Nghiên cứu này thực hiện khảo sát các nguyên nhân gây xung đột trong các dự án xây dựng trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh.. Việc nghiên cứu tìm kiếm các nguyên nhân quan trọng gây xung đột tro
Trang 3CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thống
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCM ngày… tháng … năm 2016
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được
sửa chữa (nếu có)
Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận văn
Trang 4NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Kỹ thuật xây dựng công trình Dân dụng và Công nghiệp
2 Nội dung và các kết quả đạt được:
- Tìm kiếm các nguyên nhân gây xung đột trong dự án xây dựng
- Khảo sát mức độ ảnh hưởng của từng nguyên nhân
- Tổng hợp và phân tích các nguyên nhân chính
- Tìm kiếm các giải pháp khắc phục cho từng nguyên nhân
Kết quả dự kiến đạt được:
- Nhận dạng được những nguyên nhân quan trọng gây ra xung đột trong các
dự án xây dựng diễn ra trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 5IV Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 25/7/2016
V Cán bộ hướng dẫn:PGS TS Nguyễn Thống
PGS.TS NGUYỄN THỐNG
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Đặng Huy Phong
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, người đầu tiên tôi muốn được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến thầy Phó giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Thống đã định hướng
và tận tình hướng dẫn trực tiếp cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn Xin
được gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô Khoa Kỹ thuật xây dựng công trình
DD&CN của trường Đại học Công Nghệ TP.HCM đã truyền đạt nhiều kiến thức,
kinh nghiệm bổ ích cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Bên cạnh đó, tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp ở các cơ quan, công ty trong lĩnh vực xây dựng đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong quá trình tôi thực hiện các nghiên cứu khảo sát phục vụ cho luận văn
Sau cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến bạn bè và những người thân trong gia đình Mọi người là nguồn động viên rất lớn cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Đặng Huy Phong
Trang 8TÓM TẮT
Xung đột trong dự án xây dựng thường dẫn đến hậu quả làm tăng chi phí, chậm tiến độ và phát sinh các tranh chấp kéo dài Các nguyên nhân gây xung đột trong các dự án xây dựng đã được nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam Có nhiều nguyên nhân đã được tìm thấy, tuy nhiên không phải các nguyên nhân này đều có mức độ ảnh hưởng như nhau đối với những xung đột trong dự án Do đó, việc khảo sát nhằm phát hiện ra những nguyên nhân có mức độ ảnh hưởng lớn đến xung đột trong dự án xây dựng là cần thiết
Nghiên cứu này thực hiện khảo sát các nguyên nhân gây xung đột trong các dự
án xây dựng trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian từ ngày 01/04/2016 đến ngày 01/06/2016, tổng số bảng câu hỏi khảo sát được gửi đi là 366 bảng câu hỏi, kết quả thu về được 151 bảng trả lời và trong đó có 137 bảng trả lời hợp lệ Kết quả nghiên cứu cho thấy có 22 nguyên nhân được đánh giá
là những nguyên nhân gây xung đột hàng đầu trong các dự án xây dựng Trong đó 5 nguyên nhân được cho rằng ảnh hưởng mạnh nhất đến sự xung đột trong dự án bao
gồm: Thay đổi điều kiện công trường so với thiết kế; Khó khăn tài chính của Chủ
Đầu Tư; Sự chậm trễ trong công việc của nhà thầu; Nhà thầu có năng lực thi công yếu kém
22 nguyên nhân gây xung đột hàng đầu tiếp tục được khái quát thành các nhóm nguyên nhân có đặc trưng giống nhau thông qua phương pháp phân tích thành phần chính (Principal Components Analysis) với phép xoay Varimax Kết quả phân tích đã rút 22 nguyên nhân thành 4 thành phần chính gồm.Trên cơ sở 4 thành phần đặc trưng vừa xác định, kiến nghị một số giải pháp nhằm hạn chế những xung đột trong dự án
Trang 9ABSTRACT
Conflict in construction projects often lead to increased costs, delays and disputes arising lasts The causes of conflicts in the construction project has been studied around the world and in Vietnam There are many causes have been found, but not the causes are the same level of influence for the conflicts in the project Therefore, an examination in order to discover the causes have significant impact on the level of conflict in the construction project is needed
This study conducted a survey of the causes of conflict in the construction project in Ho Chi Minh City The study was carried out in the period from 04/01/2016 to 01/06/2016, total366 questionnaires were sent out, the results are 151 respondents, and 137 are valid The study results showed that 22 causes is considered the causes of conflict leading construction projects There are 5 reasons which influence highest on the conflict in the project include: Change site conditions compared to the design; Financial difficulties of the investor; Delays in the work of the contractor; Contractors have poor workmanship
22 conflictsare grouped by Principal Components Analysis method with Varimax rotation Analysis results showed 22 causes into 4 main components included Based on 4 specific components has identified a number of solutions
proposed to limit conflicts in the project
Trang 10MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II TÓM TẮT III ABSTRACT IV MỤC LỤC V DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VIII DANH MỤC CÁC BẢNG IX DANH MỤC CÁC HÌNH X
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 LÝ DO HÌNH THÀNH NGHIÊN CỨU 1
1.2 XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.5 ĐÓNG GÓP DỰ KIẾN CỦA ĐỀ TÀI 3
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 4
2.1 KHÁI NIỆM VỀ XUNG ĐỘT 4
2.1.1 Định nghĩa xung đột 4
2.1.2 Phân biệt xung đột và tranh chấp 4
2.1.3 Các loại xung đột 5
2.2 NGUYÊN NHÂN GÂY XUNG ĐỘT TRONG DỰ ÁN 6
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 12
3.2 CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU 13
3.2.1 Nguồn dữ liệu thứ cấp 13
3.2.2 Khảo sát bằng bảng câu hỏi 13
3.2.3 Thang đo Likert 15
3.2.4 Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha 15
3.2.5 Hệ số tương quan 16
3.2.6 Phân tích phương sai 16
3.2.7 Phân tích thành phần chính (Principal Component Analysis) 17
Trang 113.3 KHẢO SÁT THỬ NGHIỆM 18
3.3.1 Danh sách các yếu tố khảo sát 18
3.3.2 Kết quả khảo sát thử nghiệm 21
3.3.3 Nội dung bảng câu hỏi khảo sát chính thức 22
3.4 THIẾT KẾ MẪU KHẢO SÁT VÀ PHÂN PHỐI BẢNG CÂU HỎI 23
3.4.1 Xác định kích thước mẫu 23
3.4.2 Phân phối và thu thập bảng câu hỏi 23
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 24
4.1 QUY TRÌNH PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 24
4.2 THỐNG KÊ MÔ TẢ 25
4.2.1 Kinh nghiệm người trả lời khảo sát 25
4.2.2 Vị trí công tác của người khảo sát 26
4.2.3 Phần lớn dự án đã tham gia 27
4.2.4 Nguồn vốn dự án tham gia 28
4.2.5 Quy mô dự án tham gia 29
4.2.6 Tổng quan các đối tượng tham gia trả lời 30
4.3 KIỂM TRA ĐỘ TIN CẬY THANG ĐO 30
4.4 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ XUNG ĐỘT CỦA CÁC YẾU TỐ 32
4.4.1 Quy trình đánh giá mức độ xung đột của các yếu tố 32
4.4.2 Phân tích tổng quan đánh giá của các bên về xung đột 34
4.4.3 Đánh giá sự khác biệt giữa các nhóm trong kết quả trả lời 38
