1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Chuyên đề viêm phổi do virus

51 335 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 728,98 KB
File đính kèm viem phoi do virus.rar (660 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một chuyên đề hay về bệnh viêm phổi do virus. Chuyên đề gồm các phần: viêm phổi do virus, hội chứng suy hô hấp tiến triển. Mỗi phần sẽ đề cập đến dịch tễ học, sinh bệnh học đầy đủ với các trích dẫn tài liệu tham khảo hoàn toàn bằng Endnote. Chuyên đề dùng làm tài liệu tham khảo tốt cho sinh viên, học viên cao học, CK1, CK2 y khoa.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- -

HỒ ĐẶNG NGHĨA

CHUYÊN ĐỀ LAO VIÊM PHỔI DO VIRUS – HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP TIẾN TRIỂN

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

VIÊM PHỔI DO VIRUS 1

I DỊCH TỄ HỌC 1

II TÁC NHÂN GÂY BỆNH 4

III SINH BỆNH HỌC 14

IV ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG 16

V CHẨN ĐOÁN 19

VI ĐIỀU TRỊ 26

HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP TIẾN TRIỂN 33

I LỊCH SỬ HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP TIẾN TRIỂN 33

II ĐỊNH NGHĨA HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP TIẾN TRIỂN 35

III NGUYÊN NHÂN BỆNH 36

IV SINH BỆNH HỌC 37

V BỆNH HỌC 40

VI ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG 40

VII CHẨN ĐOÁN ARDS 41

VIII.XỬ TRÍ ARDS 43

TAI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

VIÊM PHỔI DO VIRUS

I DỊCH TỄ HỌC

1 Tỷ lệ mắc và tử vong do viêm phổi virus

Trước đây virus thường là nguyên nhân gây viêm phổi trong khoảng 8% các trường hợp viêm phổi cộng đồng (VPCĐ) phải nhập viện Tuy nhiên gần đây các cuộc khảo sát cho thấy virus đóng vai trò tác nhân gây viêm phổi quan trọng với khoảng 13-50% các trường hợp VPCĐ được chẩn đoán chỉ do virus gây bệnh và 8-27% các trường hợp VPCĐ được chẩn đoán nhiễm cả virus và vi khuẩn

Tỷ lệ mắc và tử vong của VPDVR thay đổi tùy vào các loại virus khác nhau Theo CDC, tỷ lệ mắc và tử vong do một số loại virus phổ biến như sau:

 Tỷ lệ mắc viêm phổi do virus cúm vào khoảng 10-20% trong khi dịch bùng phát

và có thể lên đến 50% trong suốt trận dịch Tỷ lệ nhập viện do viêm phổi virus cúm là khoảng 27,9 ca/10.000 bệnh nhân < 5 tuổi và 55/10.000 bệnh nhân ≥ 65 tuổi Tuy nhiên tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân có độ tuổi từ 5-51 lại cao hơn

so với bệnh nhân > 60 Thống kê cho thấy có 87% số ca tử vong và 71% số ca viêm phổi nặng do virus cúm đều trong nhóm 5-51 tuổi

 Vào tháng 2/2010, CDC ước tính có khoảng 8.330-17.610 ca tử vong do H1N1

từ tháng 4/2009-1/2010 tại Mỹ và WHO ước tính toàn cầu có ít nhất 16.226 ca

Trang 4

nhân chưa điều trị và 22% ở bệnh nhân đang điều trị cấy ghép tế bào mầm tạo máu) Ở người trưởng thành viêm phổi do RSV có tỷ lệ dao động từ 11-78% phụ thuộc vào mức độ ức chế miễn dịch của bệnh nhân

 Adenovirus gây tử vong với tỷ lệ thấp ở cộng đồng khỏe mạnh nhưng có thể gây tử vong lên đến 18% trong trận dịch Ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch, adenovirus có thể gây viêm phổi với tỷ lệ tử vong dao động từ 38-100% và tỷ lệ

tử vong tích lũy lên đến 56% ở bệnh nhân cấy ghép tế bào mầm tạo máu

 Virus á cúm (PIV) có thể gây ra 250.000 ca cấp cứu nhập viện hằng năm PIV gây bệnh cảnh hô hấp cấp tính khoảng 10% ở bệnh nhân khỏ mạnh nhưng lên đến 10-50% ở bệnh nhân cấy ghép cơ quan Ở nhóm cấy ghép cơ quan tỷ lệ tử vong có thể dao động từ 15-73%

 Virus gây viêm phổi đột biến ở người (hMPV) chiếm khoảng 10% các trường hợp viêm hô hấp không rõ căn nguyên ở trẻ em Vì các bằng chứng cho thấy hMPV gây viêm phổi chỉ mới được công bố gần đây nên việc xác định số ca tử vong do viêm phổi hMPV gặp nhiều khó khăn Tỷ lệ tử vong ở người cấy ghép tạng là 50% nếu cấy ghép phổi và 80% ở người cấy ghép tế bào tạo máu Một trận dịch nhiễm hMPV năm 2009 tại Đài Loan cho thấy ở tất cả bệnh nhân có miễn dịch bình thường, chỉ có 1/13 ca tử vong là do suy hô hấp

 Tại Mỹ tỷ lệ viêm phổi do varicella-zoster virus (VZV) dao động từ 0,31-1,36 ca/100.000 dân/năm Viêm phổi do varicella có thể gây biến chứng trong khoảng 2-10% các trường hợp nhiễm VZV ở người trưởng thành Ở người cấy ghép thận tỷ lệ tử vong dao động trong khoảng 10-22% Tỷ lệ tử vong lên đến 50% ở bệnh nhân có suy hô hấp cấp tính do VZV Ở bệnh nhân nhiễm HIV tỷ

lệ tử vong do viêm phổi VZV lên đến 43%, và đặc biệt ở phụ nữ mang thai tỷ lệ

có thể lên đến 41%

Trang 5

 Viêm phổi do cytomegalovirus (CMV) được xem như là biến chứng gây tử vong phổ biến nhất ở bệnh nhân cấy ghép tủy xương và tạng đặc Tỷ lệ viêm phổi do CMV ở bệnh nhân cấy ghép tủy xương là 10-50% và tỷ lệ tử vong là 31% ở bệnh nhân cấy ghép tủy xương đang điều trị và 56-100% ở bệnh nhân chưa điều trị Tỷ lệ tử vong do viêm phổi CMV ở bệnh nhân suy giảm chưa điều trị là vào khoảng 75%

 Viêm phổi do herpes simplex virus (HSV) thường xảy ra trên bệnh nhân suy giảm miễn dịch Tỷ lệ viêm phổi do HSV có thể lên đến 70-80% ở bệnh nhân cấy ghép tế bào tạo máu chưa được điều trị và giảm xuống khoảng 5% nếu bệnh nhân đã tham gia điều trị với acyclovir Nếu bệnh nhân tiếp tục không được điều trị sau cấy ghép tỷ lệ tử vong có thể lên đến > 80%

2 Sự khác biệt về tỷ lệ mắc viêm phổi do virus theo giới tính

Nam giới có xu hướng mắc viêm phổi do virus nhiều hơn so với nữ giới Phụ nữ mang thai mắc viêm phổi do virus sẽ có nguy cơ mắc thể nặng cao hơn so với phụ nữ không mang thai, đặc biệt nếu nhiễm phải virus H1N1 năm 2009 [12]

