1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP BẢN ĐỒ HỌC

19 245 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 42,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BẢN ĐỒ HỌC 222 1) Bản đồ: 2 2) nội dung quá trình tổng quát hóa BĐ: 4 3) các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình tổng quát hóa BĐ: 6 4) Ký hiệu BĐ: 7 5) Nguyên tắc sắp xếp ghi chú trên BĐ: 8 6) Mục đích của công tác hiệu chỉnh BĐ địa hình: 9 7) Khái niệm về phép chiếu và lưới chiếu BĐ: 11 8) Đặc điểm của phép chiếu gauss: 12 9) Phương pháp thành lập BĐ địa hình: 13 10) BĐ chuyên đề: 15 11) BĐ số: 16  

Trang 1

BẢN ĐỒ HỌC 222

Trang 2

1) Bản đồ:

* KN: BĐ là hình ảnh thu nhỏ bề mặt tự nhiên của trái đất hoặc

bề mặt của các thiên thể khác lên trên mặt phẳng theo 1 quy luật toán học nhất định, thông qua việc khái quát hóa và sử dụng 1 hệ thống ký hiệu quy ước nhằm phản ánh sự phân bố, trạng thái, các đặc điểm về số lượng, chất lượng và mối liên quan giữa các hiện tượng tự nhiên và xã hội Nó có thể biểu thị toàn thế giới, 1 châu lục, 1 quốc gia hay 1 khu vực nào đó của bề mặt TĐ, hay các hành tinh khác

* Tính chất: BĐ có 11 tính chất trong đó có 3 tính chất cơ bản

là tính trực quan, tính đo được và tính thông tin

- Tính trực quan của BĐ: BĐ cho ta khả năng bao quát và nhận biết nhanh chóng những yếu tố chủ yếu và quan trọng nhất của nội dung BĐ, biến cái nhìn thấy biến cái không nhìn thấy thành cái nhìn thấy được Bằng bản đồ, người sử dụng có thể tìm ra đựơc những quy luật của sự phân bố các đối tượng và hiện tượng trên bề mặt trái đất

- Tính đo được: là 1 tính chất liên quan trực tiếp tới các quy tắc toán học của BĐ Trên BĐ, người sử dụng có khả năng xác định được rất nhiều các trị số khác nhau như: toạ độ, biên độ, độ dài, khoảng cách, diện tích, thể tích, góc, phương hướng và nhiều trị số khác

- Tính thông tin của bản đồ: Đó là khả năng lưu trữ và truyền đạt cho người đọc những tin tức khác nhau về các đối tượng và các hiện tượng được biểu thị

* Phân loại:

- Theo đối tượng thể hiện: gồm 2 nhóm: các BĐ địa lý và các

BĐ thiên văn

+ Các BĐ địa lý: là các BĐ thể hiện các đối tượng, hiện tượng liên quan đến TĐ

+ Các BĐ thiên văn: bao gồm các BĐ bầu trời sao, BĐ các thiên thể và BĐ các hành tinh khác

Trong đó BĐ địa lý là loại BĐ phổ biến nhất

Trang 3

- Theo tỷ lệ: gồm 3 loại: BĐ tỷ lệ lớn, BĐ tỷ lệ trung bình, BĐ

tỷ lệ nhỏ

+ BĐ tỷ lệ lớn: là các BĐ có tỷ lệ 1:200k

+ BĐ tỷ lệ trung bình: là các BĐ có tỷ lệ từ 1:200k đến 1:1.000.000

+ BĐ tỷ lệ nhỏ: là các BĐ có tỷ lệ 1:1.000.000

- Theo nội dung: gồm 2 nhóm: các BĐ địa lý chung và các BĐ chuyên đề

+ Các BĐ địa lý chung: gồm những BĐ có nội dung rộng, biểu hiện cả những đối tượng tự nhiên và kt-xh có trên bề mặt đất trong lãnh thổ thể hiện, ví dụ như: thủy văn, dáng đất dân cư, giao thông,…Những đối tượng này được biểu hiện 1 cách đồng đều, phản ánh các đặc trưng bề ngoài của đối tượng

+ Các BĐ chuyên đề: tùy thuộc vào đề tài, BĐ sẽ phản ánh chi tiết về 1 chuyên đề nào đó BĐ chuyên đề thường có nội dung hẹp, chi biểu hiện 1 vài yếu tố, 1 vài đối tượng nhưng đc phản ánh 1 cách sâu sắc, thể hiện nhiều khái cạnh của nội dung đối tượng theo chủ đề BĐ

