chất nhà trường phục
vụ cho hoạt động dạy và học, cảnh quan sư phạm; Công tác Bổ nhiệm, phân
công giảng dạy, mặt bằng, chuyên môn làm việc, bồi dưỡng, nâng chuẩn…
1.3 Tính chất, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của tổ chức Công đoàn
1.3.1 Tính chất của Công đoàn
Công đoàn Việt Nam có hai tính chất: Tính chất giai cấp của giai cấp công nhân và tính quần chúng
Trước hết là tính chất giai cấp của công đoàn
Tính đó được biểu hiện trong tổ chức và hoạt động công đoàn: Được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, luận trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân và dân tộc
Công đoàn là thành viên của hệ thống chính trị, hoạt động của Công đoàn mang tính chất chính trị và tính chất xã hội Công đoàn không phải là tổ chức nhà nước, không phải là tổ chức mang tính chất đảng phái Công đoàn là
Trang 21hình thức tổ chức quần chúng của công nhân, của người lao động, điểm đó đã xác định tính chất quần chúng của Công đoàn
Công nhân Việt Nam từ khi ra đời, tồn tại và phát triển đã mang đầy đủ tính chất giai cấp của giai cấp công nhân và tính quần chúng rộng rãi Tính chất đó được biểu hiện trong tổ chức và hoạt động của công đoàn Việt Nam những năm qua
Hai tính chất của Công đoàn có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Thể hiệt bản chất của Công đoàn Việt Nam; cần được quán triệt sâu sắc trong
tư tưởng chỉ đạo, xây dựng tổ chức và hoạt động công đoàn [29, tr 16]
1.3.2 Vị trí của tổ chức công đoàn
Công đoàn Việt Nam có địa vị pháp lý, được ghi nhận trong Hiến pháp, Luật Công đoàn, Bộ Luật Lao động và các văn bản khác của Nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Vị trí của công đoàn Việt Nam trong trong chặng đầu quá độ lên Chủ nghĩa xã hội đã được xác định rõ từ các kỳ Đại hội lần III, IV, V, VI và được phát triển ở Đại hội VII, VIII công đoàn Việt Nam
Công đoàn Việt Nam nằm trong hệ thống chính trị của Nhà nước, là trung tâm tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân lao động Công đoàn Việt Nam là chỗ dựa vững chắc của Đảng, là sợi dây nối liền Đảng với người lao động Mối liên hệ chặt chẽ giữa Đảng và Công đoàn, trong đó Đảng giữ vai trò lãnh đạo, còn Công đoàn mang tính độc lập tương đối về mặt tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng là quy luật chung trong mối quan hệ qua lại giữa hai tổ chức đó ở điều kiện xã hội Xã hội chủ nghĩa Công đoàn Việt Nam là tổ chức hoạt động phối hợp và thống nhất với Nhà nước Dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Công đoàn với Nhà nước là sự thống nhất, phối hợp: Nhà nước và Công đoàn cùng tạo điều kiện cho nhau hoạt động có hiệu quả Công đoàn là cơ quan đại diện quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động để tham gia, đề xuất với Nhà nước về những vấn đề không chỉ công
Trang 22đoàn mà cả Nhà nước quan tâm Nhà nước giúp đỡ, tạo điều kiện về vật chất
và pháp lý cho Công đoàn hoạt động Công đoàn vận động công nhân lao động xây dựng và bảo vệ chính quyền Nhà nước [32]
1.3.3 Vai trò của tổ chức công đoàn
Vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam không ngừng phát triển, mở rộng qua các thời kỳ Ngày nay trong giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại, vai trò của Công đoàn Việt Nam tác động trên các lĩnh vực:
* Trong lĩnh vực chính trị: Công đoàn có vai trò to lớn trong việc góp
phần xây dựng và nâng cao hiệu quả của hệ thống chính trị - xã hội xã hội chủ nghĩa Tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực thi pháp luật và để Nhà nước thực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Để đảm bảo sự ổn định về chính trị
* Trong lĩnh vực kinh tế: Công đoàn tham gia xây dựng hoàn thiện cơ
chế quản lý kinh tế nhằm xoá bỏ quan liêu, bao cấp, củng cố nguyên tắc tập trung trên cơ sở mở rộng dân chủ Góp phần củng cố những thành tựu kinh tế văn hoá và khoa học kỹ thuật đã đạt được trong những năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thành phần kinh tế trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, liên kết
và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển có lợi cho quốc kế dân sinh Đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, từng bước đưa kinh tế tri thức vào Việt Nam, góp phần nhanh chóng hội nhập với khu vực và thế giới Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc đẩy mạnh hoạt động của các thành phần kinh tế vẫn đảm bảo cho kinh tế quốc doanh giữ vị trí then chốt, đóng vai trò chủ đạo