4.4.4 Đánh giá tương quan trong cách xếp hạng yếu tố giữa các nhóm 43
4.4.5 Tổng kết đánh giá xếp hạng yếu tố xung đột 44
4.5 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ CHÍNH CÓ MỨC ĐỘ XUNG ĐỘT CAO 45
4.5.1 Kỹ thuật phân tích thành phần chính PCA (Principal Components Analysis) 45
4.5.2 Thực hiện phân tích thành phần chính PCA 46
4.5.3 Kết quả thành phần chính trong phân tích PCA 48
4.5.4 Phân tích ý nghĩa các thành phần chính 50
4.5.5 Tổng hợp các thành phần chính 52
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
Trang 125.1 KẾT LUẬN 53
5.2 KIẾN NGHỊ 54
5.2.1 Kiến nghị đối với các bên tham gia dự án xây dựng 54
5.2.2 Giới hạn của nghiên cứu 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
PHỤ LỤC 57
Trang 14DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2-1: Danh sách các xung đột trong dự án xây dựng theo nghiên cứu của
Acharya N.K., Lee, Y.D., and Kim, H.M (2006) 7
Bảng 2-2: Danh sách các yếu tố xung đột theo nghiên cứu của Phạm Hồng Luân, Trần Trung Kiên (2011) 9
Bảng 2-3: Danh sách yếu tố gây mâu thuẫn phỏng theo nghiên cứu của Rizwan U Farooqui, Salman Azhar (2014) 10
Bảng 3-1: Danh sách yếu tố khảo sát thử nghiệm 19
Bảng 3-2: Danh sách yếu tố khảo sát chính thức 21
Bảng 4-1: Kinh nghiệm công tác của người trả lời khảo sát 25
Bảng 4-2: Vị trí công tác của người trả lời 26
Bảng 4-3: Phần lớn dự án mà người trả lời đã tham gia 27
Bảng 4-4: Phần lớn nguồn vốn đầu tư dự án mà người trả lời tham gia 28
Bảng 4-5: Quy mô dự án mà người trả lời tham gia 29
Bảng 4-6: Bảng hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo khảo sát 30
Bảng 4-7: Bảng hệ số Cronbach’s Alpha cho từng yếu tố khảo sát 30
Bảng 4-8: Bảng tính điểm trung bình và xếp hạng của các yếu tố xung đột 34
Bảng 4-9: Kết quả kiểm định One-way ANOVA các yếu tố khảo sát 39
Bảng 4-10: Kết quả kiểm định Kruskal-Wallis các yếu tố khảo sát 42
Bảng 4-11: Kiểm định tương quan hạng Spearman 43
Bảng 4-12: Bảng phân tích hệ số Communalities 46
Bảng 4-13: Bảng phân tích hệ số KMO và Bartlett's 47
Bảng 4-14: Bảng phân tích hệ số Factor Loadings 47
Bảng 4-15: Ma trận thành phần chính 49
Bảng 4-16: Bảng giải thích thành phần chính thứ nhất 50
Trang 15DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2-1: Sơ đồ Rủi ro, Xung đột, Khiếu nại, Tranh chấp phỏng theo nghiên cứu
của Acharya, Lee and Kim (2006) 5
Hình 3-1: Quy trình nghiên cứu khảo sát các yếu tố xung đột 12
Hình 3-2: Quy trình thiết kế bảng câu hỏi 14
Hình 4-1: Quy trình phân tích số liệu khảo sát 24
Hình 4-2: Kinh nghiệm công tác của người trả lời khảo sát 25
Hình 4-3: Vị trí công tác của người trả lời 26
Hình 4-4: Phần lớn dự án mà người trả lời đã tham gia 27
Hình 4-5: Phần lớn nguồn vốn đầu tư dự án mà người trả lời tham gia 28
Hình 4-6: Quy mô dự án mà người trả lời tham gia 29
Hình 4-7: Quy trình đánh giá mức độ xung đột 32
Hình 4-8: Biểu đồ phân tích hệ số Eigen values 48
Hình 4-9: Các thành phần chính gây ra xung đột trong các dự án tại TP.HCM 52
Trang 16CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 LÝ DO HÌNH THÀNH NGHIÊN CỨU
Xung đột luôn là một trong những vấn đề rất thường hay xảy ra trong các dự
án xây dựng Theo tiến trình phát triển, nếu xung đột không được nhận dạng và giải quyết sớm giữa các bên sẽ dẫn đến khiếu nại và cuối cùng là tranh chấp Ở Việt Nam đã có không ít các dự án xây dựng xảy ra tranh chấp giữa Chủ đầu tư, nhà thầu thi công, đơn vị tư vấn Một số trường hợp đã được công bố lên các phương tiện truyền thông đại chúng như:
Dự án đường sắt đô thị Thành phố Hồ Chí Minh: Theo những thông tin trên báo chí trong thời gian gần đây, vì vướng mặt bằng tại Công ty Vĩnh Phát khiến việc thi công dự án Metro số 1 bị ách tắc Trước sự chậm chễ này, phía nhà thầu Nhật Bản đã khiếu nại và yêu cầu nếu không bàn giao mặt bằng đúng hẹn, chủ đầu
tư sẽ phải bồi thường cho nhà thầu 100.000 USD/ngày Hiện nhà thầu đang tính toán các mức thiệt hại cũng như chứng minh các lỗi của phía Việt Nam.[1]
Dự án Bệnh Viện Ung Bứu 2:Tháng 07/2015, liên doanh HBC và Thuận Việt khiếu nại Ban Quản lý Đầu tư xây dựng các công trình thuộc Sở Y tế TP.HCM (gọi tắt là BQL) tại dự án BV Ung bứu 2 tại Quận 9 Họ cho rằng, BQL đã không thực hiện thông báo của UBND TP về việc giao cho HBC làm tổng thầu EPC BV Ung bướu 2 Ngoài ra, liên doanh này cho biết, BQL đã đưa tiêu chí đánh giá hồ sơ, năng lực chỉ định thầu không phù hợp với quy định, không đầy đủ, rõ ràng Khiếu nại này khiến dự án phải chậm tiến độ so với kế hoạch đề ra [2]
Dự án Petrovietnam Landmark tại An Phú, Quận 2, Tp.HCM:tháng 03/2013, Chủ đầu tư dự án là Công ty CP Địa ốc Dầu khí (PVL), đã phải thay nhà thầu thi công khác thay cho nhà thầu thi công ban đầu là Công ty Xây lắp PVC Sài Gòn.Nguyên nhân xuất phát từ việc nhà thầu có năng lực yếu kém, khiến công trình chậm trễ tiến độ Ngoài ra, việc xử lý những tranh chấp tồn tại giữa hai bên cũng góp phần khiến cho thời gian thực hiện dự án bị kéo dài, khách hàng mất niềm tin nơi chủ đầu tư, giá bán căn hộ giảm Có thể thấy đó là một thiệt hại lớn cho tất cả các bên tham gia dự án [3]
Dự án Đại lộ Đông Tây:Tháng 03/2013, Báo cáo với Bộ Kế hoạch - Đầu
tư mới đây, UBND TPHCM cho biết một trong những vướng mắc ảnh hưởng đến
Trang 17tiến độ dự án xây dựng đại lộ Đông Tây là giữa chủ đầu tư (Ban Quản lý đầu tư xây dựng công trình giao thông đô thị TP) và các nhà thầu (tư vấn, xây dựng) tranh chấp trong thực hiện các hợp đồng Nhà thầu Obayashi đã khởi kiện chủ đầu tư tại Tòa
án Quốc tế về thương mại (ICC) UBND TPHCM cho biết đã chỉ đạo chủ đầu tư thực hiện các thủ tục pháp lý theo quy định, đồng thời đàm phán với nhà thầu theo hướng hòa giải nhằm giải quyết các vướng mắc, tranh chấp để không phải đi đến tranh tụng tại tòa án (ở Hồng Kông) [4]
Trên đây chỉ là một phần nổi các vụ việc tranh chấp đối với dự án xây dựng lớn diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, còn nhiều vụ việc tranh chấp khác nhỏ hơn, trong đó các bên liên quan có thể âm thầm giải quyết với nhau thông qua các buổi thương lượng, các tổ chức trọng tài hoặc thậm chí là tòa án nhưng không công bố lên các phương tiện thông tin đại chúng Có thể thấy hậu quả của tranh chấp là rất lớn, thường kéo theo những hệ lụy mà các bên tham gia dự án đều không mong muốn như: chậm trễ tiến độ, phát sinh chi phí liên quan, tiêu hao nguồn lực cho việc giải quyết tranh chấp, phá vỡ mối quan hệ giữa các bên Mà nguồn gốc của các tranh chấp lại thường là những xung đột không được giải quyết triệt để giữa các bên tham gia trong quá trình thực hiện dự án
Tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về các nguyên nhân gây xung đột trong các dự án xây dựng Việc nghiên cứu tìm kiếm các nguyên nhân quan trọng gây xung đột trong các dự án xây dựng sẽ giúp cho các bên tham gia dự án có thể lường trước những tình huống mâu thuẫn có mức độ ảnh hưởng lớn đến hoạt động của dự án.Từ đó, các bên liên quan có thể xây dựng một chiến lược để xử lý các xung đột một cách tối ưu, nhằm giảm thiểu các tình huống dẫn đến tranh chấp, khiếu nại mà các bên đều không mong muốn
1.2 XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Vấn đề nghiên cứu là nhận dạng những yếu tố quan trọng gây xung đột trong các dự án xây dựng tại TP Hồ Chí Minh Các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là:
Những nguyên nhân nào dẫn đến xung đột giữa các bên tham gia dự án?
Mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân đến hoạt động dự án?
Đâu là những yếu tố xung đột có ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động dự án?
Trang 18 Các giải pháp để khắc phục vấn đề xung đột?
1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát:Xác định các yếu tố xung đột quan trọng trong các dự án
xây dựng tại TP Hồ Chí Minh
Mục tiêu cụ thể:
Xác định các yếu tố gây xung đột quan trọng trong các dự án xây dựng tại
TP Hồ Chí Minh
Phân tích và nhóm các yếu tố/quá trình gây xung đột quan trọng
Đề xuất biện pháp hạn chế và giải quyết các xung đột
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Không gian thực hiện: các dự án xây dựng đang được thực hiện trên địa
bàn thành phố Hồ Chí Minh
Thời gian thực hiện: từ tháng 14/02/2016 đến tháng 01/07/2016
Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố gây xung đột trong các dự án xây dựng
tại TP Hồ Chí Minh
Đối tượng khảo sát: các kỹ sư đang công tác trong các đơn vị là Chủ đầu
tư, Nhà thầu thi công, Ban quản lý dự án, Tư vấn giám sát và Tư vấn thiết kế
1.5 ĐÓNG GÓP DỰ KIẾN CỦA ĐỀ TÀI
Về mặt lý luận:kết quả nghiên cứu của đề tài giúp nhận dạng những yếu
tố quan trọng gây xung đột trong các dự án xây dựng tại Thành phố Hồ Chí Minh Đây là cơ sở để mở rộng nghiên cứu về các nguyên nhân gây xung đột tại các dự án xây dựng tại Việt Nam nói chung
Về mặt thực tiễn: việc tìm hiểu các nguyên nhân gây mâu thuẫn, xung
đột có thể giúp cho các bên tham gia dự án có thể hoạch định dự án một cách tốt hơn thông qua việc dự đoán trước những xung đột có khả năng xảy ra và phương án giải quyết Kết quả của việc lường trước những xung đột có khả năng xảy ra sẽ giúp cho các bên duy trì tốt mối quan hệ khi thực hiện dự án, đồng thời qua đó các yếu tố liên quan như tiến độ, chất lượng, chi phí thực hiện dự án cũng sẽ được cải thiện hơn
Trang 19CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 2.1 KHÁI NIỆM VỀ XUNG ĐỘT
2.1.1 Định nghĩa xung đột
Theo TS Nguyễn Hữu Lam trong tài liệu bài giảng xung đột thì xung đột là quá trình một bên cảm nhận rằng những quyền lợi của họ bị bên kia chống lại hoặc
bị ảnh hưởng một cách tiêu cực bởi hành động của bên kia
Theo Collins English Dictionary (1995), xung đột là “sự bất đồng ý kiến hay
sự tranh cãi lớn về những vấn đề rất quan trọng”.Theo Wilmot and Hocker(1998)
thì xung đột là “sự đấu tranh giữa tối thiểu hai bên có sự phụ thuộc về mục tiêu,
nhu cầu tài nguyên, và sự can thiệp từ bên thứ ba trong việc tranh dành mục đích”
(trích dẫn trong Acharya et al 2006)
Theo Thomas (1976), xung đột là “một tiến trình khởi đầu khi một bên nhận
thấy đối tác đã thất bại hoặc phá vỡ một số mối quan tâm của mình” Wall và
Callister (1995) và Robbins & Judge (2009) cũng đã đưa ra định nghĩa tương tự
Rahim (2002) cho rằng xung đột như “một biểu hiện của quá trình tương tác không
phù hợp, bất đồng giữa các thành phần trong tổ chức xã hội (như cá nhân, nhóm, tổ chức…) (trích dẫn trong Yong Qiang Chen; Yang Bing Zhang, M.ASCE; and Su
Juan Zhang 2014)
Nhìn chung, xung đột trong các khái niệm được nêu trên đều mang hàm ý rằng
đó là sự bất đồng về quan điểm giữa các bên tham gia trong mối quan hệ của mình
2.1.2 Phân biệt xung đột và tranh chấp
Mặc dù “xung đột” và “tranh chấp” có mang ý nghĩa gần giống liên quan đến
sự bất đồng ý kiến hoặc tranh cãi giữa hai bên Tuy nhiên, hai từ ngữ trên vẫn có những khác biệt nhất định về mức độ mà theo đó “tranh chấp” là mức độ cao hơn của “xung đột” “Xung đột” là nguồn gốc dẫn đến “tranh chấp”, và “xung đột” thì
có thể giải quyết thông qua thương lượng đàm phán giữa các bên, trong lúc “tranh chấp” thì thường phải nhờ đến một bên thứ ba để giải quyết như tòa án hoặc trọng tài
Theo Acharya, Lee and Kim (2006), quy trình tiến triển từ xung đột đến tranh chấp được thể hiện như mô hình sau:
Trang 20Rủi ro
Phân định không rõ
Xung đột
Quản lý không rõ
Khiếu nại
Giải quyết không thỏa đáng
Tranh chấp
Hình 2-1: Sơ đồ Rủi ro, Xung đột, Khiếu nại, Tranh chấp phỏng theo nghiên cứu
của Acharya, Lee and Kim (2006)
2.1.3 Các loại xung đột
Theo Jehn and Mannix (2001), có 3 loại của xung đột gồm có: xung đột mối
quan hệ, xung đột trong nhiệm vụ công việc và xung đột quá trình thực hiện
Xung đột mối quan hệ được hiểu là sự không tương thích giữa các cá nhân, bao gồm các trạng thái tình cảm chẳng hạn như cảm giác căng thẳng và xung đột Nó liên quan đến các vấn đề cá nhân như không thích giữa các thành viên trong nhóm bao gồm cảm giác khó chịu, bực bội, và giận dữ Trong khi đó, xung đột nhiệm vụ công việc là sự khác biệt trong quan điểm và ý kiến liên quan đến công việc của một nhóm Nó có thể được biểu hiện bởi các cuộc họp với những bất đồng lớn về ý kiến cá nhân về công việc và nhiệm vụ, nhưng những bất đồng này không phải xuất phát từ những trạng thái cảm xúc của các cá nhân tham gia.Cuối cùng, xung đột tiến trình thực hiện công việc là những tranh cãi về những cách thức khác nhau để hoàn thành một nhiệm vụ công việc Nó liên quan trực tiếp đến vai trò trách nhiệm và nguồn lực thực hiện nhiệm vụ, chẳng hạn như ai phải thực hiện các công việc gì và trách nhiệm của người đó ra sao
Ngoài ra, theo Stephen O Ogunlana, Prapataow Awakul (2002) thì xung đột còn được phân loại thành 2 dạng là xung đột nội bộ và xung đột bên ngoài Xung đột nội bộ là những xung đột giữa các bên tham gia trực tiếp đến dự án, còn xung đột bên ngoài là những xung đột xuất phát từ các bên không tham gia thực hiện dự
án Trong nghiên cứu của Phạm Hồng Luân, Trần Trung Kiên (2011), các yếu tố gây xung đột trong các dự án hạ tầng kỹ thuật cũng đã được phân loại thành 2 nhóm chính gồm có nhóm yếu tố gây xung đột nội bộ và nhóm yếu tố gây xung đột bên ngoài
