1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Nghiên cứu khảo sát đặc điểm nhân trắc học bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường tại thành phố hồ chí minh

92 387 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các phương trình hồi quy và hệ số tương quan số đo theo chiều dài, chiều rộng, vòng bàn chân với chiều dài bàn chân hoặc vòng khớp ngón bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường Tp.. Bệnh nhân ti

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng, luận văn thạc sĩ kỹ thuật "Nghiên cứu khảo sát đặc điểm

nhân trắc học bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường tại Thành Phố Hồ Chí Minh”là

công trình nghiên cứu của riêng tôi, do PGS.TS Bùi Văn Huấn hướng dẫn

Những số liệu sử dụng trong luận văn được chỉ rõ nguồn trích dẫn trong danh mục tài liệu tham khảo Kết quả nghiên cứu này là do chính tôi nghiên cứu chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào từ trước đến nay

Nguyễn Văn Tuấn

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên tôi vô cùng biết ơn:

PGS.TS Bùi Văn Huấn, người đã dìu dắt tôi trên con đường khoa học, người

đã tận tình hướng dẫn, khích lệ và dành nhiều thời gian giúp tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ kỹ thuật này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Viện Dệt May - Da giầy và Thời trang trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, đã hết lòng truyền đạt những kiến thức khoa học trong suốt thời gian học tập tại trường và luôn tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các phòng chức năng, cùng toàn thể anh chị em khoa Công nghệ Sản xuất Da Giày trường Cao Đẳng Công Thương

đã tận tình giúp đỡ động viên tôi trong suốt quá trình học tập và làm việc tại trường

Xin chân thành cảm ơn đến đội ngũ y, bác sĩ khoa nội tiết Bệnh viện quận Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giúp đỡ tôi trong thời gian đo chân bệnh nhân

Đặc biệt xin gửi lời cảm ơn và chia sẻ niềm vui đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã cùng động viên, giúp đỡ, khích lệ tinh thần, gánh vác mọi công việc tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng xin kính chúc Quý Thầy – Cô, các bạn đồng nghiệp sức khỏe

và thành đạt

Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 03 năm 2016

Nguyễn Văn Tuấn

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC HÌNH ẢNH VÀ ĐỒ THỊ viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài: 1

2 Lịch sử nghiên cứu: 2

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 2

4 Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản: 3

5 Phương pháp nghiên cứu: 3

CHƯƠNG 1 NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 4

1.1 Tổng quan về bệnh tiểu đường và bàn chân người bệnh 4

1.1.1 Bệnh tiểu đường 4

1.1.2 Biến chứng bàn chân ở người bệnh tiểu đường 5

1.1.3 Chăm sóc bàn chân người tiểu đường và vai trò của giầy cho bệnh nhân 8 1.2 Các loại giầy dép dùng cho bệnh nhân tiểu đường 10

1.2.1 Trên thế giới 10

1.2.2 Trong nước 14

1.3 Các phương pháp và kỹ thuật đo hình dạng và kích thước bàn chân 15

1.3.1 Các phương pháp đo hình dạng và kích thước bàn chân 15

1.3.2 Các kỹ thuật đo hình dạng và kích thước bàn chân 18

1.3.2.1 Các kỹ thuật đo tiếp xúc bàn chân 21

1.3.2.2 Các kỹ thuật đo không tiếp xúc 23

1.4 Các hệ cỡ số phom giầy (giầy) 26

1.4.1 Các hệ cỡ số theo chiều dài 26

1.4.2 Các cỡ theo độ đầy 32

Trang 4

1.5 Kết luận phần nghiên cứu tổng quan 33

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 Mục tiêu đề tài 35

2.2 Đối tượng nghiên cứu 35

2.3 Nội dung nghiên cứu 35

2.3.1 Xây dựng chương trình đo và thực hiện đo bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường Tp Hồ Chí Minh 35

2.3.2 Xử lý số liệu đo xác định các đặc trưng nhân trắc bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường Tp Hồ Chí Minh 36

2.3.3 Xây dựng hệ cỡ số bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường Tp Hồ Chí Minh36 2.4 Phương pháp nghiên cứu 36

2.4.1 Phương pháp và kỹ thuật đo bàn chân 36

2.4.1.1 Xác định kích thước cần đo 36

2.4.1.2 Lựa chọn phương pháp và kỹ thuật đo 37

2.4.1.3 Thiết kế phiếu đo chân 40

2.4.2 Xây dựng quy trình, kế hoạch đo chân 41

2.4.2.1 Xác định số lượng đo 41

2.4.2.2 Thời gian và địa điểm đo 42

2.4.2.3 Quy trình đo chân 42

2.4.3 Xử lý số liệu đo và xây dựng hệ cỡ số bàn chân 43

2.5 Kết luận chương 2 46

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 47

3.1 Kết quả xử lý số đo bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường Tp Hồ Chí Minh 47

3.2 Kết quả xây dựng hệ thống cỡ số bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường Tp Hồ Chí Minh 52

3.2.1 Kết quả lựa chọn và chứng minh các thông số chủ đạo 52

3.2.2 Xác định quan hệ giữa các kích thước bàn chân với các kích thước chủ đạo 58

3.2.3 Lựa chọn Hệ cỡ số 61

Trang 5

3.2.4 Xây dựng cơ cấu hệ cỡ số bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường Tp Hồ Chí

Minh 62

3.2.4.1 Xây dựng cơ cấu cỡ số theo chiều dài bàn chân 62

3.2.4.2 Xây dựng cơ cấu cỡ số theo độ đầy bàn chân 64

3.2.4.3 Cơ cấu hệ cỡ số bàn chân 67

3.2.5 Kết quả xác định giá trị các thông số bàn chân cho hệ cỡ số 68

3.3 Kết luận chương 3 73

KẾT LUẬN 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

PHỤ LỤC 1 78

PHỤ LỤC 2 80

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Ví dụ về mối liên hệ cỡ giầy các hệ cỡ khác nhau 30 Bảng 3.1 Giới hạn chênh lệch về giá trị giữa các số đo của các bàn chân phải và bàn chân trái nữ bệnh nhân tiểu đường Tp Hồ Chí Minh, mm 47 Bảng 3.2 Giá trị các thông số cơ bản của bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường Tp Hồ Chí Minh, mm 49 Bảng 3.3 So sánh giá trị các thông số cơ bản của bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường Tp Hồ Chí Minh với bàn chân phụ nữ Việt Nam bình thường 50 Bảng 3.4 Kết quả tính hệ số tương quan giữa các kích thước nữ bệnh nhân tiểu đường Tp Hồ Chí Minh 54 Bảng 3.5 Tính toán phân bố thực tế và lý thuyết số đo chiều dài nữ bệnh nhân tiểu đường Tp Hồ Chí Minh 55 Bảng 3.6 Tính toán phân bố thực tế và lý thuyết số đo Vòng khớp ngón bàn chân

nữ bệnh nhân tiểu đường Tp Hồ Chí Minh 56 Bảng 3.7 Kết quả tính các chỉ số đánh giá phân bố chuẩn chiều dài và vòng khớp ngón bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường Tp Hồ Chí Minh 58 Bảng 3.8 Các phương trình hồi quy thể hiện mối quan hệ giữa các thông số bàn chân với chiều dài bàn chân và vòng khớp ngón 59 Bảng 3.9 Các phương trình hồi quy và hệ số tương quan số đo theo chiều dài, chiều rộng, vòng bàn chân với chiều dài bàn chân hoặc vòng khớp ngón bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường Tp Hồ Chí Minh 60 Bảng 3.10 Kết quả tính cơ cấu cỡ số bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường Tp Hồ Chí Minh 63 Bảng 3.11 Kết quả xác định độ đầy (giá trị Vkng) trung bình của các cỡ bàn chân

và số lượng cỡ độ đầy cần xem xét thiết lập 64 Bảng 3.12 Kết quả xác định cơ cấu cỡ số theo độ đầy bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường Tp Hồ Chí Minh 65

Trang 7

Bảng 3.13 Hệ thống cỡ số bàn chân 67

Bảng 3.14 Giá trị các kích thước bàn chân cỡ 220 với 3 độ đầy, mm 68

Bảng 3.15 Giá trị các kích thước bàn chân cỡ 226 với 3 độ đầy, mm 69

Bảng 3.16 Giá trị các kích thước bàn chân cỡ 233 với 3 độ đầy, mm 70

Bảng 3.17 Giá trị các kích thước bàn chân cỡ 239 với 3 độ đầy, mm 71

Bảng 3.18 Giá trị các kích thước bàn chân cỡ 246 với 3 độ đầy, mm 72

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Cơ chế bệnh đái tháo đường týp 2 được minh họa như sau 4