3 Sự khác biệt về tỷ lệ mắc viêm phổi do virus ở các độ tuổi khác nhau

Hầu hết các loại virus gây viêm phổi đều gây nhiễm ở trẻ nhỏ với biểu hiện lâm sàng nhẹ Người trưởng thành khỏe mạnh cũng có thể mắc thể viêm phổi nhẹ Ngược lại người cao tuổi và người suy giảm miễn dịch thường mắc viêm phổi thể nặng dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao [8] Bệnh nhân ≥ 65 tuổi chiếm đến 89% các trường hợp tử vong do VPDVR Có từ 10-12% bệnh nhân ≥ 65 tuổi phải nhận điều trị hỗ trợ trong cuộc sống hằng ngày sau khi nhập viện vì VPDVR Bệnh nhân cao tuổi sau nhiễm VPDVR cũng được chứng minh có sự suy giảm chức năng hô hấp đáng kể [18]

Một trường hợp ngoại lệ là đại dịch cúm H1N1 xảy ra từ năm 2009-2010 Khi đó thể viêm phổi nặng xảy ra phổ biến ở nhóm tuổi 5-59 trong khi lại hiếm khi xảy ra ở người cao tuổi Điều này được giải thích là do những người trong nhóm

Trang 6

tuổi 5-59 ít tiếp xúc với chủng cúm H1N1 từ năm 1957 trở về trước do đó miễn dịch đối với chủng H1N1 năm 2009 hầu như không có[7]

II TÁC NHÂN GÂY BỆNH

Hiện nay các nhà khoa học đã xác định được khoảng 1.200 virus có thể lây nhiễm tại đường hô hấp, tuy nhiên nhiều loại trong số này không gây bệnh ở người [15] Các loại virus gây bệnh ở người có thể phân thành các họ sau đây:

 Adenoviridae (adenoviruses)

 Coronaviridae (coronaviruses) -SARS, MERS

 Bunyaviridae (arboviruses) -Hantavirus

 Orthomyxoviridae (orthomyxoviruses) – virus cúm

 Papovaviridae (polyomavirus) –virus JC, virus BK

 Paramyxoviridae (paramyxoviruses) - virus á cúm (PIV), virus hợp bào hô hấp (RSV), virus viêm phổi đột biến ở người (hMPV), virus sởi

 Picornaviridae (picornaviruses) – Enteroviruses, coxsackievirus, echovirus, enterovirus 71, rhinovirus

 Reoviridae (rotavirus)

 Retroviridae (retroviruses)- HIV, virus gây u lympho loại 1 ở người (HTLV-1)

 Herpesviridae- Herpes simplex virus 1 (HSV-1) và herpes simplex virus 2 (HSV-2), hay còn gọi chung là herpesvirus ở người 1 (HHV-1) và herpesvirus ở người 2 (HHV-2), herpesvirus 6, herpesvirus 7, và herpesvirus 8, Varicella-zoster virus (VZV), Cytomegalovirus (CMV), Epstein-Barr virus (EBV)

1 Virus cúm

Virus cúm là virus ARN có vỏ bọc gồm 1 chuỗi ARN thuộc họ Orthomyxoviridae và là tác nhân gây VPDVR phổ biến nhất Hiện có 3 loại virus cúm là A, B và C

Trang 7

Viurs cúm A có thể biến đổi bề mặt kháng nguyên và gây nhiễm cho cả thú nuôi Chính đặc điểm này giúp nó tạo nên các nguồn nhiễm ở động vật nuôi trong nhà và từ đó có thể gây nên dịch ở người Loại virus cúm A lây truyền qua các giọt tiết phân tử nhỏ và tấn công vào các tế bào biểu mô trụ của toàn bộ đường hô hấp Virus cúm B thường gây bệnh cảnh lâm sàng trong một số ít quần thể đóng chẳng hạn như trường học Virus cúm C ít phổ biến hơn và chủ yếu xảy ra ở một vài ca lẻ

tẻ

Virus cúm có hai vỏ glycoproteins là hemagglutinin (H) và neuraminidase (N) đóng vai trò quan trọng đối với virus cúm Hemagglutinin có vai trò kích hoạt quá trình lây nhiễm bằng cách gắn vào phần dư acid sialic của màng tế bào trong khi protein N giúp gắn kết các virus mới tổng hợp vào bề mặt tế bào, nhờ đó virus được phát tán sang tế bào khác

Virus cúm duy trì khả năng lây nhiễm bằng cách làm lệch kháng nguyên của mình (thay đổi một số ít amino acid) hoặc dịch chuyển kháng nguyên (thay đổi nhiều amino acid) thông qua việc thay đổi protein bề mặt hemagglutinin Các trận dịch cúm xảy ra khi virus cúm lệch kháng nguyên và các trận đại dịch xảy ra khi virus có dịch chuyển kháng nguyên (hai virus cúm A trao đổi H hoặc N trong quá trình nhiễm trên cùng ký chủ)

Hiện nay có hai dòng virus cúm mới nổi đang được các nhà nghiên cứu quan tâm đặc biệt là dòng H5N1 (virus cúm gia cầm) và H1N1 (virus cúm heo)

2 Virus hợp bào hô hấp (RSV)

Virus RSV là tác nhân gây nhiễm đường hô hấp dưới phổ biến nhất ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ và là tác nhân phổ biến hàng thứ hai gây viêm phổi ở người trưởng thành RSV thuộc họ Paramyxoviridae chỉ gồm 1 type huyết thanh duy nhất Về mặt cấu trúc RSV có 10 polypeptides virus đặc trưng, 4 trong số này liên kết với

vỏ virus, và 2 trong số này (F và G) đóng vai trò quan trọng trong khả năng lây

Trang 8

nhiễm và gây bệnh của virus Nhiễm RSV sẽ hình thành nên các hợp bào trong môi trường nuôi cấy tế bào vì vậy virus còn được gọi là virus hợp bào hô hấp

Virus RSV là loại có khả năng lây nhiễm cao thông qua các giọt tiết và tiếp xúc dụng cụ bị nhiễm virus Hầu hết trẻ em bị nhiễm RSV trước 5 tuổi Tỷ lệ nhiễm virus trong vụ dịch có thể lên đến 100%, nhưng miễn dịch tạo ra lại không thể kéo dài mãi mãi Trẻ > 5 tuổi hoặc trẻ vị thành niên vẫn có thể bị viêm phổi do RSV nhưng chỉ là thể nhẹ Tuy nhiên xác suất mắc thể viêm phổi nặng lại tăng dần khi tuổi ngày càng cao

3 Adenovirus

Adenovirus là các virus ADN có vỏ bao bọc và gây ra bệnh cảnh lâm sàng với phổ rộng tùy thuộc vào loại type huyết thanh của nó Biểu hiện có thể là không triệu chứng, viêm kết mạc, bệnh đường hô hấp trên do sốt, viêm phổi, bệnh đường tiêu hóa, ngứa ngáy và thậm chí là bệnh thần kinh Viêm phổi thường hiếm khi phổ biến ở người trưởng thành ngoài các trại quân đội hoặc các cơ sở tương tự, nhưng cũng có các vụ dịch bùng phát ghi nhận ở trẻ sơ sinh và ở quần thể bệnh nhân suy giảm miễn dịch và cả cả quần thể khỏe mạnh