Trang 212.2 NGUYÊN NHÂN GÂY XUNG ĐỘT TRONG DỰ ÁN
Đã có một số nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam phân tích về những nguyên nhân gây xung đột trong dự án xây dựng:
Theo kết quả nghiên cứu của Loosemore et al (2000) trong lĩnh vực xây dựng tại Vương quốc Anh cho thấy: thái độ của nhà thầu được chấp nhận (không mạnh)
để quản lý xung đột xây dựng nhưng chúng tồn tại trong một môi trường xã hội không sản xuất Tuy nhiên, nghiên cứu không được khuyến khích xử dụng bởi vì nó
có thể phản tác dụng khi giảm xung đột trong ngành công nghiệp xây dựng Họ đã
đề nghị một chiến lược dài hạn có lợi hơn là tiếp tục với nỗ lực hiện tại để loại bỏ xung đột
Chan, E.H.W and Suen, C.H (2005) trong nghiên cứu về tranh chấp và hệ thống giải quyết tranh chấp tại công ty Sino, Trung Quốc: Tác giả đã tìm ra 20 cội
nguồn của tranh cãi Các vấn đề quan trong nhất: 1) Chi trả (93%), 2) Công việc chậm trễ/ Kéo dài thời gian (77%), 3) Chất lượng công việc, 4) Những vấn đề về văn hoá (không hiểu rõ điều kiện địa phương) (61%), 5) Sự khác biệt trong cách làm việc (48%), 6) Những vấn đề về pháp lý Tác giả đã tập hợp những vấn đề trên thành 3 nhóm: Hợp đồng, Văn hoá và Pháp lý
Acharya N.K., Lee, Y.D., and Kim, H.M (2006) nghiên cứu về các yếu tố xung đột quan trọng trong các dự án xây dựng tại Hàn Quốc: Nghiên cứu này đã
phát hiện ra sáu yếu tố xung đột quan trọng trong xây dựng thích hợp trong bối cảnh Hàn Quốc Những yếu tố quan trọng này có trọng số là: 1) thay đổi điều kiện công trường (24,1%), 2) gián đoạn do cộng đồng (22,5%), 3) sự khác biệt trong đánh giá lệnh thay đổi (21%), 4) lỗi thiết kế (17,1%), 5) vượt khối lượng hợp đồng (8.2%) và 6) không thống nhất thông số kỹ thuật (7,1%) Nghiên cứu này đã cho thấy chủ đầu
tư (35,6%) và tư vấn (34,18%) chịu trách nhiệm cao nhất về xung đột trong các dự
án xây dựng Ngoài ra, nghiên cứu còn liệt kê danh sách những nguyên nhân cốt lõi của xung đột trong dự án xây dựng:
Trang 22Bảng 2-1: Danh sách các xung đột trong dự án xây dựng theo nghiên cứu của
Acharya N.K., Lee, Y.D., and Kim, H.M (2006)
STT Các yếu tố/quá trình gây xung đột trong xây dựng
I Chủ đầu tư gây ra xung đột
1 Các yêu cầu không rõ ràng của chủ đầu tư
2 Quá nhiều thay đổi
3 Phạm vi dự án không được định rõ
4 Lối vào công trường bị cản trở
5 Quyền của chủ đầu tư/tư vấn giám sát
6 Mặt bằng công trường chật hẹp
7 Khó khăn tài chính của chủ đầu tư
8 Không cân bằng rủi ro
9 Vật liệu được cung cấp từ chủ đầu tư
10 Trì hoãn đưa ra quyết định từ CĐT
11 Chậm trễ bàn giao mặt bằng công trường
12 CĐT có sẵn thiết bị
13 Chậm trễ trong thanh toán
II Tư vấn thiết kế gây xung đột
14 Những sai khác (thay đổi) điều kiện công trường
15 Thiết kế (kém) có khuyết điểm/ sai sót
16 Không chi tiết và bỏ sót trong thiết kế
17 Khối lượng vượt trội quá nhiều
18 Quá nhiều sự phát sinh thay đổi
19 Tiêu chí kỹ thuật của dự án không rõ ràng, nhiều nghĩa
III Nhà thầu gây xung đột
20 Khó khăn tài chính của nhà thầu
21 Chậm trễ công việc của nhà thầu
22 Nhà thầu không đủ năng lực
23 Những khiếm khuyết lớn trong giai đoạn bảo hành
24 Công nhân đình công
Trang 23STT Các yếu tố/quá trình gây xung đột trong xây dựng
25 Thầu phụ thiếu năng lực
26 Không thanh toán cho nhà thầu phụ
27 Thái độ làm việc của nhà thầu
28 Khiếm khuyết chất lượng công trình
IV Bên thứ ba gây xung đột
29 Thay đổi luật của chính phủ
30 Người dân cản trở dự án
31 Thời tiết bất lợi
32 Thị trường lạm phát
33 Làm xáo trộn cộng đồng
34 Bên thứ ba gây trì hoãn công việc
V Các vấn đề đặt trưng của dự án gây xung đột
35 Những xung đột hồ sơ
36 Tranh cãi về sự thay đổi
37 Chính sách bảo vệ công trường
38 Thiếu trao đổi thông tin
39 Tai nạn lớn xảy ra
40 Thiếu hụt lao động /thiết bị / vật liệu
41 Sự cần thiết cải thiện môi trường
42 Thái độ tiêu cực (cẩu thả) của nhân viên dự án
43 Các rủi ro về môi trường
44 Quá nhiều văn bản trao đổi qua lại
45 Nhân sự tham gia dự án thiếu năng lực quản lý
46 Kỹ thuật kiểm tra vật liệu
47 Sự khác biệt kỹ thuật thi công
48 Sự đẩy nhanh (hoặc gián đoạn) của công việc
49 Sử dụng vật liệu có chất lượng kém
50 Ngôn ngữ của hợp đồng
Trang 24Phạm Hồng Luân, Trần Trung Kiên (2011) “Phân tích các yếu tố gây xung đột trong việc thực hiện dự án hạ tầng kỹ thuật”: Tác giả chỉ ra sáu nhân tố chính
gây xung đột: 1) nhân tố xung đột trong nội bộ ban quản lý dự án, 2) nhân tố gây xung đột trong nội bộ nhà thầu thi công,3) nhân tố gây xung đột giữa ban quản lý
dự án và nhà thầu thi công,4) nhân tố gây xung đột giữa dự án với dân cư và khu vực thực hiện dự án trong quá trình chuẩn bị mặt bằng, 5) nhân tố gây xung đột giữa dự án với dân cư khu vực trong quá trình thi công, 6) nhân tố gây xung đột giữa dự án với ngành liên quan và địa phương nơi dự án thực hiện
Ngoài ra, bài báo còn liệt kê những yếu tố gây xung đột trong quá trình thực hiện dự án hạ tầng kỹ thuật gồm:
Bảng 2-2: Danh sách các yếu tố xung đột theo nghiên cứu của Phạm Hồng Luân,
Trần Trung Kiên (2011)
1 Mối quan hệ giữa CĐT và BQLDA
2 Tranh giành ảnh hưởng và quyền lợi giữa ban giám đốc dự án với nhau
3 Phân công nhiệm vụ giữa ban giám đốc dự án và nhân viên dự án
4 Quan hệ giữa các nhân viên dự án trong quá trình thực hiện dự án
5 Quy định trách nhiệm các cá nhân trong ban đối với việc hoàn thành dự án
6 Liên quan đến việc phối hợp giữa các tổ đội khác liên quan
7 Liên quan đến việc thanh toán chi phí cho các tổ đội
8 Liên quan đến yếu tố đảm bảo an toàn cho người lao động
9 Liên quan đến thời gian và chi phí trả tăng ca
10 Liên quan đến việc sắp xếp vị trí và nhiệm vụ cho đội ngũ quản
11 Ảnh hưởng đến đời sống cho người dân xung quanh dự án