Hình 1.2 Minh họa biến dạng bàn chân bện nhân tiểu đường 6

Hình 1.3 Loét bàn chân bệnh nhân tiểu đường 7

Hình 1.4 Minh họa chăm sóc bàn chân người bệnh tiểu đường 9

Hình 1.5: Giầy cho bện nhân tiểu đường nguy cơ thấp (Nguồn: Luigi Uccioli, MD, The Diabetic Foot 2006: The Role of Footwear in the Prevention of Diabetic Foot Problem) 11

Hình 1.6: Giầy cho bện nhân tiểu đường nguy cơ vừa 12

Hình 1.7 Giầy cho nhóm nguy cơ cao bị loét chân (Nguồn: Luigi Uccioli, MD, The Diabetic Foot 2006: The Role of Footwear in the Prevention of Diabetic Foot Problem) 13

Hình 1.8 Lót giầy cho bệnh nhân tiểu đường 13

Hình 1.9 Giầy cho nhóm nguy cơ loét chân rất cao 14

Hình 1.10 Một số mẫu giầy nữ cho bệnh nhân tiểu đường do Viện Nghiên cứu Da giầy sản xuất 15

Hình 1.11 Các điểm nhân trắc bàn chân (a) và sơ đồ đo bàn chân và ống chân(b,c)16 Hình 1.12 Quy cách xác định các kích thước bàn chân 18

Hình 1.13 Quy cách xác định các kích thước vòng bàn chân 18

Hình 1.14 Phân loại các phương pháp đo chân 20

Hình 1.15 Dụng cụ đo bàn chân Brannock 21

Hình 1.16 Dụng cụ đo dấu và hình phủ bàn chân 22

Hình 1.17 Một số dụng cụ lấy biên dạng tiết diện bàn chân 23

Hình 1.18 Cấu trúc thiết bị quét bàn chân: 23

Hình 1.19 Sơ đồ cấu tạo thiết bị chụp ảnh bàn chân 24

Hình1 20 Ảnh bàn chân 25

Hình 1.21 Ảnh 3D và các thông số cơ bản của bàn chân phải 25

Hình 1.22 Thiết bị quét bàn chân «PEDUS 3D Foot Scanner» 26

Trang 9

Hình 1.23 Sơ đồ đo chiều dài bàn chân 27

Hình 1.24 Sơ đồ xác định cỡ giầy theo các hệ cỡ khác nhau 27

Hình 2.1 Các điểm giải phẫu bàn chân và sơ đồ đo chân 38

nữ bệnh nhân tiểu đường Tp Hồ Chí Minh 56

Hình 3.2 Biểu đồ phân bố thực nghiệm và lý thuyết vòng khớp ngón bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường Tp Hồ Chí Minh 57

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Đái tháo đường, còn gọi là bệnh tiểu đường hay bệnh dư đường, là một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa cacbohydrat khi hoóc- môn insulin của tụy bị thiếu hay giảm tác động trong cơ thể, biểu hiện bằng mức đường trong máu luôn cao Bệnh có tốc độ phát triển rất nhanh ở nhiều nước trên thế giới

Năm 2010, trên thế giới, ước lượng có hơn có 221 triệu người mắc bệnh tiểu đường Năm 2025 sẽ lên tới 330 triệu người (gần 6% dân số toàn cầu) Tỷ lệ người bệnh tăng lên ở các nước phát triển là 42%, nhưng ở các nước đang phát triển (như Việt Nam) sẽ là 170% [14]

Ở Việt Nam, số người mắc bệnh tiểu đường ngày càng tăng nhanh nhất là ở các đô thị lớn Theo kết quả nghiên cứu của Mai Thế Trạch và cộng sự [6] năm

1993, tại Tp Hồ Chí Minh tỷ lệ mắc đái tháo đường là 2,52% Năm 2001 tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường tại Hà Nội là 3,6% Năm 2001, tại các thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh) tỷ lệ bệnh tiểu đường là 4,9% và tỷ lệ người có nguy cơ phát triển thành bệnh tiểu đường là 38,5% [2]

Bệnh tiểu đường là một trong những nguyên nhân chính của nhiều bệnh hiểm nghèo, điển hình là bệnh tim mạch vành, tai biến mạch máu não, mù mắt, suy thận, liệt dương, hoại thư, v.v [1, 3] Bệnh nhân tiểu đường có các nhóm nguy cơ khác nhau về chấn thương bàn chân, thông thường bàn chân bệnh nhân đều có đặc điểm chung như [7, 17]: Bàn chân dễ bị tổn thương, do người bệnh bị giảm hoặc mất cảm giác bàn chân, khi bị tổn thương người bệnh không biết do vậy vết thương dễ nặng thêm Các vết thương bàn chân rất khó lành do thiếu ôxy, thiếu dưỡng chất, khả năng đề kháng giảm v.v Bàn chân dễ bị tổn thương trước tác động của nhiệt độ môi trường cao hoặc thấp Da bàn chân dễ bị vi khuẩn tác động gây bệnh Các mạch máu và đầu dây thần kinh dễ bị tổn thương khi bị va chạm mạnh hoặc bị ép nén trong thời gian dài Da bàn chân nhạy cảm dễ bị tổn thương, cảm giác kém Bàn chân bị biến dạng do bị teo các cơ, sai lệch các khớp [22] Phân bố lực ép nén lên các phần của lòng bàn chân khi đứng và đi lại bị thay đổi

Trang 11

Chính vì vậy, trên thế giới người ta sản xuất giầy dành riêng cho bệnh nhân tiểu đường Ở nước ta, cho đến nay, bệnh nhân tiểu đường thường phải sử dụng giầy thông thường nên đây là một trong những nguyên nhân tiềm ẩn gây loét bàn chân

Do vậy, việc “Nghiên cứu khảo sát đặc điểm nhân trắc học bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường tại Thành phố Hồ Chí Minh” để xác định các đặc trưng của bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường, xây dựng hệ cỡ số bàn chân làm cơ sở thiết kế phom giầy và thiết kế giầy cho bệnh nhân là việc làm cần thiết có tính khoa học và thực tiễn

2 Lịch sử nghiên cứu:

Trên thế giới, nhu cầu về sử dụng giầy dép cho bệnh nhân tiểu đường rất lớn

và ngày tăng mạnh Sử dụng giầy phù hợp dành riêng cho bệnh nhân tiểu đường được chứng minh là làm giảm tỷ lệ loét bàn chân Do vậy nhiều nhà khoa học đã và đang quan tâm nghiên cứu về loại giầy này Nhiều nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu, các đặc trưng nhân trắc và cơ sinh học bàn chân bệnh nhân [16 ÷ 18], hiệu quả của việc sử dụng giầy trong phòng chống loét bàn chân [19, 21], thiết kế, chế tạo các loại vật liệu làm lót giầy có tính đàn hồi cao, an toàn sinh thái [17 ÷ 20], đặc

biệt là các nghiên cứu về áp lực lên bàn chân bệnh nhân tiểu đường [23 ÷ 25] Ở

nước ta, thời gian gần đây mới có một nghiên cứu sơ bộ của Viện Nghiên cứu Da giầy [12] về loại giầy này Theo các công trình đã công bố, chưa thấy có công trình nào công bố về nghiên cứu nhân trắc bàn chân bệnh nhân tiểu đường Việt Nam

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Mục đích nghiên cứu: Đánh giá được các đặc điểm hình dạng và kích thước

bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường tại thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở so sánh với bàn chân người khỏe mạnh, xây dựng hệ thống cỡ số bàn chân làm

cơ sở thiết kế phom giầy và thiết kế giầy cho bệnh nhân

Đối tượng nghiên cứu: Bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh

Phạm vi nghiên cứu: Trong nghiên cứu này, tập trung xác định các kích

thước của số lượng tối thiểu bàn chân nữ bệnh nhân trên địa bàn Tp Hồ

Chí Minh

Trang 12

4 Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản:

Nghiên cứu tổng quan về bệnh tiểu đường, bàn chân bệnh nhân tiểu đường, các phương pháp nghiên cứu nhân trắc học bàn chân, phương pháp xây dựng hệ thống cỡ số bàn chân

Khảo sát thực tế, lựa chọn đối tượng đo, địa điểm đo, xây dựng phương pháp

và chương trình đo, tiến hành đo kích thước các bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường

Xử lý số liệu đo để xác định các đặc điểm hình dạng và kích thước bàn chân

nữ bệnh nhân tiểu đường tại thành phố Hồ Chí Minh

Xây dựng hệ thống cỡ số bàn chân nữ bệnh tiểu đường tại Tp Hồ Chí Minh

5 Phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu lý thuyết kế thừa các kết quả nghiên cứu đã công bố làm cơ sở cho nghiên cứu thực nghiệm

Nghiên cứu khảo sát để lựa chọn đối tượng nghiên cứu (các bệnh nhân để đo bàn chân)

Phương pháp thực nghiệm (đo kích thước các bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường)

Phương pháp so sánh (so sánh bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường với bàn chân phụ nữ bình thường)