- Theo mục đích sử dụng: gồm 2 nhóm: các BĐ đc sử dụng cho nhiều mục đích và các BĐ chuyên môn

+ Các BĐ nhiều mục đích thường đc áp dụng cho nhiều đối tượng sử dụng khác nhau, để giải quyết những nhiệm vụ có ý nghĩa kt quốc dân và quốc phòng, để thu nhận những tư liệu tra cứu,…

+ các BĐ chuyên môn là các BĐ đc dùng để giải quyết những nhiệm vụ nhất định và đáp ứng cho những đối tượng sử dụng nhất định, ví dụ: BĐ giáo khoa, các BĐ hàng hải, các BĐ hàng không,…

- Theo lãnh thổ thể hiện trên BĐ: gồm có BĐ thế giới, BĐ bán cầu, BĐ các châu lục, BĐ quốc gia, BĐ tỉnh, huyện, xã,…

- Theo các đặc tính phụ khác: như:

+ Theo số màu in: BĐ 1 màu, BĐ nhiều màu,…

+ Theo tính chất sử dụng: BĐ treo tường, BĐ để bàn, BĐ bỏ túi,…

Trang 4

+ Theo số tờ: BĐ 1 tờ, BĐ nhiều tờ.

Trang 5

2) nội dung quá trình tổng quát hóa BĐ:

- Phân loại các đối tượng và hiện tượng cần biểu thị:

Phân loại các đối tượng và hiện tượng cần biểu thị thành từng

nhóm, mỗi nhóm bao gồm các đối tượng cùng loại, có cùng đặc tính nào đó

- Lựa chọn các đối tượng biểu thị trên bản đồ:

+ Khi lựa chọn phải tuân theo trình tự hợp lý: Trước hết thể hiện những đối tượng quan trọng nhất, sau đó mới lựa chọn thể hiện những đối tượng ít quan trọng hơn Những đối tượng có kích thước nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn, quan trọng về phương diện nào đó (quốc phòng, định hướng, ) thì vẫn phải thể hiện

+ Sự lựa chọn thường được tiến hành theo tiêu chuẩn hoặc chỉ tiêu lựa chọn Tiêu chuẩn lựa chọn là giá trị giới hạn quy định kích thước hoặc ý nghĩa của đối tượng cần phải giữ và thể hiện trên bản đồ khi tổng quát hoá

Ví dụ: Trên bản đồ vẽ tất cả các hồ, ao có diện tích > 2 mm2; hoặc trên bản đồ vẽ các đường ranh giới hành chính từ cấp huyện trở lên

+ Chỉ tiêu lựa chọn là chỉ số quy định mức độ lựa chọn Các chỉ tiêu lựa chọn phải có sự điều hoà tải trọng bản đồ

Ví dụ: Quy định khi chuyển từ bản đồ địa hình tỷ lệ 1:200.000 sang 1:500.000 thì số điểm dân cư giữ lại 1/3 đối với vùng dân cư dày đặc, đông đúc, giữ lại 1/2 đối với vùng dân cư có mật độ trung bình, vẽ toàn bộ với vùng dân cư thưa thớt

Tuy nhiên, khi xác định chỉ tiêu lựa chọn và vận dụng chúng trong biên vẽ bản đồ cần chú ý không được gây ra sai lệch về tương quan mật độ của các khu vực khác nhau, gây ra hiểu nhầm đặc trưng của đối tượng

- Khái quát hình dạng đối tượng:

+ Khái quát hình dạng đối tượng tức là bỏ đi những chi tiết nhỏ, không quan trọng của đối tượng Việc khái quát hình dạng cũng thường tuân thủ theo các tiêu chuẩn về kích thước Đối với những chi tiết nhỏ hơn tiêu chuẩn quy định nhưng lại có ý nghĩa về phương diện nào đó thì lại phải phóng to và thể hiện Khi biên vẽ

Trang 6

bản đồ cũng thường phải tiến hành liên kết, gộp các đối tượng nhỏ cùng loại vào một đường viền chung

Ví dụ: Trên bản đồ tỷ lệ lớn có rất nhiều ao, hồ nhỏ gần nhau, khi thể hiện trên bản đồ tỷ lệ nhỏ ta có thể gộp chúng vào một ao,

hồ lớn; ở tỷ lệ lớn các điểm dân cư là rời rạc từng nhà, sang tỷ lệ trung bình chúng được gộp và thành khu phố, ở tỷ lệ nhỏ chúng được thể hiện bằng ký hiệu điểm dân cư

- Khái quát đặc trưng số lượng:

Là quá trình chuyển từ thang liên tục sang thang phân cấp và

tiếp tục tăng dần khoảng cách giữa các thang bậc

Ví dụ: Khi tỷ lệ bản đồ địa hình thay đổi thì khoảng cao đều của chúng cũng thay đổi: tỷ lệ bản đồ địa hình nhỏ thì khoảng cao đều lớn và ngược lại; số dân của các điểm dân cư ở các bản đồ khi thay đổi tỷ lệ cũng phải thay đổi

- Khái quát các đặc trưng chất lượng:

Là nhằm giảm bớt sự khác biệt về chất trên phương diện nào

đó của các đối tượng

Ví dụ: Trên bản đồ, đất nông nghiệp tỷ lệ lớn thể hiện chi tiết các loại đất: trồng lúa, màu, rau, hoa quả, cà phê, cao su, thuốc lá, , trên bản đồ tỷ lệ nhỏ chúng chỉ thể hiện đất trồng cây nông nghiệp, trồng cây công nghiệp

- Thay các ký hiệu riêng biệt bằng các ký hiệu tập hợp:

Khi chuyển từ bản đồ tỷ lệ lớn sang tỷ lệ nhỏ thì mức độ tổng quát hoá đôi khi rất lớn Khi các đối tượng cần thể hiện không thể biểu thị được bằng các ký hiệu đường viền riêng biệt thì người ta phải dùng các ký hiệu tập hợp để thể hiện chúng

Ví dụ: Trên bản đồ tỷ lệ nhỏ, các điểm dân cư không thể hiện các ngôi nhà, khu phố mà phải dùng các ký hiệu tập hợp có dạng hình học chung (ví dụ hình tròn, ) để thể hiện

Trang 7

3) các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình tổng quát hóa BĐ:

- Ảnh hưởng của mục đích sử dụng bản đồ:

Trên bản đồ chỉ biểu thị các đối tượng và hiện tượng phù hợp

với mục đích của nó Những bản đồ có cùng đề tài, cùng tỷ lệ nhưng mục đích sử dụng khác nhau thì mức độ chi tiết và đặc điểm của sự biểu thị các yếu tố nội dung cũng khác nhau

Ví dụ: trên các bản đồ giáo khoa, nội dung đơn giản hơn, các

ký hiệu có kích thước lớn hơn, màu sắc rực rỡ, rõ ràng hơn so với bản đồ tra cứu

- Ảnh hưởng của tỷ lệ bản đồ:

Những bản đồ có cùng đề tài, cùng mục đích sử dụng nhưng

có tỷ lệ khác nhau thì mức độ tổng quát hoá khác nhau Bản đồ có

tỷ lệ càng lớn thì thể hiện càng chi tiết nội dung; ngược lại tỷ lệ càng nhỏ thì nội dung càng khái lược

- Ảnh hưởng của đề tài bản đồ và kiểu bản đồ:

Đề tài bản đồ quyết định phạm vi các yếu tố nội dung cần thể hiện; quyết định những yếu tố nào cần thiết được thể hiện chi tiết, những yếu tố nào chỉ cần thể hiện sơ lược, thậm chí có thể bỏ qua không thể hiện

Ví dụ: so sánh các bản đồ có cùng mục đích, cùng tỷ lệ nhưng

đề tài nội dung khác nhau thì sự ảnh hưởng của các bản đồ này là khác nhau

- Ảnh hưởng của đặc điểm địa lý vùng lãnh thổ:

Khi tổng quát hoá bản đồ cần phải xem xét đến đặc điểm địa

lý vùng lãnh thổ mà bản đồ cần thể hiện, bởi vì cùng là những đối tượng như nhau nhưng chúng lại có ý nghĩa khác nhau trong điều kiện địa lý khác nhau

Ví dụ: một nguồn nước, giếng nước ở hoang mạc; sa mạc có

ý nghĩa rất lớn nên bắt buộc phải thể hiện trên bản đồ nhưng giếng nước ở đồng bằng hay vùng ven biển, ta có thể bỏ qua không thể hiện

- Ảnh hưởng của các tư liệu dùng để thành lập bản đồ:

Một trong những ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tổng quát hoá bản đồ là sự cung cấp tư liệu bản đồ Quá trình thiết kế

Trang 8

và thành lập bản đồ nếu được cung cấp đầy đủ tư liệu, các thông tin của tư liệu mới, chính xác, đồng nhất sẽ thuận lợi rất nhiều Hơn nữa có thể thông qua các tài liệu đó để xét bản chất của đối tượng

Ví dụ: trên BĐ dân cư, tài liệu đầy đủ cho phép ta vạch được

sự phân bố cụ thể của từng điểm dân cư và xu hướng phát triển của chúng

4) Ký hiệu BĐ:

* KN: Ký hiệu BĐ là 1 đặc trưng cơ bản của BĐ, đó chính là

hình thức thể hiện nội dung của BĐ Ký hiệu BĐ là 1 thứ ngôn ngữ của BĐ và tạo thành 1 hệ thống ký hiệu khoa học riêng, là hình thái thể hiện trực tiếp những ý nghĩ và là phương tiện để trợ giúp sự tổng hợp Chức năng của ngôn ngữ BĐ là truyền đạt nội dung BĐ

* Phân loại:

a) Phân loại dựa vào đặc điểm về tỷ lệ của ký hiệu: gồm 3 loại:

- Các ký hiệu được vẽ theo tỷ lệ BĐ:

Là những ký hiệu có kích thước theo tỷ lệ so vớ kích thước thực tế của địa vật Các ký hiệu này thường được dùng để biểu thị các đối tượng có kích thước lớn như sông, suối, thửa đất, vườn cây…

- Các ký hiệu bán tỷ lệ:

Là những ký hiệu có 1 chiều vẽ theo tỷ lệ và 1 chiều vẽ theo quy định, thường đc dùng để biểu thị cho các đối tượng có dạng tuyến như đường giao thông, sông, suối,…có chiều ngang hẹp không thể vẽ theo tỷ lệ BĐ Vị trí chính xác của ký hiệu này chính là tâm trục của ký hiệu

- Các ký hiệu phi tỉ lệ:

Là những ký hiệu có hình dạng và kích thước khác nhau, ko theod dúng tỷ lệ, kích thước của địa vật mà theo quy ước Loại ký hiệu này dùng để biểu thị cho các đối tượng nhỏ, không vẽ theo

tỷ lệ đc

b) phân loại dựa vào đặc điểm hình dạng của ký hiệu:

Trang 9

- Ký hiệu dạng điểm: dùng để thể hiện vị trí của địa vật và ko

vẽ được theo tỷ lệ BĐ:

+ ký hiệu dạng hình học đơn giản (tròn, vuông, tam giác )

+ký hiệu nghệ thuật: có hình dáng giống vs hình dáng thực tế của đối tượng

+ ký hiệu tượng trưng: là những hình vẽ tượng trưng cho đối tượng làm ký hiệu

+ ký hiệu chữ: là hệ thống ký hiệu sử dụng các chữ cái bắt đầu ten gọi của đối tượng được biểu thị Nếu tên gọi trùng nhau ở chữ cái đầu tiên thì phải lấy thêm chữ cái tiếp theo, cứ tiếp tục như vậy cho đến khi khắc phục được sự cố trùng lặp

- Ký hiệu dạng đường: là cá ký hiệu có dạng tuyến dùng đê biểu thị cho các đối tượng phân bố theo chiều dài như đg giao thông, sông, suối, địa giới,

-Ký hiệu dạng vùng: dùng để biểu thị những ký hiệu mà S của chúng biểu thị được theo tỷ lệ BĐ Đường viền của ký hiệu đc vẽ bằng nét liền, nét đứt, bằng các điểm chấm hoặc bằng các ký hiệu đường tuyến khác Bên trong đường viền có thể dùng màu sắc, ký hiệu, các ghi chú để thể hiện

5) Nguyên tắc sắp xếp ghi chú trên BĐ:

* Đối vs ký hiệu dạng điểm:

các ghi chú thường được đặt song song vs vĩ tuyến, đầu chữ ghi chú quay lên phía bắc của BĐ Ghi chú thường đc bố trí từ phía phải, ở chỗ trống, cạnh ký hiệu khoảng 0,5 – 1mm Đối vs những vùng có nhiều ký hiệu dạng điểm thì đc phép bố trí tự do và có khi là ghi chú xiên Khi có trọng tải đường nét nhiều thì phải chọn hướng có độ giao cắt vs nét ít nhất

* Đối vs các ký hiệu dạng tuyến:

- Ghi chú của các đối tượng này được bố trí song song vs đối tượng hoặc là dọc theo trục của nó

- Nếu chiều rộng của các đối tượng nhỏ, hoặc là các đối tượng

đc vẽ theo ký hiệu bán tỷ lệ thì đặt chữ ghi chú ra ngoài, phía trên hoặc bên trái ký hiệu

Trang 10

- Trường hợp đặc biệt là ghic hú tên sông thì ta bố trí uốn lượn theo độ cong của nó Chữ ghi chú tên sông thường là chữ in nghiêng và mỗi chữ đều phải vuông góc vs độ cong ở vị trí đó Đối vs sông lớn ta có thể ghi chú nhiều chỗ và kích thước khác nhau lớn dần về phía cửa sông