12 Ảnh hưởng đến các yếu tố an toàn của người dân xung quanh dự án
13 Ảnh hưởng đến an sinh xã hội khu vực xung quanh dự án
14 Liên quan đến việc tái lập mặt bằng sau khi hoàn thành thi công dự án
15 Trao đổi thông tin giữa nhà thầu và BQLDA
16 Lựa chọn phương án giải quyết các phát sinh trong quá trình thi công của nhà thầu và BQLDA
17 Can thiệp của BQLDA và công việc của nhà thầu thi công
Trang 25TT Tên yếu tố
18 Chọn phương án xử lý vi phạm nếu có giữa BQLDA – nhà thầu thi công
19 Xác định phương án bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư
20 Xác định phương án hỗ trợ: ổn định đời sống và ổn định sản xuất, di chuyển nhà đối với hộ bị thu hồi đất, chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm
21 Ảnh hưởng đến các dự án lân cận
22 Thiếu chính xác và minh bạch của dự án
23 Nội dung các văn bản pháp lý liên quan đến dự án
24 Tính không thống nhất giữa các ngành quản lý liên quan và đơn vị thi công đến dự án: thời gian, chi phí, phương án thi công
25 Sự ủng hộ và tham gia của chính quyền địa phương
26 Ảnh hưởng lên việc chỉnh trang đô thị của địa phương
Trong khi đó, tại Pakistan, Rizwan U Farooqui, Salman Azhar (2014) đã nghiên cứu và chỉ ra những nguyên nhân chính gây tranh chấp trong ngành công nghiệp xây dựng ở Pakistan dưới góc nhìn của nhà thầu bao gồm:
Bảng 2-3: Danh sách yếu tố gây mâu thuẫn phỏng theo nghiên cứu của Rizwan U
Farooqui, Salman Azhar (2014)
Nhóm yếu tố kỹ thuật Giám sát yếu kém
Các thông tin kỳ vọng không đúng thực tế Chọn nhà thầu phụ không phù hợp
Miễn cưỡng trong việc tìm kiếm và làm rõ các vấn đề Thiếu hụt nhân sự và thiết bị thích hợp
Thiếu chuyên nghiệp của các bên tham gia dự án Thiếu năng lực của của các bên tham gia dự án Phân chia rủi ro không rõ ràng
Phân chia rủi ro không cân bằng
Nhóm yếu tố tài chính Sự biến động giá nguyên vật liệu
Đồng tiền tăng giá Bên tham gia dự án phá sản Thiếu hụt tài chính của bên tham gia dự án
Trang 26Nhóm yếu tố Tên yếu tố gây mâu thuẫn
Chậm trễ trong thanh toán
Nhóm yếu tố quản lý Tiến độ xây dựng không thực tế
Thiếu khoản dự phòng cho tiến độ thi công Thiếu công tác quản lý rủi ro
Điều phối và thông tin dự án yếu kém Quản lý hợp đồng không phù hợp Quản lý mua sắm yếu kém
Kế hoạch thanh toán không phù hợp Loại hợp đồng không phù hợp Không thực hiện khâu quản lý dự án
Nhóm yếu tố hợp đồng Thiếu giải thích các điều khoản hợp đồng
Sự biện hộ các điều khoản hợp đồng (điều kiện bồi thường…)
Ngôn ngữ hợp đồng không rõ ràng
Vi phạm hợp đồng của bên tham gia dự án Trình bày khiếu nại không cân bằng và không đúng lúc Làm quá nội dung khiếu nại
Giá hợp đồng không thực tế Kết quả nghiên cứu của Rizwan U Farooqui, Salman Azhar (2014) đã chỉ ra những yếu tố hàng đầu trong mỗi nhóm có tần suất xuất hiện cao và khả năng tác
động lớn đến hoạt động của dự án bao gồm:Giá đấu thầu không thực tế; Sự tăng giá
của tiền tệ; Loại hợp đồng không phù hợp; Làm quá nội dung khiếu nại
Kết quả những nghiên cứu được nêu trên là cơ sở để phân nhóm và xây dựng danh sách các yếu tố xung đột cần nghiên cứu Danh sách các yếu tố xung đột sau khi xây dựng sơ bộ sẽ được tham khảo, đánh giá bởi các chuyên gia trong ngành để xem xét mức độ phù hợp của từng yếu tố, các yếu tố nào không phù hợp sẽ được loại bỏ và những yếu tố nào còn thiếu sẽ được bổ sung vào danh sách trước khi gửi
đi khảo sát chính thức
Trang 27CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
Sau khi xác định vấn đề cần nghiên cứu, tiến hành tham khảo các nghiên cứu trước, tham khảo ý kiến chuyên gia và những người có kinh nghiệm nhằm xác định các nguyên nhân, nguồn gốc của xung đột trong các dự án xây dựng tại TP Hồ Chí Minh Dựa trên các nguyên nhân đã tìm hiểu, tiến hành thiết kế bảng khảo sát thử nghiệm Thực hiện khảo sát thử nghiệm và phân tích kết quả thử nghiệm Điều chỉnh lại bảng câu hỏi (nếu có), tiến hành khảo sát chính thức Thu thập số liệu khảo sát, phân tích số liệu Thảo luận và đưa ra các kết luận, kiến nghị dựa trên kết quả khảo sát được
Tham khảo các nghiên cứu trước về nguồn gốc
và các nguyên nhân gây xung đột trong dự án
Thiết kế bảng câu hỏi sơ bộ
Khảo sát thử nghiệm, tham khảo ý kiến chuyên gia
Thiết kế bảng câu hỏi chính thức
Trang 283.2 CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU
3.2.1 Nguồn dữ liệu thứ cấp
Khi thực hiện một nghiên cứu cụ thể, người nghiên cứu có thể sử dụng dữ liệu
từ một nguồn có sẵn đã công bố hay chưa công bố, hay tự mình thu thập các dữ liệu cần thiết cho nghiên cứu Dữ liệu thu thập từ những nguồn có sẵn, thường là những
dữ liệu đã qua tổng hợp xử lý, gọi là dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp có ưu điểm là thu thập nhanh Nguồn dữ liệu thứ cấp khá đa dạng Trong thời đại kỹ thuật số, khá nhiều các dữ liệu thứ cấp đã được các tổ chức chính phủ, các tổ chức, các đơn vị nghiên cứu, các doanh nghiệp và các học giả cung cấp thông qua mạng internet
Trong nghiên cứu này tác giả đã dựa vào nguồn thứ cấp thông qua các nghiên cứu đã công bố trước đặt biệt là bài báo của tác giả Acharya, N.K., Lee, Y.D., and
Im, H.M (2006) Conflicting factors in construction projects: Korean perspective
Engineering, Construction and Architectural Management, để xác định các yếu tố
gây xung đột quan trọng trong dự án xây dựng tại thành phố Hồ Chí Minh
3.2.2 Khảo sát bằng bảng câu hỏi
Bảng câu hỏi là một công cụ hiệu quả và kinh tế nhất để thu thập thông tin, ý kiến cũng như quan điểm của số đông trong một thời gian nhất định Với nghiên cứu này dùng bảng câu hỏi để thu thập dữ liệu nhằm giúp ích cho việc xác định, phân tích các yếu tố gây xung đột quan trọng trong dự án xây dựng