* Trong lĩnh vực văn hoá - tư tưởng: Trong nền kinh tế nhiều thành
phần Công đoàn phát huy vai trò của mình trong việc giáo dục công nhân,
Trang 23viên chức và lao động nâng cao lập trường giai cấp, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động, phát huy những giá trị cao đẹp, truyền thống văn hoá dân tộc
và tiếp thu những thành tựu tiên tiến của văn minh nhân loại góp phần xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam
* Trong lĩnh vực xã hội: Công đoàn có vai trò trong tham gia xây dựng
giai cấp công nhân vững mạnh cả về số lượng và chất lượng, không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, tính tổ chức kỷ luật, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, có nhãn quan chính trị, thực sự là lực lượng nòng cốt của khối liên minh công - nông - trí thức, làm nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân, là cơ sở vững chắc đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng và tăng cường sức mạnh của Nhà nước
1.3.4 Chức năng của tổ chức công đoàn
Chức năng của một tổ chức là sự phân công tất yếu, sự quy định chức trách một cách tương đối, ổn định và hợp lý trong điều kiện lịch sử và xã hội nhất định của tổ chức, để phân biệt tổ chức này với tổ chức khác Chức năng của Công đoàn được biểu hiện bằng những phương hướng, những mặt hoạt động chủ yếu để thực hiện bản chất và vai trò của Công đoàn trong xã hội
- Chức năng thứ nhất, đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức, lao động
Do trình độ dân trí còn thấp, những tàn dư của xã hội cũ để lại và những tư tưởng độc đoán, trù dập, ức hiếp người lao động của người sử dụng lao động đã dẫn đến nhiều hiện tượng vi phạm đến quyền, lợi ích và đời sống của người lao động Những hiện tượng này không thể ngay một lúc xoá bỏ hết được vì thế, Công đoàn phải là đại diện bảo vệ quyền lợi cho công nhân nói riêng và người lao động nói chung Trong điều kiện hiện nay, với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, chức năng bảo vệ lợi ích công nhân lao động của Công đoàn càng hết sức quan trọng Muốn bảo vệ lợi ích công nhân lao động,
Trang 24Công đoàn cần phải làm gì? Một loạt nội dung hoạt động cần được tiến hành
để thực hiện chức năng bảo vệ lợi ích, đó là: Công đoàn tham gia cùng chính quyền tìm việc làm và tạo điều kiện làm việc cho công nhân lao động, Công đoàn tham gia vào việc ký kết hợp đồng lao động của công nhân lao động, ký thoả ước lao động tập thể, giải quyết tranh chấp lao động Công đoàn tham gia trong lĩnh vực tiền lương, tiền thưởng, nhà ở, quản lý và sử dụng quỹ phúc lợi tập thể, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động, kinh tế, gia đình, giải quyết khiếu
tố, phát huy dân chủ, bình đẳng công bằng xã hội, phát triển các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, du lịch, tham quan nghỉ mát
- Chức năng thứ hai, tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế - xã
hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế
Để thực hiện tốt chức năng tham gia quản lý cần đẩy mạnh những nội dung hoạt động cụ thể như: tổ chức phong trào thi đua lao động sản xuất trong công nhân lao động Biện pháp tổng hợp nhất là để công nhân lao động trực tiếp tham gia quản lý, vận động tổ chức công nhân lao động tham gia việc xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, tham gia quản lý lao động, giải quyết lao động dôi dư, tham gia quản lý tiền lương, tiền thưởng của công nhân lao động, tham gia trong việc quản lý vật tư, kỹ thuật, tài chính nhằm giảm mức tiêu hao trên một đơn vị sản phẩm, tham gia xây dựng và thực hiện chế độ chính sách liên quan đến người lao động, tham gia xây dựng và thực hiện cơ chế quản lý kinh tế mới
- Chức năng thứ ba, giáo dục, động viên công nhân viên chức lao động
phát huy quyền làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Một trong những nội dung quan trọng nhằm thực hiện chức năng giáo dục là làm cho người lao động nhận thức đầy đủ về lợi ích cá nhân gắn liền với kết quả sản xuất kinh doanh của đơn vị Muốn có lợi ích phải thực hiện tốt
Trang 25nghĩa vụ, làm tròn trách nhiệm của mình trong quá trình sản xuất kinh doanh
Từ đó củng cố kỉ luật lao động, xây dựng ý thức tự giác, tự nguyện trong lao động, công tác Công đoàn giáo dục công nhân lao động vững tin vào đường lối chính sách của Đảng, vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, luôn tỉnh táo cảnh giác, và đấu tranh với những khuynh hướng sai lầm, ảo tưởng, mơ hồ,