Hiện nay có khoảng 53 type huyết thanh của loại virus này đã được phân lập nhưng có thể chưa thành 7 nhóm từ A đến G Các bệnh phổi thường gây ra bởi các type huyết thanh 1, 2, 3, 4, 5, 7, 14, và 21 Virus type 7 có thể gây viêm tiểu phế quản và viêm phổi ở trẻ sơ sinh Virus typ3 4 và 7 thường gây dịch viêm phổi trong các trại lính Virus type 14 (thuộc nhóm B) là một dòng virus mạnh thường gây các trường hợp bệnh hô hấp hoặc viêm phổi nặng Dòng virus này được chú ý khi gây ra các trận dịch lớn trong dân thường cũng như quân đội tại các trại huấn luyện quân đội trên toàn nước Mỹ trong năm 2005

Sự lây truyền adenovirus thông qua chất tiết hô hấp, giọt tiết nhiễm virus, phân và đồ vật bị nhiễm Trẻ nhũ nhi có thể bị nhiễm virus thông qua việc tiếp xúc với dịch tiết bị nhiễm tại vùng chậu của mẹ khi sinh Các bề mặt bị nhiễm virus là

Trang 9

nguồn bệnh trong đó virus có thể tồn tại trong nhiều tuần Virus không thể bị tiêu diệt bởi các chất diệt khuẩn dạng lipid nhưng có thể bị bất hoạt bằng nhiệt, formaldehyde, và chất sát trùng

Adenoviruses là loại virus có khả năng lây nhiễm cao Nhiều nghiên cứu trên đối tượng lính mới tuyển cho thấy tỷ lệ dương tính với adenovirus trong máu

là 34-97% trên 6 tuần lễ [13] Hầu hết trẻ đều có các bằng chứng về huyết thanh học cho thấy đã nhiểm adenovirus trước 10 tuổi

4 Virus á cúm

Virus á cúm (PIV) là loại virus gây bệnh phổ biến ở hầu hết trẻ em Nó là tác nhân đứng hàng thứ hai sau RSV gây bệnh đường hô hấp dưới ở trẻ nhỏ và viêm phổi cũng như viêm tiểu phế quản ở trẻ sơ sinh < 6 tháng Virus á cúm lây truyền qua tiếp xúc người-người hoặc phát tán các giọt tiết kích thước lớn

Virus á cúm đặc trưng bởi màng nucleocapsids được hình thành từ tế bào chất của tế bào bị nhiễm với lớp hemagglutinin hiện diện trên vỏ virion

Có 4 loại PIV được phân dựa trên đặc tính kháng nguyên PIV type 3 gây dịch lưu hành quanh năm, trong khi type 1 và type 2 gây đỉnh dịch vào mùa thu Miễn dịch đối với PIV chỉ ngắn hạn và bệnh nhân có thể tái nhiễm virus tại đường

hô hấp trên hoặc dưới tại nhiều thời điểm trong cuộc đời Biểu hiện lâm sàng của nhiễm PIV có thể từ nhẹ đến đe dọa mạng sống như viêm tiểu phế quản hoặc viêm phổi Ở người suy giảm miễn dịch nhiễm PIV có thể gây viêm phổi đe dọa tính mạng với tổn thương phổi và suy hô hấp

5 Rhinovirus

Một số nghiên cứu cho thấy rhinovirus là tác nhân trong khoảng 30% số trường hợp VPDVR Một nghiên cứu báo cáo nhiễm rhinovirus chiếm khoảng 25,6% số trường viêm tiểu phế quản và 6,2% các trường hợp VPDVR Một nghiên cứu khác tại Hà Lan chứng minh được rằng rhinoviruses gây ra 32% các ca nhiễm virus đường hô hấp dưới ở người già (> 60 tuổi)

Trang 10

6 Virus gây viêm phổi đột biến ở người (hMPV)

hMPV là một loại virus gây bệnh mới được phát hiện gần đây vào năm 2001 tại Hà Lan hMPV thuộc họ Paramyxoviridae (cùng họ với RSV và PIV) có dạng phân thùy được bao bọc bởi nhiều protein bề mặt nhô ra bên ngoài Loại virus này

là một loại virus phổ biến và các khảo sát cho thấy hầu hết trẻ em trước 5 tuổi đều

đã từng mắc virus này và khi lớn lên vẫn có thể mắc lại một hoặc nhiều lần hMPV lây truyền thông qua tiếp xúc với dụng cụ đồ vật bị nhiễm và giọt tiết Mặc dù gây bệnh ở người nhưng hMPV ít khi được quan tâm Ở trẻ em và trẻ sơ sinh hMPV gây các bệnh đường hô hấp dưới như viêm tiểu phế quản (59%), viêm thanh quản (18%), hen suyễn (14%), và viêm phổi (8%)

Độ nặng của bệnh viêm phổi do hMPV tăng dần theo tuổi và bệnh lý đi kèm (ví dụ bệnh tim phổi) hoặc các tình trạng suy giảm miễn dịch Bệnh lý thường đi kèm với nhiễm hMPV ở người trưởng thành nhập viện là cơn kịch phát của bệnh phổi tác nghẽn mạn tính, viêm phế quản và viêm phổi Ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch, viêm phổi thể nặng có thể xảy ra và bệnh nhân phải nhập viện và thậm chí có khả năng tử vong cao

7 Coronavirus

Coronavirus thuộc họ virus Coronaviridae và là virus chuỗi đơn ARN Bề mặt vi rút được bao phủ bởi các protein giống hình vương miện nhô ra trên bề mặt Loại virus này lây truyền thông qua tiếp xúc với giọt tiết và tiếp xúc với đồ vật nhiễm virus Trước đây các nhà khoa học chỉ xác định rằng coronavirus chỉ gây nhiễm đường hô hấp trên, nhưng những năm gần đây đã ghi nhận nhiều trường hợp viêm phổi do nhiễm coronavirus Đại dịch SARS hay còn gọi là hội chứng suy hô hấp cấp tính nặng xảy ra vào năm 2003 trên toàn cầu đã chứng minh khả năng gây viêm phổi đe dọa tính mạng của chủng virus này

Hiện nay đã xác định được 6 loại coronavirus gây bệnh ở người là 229E, HCoV-OC43, HCoV-NL63, HCoV-HKU1, SARS-COV (đây là loại gây nên

Trang 11

HCoV-hội chứng SARS) và MERS-COV (đây là loại gây nên HCoV-hội chứng hô hấp Trung Đông) Các loại này có thể được phát hiện gây bệnh đường hô hấp trên và dưới ở mọi nơi trên toàn thế giới Nhiễm HcoV cũng mang tính chất theo mùa tương tự như cúm, mặc dù các nhà nghiên cứu Hồng Kong ghi nhận loại HCoV-NL63 chủ yếu xảy ra vào đầu mùa hè và mùa thu