Bảng câu hỏi là công cụ đắc lực giúp giải quyết vấn đề của nghiên cứu, việc lập bảng câu hỏi là nhằm để thu thập những thông tin được hoạch định với độ chính xác và hoàn hảo tương đối Bảng câu hỏi phải mang tính khoa học và nghệ thuật, trong đó kinh nghiệm từ thực tế giữ vai trò quan trọng, các từ ngữ dùng trong từng câu hỏi phải rõ ràng và trình tự sắp xếp chúng phải hợp lý để tránh nhầm lẫn của đối tượng khi tham gia trả lời
Trước khi tiến hành khảo sát, bảng câu hỏi sẽ được tham khảo một số ý kiến chuyên gia nhằm đánh giá bảng câu hỏi Sau đó bảng câu hỏi sẽ được triển khai thu thập số liệu thử nhằm kiểm tra về từ ngữ sử dụng, ý nghĩa, chiều dài hình thức trình
Trang 29bày, các hướng trả lời chưa lường trước được sau khi hiệu chỉnh bảng câu hỏi lần thử này, bảng câu hỏi hoàn chỉnh sẽ sẵn sàng cho giai đoạn nghiên cứu chính thức Quy trình thiết kế bảng câu hỏi được thực hiện như sau:
Phỏng vấn các chuyên gia nhiều kinh nghiệm Tham khảo các nghiên cứu đã thực hiện
Xác định các nội dung, thành phần bảng câu hỏi
Phát triển bảng câu hỏi
Thu thập số liệu và phân tích
Hình 3-2: Quy trình thiết kế bảng câu hỏi
Trong quy trình trên, các nội dung và thành phần trong bảng câu hỏi được xây dựng sơ bộ thông qua quá trình tham khảo các nghiên cứu trước và phỏng vấn những chuyên gia nhiều kinh nghiệm Phát triển bảng câu hỏi, phỏng vấn lại các chuyên gia và tiến hành khảo sát thử nghiệm Nếu bảng câu hỏi vẫn chưa rõ ràng,
dễ hiểu và có nội dung chưa phù hợp thì tiếp tục bổ sung chỉnh sửa, tham khảo ý kiến chuyên gia cho đến khi hoàn thiện Sau khi hoàn thiện, tiến hành gửi bảng câu hỏi chính thức và thu thập số liệu kết quả khảo sát
Trang 303.2.3 Thang đo Likert
Thang đo Likert là một dạng thang đánh giá được sử dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu khảo sát Theo thang đo này, những người trả lời phải biểu thị một mức độ đồng ý hoặc khôngđồng ý với các đề nghị được trình bày theo một dãy các khoản mục liên quan
Một thang điểm Likert thường gồm 2 phần, phần khoảng mục và phần đánh giá Phần khoảng mục liên quan đến ý kiến, thái độ về các đặc tính một sản phẩm, một sự kiện cần đánh giá Phần đánh giá là một danh sách đặc tính trả lời Thông thường, các khoảng mục đánh giá được thiết kế 5 đến 9 hạng trả lời, đi từ “hoàn toàn đồng ý” đến “ hoàn toàn không đồng ý”
Trong nghiên cứu này, thang đo Likert 5 mức độ được sử dụng để khảo sát và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố xung đột trong các dự án xây dựng
3.2.4 Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s
Alpha
Độ tin cậy thể hiện mức độ nhất quán của những lần đo độc lập Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha thường được sử dụng để đánh giá độ tin cậy thang đo trong các nghiên cứu khảo sát
Công thức xác định hệ số Cronbach’s Alpha như sau:
Cronbach’s Alpha = n/(n−1)*((1−Σ S i2 )/S t2 )
Trong đó:
n : Số lần đo
Si2 : Phương sai của lần đo thứ i
St2 : Phương sai của tổng các lần đo
Hệ số Cronbach’s Alpha có giá trị từ 0 đến 1, giá trị Cronbach’s Alpha càng lớn thì độ tin cậy càng cao Trong nghiên cứu khảo sát, giá trị Cronbach’s Alpha ≥ 0.6 là chấp nhận được (Nunnally, 1978 trích từ Trọng và Ngọc, 2008)
Nghiên cứu này sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha để đánh giá độ tin cậy của thang đo các yếu tố xung độ cần khảo sát
Trang 313.2.5 Hệ số tương quan
Hệ số tương quan là đại lượng dùng để đo lường mức độ quan hệ tuyến tính giữa hai biến, không phân biệt biến này phụ thuộc vào biến kia Hệ số tương quan không có đơn vị, có giá trị từ -1 đến 1 Hệ số tương quan bằng 0 (hay gần 0) có nghĩa là hai biến số không có liên hệ gì với nhau; ngược lại nếu hệ số bằng -1 hay 1
có nghĩa là hai biến số có một mối liên hệ tuyệt đối Nếu giá trị của hệ số tương quan là âm (r <0) có nghĩa là 2 biến đo lường có mối quan hệ ngược với nhau; nếu giá trị hệ số tương quan là dương (r > 0) có nghĩa là 2 biến đo lường có mối quan hệ thuận với nhau
Có nhiều hệ số tương quan, trong đó hệ số được sử dụng thông dụng nhất
trong các nghiên cứu khảo sát là:hệ số tương quan Pearson’s (dùng cho 2 biến đo lường có phân phối chuẩn) và hệ số tương quan hạng Spearman’s (dùng để thay
thế tương quan Pearson’s để kiểm tra tương quan giữa 2 biến được xếp hạng hoặc một biến được xếp hạng và một biến đo lường không có yêu cầu phân phối chuẩn) Trong nghiên cứu này sử dụng hệ số tương quan hạng Spearman’s để đánh giá mức độ tương quan của các biến khảo sát vì các biến đo lường là biến được xếp hạng và không đảm bảo phân phối của biến là phân phối chuẩn
3.2.6 Phân tích phương sai
Phân tích phương sai một yếu tố (One-way ANOVA) là một phương pháp để đánh giá có hay không sự khác biệt về trị trung bình giữa các nhóm trả lời trong các câu hỏi Một số giả định với phân tích phương sai một yếu tố:
(1) Thang đo của biến khảo sát phải là thang đo khoảng (Interval scale) hoặc thang đo tỷ lệ (Ratio scale)
(2) Các tổng thể có phân phối chuẩn
(3) Các phương sai tổng thể bằng nhau
(4) Các quan sát được lấy mẫu là độc lập với nhau
Giả thuyết Ho cần kiểm định là trung bình thực (trung bình tổng thể) của k nhóm là bằng nhau Nếu kết quả kiểm định dẫn đến việc bác bỏ Ho thì ta phải làm tiếp phân tích sâu (Post Hoc) để xác định sự khác biệt xảy ra ở đâu (Trọng và Ngọc, 2008)
Trang 32Theo Trọng và Ngọc (2008), trong trường hợp không chắc chắn thỏa mãn các giả định của dữ liệu tham số thì có thể thực hiện cả hai phép kiểm định là One-way ANOVA và Kruskal-Wallis để đối chiếu kết quả Nếu cả hai kết quả cho ra giống nhau thì kết quả là đáng tin cậy
3.2.7 Phân tích thành phần chính (Principal Component
Analysis)