Sử dụng các phần mềm Excel và SPSS để xử lý số liệu đo bàn chân

Đóng góp của tác giả: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần phân tích

làm rõ các đặc trưng hình dạng và kích thước bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường tại

Tp Hồ Chí Minh, xây dựng hệ thống cỡ số bàn chân làm cơ sở thiết kế phom giầy

và thiết kế giầy cho bệnh nhân

Trang 13

CHƯƠNG 1 NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về bệnh tiểu đường và bàn chân người bệnh

là căn bệnh nguy hiểm của thời đại

Bệnh đái tháo đường xảy ra khi cơ thể không sản xuất đủ insulin, hoặc cơ thể giảm đáp ứng với tác dụng của insulin (đề kháng với insulin) Insulin, được sản xuất

từ tuyến tuỵ, một tuyến nằm sau dạ dày, giúp cho các tế bào của cơ thể sử dụng đường từ máu của bạn Glucose là một nguồn năng lượng cho các tế bào Glucose được tạo ra từ thức ăn và thức uống

Hình 1.1 Cơ chế bệnh đái tháo đường týp 2 được minh họa như sau

Năm 2010, trên thế giới, ước lượng có hơn có 221 triệu người mắc bệnh tiểu đường Năm 2025 sẽ lên tới 330 triệu người (gần 6% dân số toàn cầu) Tỷ lệ người

Trang 14

bệnh tăng lên ở các nước phát triển là 42%, nhưng ở các nước đang phát triển (như Việt Nam) sẽ là 170% [20]

Ở Anh khoảng 1,6 triệu người bị đái tháo đường Tại Hoa Kỳ, số người bị đái tháo đường tăng từ 5,3% năm 1997 lên 6,5% năm 2003 và tiếp tục tăng rất nhanh Người tuổi trên 65 bị đái tháo đường gấp hai lần người tuổi 45 – 54 [20]

Tại Việt Nam, trong 4 thành phố lớn Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, tỷ lệ bệnh tiểu đường là 4%, riêng quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) lên tới 7% Phần lớn người bệnh phát hiện và điều trị muộn, hệ thống dự phòng, phát hiện bệnh sớm nhưng chưa hoàn thiện Vì vậy, mỗi năm có trên 70% bệnh nhân không được phát hiện và điều trị [7]

Bệnh tiểu đường có hai thể bệnh chính: Bệnh tiểu đường loại 1 do tụy tạng không tiết insulin, và loại 2 do tiết giảm insulin và đề kháng insulin [1]

Loại 1 (Typ 1): Khoảng 5 - 10% tổng số bệnh nhân tiểu đường thuộc loại 1,

phần lớn xảy ra ở trẻ em và người trẻ tuổi (dưới 20 tuổi) Các triệu chứng thường khởi phát đột ngột và tiến triển nhanh nếu không điều trị Giai đoạn toàn phát có tình trạng thiếu insulin tuyệt đối gây tăng đường huyết và nhiễm Ceton

Loại 2 (Typ 2): Bệnh tiểu đường loại 2 chiếm khoảng 90 - 95% trong tổng số

bệnh nhân bệnh tiểu đường, thường gặp ở lứa tuổi trên 40, nhưng gần đây xuất hiện ngày càng nhiều ở lứa tuổi 30, thậm chí cả lứa tuổi thanh thiếu niên Bệnh nhân thường ít có triệu chứng và thường chỉ được phát hiện bởi các triệu chứng của biến chứng, hoặc chỉ được phát hiện tình cờ khi đi xét nghiệm máu trước khi mổ hoặc khi có biến chứng như nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não; khi bị nhiễm trùng

da kéo dài; bệnh nhân nữ hay bị ngứa vùng do nhiễm nấm âm hộ; bệnh nhân nam bị liệt dương

1.1.2 Biến chứng bàn chân ở người bệnh tiểu đường

Bệnh nhân tiểu đường có các nhóm nguy cơ khác nhau về chấn thương bàn chân, bàn chân bệnh nhân có đặc điểm chung sau đây [7, 17]:

- Bàn chân dễ bị tổn thương, do người bệnh bị giảm hoặc mất cảm giác bàn

Trang 15

chân, khi bị tổn thương người bệnh không biết do vậy vết thương dễ nặng thêm

- Các vết thương bàn chân rất khó lành do thiếu ôxy, thiếu dưỡng chất, khả năng đề kháng giảm v.v

- Bàn chân dễ bị tổn thương trước tác động của nhiệt độ môi trường cao hoặc thấp

- Da bàn chân dễ bị vi khuẩn tác động gây bệnh

- Các mạch máu và đầu dây thần kinh dễ bị tổn thương khi bị va chạm mạnh hoặc bị ép nén trong thời gian dài

- Da bàn chân nhạy cảm dễ bị tổn thương, cảm giác kém

- Bàn chân bị biến dạng do bị teo các cơ, sai lệch các khớp [22] (hình 1.2)

Hình 1.2 Minh họa biến dạng bàn chân bệnh nhân tiểu đường

- Phân bố lực ép nén lên các phần của lòng bàn chân khi đứng và đi lại bị thay đổi

Người bệnh tiểu đường còn có nguy cơ lớn bị biến dạng bàn chân do sự hấp

thu trở lại (teo) lớp đệm bảo vệ tự nhiên ở lòng bàn chân Đây là bệnh do các mạch máu ngoại biên hoặc quá trình lão hóa tự nhiên Khi lớp đệm mỡ trở nên mỏng và hoàn toàn bị hấp thu trở lại, nó không thể bảo vệ da chống lại áp lực xương đè lên Điều này làm cho da bị áp lực rất lớn ở phía dưới xương và gây ra viêm, loét, dần dần lớp da viêm loét bị nhiễm trùng Những vấn đề này có thể trở nên nghiêm trọng

mà người bệnh tiểu đường không biết nếu bệnh nhân bị các chứng thần kinh ngoại

vi [8]

Loét bàn chân ở bệnh nhân tiểu đường là một biến chứng nguy hiểm, có thể

Trang 16

phải bị cắt cụt cả bàn chân hoặc cẳng chân, gây tàn phế suốt đời cho người bệnh [8]

Sự khởi đầu của biến chứng này là nhiễm trùng và có sự kết hợp của bệnh lý về thần kinh cùng với bệnh lý về mạch máu Đây là những bệnh lý mà vốn dĩ người bị bệnh tiểu đường phải gánh chịu, và ngược lại đôi khi do bệnh lý của thần kinh và mạch máu lại làm cho một vết thương nhỏ bị nhiễm trùng và gây loét, có thể dẫn đến những hậu quả tai hại Nguyên nhân dẫn đến loét bàn chân thường là do không còn cảm giác đau, người bệnh không còn khả năng nhận biết khi bị một vết thương như đạp chân lên gai, mảnh chai hoặc vật sắc nhọn , dẫn đến vết thương ngày một nặng hơn do không được biết để săn sóc Thậm chí có nhiều người bệnh không biết rằng mình bị loét chân, cho đến khi mủ từ vết thương xì dò thấm ra giầy dép thì họ mới biết mình bị loét

Hình 1.3 Loét bàn chân bệnh nhân tiểu đường

Những vết thương ở bàn chân là cơ hội cho sự nhiễm trùng dễ dàng và vết loét ngày một phát triển Việc điều trị những nhiễm trùng ở người bệnh tiểu đường

là hết sức khó khăn, vì các nhiễm trùng thường thấy ở đây do 3 đến 4 loại vi trùng, hơn nữa chúng lại khó trị bởi những thuốc kháng sinh thông thường Bên cạnh những khó khăn nêu trên, do bệnh lý về mạch máu làm giảm đi sự nuôi dưỡng vết thương cũng là một yếu tố làm cho việc điều trị các nhiễm trùng gây loét gặp khó khăn hơn Sự hoại tử (một vùng thịt bị chết) bàn chân có thể xảy ra khi không được quan tâm săn sóc đúng mức, lẽ dĩ nhiên khả năng có thể phải tháo bàn chân là giải quyết bắt buộc khi không còn giữ được nữa Tỉ lệ xuất hiện loét chân trong suốt đời sống của bệnh nhân tiểu đường có thể lên đến 25% Tử vong sau đoạn chi thay đổi

Trang 17

Một nguyên nhân khác gây loét bàn chân bệnh nhân tiểu đường là việc sử dụng giầy không vừa chân Tỷ lệ các vết loét bàn chân do chấn thương từ giầy dép chiếm 54,0% [19] Sự xuất hiện các tổn thương mới ở những bệnh nhân tiểu đường thông thường lên đến 33% trong khi đó bệnh nhân đi giầy trị liệu chỉ có 4% [21]