8 Varicella-zoster virus

Virus Varicella-zoster (VZV) là một loại virus herpes có mức độ lây nhiễm cao thông qua sự phát tán theo đường hô hấp hoặc tiếp xúc trực tiếp với vùng da tổn thương nhiễm virus Biểu hiện nhiễm virus chủ yếu của loại này chính là bệnh đậu mùa Thể tái hoạt động của VZV sẽ gây ra bệnh zoster (giời leo)

Viêm phổi là một biến chứng quan trọng và đe dọa tính mạng ở cả bệnh nhân trưởng thành khỏe mạnh và suy giảm miễn dịch (bao gồm cả phụ nữ có thai) Tuy nhiên bệnh lại chỉ thường xảy ra ở trẻ suy giảm miễn dịch còn trẻ khỏe mạnh hiếm khi mắc bệnh này

Biến chứng của nhiễm VZV chính là bội nhiễm vi khuẩn thứ phát, viêm não, viêm gan và hội chứng Reye ở bệnh nhân sử dụng thuốc aspirin Viêm phổi do VZV có xu hướng nặng hơn ở người HTL

9 Virus sởi

Virus sởi thuộc họ Paramyxoviridae và chi Morbillivirus Đây là virus chuỗi

đơn ARN chứa bên trong nucleocapsid và được bao bọc bởi vỏ protein Virus sởi

là một virus gây bệnh đường hô hấp, gây sốt và phát ban ở trẻ nhỏ Thể viêm phổi nhẹ thường xảy ra nhưng ít khi để lại biến chứng ở người trưởng thành khỏe mạnh

Virus sởi có thể gây viêm đường hô hấp dưới nặng, đặc biệt tần suất viêm phổi nặng thường cao ở người suy dinh dưỡng và suy giảm miễn dịch Loại virus này có khả năng lây nhiễm cao và có thể lây từ người qua người thông qua giọt tiết Thời gian ủ bệnh của virus sởi là từ 10-14 ngày và đỉnh dịch có thể xảy ra vào cuối mùa đông và đầu mùa xuân

Trang 12

10 Cytomegalovirus

Cytomegalovirus (CMV) là một herpesvirus gây bệnh trong cộng đồng với biểu hiện lâm sàng thường vô triệu chứng Ở người có tình trạng miễn dịch bình thường nhiễm CMV cấp tính gây biểu hiện giống như các bệnh do tác nhân đơn nhân gây ra Việc lây truyền chủ yếu là thông qua tiếp xúc với dịch cơ thể nhiễm virus Virus có thể tồn tại trong cổ tử vung, sữa mẹ, tinh dịch và các sản phẩm từ máu Tỷ lệ kháng thể CMV ở người trưởng thành là từ 40-100%, với tỷ lệ cao ở nhóm dân số có điều kiện kinh tế thấp

Thể tái hoạt hóa của virus CMV thường xảy ra trên bệnh nhân cấy ghép nội tạng và những người nhiễm HIV Nhiễm viêm phổi do CMV có thể xảy ra và gây nguy hiểm tính mạng ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch, chủ yếu là những bệnh nhân cấy ghép tế bào mầm tạo máu và các tạng đặc Độ nặng của viêm phổi do CMV tùy thuộc vào mức độ suy giảm miễn dịch của bệnh nhân Ngoài ra chính bản thân CMV cũng gây suy giảm miễn dịch do đó càng làm cho tình trạng viê phổi của bệnh nhân thêm trầm trọng

Ở bệnh nhân ung thư cấy ghép tủy xương, viêm phổi do CMV xảy ra với tần suất là 15% và tỷ lệ tử vong là 85% vì vậy CMV được coi như là nguyên nhân tử vong phổ biến nhất ở nhóm quần thể bệnh nhân này Yếu tố nguy cơ chính đưa đến viêm phổi do CMV ở những bệnh nhân này chính là tình trạng bệnh lý đào thải mảnh ghép

Ở bệnh nhân nhiễm HIV, mặc dù CMV là một tác nhân gây bệnh được phát hiện phần lớn bệnh nhân trong giai đoạn suy giảm miễn dịch (thông qua việc cấy CMV từ dịch phế nang và/hoặc từ mẫu mô phổi) nhưng đặc trưng lâm sàng của viêm phổi do CMV lại rất mờ nhạt

11 Herpes simplex virus

Herpes simplex virus (HSV) là một tác nhân gây nhiễm đường hô hấp dưới hiếm gặp và chủ yếu phát hiện ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch nặng như bệnh

Trang 13

nhân cấy ghép tế bào mầm tạo máu và cấy ghép tạng đặc, bệnh nhân đang hóa trị liệu ung thư hoặc bệnh nhân suy giảm miễn dịch bẩm sinh Viêm phổi do HSV có thể là do thứ phát sau nhiễm HSV từ đường hô hấp trên hoặc do virus phát tán vào máu từ các tổn thương ở miệng hoặc sinh dục Mặc dù không phải là virus chuyên gây bệnh đường hô hấp, nhưng HSV có thể gây viêm phổi ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch với tỷ lệ tử vong lên đến 80% Viêm phổi có thể xảy ra từ nhiễm virus nguyên phát hay do thể tái hoạt hóa của virus

12 Hantavirus

Hantavirus là một virus ARN có vỏ thuộc họ Bunyaviridae Hầu hết loại virus này lây truyền qua vecto truyền bệnh là động vật chân đốt Vật chủ chính của hantavirus là loại gặm nhắm, mỗi chủng có một vật chủ gặm nhắm riêng Các vật chủ gặm nhắm nhiễm virus có thể tiết ra hantavirus vào nước tiểu, nước bọt, và phân Quá trình lây nhiễm xảy ra khi người hít phải chất tiết hoặc dịch tiết nhiễm virus từ gặm nhắm

Hội chứng viêm phổi do hantavirus (HPS) được phát hiện tại Châu Mỹ và là thể bệnh viêm phổi cấp tính gây ra bởi chủng hantavirus Bắc Mỹ trong đó đáng chú ý nhất chính là Sin Nombre Virus [10] Hai chủng khác cũng được phân lập tại các khu vực khác nhau của Bắc Mỹ cũng có thể gây ra hội chứng HPS

Hantavirus ban đầu được phát hiện bốn bang phía tây nam nước Mỹ là New Mexico, Arizona, Utah, và Colorado vào tháng 5 năm 1993 Loài bọ hươu sừng

tấm (Peromyscus maniculatus) chính là vật chủ chính của hantavirus Hiện nay các

ca bệnh do hantavirus vẫn được báo cáo tại Mỹ Vào tháng 7/2010, 545 ca HPS được báo cáo xảy ra tại 32 bang của nước Mỹ [6]

13 Virus cúm gia cầm

Tại Hồng Kong năm 1997, một loại virus cúm (H5N1 virus) trước đây gây bệnh chỉ ở chim được phát hiện gây nhiễm trên người Biểu hiện lâm sàng của