Phân tích thành phần chính (Principal Component Analysis – PCA) là một trong những phương pháp phân tích dữ liệu nhiều biến Mục đích của phân tích thành phần chính là rút ra thông tin chủ yếu chứa trong bảng số liệu bằng cách xây dựng một biểu diễn đơn giản hơn sao cho đám mấy số liệu được thể hiện rõ nhất
Cụ thể hơn, phân tích thành phần chính tức là đi tìm những trục hay mặt phẳng
“phản ánh” tốt nhất, trung thực nhất đám mây điểm - biến, điểm - cá thể
Trong nghiên cứu này, phương pháp phân tích thành phần chính PCA được sử dụng để nhóm các yếu tố xung đột riêng lẻ thành những nhóm yếu tố lớn hơn có tính chất tương đồng nhau
Một số thông số thống kê quan trọng trong phân tích nhân tố:
Bartlett’s test of sphericity: là đại lượng thống kê dùng để xem xét giả thiết các biến không có tương quan trong tổng thể
Communality: là lượng biến thiên mà biến gốc chia sẻ với tất cả các biến khác được đưa vào phân tích
Component analysis: phân tích thành phần là một mô hình nhân tố trong
đó các nhân tố được sắp đặt nhờ vào phương sai tổng thể
Correlation matrix: cho biết hệ số tương quan giữa các cặp biến trong phân tích
Eigenvalue: đại diện cho phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân tố
Factor: một nhân tố được tổ hợp từ các biến gốc, nhân tố cũng thể hiện/mô tả thứ nguyên cơ bản có thể khái quát được một tập hợp các biến quan sát
Factor loading: là những hệ số tương quan đơn giữa các biến và các nhân
tố
Factor matrix: chứa các factor loading của tất cả các biến đối với các nhân
tố được rút ra
Trang 33 Factor scores: là các điểm nhân tố tổng hợp được ước lượng cho từng quan sát trên các nhân tố được rút ra
Kaiser-Meyer-Okin (KMO) measure of sampling adequacy: là một chỉ số dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố Trị số KMO lớn (từ 0.5 đến 1.0) thì các tương quan giữa các biến quan sát đủ lớn đến mức có thể áp dụng phân tích nhân tố nó có nghĩa phân tích nhân tố là thích hợp
Percentage of variance: phần trăm phương sai toàn bộ được giải thích bởi từng nhân tố
Residual: là các chênh lệch giữa các hệ số tương quan trong ma trận tương quan đầu vào (input correlation matrix) và các hệ số tương quan sau khi phân tích (reproduced correlation) được ước lượng từ ma trận nhân tố (factor matrix)
3.3 KHẢO SÁT THỬ NGHIỆM
3.3.1 Danh sách các yếu tố khảo sát
Bảng câu hỏi khảo sát là một công cụ được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu khảo sát Trong lĩnh vực xây dựng, bảng câu hỏi là công cụ để thu thập thông tin phản hồi từ các bên tham gia dự án như chủ đầu tư, nhà tư vấn, nhà thầu thi công
về các sự thay đổi trong dự án xây dựng Phương pháp này có những thuận lợi là chi phí thực hiện thấp, dễ dàng thực hiện, và có thể khảo sát một số lượng lớn những thành phần tham gia trong thời gian ngắn
Trên cơ sở tham khảo nghiên cứu của Acharya, N.K., Lee, Y.D., and Im, H.M (2006), Phạm Hồng Luân, Trần Trung Kiên (2011), Rizwan U Farooqui, Salman Azhar (2014) tiến hành tổng hợp và trích ra những yếu tố gây mâu thuẫn xung đột trong các dự án xây dựng
Các yếu tố khảo sát được phân loại thành 2 nhóm yếu tố lớn là:nhóm yếu tố
bên trong dự án và nhóm yếu tố bên ngoài dự án Trong nhóm yếu tố bên trong
dự án lại được phân thành các nhóm nhỏ hơn gồm: nhóm nguyên nhân do Chủ đầu
tư, nhóm nguyên nhân do Tư Vấn, nhóm nguyên nhân do Nhà thầu thi công, nhóm nguyên nhân do đặc điểm nội tại của dự án Có 50 yếu tố được đưa vào để khảo sát thử nghiệm với nhóm chuyên gia như sau:
Trang 34.Bảng 3-1: Danh sách yếu tố khảo sát thử nghiệm
STT Tên yếu tố khảo sát thử nghiệm
I Nhóm yếu tố do Chủ Đầu Tư
1 Các yêu cầu không rõ ràng của chủ đầu tư
2 Quá nhiều thay đổi từ CĐT
3 Phạm vi dự án không được định rõ
4 Lối vào công trường bị cản trở
5 Lạm quyền của chủ đầu tư/tư vấn giám sát
6 Mặt bằng công trường chật hẹp
7 Khó khăn tài chính của chủ đầu tư
8 Không chia sẻ rủi ro với nhà thầu
9 Vật liệu được cung cấp từ chủ đầu tư
10 Trì hoãn đưa ra quyết định từ CĐT
11 Chậm trễ bàn giao mặt bằng công trường
12 CĐT cung cấp thiết bị cho dự án
13 Chậm trễ trong thanh toán
II Nhóm yếu tố do Tư Vấn
14 Thay đổi điều kiện công trường so với khảo sát
15 Thiết kế bị khuyết điểm / sai sót
16 Thiếu chi tiết và bỏ sót trong thiết kế
17 Khối lượng vượt trội quá nhiều
18 Quá nhiều sự phát sinh thay đổi
19 Tiêu chí kỹ thuật của dự án không rõ ràng, nhiều nghĩa
III Nhóm yếu tố do Nhà thầu
20 Khó khăn tài chính của nhà thầu
21 Chậm trễ công việc của nhà thầu
22 Nhà thầu không đủ năng lực
23 Những khiếm khuyết lớn trong giai đoạn bảo hành
24 Công nhân đình công
25 Thầu phụ thiếu năng lực
Trang 35STT Tên yếu tố khảo sát thử nghiệm
26 Không thanh toán cho nhà thầu phụ
27 Thái độ làm việc của nhà thầu kém
28 Khiếm khuyết chất lượng công trình
IV Nhóm yếu tố do đặc điểm nội tại dự án
29 Những xung đột hồ sơ dự án
30 Tranh cãi về sự thay đổi
31 Chính sách bảo vệ công trường
32 Thiếu trao đổi thông tin dự án
33 Tai nạn lớn xảy ra
34 Thiếu hụt lao động /thiết bị / vật liệu
35 Sự cần thiết cải thiện môi trường
36 Thái độ cẩu thả của nhân viên dự án
37 Các rủi ro về môi trường
38 Quá nhiều văn bản trao đổi qua lại
39 Nhân sự tham gia dự án thiếu năng lực quản lý
40 Kỹ thuật kiểm tra vật liệu không thống nhất
41 Sự khác biệt kỹ thuật thi công
42 Sự đẩy nhanh (hoặc gián đoạn) của công việc
43 Sử dụng vật liệu có chất lượng kém
44 Ngôn ngữ của hợp đồng đa nghĩa
45 Xung đột trong công tác đấu thầu
V Nhóm yếu tố bên ngoài
46 Thay đổi luật của chính phủ
47 Người dân cản trở dự án
48 Thời tiết bất lợi
49 Thị trường lạm phát
50 Cộng đồng dân cư bị xáo trộn
51 Bên thứ ba gây trì hoãn công việc
Trang 363.3.2 Kết quả khảo sát thử nghiệm