cơ hội Nội dung chức năng giáo dục của Công đoàn ngày nay còn được mở rộng toàn diện hơn, nhất là giáo dục pháp luật, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục truyền thống, giáo dục đạo đức cho công nhân lao động, đó là những nội dung
cơ bản thể hiện trên phạm vi rộng lớn của chức năng giáo dục mà Công đoàn xứng đáng với vai trò trường học của mình Như vậy, chức năng của Công đoàn là một chỉnh thể, một hệ thống đồng bộ, trong đó chức năng bảo vệ lợi ích mang ý nghĩa là trung tâm, là mục tiêu hoạt động của Công đoàn; chức năng tham gia quản lý mang ý nghĩa điều kiện, phương tiện đạt mục tiêu; chức năng giáo dục mang ý nghĩa tạo động lực tinh thần, là điều kiện xã hội
để Công đoàn hoàn thành nhiệm vụ của mình [32]
1.3.5 Nhiệm vụ của tổ chức công đoàn
Nhiệm vụ của Công đoàn là toàn bộ những mục tiêu mà công đoàn cần đạt tới, là những vấn đề đặt ra mà Công đoàn cần giải quyết.Thực hiện những nhiệm vụ đó chính là thực hiện các chức năng đã được xác định của công đoàn trong một giai đoạn nhất định, phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của giai đoạn ấy.Nhiệm vụ của Công đoàn là yếu tố dễ biến động hơn so với chức năng.Mỗi nhiệm vụ cũng có thể có sự quan tâm ở các mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào từng giai đoạn nhất định Trong giai đoạn hiện nay, Công đoàn có những nhiệm vụ sau:
- Đại diện cho người lao động tham gia với cơ quan Nhà nước xây dựng và thực hiện các chương trình kinh tế xã hội, các chính sách, các cơ chế quản lý kinh tế, các chủ trương chính sách có liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm của người lao động
Trang 26- Tập hợp, giáo dục và tuyên truyền pháp luật để người lao động hiểu
rõ quyền và nghĩa vụ của mình, của các cơ quan và các tổ chức Từ đó tạo cho người lao động các phương thức xử sự phù hợp trong các mối quan hệ xã hội
và pháp lý
- Thực hiện các quyền đã được pháp luật ghi nhận một cách có hiệu quả
để bảo vệ và chăm lo đến lợi ích và đời sống của người lao động
- Tham gia các quan hệ trong nước, và quốc tế nhằm xây dựng các mối quan hệ đối nội, đối ngoại rộng rãi, góp phần thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện tốt cho môi trường lao động xã hội Những nhiệm vụ này đã được thể chế trong các văn bản pháp luật của Nhà nước và chi tiết hoá thành những nhiệm vụ trực tiếp của Công đoàn trong quá trình hoạt động ở các Công đoàn cơ sở Song, muốn quá trình hoạt động đó đạt được hiệu quả, công đoàn cần có những điều kiện nhất định bao gồm:
+ Quyền tự do Công đoàn
+ Tư cách pháp nhân
+ Quyền sở hữu tài sản
+ Sự bảo trợ của Nhà nước và các đơn vị sử dụng lao động + Các điều kiện khác
Các điều kiện này vừa mang tính chất pháp lý, vừa mang tính chất kinh
tế xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của Công đoàn, chi phối và quyết định quá trình thực hiện các nhiệm vụ đề ra
1.3.6 Thẩm quyền của tổ chức công đoàn
- Đặc điểm thẩm quyền của Công đoàn: Thẩm quyền của công đoàn là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của Công đoàn được pháp luật ghi nhận, có thể thực hiện hoặc phải thực hiện một cách độc lập với tư cách là một chủ thể, trong một giới hạn nhất định Đề cập đến thẩm quyền của Công đoàn chính là
đề cập đến vấn đề quyền hạn và trách nhiệm của Công đoàn
- Thẩm quyền của Công đoàn có những đặc điểm sau:
Trang 27+ Mặc dù Công đoàn là một tổ chức chính trị xã hội của người lao động nhưng không phải do Công đoàn sáng tạo mà do ý chí của Nhà nước Nhà nước quy định cho Công đoàn những quyền hạn và trách nhiệm nhất định trong việc bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người lao động thông qua Luật công đoàn
+ Tuy chịu sự điều chỉnh của pháp luật, song giới hạn của thẩm quyền không chỉ ở pháp luật mà còn ở các hành vi của tổ chức Công đoàn, hơn nữa còn bị chi phối bởi pháp luật quốc tế trong những trường hợp nhất định
+ Thẩm quyền của Công đoàn được pháp luật ghi nhận là các quyền của Công đoàn chứ không gồm các nghĩa vụ Nói cách khác, pháp luật chỉ ghi nhận quyền hạn của Công đoàn mà không trực tiếp ghi nhận các nghĩa vụ
+ Thẩm quyền của Công đoàn vừa là quyền hạn trong việc đại diện cho tập thể người lao động trong mối tương quan với người sử dụng lao động, vừa
là quyền hạn trong việc tham gia "điều chỉnh" quan hệ lao động
Như vậy Công đoàn có vị trí rất quan trọng, là chỗ dựa vững chắc của
Đảng, là sợi dây nối liền Đảng với quần chúng LêNin đã nói: “Trong công
tác, Đảng dựa trực tiếp vào Công đoàn” Công đoàn là người cộng tác đắc