Trang 14

bệnh bao gồm viêm phổi và trong một số trường hợp có thể dẫn đến hội chứng suy

hô hấp cấp tính (ARDS) hoặc suy đa chức năng đa cơ quan

Trước khi gây dịch ở người, virus H5N1 gây ra chết hàng loạt ở gà tại ba trang trại ở Hồng Kong Các cuộc điều tra dịch tễ vụ dịch này cho thấy các cá nhân từng tiếp xúc với các ca nghi ngờ bệnh hoặc từng tiếp xúc với gia cầm đều có nguy

cơ nhiễm loại virus này

Các nhà khoa học cho rằng loại virus gia cầm này (được xếp vào một phân nhóm của virus cúm A) có thể gây ra nhiều vụ đại dịch trong thời gian tới Virus cúm gia cầm A/H5N1 có một số đặc tính nguy hiểm như gia tăng độc lực khi lây truyền từ người sang người trong một vài trường hợp Nhiễm H5N1 có thể gây tử vong cao do dẫn đến viêm phổi và suy hô hấp cấp tính

Trận dịch cúm gia cầm năm 1997 tại Hồng Kong được xem như đã được dập tắt khi có đến 1,5 triệu con gà được tiêu hủy tại các trang trại và chợ gia cầm Tuy nhiên việc lây nhiễm sang người vẫn tiếp tục diễn ra từ năm 2001-2003 tại các khu vực khác của Châu Á và virus cũng được phân lập trên gia cầm và chim tại Châu

Âu

14 Hội chứng hô hấp cấp tính

Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS) do một loại coronavirus mới gây ra lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp giữa người và động vật nhiễm bệnh Việc phân tích các mẫu phân lập virus và trình tự gen cho thấy virus SARS có thể bắt nguồn

từ loài cầy hương móng che (Paguma larvata), gấu trúc Mỹ (Nyctereutes procyonoides), và nhiều khả năng là loài lửng Trung Quốc (Melogale moschata),

trải qua quá trình trao đổi gen giữa các chủng virus trên tạo nên chủng mới có thể gây nhiễm từ người sang người

Loài dơi móng ngựa (Rhinolophus sinicus) cũng được phát hiện là nguồn

bệnh của coronavirus giống với virus SARS (chủng này tương tự với chủng CoV

Trang 15

gây SARS hơn là chủng sống trên loài cầy hương), từ đó gợi nên giả thuyết rằng dơi móng ngực có thể là nguồn bệnh trong tương lai đối với các vụ dịch SARS

SARS là một bệnh có mối ẩn tiềm tàng rất lớn vì thời gian ủ bệnh kéo dài trên những bệnh nhân khỏe mạnh đi du lịch khắp nơi trên thế giới từ dó phát tán loại virus này trên toàn cầu SARS coronavirus (SARS-CoV) đã nhanh chóng phát tán từ Trung Quốc sang toàn bộ phần còn lại của thế giới chỉ trong vòng 1 năm, gây bệnh trên 8000 người tại 29 quốc gia và gây ra 774 ca tử vong

Số ca SARS toàn cầu tăng lên đáng kể từ tháng 6 năm 2003 khi Tổ Chức Y

tế Thế giới khuyến cáo các nước thực hiện các biện pháp dự phòng y tế công cộng phòng ngừa SARS như phát hiện và cách ly ca bệnh, kiểm duyệt tại cửa khẩu hải quan và tầm soát bệnh trên diện rộng Hiện nay chưa có ca bệnh nào được báo cáo thêm kể từ năm 2004

16 Epstein-Barr virus

Epstein-Barr virus (EBV) lây truyền thông qua nước bọt bị nhiễm virus Viêm phổi là một biến chứng hiếm gặp của nhiễm EBV Các tổn thương phổi thứ phát do nhiễm EBV thường gặp ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch hơn các nhóm quần thể khác Khoảng 25% bệnh nhi nhiễm HIV khi mắc EBV sẽ có các tổn thương viêm phổi mô kẽ liên quan đến lympho hoặc phì đại các hạch lympho tại phổi

Trang 16

17 Rotavirus

Mặc dù nhiễm đường hô hấp thứ phát do rotavirus tương đối phổ biến nhưng viêm phổi do rotavirus lại rất hiếm gặp Chỉ có một số ít các ca viêm phổi do rotavirus được báo cáo

III SINH BỆNH HỌC

1 Cơ chế sinh bệnh chung

Hiện nay cơ chế gây bệnh của VPDVR vẫn chưa được biết đầy đủ và rõ ràng Tuy nhiên có thể nói rằng sinh bệnh học của VPDVR bắt đầu từ khi virus xâm nhập đường hô hấp trên của bệnh nhân Cơ chế xâm nhập đường hô hấp trên thay đổi tùy vào loại virus Các con đường xâm nhập của virus đã được xác định bao gồm phát tán các giọt tiết kích thước lớn trong khoảng cách gần (< 1m), tiếp xúc tay chân với da hoặc đồ dùng bị nhiễm virus (ví dụ các loại rhinovirus, RSV) hoặc tiếp xúc với giọt tiết kích thước nhỏ (ví dụ virus cúm và adenovirus) Các con đường xâm nhập của một số loại virus phổ biến như sau:

 Thông qua các yếu tố môi trường (adenovirus, enterovirus, rhinovirus)

 Tiếp xúc trực tiếp với đối tượng bị nhiễm virus (VZV)

 Cấy ghép nội tạng, cơ quan hoặc sản phẩm từ máu nhiễm virus (cytomegalovirus [CMV])

 Hít vào đường hô hấp dưới virus chứa trong nước bọt người nhiễm (CMV, herpes simplex virus [HSV])

 Tái hoạt động thể nhiễm virus tiềm ẩn trước đó (HSV, CMV)

 Lây truyền qua máu (CMV)

 Lây truyền qua nhân viên y tế (SARS, sởi, adenovirus, virus á cúm, RSV)

 Lây truyền qua hít phải chất tiết nhiễm virus của loài gậm nhấm (Hantavirus)

Sau khi xâm nhập vào đường hô hấp trên, hầu hết các loại virus hô hấp sẽ nhân lên tại lớp biểu mô đường hô hấp trên Lúc này cơ chế đề kháng của cơ thể

Trang 17

được kích hoạt với sự tham gia của miễn dịch cơ học, miễn dịch trung gian tế bào

và cả miễn dịch dịch thể

 Miễn dịch cơ học bao gồm hàng rào lông mũi giúp lọc các phân tử lớn > 10 microns, lớp dịch nhầy của mũi và cấu trúc phân nhánh dạng góc nhọn của đường hô hấp giúp giữa lại những phân tử có kích thước từ 5-10 micron tại lớp dịch nhầy

 Miễn dịch dịch thể chính là các phân tử immunoglobulin A (IgA) của niêm mạc

hô hấp, immunoglobulin M (IgM) của phế nang và immunoglobulin G (IgG) trong dịch tiết từ máu Các tế bào thực bào cũng tham gia vào cơ chế đề kháng virus của cơ thể bao gồm các tế bào đa nhân, các đại thực bào phế nang, mô kẽ

và nội mạch, các tế bào hình sao của đường hô hấp Các đại thực bào phế nang

là những tế bào đề kháng đầu tiên có nhiệm vụ trung hòa và phân hủy các tác nhân virus Ngoài ra các đại thực bào phế nang còn đóng vai trò là các tế bào trình diện kháng nguyên và tạo opsonin hóa Các tế bào hình sao đường hô hấp

sẽ đi vào quá trình trưởng thành, hoạt hóa và di chuyển nhanh đến các hạch lympho vùng ngay sau khi virus xâm nhập cơ thể Chúng sẽ đóng vai trò là các

tế bào trình diện kháng nguyên và tham gia vào hoạt hóa và biệt hóa các tế bào CD8+ T