Tỷ lệ tái phát các vết loét bàn chân tại những người đi giầy trị liệu là 26% thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ những người không đi giầy trị liệu là 83% [19] Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả tại [23] cho thấy số bệnh nhân bị loét bàn chân do đi giầy kém vừa chân cao gấp 5,1 lần so với những bệnh nhân đi giầy vừa chân Việc

sử dụng giầy chuyên dụng có hiệu quả trong việc ngăn ngừa, giảm nguy cơ loét và loét tái phát bàn chân bệnh nhân tiểu đường

Như vậy việc chăm sóc bàn chân ở bệnh nhân tiểu đường là vấn đề hết sức quan trọng và cần được quan tâm chu đáo [17]

1.1.3 Chăm sóc bàn chân người tiểu đường và vai trò của giầy cho bệnh nhân

Bàn chân bệnh nhân tiểu đường cần được kiểm tra, chăm sóc và bảo vệ thường xuyên theo chỉ dẫn cụ thể [12, 16]:

Kiểm tra bàn chân mỗi ngày: Với người có bệnh lý tiểu đường nên tự kiểm

tra bàn chân mỗi ngày, đó là cách tốt nhất để bảo vệ bàn chân

Rửa chân mỗi ngày: Rửa chân mỗi ngày bằng nước ấm Không nên ngâm

chân trong nước quá lâu, tránh làm khô da Luôn thử nhiệt độ của nước để tránh quá nóng Luôn làm khô các kẽ chân sau khi rửa, có thể sử dụng các loại phấn, bột để giữ da khô ở các kẽ ngón chân

Luôn giữ da chân mềm mại:Nếu da chân của bạn thường hay bị khô và vảy

sừng, có thể dùng kem làm mềm da hay vaselin để làm mềm da, nhất là vùng gót và những vùng tì đè khi đi lại Tránh không được thoa kem làm mềm vào các kẽ chân,

vì đó là điều kiện để gây nên các vết nhiễm trùng nếu có trầy xước

Giữ gót chân không bị chai, vảy sừng: Nếu gót chân bị chai hoặc nhiều vảy

sừng, nên hỏi ý kiến của bác sĩ chuyên khoa về việc chăm sóc

Trang 18

Hình 1.4 Minh họa chăm sóc bàn chân người bệnh tiểu đường

Cắt móng chân mỗi tuần hay khi cần: Không nên để móng chân quá dài, hãy

cắt ngắn mỗi tuần hay khi móng chân quặp vào da gây đau Các móng nên được cắt tròn viền, không nên để góc cạnh Tránh lấy khóe móng quá nhiều vì có thể làm tổn thương da

Bảo vệ chân trước môi trường quá nóng hoặc lạnh: Khi đi trên đường đất

nóng hay bãi biển phải luôn mang giầy Có thể dùng kem chống nắng hoặc mềm da

để tránh da bị cháy Tránh xa đôi chân ra các nguồn nhiệt như: bếp, lò sưởi, nước nóng người bệnh có thể bị phỏng mà không biết Tối khi ngủ hãy mang tất tránh lạnh bàn chân, hay khi thời tiết trở lạnh hãy luôn kiểm tra bàn chân, tránh tình trạng

tê cóng

Luôn giữ dòng máu lưu thông tốt ở chân: Khi ngồi hãy để thẳng chân, tránh

tình trạng tắc mạch máu do gập gối quá lâu Luôn cử động cẳng, bàn chân mỗi 5 phút hay nhón gót tại chỗ nhằm tăng co bóp các cơ vùng cẳng chân giúp máu lưu thông tốt hơn Không nên mang tất và quần quá chật

Tăng cường hoạt động thể chất: Tham khảo với bác sĩ chuyên khoa về chế

độ hoạt động thể chất Hãy tập luyện mỗi ngày 30 phút Các môn thể dục có thể thực hiện được: đi bộ, đạp xe đạp, bơi lội,… Tránh các hoạt động gắng sức hoặc các hoạt động làm tăng áp lực tì đè lên bàn chân: chạy, nhảy…

Vai trò của giầy trong việc đề phòng loét bàn chân bệnh nhân tiểu đường:

Trang 19

Đôi giầy không thể thiếu đối với bệnh nhân tiểu đường, đôi giầy giúp kéo dài tuổi

thọ bệnh nhân [22] Đi chân không dễ đạp lên mảnh chai, vật sắc nhọn, tạo vết

thương mà đôi khi người bệnh không hay biết như đã phân tích ở trên Tránh tình trạng đi chân trần ngay cả đi trong nhà vì bàn chân của bạn có thể giẫm phải những

dị vật có thể làm tổn thương lòng bàn chân Luôn mang tất mềm, ít mối ráp kèm theo để tránh những vết chai da do giầy, dép cọ sát lâu ngày để lại Đế giầy hay dép phải thật mềm Người có bệnh tiểu đường cần thiết phải mang giầy có đế vững vàng

và độ đàn hồi tốt, nên mang giầy vừa chân, tránh bó hẹp Một số chuyên gia đã lưu

ý đối với người bệnh không nên mang sandal, guốc hay dép, và cần thay đổi giầy

sau khi mang liên tục 4 đến 5 giờ [8, 16]

Như đã đề cập ở trên, do bàn chân bị biến dạng (teo lớp đệm lòng bàn chân) nên áp lực lên lòng bàn chân không đều, tạo áp lực rất lớn ở phía dưới xương bàn chân, do vậy việc sử dụng giầy hợp lý còn giúp nâng đỡ bàn chân, phân bố đều áp lực lên lòng bàn chân, làm giảm nguy có bị chai hoặc loét bàn chân [19, 21, 25]

1.2 Các loại giầy dép dùng cho bệnh nhân tiểu đường

1.2.1 Trên thế giới

Trên thế giới người ta thường sử dụng 2 loại giầy cho bệnh nhân tiểu đường: giầy được chế tạo theo bàn chân bệnh nhân và giầy “sâu rộng” được sản xuất hàng loạt [19]

Loại đầu tiên được sản xuất theo các đặc trưng nhân trắc (hình dạng và kích thước) bàn chân của từng bệnh nhân tiểu đường Chúng được làm từ các loại vật liệu rất mềm như da mềm với các chi tiết đóng mở linh hoạt như băng nhám (Velcro) với mục đích phòng các biến chứng như các vết trầy sước hoặc nhiễm trùng Loại giầy này còn sử dụng các chi tiết hỗ trợ vòm bàn chân, hỗ trợ gót chân

và các chi tiết độn, chúng được thiết kế chính xác theo biên dạng và hình dạng bàn chân và chân người bệnh Tuy nhiên giá thành của loại giầy này thường rất cao

Loại giầy thứ hai là giầy “sâu rộng” với một số kiểu giầy tiêu biểu với lót

giầy có thể tháo rời Gọi là giầy “sâu rộng” là vì giầy này cao hơn, rộng hơn giầy

Trang 20

bình thường, có nghĩa là thể tích bên trong giầy lớn hơn để có thể chứa lót giầy có

độ dày lớn hơn ở giầy bình thường Lót có độ dày tối thiểu 3/16 inch (4,8 mm) đảm bảo độ giảm chấn, độ êm cho bàn chân người bệnh Giầy được giữ (đóng) trên bàn chân bằng dây giầy hoặc băng nhám velcro để có thể điều chỉnh được độ vừa vặn của giầy với bàn chân sau khi đã đưa lót giầy vào Lót giầy có thể được chế tạo theo bàn chân người bệnh

Có một số kiểu giầy loại 2 cho bệnh nhân tiểu đường tùy thuộc vào mức độ bệnh hay nguy cơ bàn chân Thường chia thành 4 nhóm nguy cơ bàn chân bệnh nhân đái tháo đường [9, 11]:

Nhóm nguy cơ thấp: Cảm giác bảo vệ bàn chân bình thường

Nhóm nguy cơ vừa: Mất cảm giác bảo vệ bàn chân, không có biến dạng bàn chân, không có tiền sử loét bàn chân hoặc cắt cụt từ trước

Nhóm nguy cơ cao: Mất cảm giác bảo vệ bàn chân, có biến dạng bàn chân, không có tiền sử loét bàn chân hoặc cắt cụt từ trước

Nhóm nguy cơ rất cao: Mất cảm giác bảo vệ bàn chân, có biến dạng bàn chân, có tiền sử loét bàn chân hoặc cắt cụt từ trước

Giầy cho nhóm bệnh nhân nguy cơ thấp: Nhóm này lựa chọn giầy phù hợp

với các đặc điểm: Đế và mũi giầy mềm, có các kích cỡ bề ngang khác nhau thích hợp cho từng bệnh nhân, ví dụ như ở hình 1.5

Hình 1.5: Giầy cho bệnh nhân tiểu đường nguy cơ thấp (Nguồn: Luigi Uccioli, MD,

The Diabetic Foot 2006: The Role of Footwear in the Prevention of Diabetic Foot Problem)

Giầy cho nhóm bệnh nhân nguy cơ vừa: Bệnh nhân có nguy cơ vừa bị loét

Lựa chọn loại giầy da rộng, mềm, dễ uốn, với kích cỡ cân đối, với áp lực thích hợp, vừa vặn với cung gan bàn chân cho đối tượng bệnh nhân này