lực của Nhà nước, thực hiện kiểm tra hoạt động của Nhà nước, giúp các cơ quan Nhà nước thực hiện tốt chức năng của mình
1.4 Trường THPT và tổ chức Công đoàn trong sự nghiệp giáo dục
1.4.1 Trường THPT trong hệ thống giáo dục Quốc dân
Điều 2 và 3 Điều lệ trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông và trường Phổ thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 3 năm 2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã nêu cụ thể như sau:
Điều 2 Vị trí của trường trung học trong hệ thống giáo dục quốc dân Trường trung học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân.Trường có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng.[5]
Trang 28Điều 3 Nhiệm vụ và quyền hạn của trường trung học
Trường trung học có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông dành cho cấp THCS và cấp THPT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công khai mục tiêu, nội dung các hoạt động giáo dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục
- Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên theo quy định của pháp luật
- Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh; vận động học sinh đến trường; quản
lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục
- Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội
- Thực hiện các hoạt động về kiểm định chất lượng giáo dục
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.[5]
1.4.2 Vị trí, vai trò của tổ chức Công đoàn trong ngành Giáo dục
Tổ chức Công đoàn trong Ngành Giáo dục và đào tạo được gọi là Công đoàn Giáo dục
Công đoàn Giáo dục nằm trong hệ thống Công đoàn Việt Nam, là tổ chức chính trị - xã hội của hệ thống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Công đoàn giáo dục là tổ chức đại diện cho đội ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lí giáo dục và công nhân viên trong ngành giáo dục
Công đoàn giáo dục là nơi tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng tới quần chúng và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của quần chúng tới Đảng
Trang 29Công đoàn giáo dục có chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi hợp pháp, chính đáng của cán bộ, giáo viên, công nhân viên chức, lao động trong toàn ngành, tham gia với cơ quan Nhà nước để phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo của nước nhà
Trong công cuộc đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, vai trò của Công đoàn giáo dục đã được phát huy và đạt nhiều thành công Công đoàn giáo dục đã thể hiện rất rõ vai trò của mình như:
Giúp cho cán bộ, giáo viên, công nhân viên chức trong ngành biết quản
lí Quản lí ở đây có thể hiểu là Công đoàn sẽ vận động, tập hợp, phát huy trí tuệ của cán bộ, giáo viên, công nhân viên trong việc triển tiềm năng lao động, sáng kiến cải tiến, cùng lãnh đạo đơn vị tìm cách sắp xếp hợp lí, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, bảo vệ lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của người lao động một cách hiệu quả
Để góp phần thúc đẩy sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo, Công đoàn giáo dục đã đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền giáo dục, làm cho cán bộ, giáo viên và những người làm công tác giáo dục hiểu rõ các quan điểm, mục tiêu, giải pháp về đổi mới giáo dục và đào tạo, qua đó sẽ nhận thức được những thời cơ, khó khăn và thách thức của đất nước, của ngành giáo dục
và đào tạo ở ngưỡng cửa Thiên niên kỉ mới
Chăm lo bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của cán bộ, giáo viên, công nhân viên trong ngành, tích cực tham gia xây dựng đội ngũ theo hướng chuẩn hoá về đạo đức, trình độ đào tạo, năng lực chuyên môn nghiệp vụ Công đoàn chủ động tham gia xây dựng các chế độ chính sách tiền lương, chế
độ đãi ngộ, phụ cấp, chính sách đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ, giáo viên để họ yêu nghề và yên tâm gắn bó với nghề
Vận động cán bộ, giáo viên phát huy nội lực, tích cực nghiên cứu khoa học và nâng cao trình độ của bản thân
Trang 30Công đoàn giáo dục phối hợp với chính quyền tạo điều kiện thuận lợi
để cán bộ, giảng viên và giáo viên có thể thực hiện được chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hoá trình độ
Công đoàn giáo dục cùng các cơ quan quản lí giáo dục thực hiện “Dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong giáo dục, để giáo dục và đào tạo
thực sự là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân
Công đoàn giáo dục Việt Nam tập trung nghiên cứu, đề xuất cùng với
Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức, chỉ đạo các cuộc vận động và phong trào quần chúng rộng lớn trong Ngành giáo dục, góp phần phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
- Thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về
“Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”
- Cuộc vận động “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học
và sáng tạo”
- Cuộc vận động “Dân chủ - Kỉ cương- Tình thương- Trách nhiệm”
- Cuộc vận động “Xây dựng cơ quan văn hóa, gia đình nhà giáo văn
hoá”
- Phong trào thi đua “Dạy tốt - Học tốt”, hình thành được đội ngũ giáo
viên dạy giỏi, học sinh học giỏi, cán bộ quản lí giỏi, trường tiên tiến phục vụ cho sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo
- Phong trào thi đua “Giỏi việc trường - Đảm việc nhà” của nữ cán bộ,
giáo viên, người lao động nhằm nâng cao vị thế của lao động nữ trong tổ chức công đoàn, tạo bình đẳng về giới cho lao động nữ, đem lại lợi ích thiết thực cho chị em và vận động chị em phấn đấu từng mặt hay toàn diện, từ đó giúp
cá nhân hay tập thể chủ động lập kế hoạch phấn đấu Qua phong trào này cũng là để động viên, khuyến khích nữ cán bộ, giáo viên, công nhân viên tích cực học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nghiên cứu khoa học
Trang 31- Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích
cực”
- Phong trào thi đua “Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học”
Công đoàn giáo dục quan tâm đến việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, giáo viên, công nhân viên
Công đoàn giáo dục thể hiện vai trò của mình trong việc tham gia quản
lí đó là xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục và đào tạo như:
- Xây nhà Công vụ cho giáo viên vùng sâu vùng xa
- Mái ấm công đoàn cho đoàn viên khó khăn
- Triển khai và đổi mới phương pháp dạy học đáp ứng đổi mới giáo dục theo tinh thần Nghị quyết 29
Công đoàn giáo dục cùng với chính quyền tổ chức các phong trào thi đua nhằm phát huy tối đa tiềm năng của đội ngũ cho việc triển khai các nhiệm
vụ chính trị của ngành: vinh danh các cá nhân, đơn vị đạt thành tích xuất sắc trong các phong trào thi đua
Công đoàn giáo dục đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới theo đường lối mở rộng quan hệ đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, hội nhập với hệ thống Công đoàn giáo dụctrên thế giới, tạo điều kiện để Công đoàn Giáo dục Việt Nam tham gia với Đảng và Nhà nước đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo
Qua đây có thể khẳng định rằng, trong công cuộc đổi mới giáo dục và đào tạo do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, Công đoàn giáo dục đã nhận thức đầy đủ những vấn đề cơ bản trong đổi mới giáo dục và đào tạo Từ đó, với vai trò và vị trí của mình, Công đoàn giáo dục đã có những đóng góp tích cực và hiệu quả trong chăm lo đời sống cho giáo viên góp phần vào sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo nước nhà
Trang 321.5 Phối hợp giữa ban Giám hiệu và tổ chức Công đoàn trong trường THPT
1.5.1 Vị trí, vai trò của Ban Giám hiệu và tổ chức Công đoàn trong trường THPT
Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý trong trường THPT
a Vị trí, vai trò của Ban Giám hiệu trong trường THPT
Điều 19 Điều lệ trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông và trường Phổ thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 3 năm 2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã nêu cụ thể như sau:
Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng
- Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng
+ Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
+ Thực hiện các quyết nghị của Hội đồng trường được quy định tại khoản 3 Điều 20 của Điều lệ này;
+ Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch nhiệm vụ năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;
Trang 33+ Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó; đề xuất các thành viên của Hội đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định;
+ Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên; thực hiện việc tuyển dụng giáo viên, nhân viên; ký hợp đồng lao động; tiếp nhận, điều động giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước;
+ Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ, ký xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh tiểu học (nếu có) của trường phổ thông có nhiều cấp học và quyết định khen thưởng, kỉ luật học sinh;
+ Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường;
- Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường;
+ Chỉ đạo thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động của ngành; thực hiện công khai đối với nhà trường;
+ Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật
- Nhiệm vụ và quyền hạn của phó Hiệu trưởng
+ Thực hiện và chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng về nhiệm vụ được Hiệu trưởng phân công;
+ Cùng với Hiệu trưởng chịu trách nhiệm trước cấp trên về phần việc được giao;
+ Thay mặt Hiệu trưởng điều hành hoạt động của nhà trường khi được Hiệu trưởng uỷ quyền;
Trang 34+ Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật [5]
b Vị trí, vai trò của tổ chức Công đoàn trong trường THPT
Theo điều lệ Công đoàn Việt Nam năm 2013, hệ thống Công đoàn giáo dục Việt Nam được tổ chức theo 4 cấp Công đoàn cơ sở trường học nói chung và Công đoàn trong trường THPT nói riêng là Công đoàn cấp cơ sở Cấp trên trực tiếp của Công đoàn các trường THPT là Công đoàn ngành Giáo dục.[30]
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều 10, năm
2013 đã xác định "Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai
cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế -
xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [33, tr 8] Hiến pháp năm 2013 là bản Hiến pháp của thời kỳ
đổi mới toàn diện, đồng bộ về kinh tế và chính trị, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế trong thời kỳ mới Theo đó, nội dung Điều 10 quy định về Công đoàn của Hiến pháp năm 2013, ngoài tiếp tục kế thừa nội dung Hiến pháp năm 1992, đã có sửa đổi, bổ sung vai trò, trách nhiệm của Công đoàn phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất
nước
Tại Điều 10 và Điều 11, Mục 1 Chương II Luật Công đoàn 2012 nói về
“Quyền, Trách nhiệm của Công đoàn” đã nêu “Công đoàn đại diện , bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động và tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội” cụ thể:
Trang 35“Điều 10 Đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động
1 Hướng dẫn, tư vấn cho người lao động về quyền, nghĩa vụ của người lao động khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với đơn vị sử dụng lao động
2 Đại diện cho tập thể người lao động thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thoả ước lao động tập thể
3 Tham gia với đơn vị sử dụng lao động xây dựng và giám sát việc thực hiện thang, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động
4 Đối thoại với đơn vị sử dụng lao động để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động
5 Tổ chức hoạt động tư vấn pháp luật cho người lao động
6 Tham gia với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động
7 Kiến nghị với tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể người lao động hoặc của người lao động bị xâm phạm
8 Đại diện cho tập thể người lao động khởi kiện tại Toà án khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể người lao động bị xâm phạm; đại diện cho người lao động khởi kiện tạiToà án khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động bị xâm phạm và được người lao động uỷ quyền
9 Đại diện cho tập thể người lao động tham gia tố tụng trong vụ án lao động, hành chính, phá sản doanh nghiệpđể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể người lao động và người lao động
10 Tổ chức và lãnh đạo đình công theo quy định của pháp luật
Trang 36Điều 11 Tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội
1 Tham gia với cơ quan nhà nước xây dựng chính sách, pháp luật về kinh tế - xã hội, lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế, bảo hộ lao động và chính sách, pháp luật khác liên quan đến tổ chức công đoàn, quyền, nghĩa vụ của người lao động
2 Phối hợp với cơ quan nhà nước nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật bảo hộ lao động, xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn an toàn, vệ sinh lao động
3 Tham gia với cơ quan nhà nước quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; giải quyết khiếu nại, tố cáo của người lao động, tập thể người lao động theo quy định của pháp luật
4 Tham gia xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp
5 Tham gia xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp
6 Phối hợp tổ chức phong trào thi đua trong phạm vi ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.”[33, tr 12,13,14]