 Miễn dịch qua trung gian tế bào đóng vai trò quan trọng nhất trong cơ chế đề kháng của cơ thể đối với tác nhân virus Hệ miễn dịch này bao gồm các quá trình tạo kháng thể, hoạt động gây độc tế bào và sản xuất các cytokine Các tế bào CD8+ nhớ hoặc các tế bào T tác động sẽ chiếm ưu thế trong miễn dịch đề kháng với virus Các mô hình thử nghiệm cho thấy có đến 30-90% các tế bào CD8+ T phục hồi từ dịch rửa phế quản-phế nang (BAL) đều đặc hiệu cho virus ngay tại lần nhiễm virus đầu tiên Các tế bào CD8+ T này không được kêu gọi đến phổi khi có nhiễm virus mà chúng có sẵn tại phổi Lý do là trong lần nhiễm virus đầu tiên, các tế bào CD8+T trở thành các tế bào ghi nhớ hoặc các tế bào T

Trang 18

hoạt hóa và được giữ lại tại phổi nhờ các ligand đặc hiệu Khi có đợt nhiễm virus thứ phát, các tế bào CD8+ T tại phổi và các hạch lympho sẽ được thay mới hoàn toàn

Tại phổi virus có thể gây ra các tổn thương đa dạng từ hội chứng đông đặc lan tràn khắp phổi kèm với xuất huyết với mức độ khác nhau cho đến tràn dịch màng phổi lẫn máu và tổn thương phế nang lan tỏa [11] Cơ chế gây tổn thương

mô phổi tùy thuộc vào loại virus gây bệnh Có loại virus sẽ tấn công chủ yếu vào các tế bào như tế bào phổi hoặc tế bào phế quản Một số loại khác sẽ gây ra hiện tượng viêm dữ dội thông qua các đáp ứng miễn dịch của cơ thể Các đáp ứng miễn dịch có thể được phân loại dựa vào loại cytokine được tạo ra Các cytokine loại 1

sẽ kích hoạt con đường miễn dịch qua trung gian tế bào trong khi các cytokine loại

2 sẽ kích hoạt miễn dịch qua trung gian dịch thể [9] Các cytokine loại 2 được tiết

ra bao gồm histamine, leukotriene C4, và immunoglobulin E đặc hiệu virus trong nhiễm RSV và bradykinin, interleukin 1, interleukin 6, và interleukin 8 trong nhiễm rhinovirus

IV ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG

1 Viêm phổi do virus cúm

Đây là biến chứng thường gặp của virus cúm Viêm phổi có thể là nguyên phát do virus cúm hay có thể thứ phát do vi khuẩn hay là phối hợp vi khuẩn và virus Viêm phổi nguyên phát do virus cúm thường ít xảy ra hơn nhưng bệnh cảnh rất nặng nề, nghiêm trọng

Trên lâm sàng, bệnh nhân sốt dai dẳng, khó thở và có khi tím tái Ho có ít đàm nhưng đàm có khi vướng máu

Trên X-quang có tình trạng thâm nhiễm mô kẽ lan tỏa, phân tích khí máu động mạch cho thấy có tình trạng giảm oxy máu đáng kể Cấy virus trong chất tiết đường hô hấp và nhu mô phổi tỷ lệ dương tính cao

Trang 19

Trong những trường hợp tử vong viêm phổi do virus cúm nguyên phát, về

mô học thấy có phản ứng viêm đáng kể ở vách phế nang, phù nề và xâm nhập bạch cầu, đại thực bào, tương bào ngoài ra có tình trạng tắc nghẽn mạch máu phế nang, hoại tử và xuất huyết

Viêm phổi nguyên phát do vi rút cúm thường gây bệnh cảnh nặng nề ở những bệnh nhân có bệnh tim mạch trước đó, đặc biệt ở bệnh nhân hẹp van hai lá hoặc ở những bệnh nhân có bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính Phụ nữ mang thai cũng

có nguy cơ cao hơn khi bị viêm phổi nguyên phát do virus cúm

Viêm phổi thứ phát do vi trùng: Tình trạng bệnh nhân được cải thiện 2-3 ngày sau đó Nhưng sốt trở lại với dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng của viêm phổi do vi trùng như ho đàm mủ, bạch cầu tăng cao, X-quang có tình trạng đông đặc phổi… Những vi trùng thường gây bội nhiễm là Streptococcus pneumoniae, Staphylococcus aureus, Haemophilus influenza

Bệnh cảnh thường gặp nhất là phối hợp giữa virus và vi khuẩn Cấy đàm vi khuẩn dương tính, phân lập vi rút dương tính Trên X -quang có hình ảnh thâm nhiễm từng đốm hay đông đặc từng vùng Trong thể phối hợp tổn thương phổi thường lan rộng hơn và làm nặng hơn tình trạng bệnh lý phổi sẵn có

Hội chứng Reye gặp ở bệnh cảnh do virus cúm có sử dụng Aspirin bao gồm viêm cơ và tiểu ra myoglobin Một số biến chứng ngoài phổi khác do virus cúm bao gồm viêm não, viêm tủy cắt ngang và Hội chứng Guillain-Barré

2 Viêm phổi do virus hợp bào hô hấp

Ở trẻ em, RSV thường gây nhiễm trùng đường hô hấp dưới gồm viêm khí phế quản, viêm phế quản và viêm phổi Bệnh cảnh lâm sàng thường bắt đầu với triệu chứng chảy nước mũi, sốt kèm với ho và khò khè Hầu hết bệnh nhân khỏi sau 1-2 tuần

-Trong những trường hợp viêm phổi nặng, bệnh nhân thở nhanh hay khó thở, giảm oxy máu, xanh tím, khám lâm sàng có ran phổi Trên X-quang thấy thâm

Trang 20

nhiễm dạng mô kẽ lan rộng hoặc là đông đặc thùy hay phân thùy Bệnh đặc biệt nặng ở trẻ sinh thiếu tháng và bệnh tim bẩm sinh, hay tình trạng miễn dịch bị ức chế

Ở người lớn bệnh cảnh thường kèm triệu chứng toàn thân như mệt mỏi, nhức đầu và sốt Viêm phổi do RSV thường gặp ở những bệnh nhân ghép tủy xương

3 Viêm phổi do virus sởi

Viêm phổi do virus sởi là lý do khiến bệnh nhân nhập viện, đặc biệt ở người lớn Viêm phổi nguyên phát do sởi là phổ biến nhưng cũng có thể do bội nhiễm các

vi khuẩn như Streptococci, Pneumococci, hay Staphylococci

Viêm phổi đặc trưng bởi tình trạng viêm phổi mô kẽ và tế bào khổng lồ đa nhân (viêm phổi Hecht), thường gặp ở người suy giảm miễn dịch hay suy dinh dưỡng

4 Viêm phổi do cytomegalovirus

CMV gây ra viêm phổi nghiêm trọng ở trẻ sơ sinh hay người lớn mắc những bệnh ác tính như ung thư máu, sử dụng các thuốc độc tế bào, thuốc ức chế miễn dịch