Tiến hành khảo sát thử nghiệm 51 yếu tố nêu trên với 18 chuyên gia trên 10 năm kinh nghiệm trong ngành xây dựng Phần lớn các chuyên gia đều trải qua hầu hết các vị trí công tác trong ngành gồm: Nhà thầu thi công, Tư vấn, Chủ Đầu Tư và Ban Quản Lý Dự Án
Sau khi phỏng vấn và được sự góp ý của các chuyên gia, một số yếu tố không phù hợp với điều kiện tại Việt Nam đã được loại bỏ Số lượng yếu tố khảo sát ban đầu là 50 yếu tố đã được rút xuống còn 33 yếu tố.Bên cạnh đó, những câu hỏi chưa
rõ ràng được chỉnh sửa lại nội dung cho phù hợp, nhằm giúp người trả lời có thể hiểu câu hỏi khảo sát một cách rõ ràng và mạch lạc Danh sách các yếu tố được khảo sát chính thức như sau:
Bảng 3-2: Danh sách yếu tố khảo sát chính thức
STT Mã Tên yếu tố khảo sát chính thức
I Nhóm yếu tố do Chủ Đầu Tư
1 CDT1 Các yêu cầu không rõ ràng của Chủ đầu tư
2 CDT2 Quá nhiều thay đổi từ Chủ đầu tư
3 CDT3 Phạm vi dự án không được định rõ
4 CDT4 Lối vào công trường bị cản trở
5 CDT5 Mặt bằng công trường chật hẹp
6 CDT6 Khó khăn tài chính của chủ đầu tư
7 CDT7 Chủ đầu tư không chia sẻ rủi ro với nhà thầu thi công
8 CDT8 Chủ đầu tư ra quyết định chậm trễ
9 CDT9 Chủ đầu tư chậm trễ bàn giao mặt bằng công trường
10 CDT10 Chủ đầu tư thanh toán chậm trễ
II Nhóm yếu tố do Tư Vấn
11 TV1 Thay đổi điều kiện công trường so với thiết kế
12 TV2 Tư vấn thiết kế / giám sát có năng lực yếu kém
13 TV3 Thiếu chi tiết và bỏ sót trong thiết kế
14 TV4 Khối lượng phát sinh lớn so với thiết kế
15 TV5 Tiêu chí kỹ thuật của dự án không rõ ràng
Trang 37STT Mã Tên yếu tố khảo sát chính thức III Nhóm yếu tố do Nhà thầu
16 NT1 Khó khăn tài chính của nhà thầu
17 NT2 Chậm trễ công việc của nhà thầu
18 NT3 Nhà thầu có năng lực thi công yếu kém
19 NT4 Nhà thầu thiếu năng lực quản lý
IV Nhóm yếu tố do đặc điểm nội tại dự án
20 DA1 Hồ sơ dự án bị chồng chéo
21 DA2 Dự án bị thay đổi, điều chỉnh trong quá trình thi công
22 DA3 Các bên thiếu trao đổi thông tin dự án
23 DA4 Nhân viên dự ánlàm việc cẩu thả
24 DA5 Quản lý thông tin dự án yếu kém
25 DA6 Nhân sự tham gia dự án thiếu năng lực quản lý
26 DA7 Kỹ thuật kiểm tra, nghiệm thukhông thống nhất
27 DA8 Kỹ thuật thi côngmới, phức tạp
28 DA9 Sự thay đổi tiến độ thi công
29 DA10 Hợp đồng giữa các bên không rõ ràng
V Nhóm yếu tố bên ngoài
30 N1 Những thay đổi trong chính sách pháp luật
31 N2 Sự cản trở của người dân trong quá trình thi công
32 N3 Thời tiết thay đổi bất thường
33 N4 Bên thứ ba gây trì hoãn công việc
3.3.3 Nội dung bảng câu hỏi khảo sát chính thức
(Xem phụ lục đính kèm)
Trang 383.4 THIẾT KẾ MẪU KHẢO SÁT VÀ PHÂN PHỐI BẢNG CÂU HỎI
3.4.1 Xác định kích thước mẫu
Trước khi tiến hành phát bảng câu hỏi khảo sát cần phải xác định số lượng mẫu cần phải đạt được Theo công thức kinh nghiệm của Bollen (1989) thì số lượng mẫu nghiên cứu gấp 5 lần số lượng các yếu tố là đạt yêu cầu Số lượng yếu tố được phân tích là 33yếu tố, suy ra số lượng mẫu tối thiểu cần phải đạt được theo kinh nghiệm của Bollen là 165 mẫu
Tuy nhiên, vì lý do bị hạn chế về mặt thời gian và chi phí nên số lượng mẫu này rất khó có thể đạt được Theo những bài báo nghiên cứu khảo sát chuyên ngành,
số lượng mẫu khảo sát từ 80 đến 100 mẫu là đạt yêu cầu
3.4.2 Phân phối và thu thập bảng câu hỏi
Việc thu thập dữ liệu được thực hiện bằng cách phân phát bảng khảo sát đến các kỹ sư xây dựng đang công tác tại các cơ quan, doanh nghiệp đang hoạt động trong các lĩnh vực xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật Nhóm đối tượng khảo sát được phân loại là các kỹ sư đang làm việc cho Chủ Đầu Tư / Ban QLDA, Sở ban ngành quản lý các công trình hạ tầng kỹ thuật, Nhà thầu thi công xây dựng và Công
ty tư vấn thiết kế / giám sát công trình
Bảng câu hỏi khảo sát được phân làm 3 loại:
Bảng câu hỏi trên giấy dùng để khảo sát trực tiếp tại công trường
Bảng câu hỏi làm trên file MS Word dùng để gửi qua email
Bảng câu hỏi thiết kế trực tuyến thông qua ứng dụng Google Forms
Trong khoảng thời gian từ ngày 01/04/2016 đến ngày 01/06/2016, tổng số bảng câu hỏi khảo sát được gửi đi là 366 bảng câu hỏi, kết quả thu về được 151 bảng trả lời và trong đó có 137 bảng trả lời hợp lệ và 14 bảng trả lời không hợp lệ (câu trả lời bị thiếu, câu trả lời có nhiều kết quả) Những bảng trả lời này được đưa vào phần mềm MS Excel để tổng hợp sơ bộ trước khi chuyển vào phần mềm SPSS 16.0 để phân tích dữ liệu thống kê
Trang 39CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 4.1 QUY TRÌNH PHÂN TÍCH DỮ LIỆU
Nhằm tránh những sơ sót trong quá trình phân tích dữ liệu, thì dữ liệu khảo sát cần phải được thực hiện theo quy trình phân tích như sau:
Hình 4-1: Quy trình phân tích số liệu khảo sát
Từ dữ liệu thu thập được, tiến hành phân tích thống kê mô tả các thành phần trả lời bảng câu hỏi nhằm có cái nhìn tổng quan về số liệu khảo sát Tiếp theo sử
dụng hệ số Cronbach’s Alpha để kiểm tra độ tin cậy thang đo trong bảng khảo sát Các kiểm định One-way ANOVA hoặc Kruskal-Wallis, hệ số tương quan hạng
Spearman để đánh giá mức độ đồng thuận của các nhóm trả lời trong việc xếp hạng
các yếu tố ảnh hưởng đến sự gia tăng chi phí đầu tư xây dựng và thiết bị trong công
trình Sau cùng, phân tích Principal Components Analysis (Phân tích thành phần
chính) để nhóm các yếu tố có gây xung đột cao trong các dự án xây dựng tại TP Hồ Chí Minh
Trang 404.2 THỐNG KÊ MÔ TẢ
4.2.1 Kinh nghiệm người trả lời khảo sát
Bảng 4-1: Kinh nghiệm công tác của người trả lời khảo sát
Kinh nghiệm công tác
Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid 1 34 24.8 24.8 24.8
2 47 34.3 34.3 59.1
3 56 40.9 40.9 100.0 Total 137 100.0 100.0
Trong đó:
Nhóm 1 : Có kinh nghiệm dưới 5 năm
Nhóm 2 : Có kinh nghiệm từ 5 đến 10 năm
Nhóm 3 : Trên 10 năm kinh nghiệm
Hình 4-2: Kinh nghiệm công tác của người trả lời khảo sát