Vị trí, vai trò của Ban Chấp hành công đoàn trường nói chung và Công đoàn trường THPT nói riêng được thể hiện như sau:
Tuỳ theo tính chất của mỗi công việc mà vị trí, vai trò của Công đoàn trường được thể hiện khác nhau Trong việc phối hợp công tác giữa Nhà trường và Công đoàn mà vấn đề thuộc về trách nhiệm của chuyên môn thì Công đoàn chỉ ở vị trí tham mưu, đề xuất ý kiến để lãnh đạo nhà trường tham khảo hoặc thỏa thuận, thống nhất ý kiến với Công đoàn trước khi quyết định Còn những vấn đề Công đoàn chịu trách nhiệm theo đúng chức năng, nhiệm
vụ quyền hạn thì chính quyền ở vị trí tham gia, phối hợp tổ chức thực hiện
Công đoàn chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng để cán bộ, giáo viên, công nhân viên lao động trong trường
Trang 37được ổn định, cải thiện đời sống, nâng cao vị trí xã hội từ đó làm tốt hơn nhiệm vụ của mình
Công đoàn động viên người lao động làm tròn nghĩa vụ, chức trách được giao, thực hiện nghiêm chỉnh chính sách, chế độ, nội quy của nhà trường
Công đoàn tổ chức các phong trào thi đua, các cuộc vận động do Nhà nước và Ngành giáo dục phát động Công đoàn vận động, động viên, nâng cao nhận thức của cán bộ, giáo viên, công nhân viên về các phong trào, các cuộc vận động và tích cực hưởng ứng để các phong trào thi đua có hiệu quả Ngoài
ra Công đoàn còn chú trọng công tác xây dựng, nhân rộng và biểu dương các điển hình tiên tiến để mọi người học tập và noi theo
Công đoàn tuyên truyền các hoạt động giáo dục, giác ngộ, tập hợp, vận động tư tưởng cán bộ, giáo viên và người lao động thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà trường
Công đoàn đôn đốc và kiểm tra hoạt động của đoàn viên, quản lí đoàn viên, trên cơ sở đó tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, hướng dẫn đoàn viên đổi mới nội dung và phương thức công tác
Công đoàn kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước Thực hiện đúng quy định của pháp luật như kiểm tra việc chấp hành pháp luật về hợp đồng lao động, kiểm tra việc tuyển dụng và cho thôi việc, tiền lương, bảo hộ lao động, thời gian làm việc và nghỉ ngơi, giám sát việc thực hiện thoả ước lao động tập thể, giải quyết các khiếu nại tố cáo của người lao động
Công đoàn xây dựng mục tiêu, nội dung thi đua, xác định mặt bằng lao động và định mức chất lượng hiệu quả cho từng loại công việc Công đoàn phát động thi đua đầu năm, tổ chức cho tập thể, cá nhân ghi tên đăng kí phấn đấu các danh hiệu thi đua ngay từ đầu năm nhằm công khai đối tượng và mức thi đua để từng cá nhân, từng tập thể chủ động phấn đấu và toàn đơn vị có hướng giúp đỡ kịp thời
Trang 38Công đoàn chỉ đạo hoạt động Ban thanh tra nhân dân nhằm đảm bảo quyền giám sát, kiểm tra của cán bộ, giáo viên trong việc thực hiện các chính sách pháp luật, Nghị quyết của Hội nghị cán bộ, công chức và những quy định của trường học liên quan trực tiếp đến lợi ích của người lao động và của tập thể
1.5.2 Đặc điểm của hoạt động phối hợp giữa Ban Giám hiệu và tổ chức Công đoàn trong trường THPT
- Hoạt động của nhà trường và công đoàn đều được đặt dưới sự lãnh
đạo trực tiếp của Chi Ủy (Đảng ủy) nhà trường
- Đảm bảo thực hiện các quy định của pháp luật về lao động, các quy định của Nhà nước, của Tổng Liên đoàn Việt Nam và của các cấp công đoàn
- Tôn trọng, hợp tác vì mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ chính trị của nhà trường; đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhà giáo, cán bộ quản lý và người lao động trong nhà trường
- Quy định việc phối hợp công tác trong chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của trường THPT và Công đoàn cơ sở nhằm xây dựng mối quan hệ hợp tác vì sự phát triển của nhà trường
1.5.3 Cơ sở pháp lý của phối hợp giữa Ban Giám hiệu với tổ chức Công đoàn trong THPT
Điều 3, Nghị định 200/2013/NĐ-CP ngày 26/11/2013 của Chính phủ
Quy định chi tiết Điều 11 Luật Công đoàn nêu rõ: “Cơ quan, tổ chức và
doanh nghiệp khi xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của ngành, địa phương, đơn vị, các chính sách liên quan đến người lao động
có trách nhiệm mời tổ chức công đoàn cùng cấp tham gia”
Mục 1 Điều 4, Nghị định 200/2013/NĐ-CP ngày 26/11/2013 của Chính
phủ Quy định chi tiết Điều 11 Luật Công đoàn: “Cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp phối hợp với tổ chức công đoàn cùng cấp xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế phối hợp công tác Định kỳ hàng năm tổ chức tổng kết, đánh giá hoạt động phối hợp công tác của các bên và xây dựng chương trình, kế hoạch công tác chung.”