Viêm phổi ở trẻ sơ sinh do mẹ truyền qua nhau thai, bệnh thường rất nặng và

tử vong nhanh chóng với các triệu chứng của viêm phổi kèm vàng da, gan lách lớn, mảng xuất huyết, giảm tiểu cầu và thiếu máu tán huyết Não cũng có thể bị ảnh hưởng bởi tình trạng chậm phát triển tâm thần Một vài trẻ có thể bình thường lúc mới sinh nhưng sau đó thì nhiễm trùng hô hấp tái đi tái lại nhiều lần, có dấu hiệu thần kinh và chậm phát triển tâm thần Một số trẻ thì không có triệu chứng nhưng lại bài tiết ra virus

Viêm phổi ở người lớn biểu hiện bởi sốt kéo dài 2-5 tuần, tình trạng viêm phổi kèm viêm thanh quản, hạch to, gan lách lớn và có thể có vàng da ngoài ra có

Trang 21

thể có biến chứng viêm màng ngoài tim hay viêm tủy xám Cả trẻ em và người lớn

đều có thể nhiễm trùng thứ phát bởi Pneumocystic carinii

CMV được ghi nhận là bệnh lý quan trọng ở bệnh nhân AIDS, bệnh xuất hiện khi tế bào CD4 máu ngoại biên xuống thấp Biểu hiện lâm sàng: sốt, khó thở, giảm oxy máu, mệt lả, đau khớp, đau cơ; thay đổi chức năng gan, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu Trên X-quang tổn thương thâm nhiễm mô kẽ 2 bên bắt đầu từ vùng đáy phổi lan lên vùng giữa phổi và phần trên

5 Viêm phổi do một số virus ít gặp khác

Một số tác nhân khác gây viêm phổi nhưng hiếm gặp đó là Adenovirus, Rhinovirus, HSV, virus á cúm, thủy đậu… Biểu hiện bởi sốt, ho, mệt mỏi, đau nhức cơ thể Khám phổi phát hiện ran Bệnh nhân có thể viêm phổi phối hợp với bội nhiễm vi trùng

Bảng 1 sau đây trình bày các xét nghiệm chẩn đoán được khuyến cáo sử dụng trong chẩn đoán tác nhân gây viêm phổi là virus

Trang 22

Bảng 1 Phương pháp chẩn chấn viêm phổi do virus

virus

Xét nghiệm tế bào học

Xét nghiệm phát hiện kháng nguyên

Xét nghiệm khuếch đại gen

Virus á cúm HA,

SV

Thể vùi trong tế bào chất của các bạch cầu ái toan

*

HA – Ngưng kết hồng cầu † SV – Nuôi cấy tế bào Shell

IF – Miễn dịch huỳnh quang ** FCV – Virus “Four corners” (Hantavirus)

CE –Tác động gây bệnh trên tế bào

§ ELISA – Xét nghiệm hấp thu miễn dịch liên kết với enzyme

# RT-PCR – Phản ứng chuỗi polymearase dịch mã ngược

Trang 23

1 Xét nghiệm tế bào học

Chất tiết hô hấp, mẫu dịch rửa phế quản-phế nang và các mẫu mô đều có thể được sử dụng để làm xét nghiệm tế bào học và mô học Các thể vùi trong nhân tế bào thường hiện diện trong các tế bào nhiễm virus ADN Các thể vùi trong tế bào chất thường hiện diện trong các virus ARN Nhiễm CMV có đặc trưng là có sự hiện diện của các tế bào “mắt cú” Đây là những tế bào có các thể vùi trong nhân của bạch cầu ái kiềm và xung quanh là các vùng trống

Sự hiện diện của các thể vùi có thể dùng trong chẩn đoán VPDVR mặc dù

độ nhạy của xét nghiệm này thường thấp Do đó nếu không phát hiện được thể vùi vẫn không thể loại trừ mắc bệnh do virus thể hoạt động hoặc đang nhiễm virus

2 Nuôi cấy virus

VPDVR thường được chẩn đoán dựa trên việc phân lập và định loại tác nhân gây bệnh qua cấy virus Các mẫu mô, mẫu đàm của đường hô hấp trên hoặc dưới

và các mẫu dịch rửa hầu họng, dịch rửa phế nang-phế quản và mẫu mô sinh thiết đều có thể được dùng để cấy virus

Để có thể cấy được virus cần phải có loại môi trường vận chuyển virus phù hợp Môi trường vận chuyển virus phải là nước broth chứa kháng sinh và chất nền protein Cấy virus được thực hiện trên nhiều loại tế bào cấy (ví dụ như tế bào thận khỉ, các fibrolast diploid) Các tế bào nuôi cấy sẽ được ủ tại nhiệt độ 35°C và được kiểm tra vi sinh cách ngày trong suốt thời gian ủ 14 ngày

Mẫu cấy sau đó sẽ được kiểm tra về tác động gây bệnh trên tế bào (CE) và bằng chứng của sự tăng trưởng virus Đánh giá tác động gây bệnh trên tế bào là đánh giá sự hình thành các thể hợp bào của các tế bào khổng lồ đa nhân, các thể này hầu như không đặc hiện cho virus Sự tăng trưởng của virus được đánh giá thông qua các xét nghiệm hấp thu hồng cầu nhằm xác định sự gắn kết của hồng cầu với các từng lớp tế bào nuôi cấy của mô nhiễm virus

Trang 24

Việc xác định virus còn có thể được thực hiện thêm với các kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang hoặc các xét nghiệm lai đầu dò acid nucleic Những kỹ thuật này dùng để xác định đối với từng loại virus cụ thể trong tế bào nuôi cấy

Hệ thống cấy qua lọ Shell

Nuôi cấy virus truyền thống thường có giá trị kém trong chẩn đoán nhiễm RSV, hMPV và coronavirus Do đó, hiện nay một loại kỹ thuật nuôi cấy mới được

áp dụng trong chẩn đoán VPDVR chính là xét nghiệm hệ thống cấy qua lọ Shell

Hệ thống này dùng để phát hiện sự hiện diện của các loại virus tăng trưởng chậm

Hệ thống này hiện đang được sử dụng để phát hiện các loại virus CMV, RSV, HSV, adenovirus, virus cúm, virus á cúm

Trong kỹ thuật này, mẫu bệnh phẩm được ủ trên các lớp tế bào kết dính đựng trong các lọ nhỏ Các lọ nhỏ này sau đó được quay ly tâm với tốc độ chậm trong vòng 1 giờ rồi thêm vào môi trường cấy Tiếp theo các lọ này sẽ được ủ và kiểm tra liên tục để phát hiện kháng nguyên virus hoặc các mẫu ADN của virus Kết quả thường được trả về trong vòng 2-3 tuần

Nhuộm Gram mẫu đàm

Nhuộm Gram mẫu đàm thường sẽ bị nhiễm bởi các tác nhân đường miệng

và rất khó để thu được mẫu Hiện nay nhuộm Gram đàm thường ít được sử dụng trong chẩn đoán VPDVR vì độ nhạy và độ đặc hiệu không cao

Nuôi cấy máu

Việc sử dụng nuôi cấy máu trong chẩn đoán VPDVR hiện nay vẫn gây nhiều tranh cãi chưa có sự thống nhất Chính vì vậy đối với các cơ sở y tế cần phải xác định rõ trường hợp nào nuôi cấy bình thường và trường hợp nào nuôi cấy máu để tránh tốn kém và mất thời gian trong chẩn đoán tác nhân gây bệnh