Trang 21

a b

Hình 1.6 Giầy cho bệnh nhân tiểu đường nguy cơ vừa

(Nguồn: Luigi Uccioli, MD, The Diabetic Foot 2006: The Role of Footwear in the

Prevention of Diabetic Foot Problem) a: Giầy da rộng, mềm, dễ uốn, vừa vặn với cung gan bàn chân;

b: Giầy có sự phân bố áp lực phù hợp bên trong đế giầy

Giầy cho nhóm nguy cơ bị loét chân cao: Khi bị mất cảm giác bảo vệ sẽ gây

ra những biến dạng của bàn chân (lồi xương đốt bàn, ngón chân hình búa, ngón chân hình vuốt thú) Trong các trường hợp này ngón chân của bàn chân bị biến dạng, không thích hợp với đôi giầy đang mang từ trước, nhân tố quan trọng nhất là phần trên mũi giầy, sẽ gây cọ sát và làm gia tăng những vết loét ở phía trên ngoài và sau của vùng này Vị trí loét thường xuất hiện ở phía trên mu bàn chân và bên cạnh

của ngón 1 và ngón 5

Với những bệnh nhân này cần được tư vấn để lựa chọn giầy phù hợp: Chất liệu nên mềm, dễ uốn, tạo được sự thích nghi với bất kỳ sự thay đổi nào của bề mặt giúp phòng ngừa các tổn thương do cọ xát Với nhóm bệnh nhân này, sự biến dạng bàn chân có liên quan mật thiết với dáng đi của từng người Giầy cho nhóm bệnh nhân này có đế giầy làm bằng chất liệu cao su, cho phép trải rộng áp lực bên trong

ra cả vùng biên và đế giầy vững và có thể chuyển động dễ dàng Giầy làm bằng da mềm, có khoảng trống ở mũi giầy phù hợp với ngón chân bị biến dạng và tránh tăng

áp lực quá mức từ mũi giầy

Trang 22

Hình 1.7 Giầy cho nhóm nguy cơ cao bị loét chân (Nguồn: Luigi

Uccioli, MD, The Diabetic Foot 2006: The Role of Footwear in the Prevention of Diabetic Foot

Problem)

Giầy cho nhóm nguy cơ loét chân rất cao: Mất cảm giác bảo vệ, kèm biến

dạng bàn chân, tiền sử bị loét hoặc chấn thương

Bệnh nhân tiểu đường bị mất cảm giác bảo vệ, bàn chân biến dạng cùng với tiền sử loét ở vùng gan bàn chân, hoặc trước đó có tháo ngón Ở các bệnh nhân này xuất hiện tình trạng tăng quá mức áp lực dưới chân trong khi họ đi lại, áp lực cao nhất thường xuyên xảy ra ở phía dưới của ngón chân bị lồi lên, liên quan đến vị trí của vết loét Để giảm áp lực đỉnh này cần sử dụng giầy phù hợp để phân bố đều áp lực lên các phần lòng bàn chân

Hình 1.8 Lót giầy cho bệnh nhân tiểu đường

(Nguồn: Luigi Uccioli, MD, The Diabetic Foot 2006: The Role of Footwear in the

Prevention of Diabetic Foot Problem) Nhóm này nên lựa chọn loại giầy với các đặc điểm: đế giầy di động và cứng, giầy nửa sau giúp giảm tải ở phần bàn chân trước và thúc đẩy sự lành vết loét lên đến 66%

Trang 23

a b

Hình 1.9 Giầy cho nhóm nguy cơ loét chân rất cao

(Nguồn: Luigi Uccioli, MD, The Diabetic Foot 2006: The Role of Footwear in the

Prevention of Diabetic Foot Problem)

a: Giầy với đế cứng và mũi giầy rộng để chứa ngón chân biến dạng, và có nhiều miếng đệm ở bên trong;

b: Giầy nửa đế, giúp không tạo áp lực lên vết loét bàn chân trước, do bệnh nhân đi bằng áp lực duy nhất ở vùng rìa bàn chân

1.2.2 Trong nước

Như đã trình bày ở trên, ở nước ta số người mắc bệnh tiểu đường ngày càng tăng nhanh Bệnh nhân tiểu đường không chỉ tăng mạnh ở khu vực thành phố mà còn tăng mạnh cả ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa [2, 4] Bàn chân người tiểu đường rất dễ bị tổn thương và cần có các loại giầy phù hợp Tuy nhiên cho đến nay chưa có loại giầy chuyên dụng cho các nhóm bệnh nhân tiểu đường Bệnh nhân tiểu đường ở nước ta hoặc là không sử dụng giầy dép hoặc là sử dụng các loại giầy bình thường (thông dụng), do vậy nguy có chấn thương bàn chân là rất cao Các loại giầy cho các nhóm bệnh này nếu nhập ngoại khá đắt chưa phù hợp với điều kiện kinh tế nước ta So với các nước phát triển bề mặt (đường xá, nền nhà v.v.) ở nước ta nhỏ hẹp hơn, thô ráp, gồ ghề hơn và bẩn hơn, nên bàn chân bệnh nhân tiểu đường có nguy cơ bị chấn thương cao hơn Vài năm gần đây Viện Nghiên cứu Da giầy có nghiên cứu sản xuất thử nghiệm một số mẫu giầy cho bệnh nhân tiểu đường (hình 1.10)

Trang 24

Hình 1.10 Một số mẫu giầy nữ cho bệnh nhân tiểu đường

do Viện Nghiên cứu Da giầy sản xuất

Tuy nhiên, để sản xuất giầy vẫn dùng các loại phom giầy thông thường nên giầy chưa thực sự phù hợp với bàn chân bệnh nhân tiểu đường nước ta Bên cạnh đó giá thành giầy còn khá cao chưa phù hợp với điều kiện kinh tế của bệnh nhân

1.3 Các phương pháp và kỹ thuật đo hình dạng và kích thước bàn chân

1.3.1 Các phương pháp đo hình dạng và kích thước bàn chân

Việc đo bàn chân được thực hiện với các mục đích khác nhau Để thiết lập cơ cấu (hệ) cỡ số giầy và thiết kế phom giầy cần phải đo các bàn chân khoẻ mạnh hay các bàn chân không có khuyết tật Để chế tạo giầy chỉnh hình hoặc giầy đặt cho cá nhân cần đo bàn chân của khách hàng cụ thể Trên bàn chân tiến hành đo 3 dạng kích thước: khích thước dài, rộng và chu vi (vòng)

Phương pháp đo hình dạng và kích thước bàn chân của LB Nga: Kích

thước cơ thể người trong đó có kích thước bàn chân phụ thuộc vào tư thế đo Do vậy bàn chân được đo ở tư thế người đứng thẳng, trọng lượng cơ thể phân bố đều trên 2 chân Khoảng cách giữa 2 bàn chân là 20 cm Vị trí của dụng cụ đo, các thiết bị hoặc

vị trí của bàn chân trên thiết bị đo phải tương ứng với các yêu cầu của phương pháp

đo Việc tuân thủ kỹ thuật đo là điều kiện tiên quyết để nhận được các kết quả chính xác Nguyên tắc đo là đo bàn chân trần (không mang tất) [13, 27]

Trước khi đo sử dụng bút bi đánh dấu các điểm và các đường nhân trắc (đặc trưng) trên bàn chân, các điểm này cần phải tương ứng với các điểm nổi rõ và dễ xác định của bộ xương bàn chân (các chỏm, gò xương ), các mô mềm hoặc các

Trang 25

vết da nhăn

Trên bàn chân đánh dấu các điểm sau đây: điểm lồi nhất của đường lượn gót

1 (hình 1.11 a); tâm mắt cá trong 2; điểm bẻ gập bàn chân 3; điểm mu bàn chân 4; điểm giữa bàn chân 8; điểm lồi nhất của khớp xương đốt bàn số 1 (khớp ngón trong) 5; điểm 6 phân bố bên trên tâm khớp ngón xương đốt bàn số 1; điểm xa nhất của ngón chân 7 (trên ngón thứ nhất hoặc ngón thứ hai); điểm kết thúc ngón út 10; điểm lồi nhất của khớp xương bàn thứ năm (khớp ngón ngoài)11; tâm mắt cá ngoài 12; điểm phía dưới của đường lượn gót 13 (hình 1.11 b), điểm 15 ở phía dưới bắp chân, điểm phát triển nhất của bắp chân phía sau 16; điểm 17 ngay phía dưới bánh chè đầu gối, là điểm hẹp nhất của ống chân

a b c

Hình 1.11 Các điểm nhân trắc bàn chân (a)

và sơ đồ đo bàn chân và ống chân (b, c)

Các kích thước dài cơ bản của bàn chân được đo từ điểm lồi nhất 1 của gót là:

Chiều dài bàn chân Lbc – khoảng cách đến điểm xa nhất 7 trên ngón chân thứ nhất hoặc thứ hai;

Trang 26

Lkt – khoảng cách đến tâm 2 của đầu xương đốt bàn số 1 (hình 1.11 a);

Lkn - khoảng cách đến tâm 5 của đầu xương đốt bàn số 5;

Lngu - đến điểm 4 kết thúc ngón chân út;

Lbu - đến điểm bẻ uốn bàn chân 7;

Lmc - đến tâm mắt cá ngoài;

Chiều rộng bàn chân Rkt và Rkn (hình 1.11 c) theo các tiết diện vuông góc với trục dọc đi qua các tâm của các xương đốt bàn số 1 và số 5;

Chiều rộng gót chân Rg – theo tiết diện đi qua tâm gót chân;

Vòng khớp ngón trong Ckt - chu vi tiết diện đi qua tâm của đầu xương đốt bàn số 1;

Vòng khớp ngón trong Ckn - chu vi tiết diện đi qua tâm của đầu xương đốt bàn số 5;

Vòng Cgi đi qua điểm giữa bàn chân 6;

Vòng nghiêng (xỏ chân) Cng – chu vi tiết diện đi qua điểm bẻ uốn bàn chân

7 và điểm cong nhất 9 của gót chân;

Vòng qua mắt cá chân Cmc – chu vi tiết diện di qua tâm mắt cá trong 1; Vòng cổ chân Cc – chu vi tiết diện đi qua vị trí nhỏ nhất của cẳng chân bên trên mắt cá;

Vòng bắp chân ở vị trí phát triển nhất của bắp chân;

Vòng cẳng chân phía dưới đầu gối

Bên cạnh phương pháp đo của LB Nga, trên thế giới sử dụng phương pháp

đo như sau: Bàn chân được đặt trên tờ giấy vẽ và dùng bút chì ở tư thế thẳng đứng

vẽ bao quanh Để đo chiều dài bàn chân có tính đến đường lượn gót cần đặt thước

đo cách đường vẽ được 5 mm Để không cản trở sự lăn chân và sự cử động của các ngón chân ở phần mũi người ta cộng thêm 10 mm (hình 1.12)

Trang 27

Hình 1.12 Quy cách xác định các kích thước bàn chân

Ở các vị trí đánh dấu bằng các chữ a, b, c, e, lấy các số đo của khớp ngón (a

và b), vòm bàn chân (c), cũng như của gót (d) và mắt cá chân (e) (hình 1.13)

Hình 1.13 Quy cách xác định các kích thước vòng bàn chân

1.3.2 Các kỹ thuật đo hình dạng và kích thước bàn chân

Có thể thu thập thông tin nhân trắc về bàn chân bằng nhiều phương pháp với

độ chính xác, khả năng cung cấp thông tin và vận tốc ghi nhận số liệu khác nhau

Độ chính xác của các số đo phụ thuộc chủ yếu vào sự tác động tương hỗ giữa dụng

cụ đo và bàn chân Theo nguyên lý này, các phương pháp đo bàn chân được phân chia ra thành các phương pháp đo tiếp xúc (có dụng cụ đo tiếp xúc trực tiếp với bàn chân) và đo không tiếp xúc Theo khả năng cung cấp thông tin các phương pháp đo bàn chân được phân ra thành các nhóm sau:

Trang 28

Nhóm đo từng thông số – ghi nhận tuần tự từng số đo nhân trắc riêng biệt; Nhóm đo tiết diện – cho phép ghi nhận các thông tin về từng tiết diện hoặc từng đường đặc thù của bàn chân ở dạng đồ thị hoặc số liệu;

Nhóm đo từng phần – đo đồng thời đặc điểm từng phần hoàn chỉnh bề mặt bàn chân

Thời gian gần đây cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin các phương pháp và thiết bị đo bàn chân đã được hoàn thiện và được thiết lập mới Tổng hợp các phương pháp đo bàn chân và phân loại chúng được thể hiện ở hình 1.14 [10]

Trang 30

1.3.2.1 Các kỹ thuật đo tiếp xúc bàn chân

Phần lớn các phương pháp đo bàn chân được sử dụng trong công nghiệp giầy

là các phương pháp đo tiếp xúc Nhược điểm cơ bản của các phương pháp này là có

sự tiếp xúc trực tiếp của dụng cụ đo với bàn chân nên cho các kết quả đo kém chínhxác hơn PP do gián tiếp vì các phần mô mềm của bàn chân rất dễ bị biến dạng khi tiếp xúc, dù rất nhẹ, với dụng cụ đo Ngoài ra phần lớn các dụng cụ đo tiếp xúc chỉ cho phép ghi nhận thông tin về các thông số nhân trắc riêng biệt hoặc đo từng tiết diện, từng đường đặc thù của bàn chân, nên việc tăng lượng thông tin ghi nhận được bởi các phương pháp đo này không tránh khỏi việc kéo dài thời gian đo, gây cảm giác mệt mỏi cho những người tham gia và làm ảnh hưởng đến kết quả đo Do vậy các phương pháp đo tiếp xúc không phù hợp cho việc nhận các thông tin chi tiết về bàn chân Tuy nhiên nhờ giá thành rẻ, thiết bị gọn nhẹ, dễ sử dụng và phù hợp cho việc di chuyển nên chúng vẫn được sử dụng trong việc đo khảo sát bàn chân với quy mô lớn Ví dụ sử dụng dụng cụ đo chiều dài và chiều rộng bàn chân Brannock (hình 1.15) [29]

Hình 1.15 Dụng cụ đo bàn chân Brannock

Các phương pháp đo không tiếp xúc dựa trên cơ sở thu thập và xử lý sự phản

xạ ánh sáng của bề mặt bàn chân nhờ các dụng cụ quang học, cho phép rút ngắn thời gian đo, thu nhận được kết quả chính xác và đầy đủ

Dụng cụ đo chân cấu trúc của IU P Zubin và V.K Makaritreva dùng để

xác định (đo) vị trí các điểm nhân trắc của bàn chân trong hệ trục 3 chiều Để đảm

Trang 31

bảo ấn định chính xác bàn chân theo trục đi qua điểm lồi nhất của gót và kẽ các ngón chân thứ 2 và thứ ba, trên thiết bị đo có chốt giữa các ngón chân và hệ thống báo hiệu mức độ ép nén gót chân vào thành thiết bị đo [27]

Dụng cụ lấy dấu lòng bàn chân dùng để nhận thông tin về dấu in lòng (gan)

bàn chân và đường phủ của nó Dụng cụ cấu tạo từ khung trên đó có căng màng polyvinhinclorua hoặc polyetylen Khung được nối với đáy bằng khớp bản lề Đáy

có tấm đệm mềm, trên đó có quét mực dấu và đặt tờ giấy sạch Khi làm việc, khung của dụng cụ sẽ phủ lên đáy, bàn chân ấn định trên tấm màng và trên tờ giấy sẽ có dấu in lòng bàn chân

Ngoài ra ở Mỹ đã phát triển dụng cụ lấy dấu và đường phủ bàn chân dùng chất dẻo (hình 1.16) dụng cụ này cho phép khách hàng đo bàn chân và gửi về cơ sở sản xuất giầy để có được đôi giầy vừa chân [10]

Hình 1.16 Dụng cụ đo dấu và hình phủ bàn chân

Dụng cụ điện tử để vẽ đường phủ bàn chân (hình 1.17) sử dụng để vẽ

lên giấy vùng phủ bàn chân bằng kim 1, cố định trên mũi tam giác 2 Để loại bỏ

sự biến dạng của mô mềm bàn chân khi vẽ, trên thiết bị có lắp đặt mạch điện với

2 bóng đèn báo hiệu 3 và 4 Khi mũi vẽ 3 ép bình thường lên bàn chân, kim vẽ ở

vị trí A, đèn 4 sẽ sáng, khi ép (áp lực) vượt quá mức cho phép, kim vẽ ở vị trí B, đèn 3 sẽ sáng

Trang 32

Hình 1.17 Một số dụng cụ lấy biên dạng tiết diện bàn chân

1.3.2.2 Các kỹ thuật đo không tiếp xúc

Kỹ thuật quét lòng và hình phủ bàn chân (hình 1.18) cho phép nhận được

ảnh quét lòng và hình phủ bàn chân Sau khi xử lý ảnh trên máy tính nhận được dấu lòng bàn chân cũng như hình phủ bàn chân phục vụ việc lựa chọn phom giầy cũng như cỡ số giầy phù hợp [10]

Hình 1.18 Cấu trúc thiết bị quét bàn chân:

1- Máy quét; 2- kính dày; vùng quét; 4- lớp che phủ; 5- khung gỗ

Thiết bị chụp ảnh bàn chân dùng để chụp ảnh bàn chân ở các hướng khác

nhau, sau đó phân tích (xử lý) ảnh nhận được để thu nhận thông tin về bàn chân Thiết bị để chụp ảnh bàn chân (hình 1.19) bao gồm khung kim loại 10, trên đó lắp ráp các trụ thẳng đứng 9 dùng để cố định các máy ảnh kỹ thuật số 1 và tay vịn 6 Trên khung 10 bố trí dụng cụ chiếu 3, mặt tựa để đặt bàn chân mà bên trên có đặt tấm kính 2 Bên trên kính đánh dấu các trục ngang và dọc, trên trục dọc có lắp các

Trang 33

chi tiết 4 nhằm ấn định đúng vị trí bàn chân trên thiết bị Bệ tựa 5 được lắp ráp vào tay cầm 6 dùng để làm bệ tỳ cho chân còn lại trong quá trình chụp ảnh Ảnh bàn chân từ các máy ảnh kỹ thuật số được sao chép và ghi trong máy vi tính 8 qua các dây nối 7

Hình 1.19 Sơ đồ cấu tạo thiết bị chụp ảnh bàn chân

Sau khi ấn định bàn chân trên mặt kính 2, dụng cụ 3 sẽ chiếu lên trên nó các đường song song phân bố ở độ cao xác định tính từ mặt kính Sau đó chụp ảnh bàn chân bằng các máy ảnh kỹ thuật số và nhận được các ảnh bề mặt mu bàn chân từ phía má ngoài (Hình 1.20 a) và má trong (Hình 1.20 b) và ảnh bề mặt lòng bàn chân (Hình 1.20 c) Các ảnh này được ghi trong ổ cứng của máy vi tính và sẽ được xử lý trong phần mềm trên máy tính Kết quả xử lý nhận được ảnh 3D bề mặt số hóa bàn chân cùng các thông số kích thước bàn chân (hình1.21)

Trang 35

Kỹ thuật quét 3D: Một trong số các phương pháp đo bàn chân không tiếp

xúc tiên tiến đó là phương pháp đo sử dụng máy quét 3 chiều (3D) Các máy quét laze 3D cho phép ghi nhận nhanh chóng và chính xác thông tin về toàn bộ bề mặt bàn chân Ví dụ hệ thống PEDUS 3D Foot Scanner1

của hãng HumanSolution (LB Đức) (hình 1.22) trong khoảng thời gian 10 giây 3 đầu quét laze có thể quét toàn bộ

bề mặt bàn chân và đưa ảnh bàn chân cùng các số liệu cơ bản trên màn hình máy tính Tuy nhiên giá thành của các máy quét laze còn khá cao, ví dụ giá thành của hệ thống Footscaner nói trên vào khoảng 35000 ero, nên chúng chưa được sử dụng rộng rãi trong ngành giầy [10, 29]

Hình 1.22 Thiết bị quét bàn chân

«PEDUS 3D Foot Scanner»

1.4 Các hệ cỡ số phom giầy (giầy)

1.4.1 Các hệ cỡ số theo chiều dài

Một trong các chỉ số quan trọng quyết định tính thoải mái, độ vừa vặn của giầy đó là sự tương thích của các thông số bên trong của giầy với hình dạng và kích thước bàn chân Chỉ số này được đặc trưng trước hết bởi cỡ số và độ đầy của giầy [26]

Có 5 hệ cỡ số dùng đo chiều dài giầy được sử dụng: hệ mét (cơ sở của hệ quốc tế Mondopoint), hệ stic (phân nhỏ Pari) (hay còn gọi là hệ Pháp), hệ Anh (cỡ số), hệ Mỹ (cỡ số) và hệ cỡ số Nhật Bản, chúng khác nhau bởi:

– Thông số được chấp nhận để tính cỡ giầy;

– Đơn vị đo;

Trang 36

– Khoảng cách giữa các cỡ liền kề

Hệ mét: Việc chia cỡ số giầy theo cm (hoặc mm) dựa trên nguyên tắc cơ bản

là chiều dài bàn chân cộng 10 mm Khoảng cách (sự tăng dần) giữa hai cỡ số liền kề

là 10 mm và 5 mm đối với những cỡ phân nửa Cỡ giầy N được ký hiệu bởi 3 chữ

số: 240, 245, 250 hoặc 2 chữ số: 24; 24,5; 25

Tổ chức Tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO đã xây dựng hệ cỡ quốc tế Mondopoint trên cơ sở hệ mét, nhưng khác ở chỗ là chiều dài của giầy (cỡ giầy) được định nghĩa

là chiều dài bàn chân đi vừa vặn đôi giầy đó

Việc phân chia cỡ số được viết dưới dạng phân số, như 240/95 Tử số là cỡ

số, có nghĩa là chiều dài bàn chân tính bằng mm Mẫu số là chu vi vòng khớp ngón biểu thị theo % chiều dài bàn chân Như vậy cỡ giầy 240/95 sẽ vừa vặn với bàn chân có chiều dài là 240 mm và chu vi vòng khớp ngón là 95% của 240 mm = 228

mm Hệ cỡ này được sử dụng tại LB Nga và một số nước khác

Như vậy, để lựa chọn cỡ giầy chỉ cần biết chiều dài bàn chân là đủ, nó bằng khoảng cách giữa các hình chiếu lên mặt phẳng nằm ngang của điểm lồi nhất Bb (hình 1.23) của gót và điểm xa nhất Bp của ngón chân thứ nhất (ngón cái) hoặc ngón thứ hai Làm tròn giá trị nhận được đến 0 hoặc 5 Ví dụ, nếu chiều dài bàn chân bằng 248 mm, cỡ giầy là 250 mm

Hình 1.23 Sơ đồ đo chiều dài bàn chân Hình 1.24 Sơ đồ xác định cỡ giầy theo

các hệ cỡ khác nhau

Trang 37

có kích thước và hình dạng tương ứng với hình trải bề mặt đáy phom Hình 1.24 cho thấy, nếu chỉ biết chiều dài bàn chân thì không thể xác định được cỡ giầy Cần phải biết được phần cộng dư theo chiều dài P ở phần mũi và phần dịch về phía trước S của đế trong ở phần gót Phần cộng dư theo chiều dài ở phần mũi là tổng của phần cộng dư bắt buộc P1 do sự thay đổi kích thước bàn chân trong quá trình cử động, có giá trị khác nhau tuỳ thuộc vào loại giầy và mục đích sử dụng của giầy, và phần cộng dư trang trí P2, có giá trị tuỳ thuộc vào xu hướng mốt và sự sáng tạo của người

Hệ Anh: Cỡ giầy được xác định bởi chiều dài đế trong tính bằng inch (1 inch

= 2,54 cm) Cỡ giầy được ký hiệu bằng số Giầy trẻ em có các cỡ từ 1 đến 13, tương

ứng chiều dài đế trong từ 4 1/3'' đến 8 1/2''

Giầy có chiều dài đế trong bằng 8 2/3'' (≈ 215 mm) dùng cho người lớn có cỡ được ký hiệu bằng số 1 Thang cỡ của loại giầy này gồm các cỡ từ 1 đến 12 1/2 Khoảng cách giữa các cỡ liền kề là 1/3'' (≈ 8,46 mm) Sau này người ta mới chia inch thành 6 phần, mỗi phần bằng 4,23 mm và cỡ số nửa được sử dụng Điều này làm cho giầy vừa chân hơn

Hệ cỡ số Mỹ: Nước Mỹ sử dụng hệ cỡ số Anh nhưng có điểm khác là cỡ số

đầu tiên không bắt đầu từ chiều dài 4 inch = 10,16 cm mà từ độ dài 3 11/12 inch = 9,94 cm Ngoài ra cỡ giầy nữ của hệ số Mỹ lớn hơn cơ số Anh 1/2 cỡ, còn cỡ giầy

nam – lớn hơn 1 cỡ

Hệ cỡ Nhật: So với các hệ cỡ khác, cỡ Nhật có các chiều dài giầy khác và cỡ

Trang 38

nhỏ hơn Cỡ số giầy nam của hệ cỡ Nhật bắt đầu từ cỡ 24 (tương ứng cỡ 39 của hệ Pháp) và kết thúc ở cỡ 30 (cỡ Pháp là 48), cỡ giầy nữ bắt đầu từ cỡ 22 (cỡ Pháp là

35) và kết thúc ở cỡ 28 (cỡ Pháp là 43)

Cơ sở để xác định cỡ giầy của các hệ cỡ Anh, Mỹ, Nhật là chiều dài đế trong

do vậy chúng cũng có nhược điểm như hệ cỡ số Pháp

Độ đầy xác định độ vừa vặn của giầy giống như cỡ giầy Độ đầy của giầy được xác định bởi chu vi vòng khớp ngón của phom được sử dụng để sản xuất giầy Chu vi vòng khớp ngón phom tương thích (nhưng không bằng) chu vi vòng khớp ngón bàn chân tuỳ thuộc vào loại giầy và nhóm lứa tuổi người sử dụng