Trang 39Theo Điều 9 Nghị định 200/2013/NĐ-CP ngày 26/11/2013 của Chính phủ Quy định chi tiết Điều 11 Luật Công đoàn về quyền và trách nhiệm của
Công đoàn cơ sở đã nêu rõ: “ Phối hợp với người đứng đầu cơ quan, tổ chức,
đơn vị tổ chức cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tham gia xây dựng pháp luật và thực hiện chương trình, kế hoạch công tác; giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động; tổ chức các phong trào thi đua yêu nước của người lao động thuộc phạm vi quản lý, chỉ đạo; Tham gia với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc tổ chức, cải tiến lề lối làm việc và thủ tục hành chính nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác; Tham gia với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị giải quyết khiếu nại, tố cáo của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động theo quy định của pháp luật; Tham gia với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cải thiện điều kiện làm việc; xây dựng môi trường làm việc thân thiện, hài hòa trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; Phối hợp với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện tốt quy chế dân chủ trong cơ quan, đơn vị; Tham gia các hội đồng xét, giải quyết các quyền lợi của đoàn viên, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động”
Điều 10, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013):
"Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"
Khoản 1, Điều 11, Chương II Luật Công đoàn 2012 về “Quyền và trách
nhiệm của Công đoàn” nêu “ Công đoàn đại diện và tổ chức người lao động
Trang 40Tham gia với cơ quan nhà nước xây dựng chính sách, pháp luật về kinh tế -
xã hội, lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động và chính sách, pháp luật khác liên quan đến tổ chức công đoàn, quyền, nghĩa vụ của người lao động”
Điều 19, 20, 21, 22, 32, 45, 47 Điều lệ trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông và trường Phổ thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 3 năm 2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo cơ bản đã nêu rõ nhiệm vụ của Ban Giám hiệu (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng); vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc tham gia Hội đồng trường, Hội đồng thi đua khen thưởng, Hội đồng kỷ luật ; Quyền của Giáo viên; Trách nhiệm của nhà trường và Quan hệ giữa nhà trường, gia đình
và xã hội
Quy chế về mối quan hệ công tác giữa Chính phủ và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban hành kèm tho Quyết định 04/2007/QĐ-TTg ngày 10 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ
Quy chế phối hợp công tác giữa Bộ Giáo dục & Đào tạo và Công đoàn Giáo dục Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 3046/QĐ-BGDĐT ngày 30/8/2013 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo
Thông tư Liên tịch số 12/TTLT ngày 8/5/1993 giữa Bộ Giáo dục và
Đào tạo và Công đoàn Giáo dục Việt Nam, phần nguyên tắc chung nêu: “Mối
quan hệ giữa các cấp chính quyền và Công đoàn dựa trên cơ sở là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động, cùng với chính quyền các cấp chăm lo và bảo vệ quyền lợi chính đáng của cán bộ và viên chức Quan hệ công tác giữa các cấp chính quyền và công đoàn là hợp tác, tôn trọng quyền độc lập của mỗi tổ chức Thủ trưởng cơ quan quản lí giáo dục các cấp, hiệu trưởng các trường học khi thực hiện các chức năng quản lí của mình mà có liên quan đến trách nhiệm, quyền, lợi ích của người lao động nhất thiết phải có sự phối hợp bàn bạc với công đoàn đồng cấp”