Trang 25

3 Xét nghiệm phát hiện kháng nguyên virus nhanh

Các xét nghiệm phát hiện nhanh kháng nguyên virus có thể cho kết quả nhanh hơn các loại xét nghiệm truyền thống vì được thực hiện trực tiếp trên mẫu bệnh phẩm thu được từ bệnh nhân Dịch rửa mũi họng được sử dụng làm mẫu bệnh phẩm cũng có thể được lấy một cách dễ dàng từ bệnh nhân

Hiện nay các xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang và ELISA có thể được sử dụng để chẩn đoán HSV, RSV, virus cúm A và B, PIV, CMV, và các loại virus hô hấp khác ELISA có thể phát hiện kháng nguyên virus trong khi xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang cần phải có sự hiện diện của các tế bào nhiễm còn nguyên vẹn

và được tách chiết cẩn thận Độ nhạy và độ đặc hiệu của các loại xét nghiệm này tùy vào loại virus muốn xác định và loại xét nghiệm được sử dụng

Điểm mạnh của các xét nghiệm phát hiện kháng nguyên chính là độ đặc hiệu cao đối với từng loại virus Ngoài ra các xét nghiệm này vẫn có thể cho kết quả dương tính từ vài ngày đến vài tuần, điều mà các xét nghiệm cấy virus không thể làm được

Tuy nhiên các xét nghiệm này có độ nhạy chung thấp hơn so với cấy virus

Vì vậy xét nghiệm phát hiện kháng nguyên chỉ nên được sử dụng phối hợp với nuôi cấy tế bào để cho kết quả tối ưu trong phát hiện nhiễm virus

4 Các xét nghiệm khuếch đại gen

PCR là một kỹ thuật xét nghiệm cho độ nhạy và độ đặc hiệu cao vì có thể khuếch đại gen để phát hiện sự hiện diện của virus Đối với một số loại virus, kỹ thuật này là lựa chọn hàng đầu trong chẩn đoán Tuy nhiên nó cần phối hợp với cấy virus và các xét nghiệm phát hiện kháng nguyên nhanh Xét nghiệm PCR có thể giúp phát hiện các loại virus gây VPDVR như RSV, hMPV, và coronaviruses

Một kỹ thuật chẩn đoán sinh học phân tử mới được phát triển gần đây là kỹ thuật phản ứng chuỗi polymerase dịch mã ngược (MRT-PCR) có thể cho phép phát

Ngày đăng: 07/08/2017, 17:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Văn Đính (2004) "Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển, Hồi sức cấp cứu toàn tập". Nhà xuất bản Y học Hà Nội, tr.78 - 95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển, Hồi sức cấp cứu toàn tập
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội
2. ARDS Definition Task Force, Ranieri VM, et al (2012) "Acute respiratory distress syndrome: the Berlin Definition". JAMA 307, 2526-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acute respiratory distress syndrome: the Berlin Definition
3. Ashbaugh DG, et al (1967) "Acute respiratory distress in adults". Lancet, 27511, pp.319-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acute respiratory distress in adults
4. Bernard GR, Artigas A, et al (1994) "The American-European Consensus Conference on ARDS. Definitions, mechanisms, relevant outcomes, and clinical trial coordination". Am J Respir Crit Care Med 149, 818-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The American-European Consensus Conference on ARDS. Definitions, mechanisms, relevant outcomes, and clinical trial coordination
5. Bernard GR, Artigas, Brigham KL (1994) "The American-European Consensus Conference on ARDS. Definitions, mechanisms, relevant outcomes, and clinical trial coordination". Am J Respir Crit Care Med, 1493 (1), pp.818-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The American-European Consensus Conference on ARDS. Definitions, mechanisms, relevant outcomes, and clinical trial coordination
6. Centers for Disease Control and Prevention (2010), Hantavirus Pulmonary Syndrome (HPS) Cases, by State,http://www.cdc.gov/ncidod/diseases/hanta/hps/noframes/epislides/episls.htm., truy cập ngày 29/11/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hantavirus Pulmonary "Syndrome (HPS) Cases, by State
Tác giả: Centers for Disease Control and Prevention
Năm: 2010
7. Chowell G, Bertozzi SM, et al (2009) "Severe respiratory disease concurrent with the circulation of H1N1 influenza". N Engl J Med, 361, (7), 674-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Severe respiratory disease concurrent with the circulation of H1N1 influenza
8. Falsey AR, Walsh EE (2006) "Viral pneumonia in older adults". Clin Infect Dis, 42, (4), 518-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viral pneumonia in older adults
9. Legg JP, Hussain IR, et al (2003) "Type 1 and type 2 cytokine imbalance in acute respiratory syncytial virus bronchiolitis". Am J Respir Crit Care Med., 168, (5), 633-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Type 1 and type 2 cytokine imbalance in acute respiratory syncytial virus bronchiolitis
10. Levy H, Simpson SQ (1994) "Hantavirus pulmonary syndrome". Am J Respir Crit Care Med, 149, (6), 1710-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hantavirus pulmonary syndrome
11. Levy MM, et al (2005) "Clinical issues and research in respiratory failure from severe acute respiratory syndrome". Am J Respir Crit Care Med, 171, (5), 518-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical issues and research in respiratory failure from severe acute respiratory syndrome
12. Maravi-Poma E, Martin-Loeches I, et al (2011) "Severe 2009 A/H1N1v influenza in pregnant women in Spain". Crit Care Med, 39, (5), 945-951 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Severe 2009 A/H1N1v influenza in pregnant women in Spain
13. Metzgar D, Osuna M, Kajon AE, et al (2007) "Abrupt emergence of diverse species B adenoviruses at US military recruit training centers". J Infect Dis, 196, (10), 1465-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Abrupt emergence of diverse species B adenoviruses at US military recruit training centers
14. Murray JF, et al (1988) "An expanded definition of the adult respiratory distress syndrome". Am Rev Respir Dis, 1383, pp.720-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An expanded definition of the adult respiratory distress syndrome
15. Nolte FS (2008) "Molecular diagnostics for detection of bacterial and viral pathogens in community-acquired pneumonia. ". Clin Infect Dis, 47 (3), S123-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Molecular diagnostics for detection of bacterial and viral pathogens in community-acquired pneumonia
16. Petty TL, Ashbaugh DG (1971) "The adult respiratory distress syndrome. Clinical features, factors influencing prognosis and principles of management".Chest, 603, pp.233-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The adult respiratory distress syndrome. Clinical features, factors influencing prognosis and principles of management
17. Ranieri VM, et al (1999) "Effect of mechanical ventilation on inflammatory mediators in patients with acute respiratory distress syndrome: a randomized controlled trial". JAMA 282, 54-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of mechanical ventilation on inflammatory mediators in patients with acute respiratory distress syndrome: a randomized controlled trial
18. Thompson WW, et al (2004) "Influenza-associated hospitalizations in the United States". JAMA, 292, (11), 1333-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Influenza-associated hospitalizations in the United States
19. Ware LB, Matthay MA. (2000) "The acute respiratory distress syndrome.". N Engl J Med 342, 1334-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The acute respiratory distress syndrome

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w