Độ đầy được ký hiệu bởi chữ số hoặc chữ cái Số hoặc bậc chữ cái càng lớn thì độ đầy càng lớn

Các nghiên cứu nhân trắc cho thấy, nhiều người có các bàn chân dài như nhau (cùng chiều dài), nhưng có chu vi khớp ngón khác nhau đáng kể Ví dụ chiều dài bàn chân là 270 mm, chu vi khớp ngón dao động trong khoảng từ 210 đến 290

mm Dễ dàng tính được là với hoảng cách giữa các độ đầy liền kề là 8 hoặc 6 mm (với hệ cỡ của Nga), và 5 mm ở các nước khác (ví dụ ở Anh và Pháp) cần phải sản xuất giầy 10 và 12 độ đầy khác nhau

Trang 39

Bảng 1.1 Ví dụ về mối liên hệ cỡ giầy các hệ cỡ khác nhau

Nhóm giầy trẻ em Mét 10,5 11 11,5 12 12,5 13 13,5 14 14,5 15 15,5 16 16,5 17 17,5 18 18,5 19 19,5 20 20,5 21 Anh 0 1 1,5 2 2,5 3 4 4,5 5 5,5 6 7 7,5 8 8,5 9 10 10,5 11 11,5 12 13 Pháp 16 16,5 17 18 18,5 19 20 20,5 21 22 23 24 24,5 25 26 27 28 29 29,5 30 31 32

Nhóm giầy nữ Mét 21,5 22 22,5 23 23,5 24 24,5 25 25,5 26 26,5 27 27,5 28 28,5

Anh 1 1,5 2 3 3,5 4 4,5 5 5,5 6 6,5 7 7,5 8 8,5

Pháp 33 33,5 34 35 36 37 37,5 38 38,5 39 40 41 41,5 42 42,5

Nhóm giầy nam Mét 21,5 22 22,5 23 23,5 24 24,5 25 25,5 26 26,5 27 27,5 28 28,5 29 29,5 30 30,5 31 31,5 Anh 1 1,5 2 3 3,5 4 4,5 5 5,5 6 6,5 7 7,5 8 8,5 9 9,5 10 11 12 12,5 Pháp 33 33,5 34 35 36 37 37,5 38 38,5 39 40 41 41,5 42 42,5 43 44 45 46 47 47,5

Nhóm giầy trẻ em Mét 10,5 11 11,5 12 12,5 13 13,5 14 14,5 15 15,5 16 16,5 17 17,5 18 18,5 19 19,5 20 20,5 21

Trang 40

Pháp 16 16,5 17 18 18,5 19 20 20,5 21 22 23 24 24,5 25 26 27 28 29 29,5 30 31 32

Nhóm giầy nữ Mét 21,5 22 22,5 23 23,5 24 24,5 25 25,5 26 26,5 27 27,5 28 28,5

Anh 1 1,5 2 3 3,5 4 4,5 5 5,5 6 6,5 7 7,5 8 8,5

Pháp 33 33,5 34 35 36 37 37,5 38 38,5 39 40 41 41,5 42 42,5

Nhóm giầy nam Mét 21,5 22 22,5 23 23,5 24 24,5 25 25,5 26 26,5 27 27,5 28 28,5 29 29,5 30 30,5 31 31,5 Anh 1 1,5 2 3 3,5 4 4,5 5 5,5 6 6,5 7 7,5 8 8,5 9 9,5 10 11 12 12,5 Pháp 33 33,5 34 35 36 37 37,5 38 38,5 39 40 41 41,5 42 42,5 43 44 45 46 47 47,5

Ngày đăng: 21/07/2017, 19:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Mai Thế Trạch, Nguyễn Thụy Khuê. Bệnh đái tháo đường. Nội tiết học đại cương, Nhà xuất bản Y học chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đái tháo đường
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh
[3] Tạ Văn Bình (2003), Dịch tễ học bệnh đái tháo đường - Các yếu tố nguy cơ và các vấn đề liên quan đến quản lý bệnh đái tháo đường tại khu vực nội thành 4 thành phố lớn, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học bệnh đái tháo đường - Các yếu tố nguy cơ và các vấn đề liên quan đến quản lý bệnh đái tháo đường tại khu vực nội thành 4 thành phố lớn
Tác giả: Tạ Văn Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2003
[4] Phan Sỹ Quốc, Lê Huy Liệu (1992), "Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở Hà Nội", Tạp chí nội khoa, Hội Nội khoa Việt Nam, tr.2-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở Hà Nội
Tác giả: Phan Sỹ Quốc, Lê Huy Liệu
Năm: 1992
[5] Nguyễn Kim Hưng, Trần Thị Hồng Loan và cs (2001), "Điều tra dịch tễ học bệnh ĐTĐ ở người trưởng thành ( ≥ 15 tuổi) năm 2001 tại TP.HCM", Chuyên đề vấn đề dinh dưỡng trong thời kỳ chuyển tiếp: Tiểu đường, Hội Y Dược học Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra dịch tễ học bệnh ĐTĐ ở người trưởng thành ( ≥ 15 tuổi) năm 2001 tại TP.HCM
Tác giả: Nguyễn Kim Hưng, Trần Thị Hồng Loan và cs
Năm: 2001
[6] Mai Thế Trạch, 2003. Biến chứng mạn tính của đái tháo đường. Nội tiết học đại cương. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến chứng mạn tính của đái tháo đường. Nội tiết học đại cương
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
[8] Nguyễn Thị Lâm. Thực trạng loét bàn chân và sử dụng giầy, dép của bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương. Luận văn thạc sỹ y học, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng loét bàn chân và sử dụng giầy, dép của bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương
[10] Bùi Văn Huấn, 2006. Nghiên cứu thiêt lập phương pháp đo bàn chân và thiết kế phom giầy sử dụng công nghệ tin học. Luận án tiến sỹ, MGUDT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thiêt lập phương pháp đo bàn chân và thiết kế phom giầy sử dụng công nghệ tin h
[11] Tạ Văn Bình, 2006. Nghiên cứu theo dõi biến chứng đái tháo đường ở bệnh nhân đến khám lần đầu tại bệnh viện Nội tiết. Nhà xuất bản y học. Hà Nôi, Việt Nam, tr. 413 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu theo dõi biến chứng đái tháo đường ở bệnh nhân đến khám lần đầu tại bệnh viện Nội tiết
Nhà XB: Nhà xuất bản y học. Hà Nôi
[12] Viện Nghiên Cứu Da –Giầy (2011), Báo cáo đề tài “Nghiên cứu quy trình thiết kế, chế tạo giầy dép cho bệnh nhân đái tháo đường”, số 201.11.RD/HĐ- KHCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đề tài “Nghiên cứu quy trình thiết kế, chế tạo giầy dép cho bệnh nhân đái tháo đường
Tác giả: Viện Nghiên Cứu Da –Giầy
Năm: 2011
[13] Bùi Văn Huấn; Nguyễn Mạnh Khôi; Cao Thị Kiên Chung, Nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số bàn chân phụ nữ miền Bắc Việt Nam, Tạp chí Khoa học &Công nghệ các trường ĐH, số 104 (2015) 112-119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số bàn chân phụ nữ miền Bắc Việt Nam
[14] Báo cáo tổng kết Dự án “Khảo sát đặc điểm nhân chủng học bàn chân người Việt Nam theo đặc điểm vùng miền”. Quyết định số 2496/QĐ-BCT ngày 15 tháng 5 năm 2012 của Bộ Công Thương. Viện Nghiên cứu Da giầy, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khảo sát đặc điểm nhân chủng học bàn chân người Việt Nam theo đặc điểm vùng miền”
[9] Nguyễn Thị Lạc, 2011. Đặc điểm bệnh đái tháo đường và một số biến chứng Khác
[15] Duc Son, K. Kusama. Prevalence and risk factors for diabetes in Ho Chi Minh City, Vietnam, Diabetic Medicine, 2003 Khác
[16] Sarah Wild, Gojka A. Global Prevalence of Diabetes. Diabetes care, 2004 Khác
[17] Solomon Tesfaye. Diabetic Neuropathy. The Diabetic Foot, 2006 Khác
[18] Thomas E.Lyons, Barry I. Rosenblum. Foot Pressure Abnormalities in the Diabetic Foot. The Diabetic Foot, 2006 Khác
[19] Luigi Uccioli. The Role of Footwear in the Prevention of Diabetic Foot Problem. The Diabetic Foot, 2006 Khác
[20] J.E. Shaw, R.A. Sicree. Global estimates of the prevalence of diabetes for 2010 and 2030. Diabetes Research and Clinical Practice, 2010 Khác
[21] Sicco A. Bus. Foot structure and footwear prescription in diabetes mellitus. Survey on Diabetes Footwear, 2008 Khác
[22] Sicco A. Bus. Diabetes/Metabolism Research and Reviews. The Diabetic Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w