- lưu ý:

+ nếu hướng của địa vật là Đ-T thì đầu chữ hướng về phía B + nếu hướng của địa vật là N-B thì đầu chữ hướng về phía T + nếu hướng của địa vật là TN-ĐB thì đầu chữ hướng về phía TN

+ nếu hướng của địa vật là TB-ĐN thì đầu chữ hướng về phía ĐB

* Đối vs các đối tượng dạng vùng:

- Đc sắp xếp rải theo hướng phân bố của đối tượng Ghi chú có thể bố trí trong lòng đối tượng, nếu S nhỏ thì bố trí bên ngoài

- Có những trường hợp việc bố trí ghi chú liên quan tới BĐ nhiều tờ Đối tượng nằm ở chỗ tiếp biên thì 1 phần tên trên 1 tờ, còn phần tên còn lại ở giữa khung trong và ngoài Trường hợp có

1 phần đối tượng trên tờ BĐ thì ghi chú đặt ở giữa 2 khung, còn tên đầy đủ thì đặt ở tờ bản đồ có phần lớn đối tượng khi đối tượng chiếm trên 4 tờ BĐ thì không ghi tên ghi chú mà ghi trên

sơ đồ phân mảnh Đối vs BĐ nhiều mảnh thì có những chỉ dẫn cụ thể về việc chọn và bố trí chữ ghi chú

6) * Mục đích của công tác hiệu chỉnh BĐ địa hình:

- Hiệu chỉnh bản đồ thực chất là làm cho nội dung của nó phù

hợp với tình trạng hiện tại của đối tượng bản đồ bằng cách tiến hành tu sửa có tính chất cục bộ, điều tra bổ sung và chỉnh sửa ở những khu vực bị biến động cho những đối tượng bị thay đổi để nội dung bản đồ ngày càng sát thực, sử dụng làm bản in mới của bản đồ

- Tốc độ “cũ hóa” của bản đồ thì phụ thuộc vào các điều kiện của khu vực BĐ của những vùng mới xây dựng và có sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế thì sẽ bị cũ hoá nhanh Quyết định về

Trang 11

việc tiến hành hiệu chỉnh thì phải trên cơ sở nghiên cứu những biến đổi của khu vực, tầm quan trọng của những đối tượng biến đổi, mức độ hiện thời của bản đồ

*

BĐ cần hiệu chỉnh trong các trường hợp sau:

+ Sự thay đổi của các đường ranh giới hành chính các cấp và ranh giới quốc gia

+ Sự xuất hiện của các điểm dân cư mới hoặc sự thay đổi của điểm dân cư cũ

+Xây dựng các tổ hợp mới và mở rộng đáng kể các tổ hợp công nghiệp đã có

+ Sự xuất hiện của các đường trục chính,

Các bản đồ địa hình được hiệu chỉnh theo một trình tự nhất định Trước hết hiệu chỉnh các bản đồ tỷ lệ lớn nhất, sau đó căn

cứ vào các bản đồ đã hiệu chỉnh tiến hành lần lượt hiệu chỉnh các bản đồ khác

* BĐ địa hình mới phải thành lập khi:

- Cơ sở khống chế mặt bằng và độ cao của bản đồ không đáp ứng yêu cầu về độ chính xác

- Bản đồ có độ biến đổi lớn (trên 40%) so với thành lập mới, hiện chỉnh sẽ không có lợi về mặt kinh tế kỹ thuật hoặc chất lượng thành lập trước đây không đạt yêu cầu của quy phạm

Quyết định thành lập mới phải dựa vào kết quả khảo sát bản đồ

và khu vực cần đo vẽ lại Bản đồ đã hiện chỉnh phải đáp ứng các yêu cầu về độ chính xác, nội dung và hình thức trình bày của các quy phạm thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ tương ứng và ký hiệu hiện hành

Khi chỉnh sửa phải ghi lý lịch bản đồ và các hồ sơ kỹ thuật của bản gốc hiện chỉnh Những bản đồ đã được hiện chỉnh phải xuất bản không chậm quá hai năm kể từ khi hoàn thành chỉnh sửa

Bản đồ địa hình có thể hiện chỉnh theo các phương pháp sau:

- Hiện chỉnh theo ảnh hàng không

- Hiện chỉnh theo tài liệu bản đồ

- Hiện chỉnh trực tiếp ở thực địa

Ngày đăng: 20/07/2017, 16:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w