1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thành ngữ trong Truyện Kiều (1)

130 1,3K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 0,9 MB
File đính kèm Thành ngữ trong Truyện Kiều.rar (116 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, ngữ dụng học ra đời không phủ định những giá trị của cácnghiên cứu ngữ pháp học, ngữ nghĩa học mà trên cơ sở kế thừa và phát huynhững thành tựu đã đạt được của các chuyên ngàn

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng ngày càng thu hút sự quan tâm,chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Đặc biệt, từ khi ngữ dụng học ra đời và pháttriển thì ngôn ngữ học đã vượt khỏi quan điểm hệ thống khép kín của cấu trúcluận nội tại để đi vào thực tế sử dụng

Đánh giá về vai trò của ngữ dụng học, GS Đỗ Hữu Châu cho rằng ngữdụng học đã trả ngôn ngữ về với “cái nôi đời” sống động vốn sinh ra nó Dướiánh sáng của ngữ dụng học, nhiều vấn đề của ngôn ngữ học trước kia phải bóhẹp, khô cứng trong quan điểm của cấu trúc nội tại đã được nghiên cứu toàndiện, đa chiều, đúng với bản chất xã hội phức tạp và phong phú của ngôn ngữ.Một trong những đặc sắc của nó đã được thể hiện trong sáng tác văn chương,nghệ thuật

Tuy nhiên, ngữ dụng học ra đời không phủ định những giá trị của cácnghiên cứu ngữ pháp học, ngữ nghĩa học mà trên cơ sở kế thừa và phát huynhững thành tựu đã đạt được của các chuyên ngành đi trước, ngữ dụng họccùng với ngữ pháp học và ngữ nghĩa học đã tạo nên cái nhìn đa chiều hơn chotừng hiện tượng ngôn ngữ Lí thuyết ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụnghọc ra đời đã tạo điều kiện cho việc tìm hiểu các hiện tượng ngôn ngữ trở nêntoàn diện

1.2 Với xu hướng dạy học tích hợp như hiện nay, đối với môn Ngữ Văn,việc vận dụng nghiên cứu ngôn ngữ trong văn học để giảng dạy các tác phẩmtrong chương trình Ngữ Văn phổ thông là điều hết sức cần thiết Bởi lẽ, để cóthể định hình phong cách sáng tác của một tác giả hoặc hiểu được cái hay, cáiđẹp của một tác phẩm văn chương, người ta không thể không bắt đầu từ việctìm hiểu ngôn từ của tác phẩm đó Ngôn từ chính là lớp vỏ để chuyển tảinhững giá trị nội dung của một tác phẩm Điều đó có nghĩa là khi phân tíchmột tác phẩm văn học phải luôn gắn liền với việc phân tích ngôn ngữ và

Trang 2

thông qua việc phân tích ngôn ngữ trong tác phẩm mới có cơ sở để lý giảinhững hiện tượng ngôn ngữ, từ đó khám phá ra giá trị đích thực của tác phẩm.

1.3 Trong nền văn học Việt Nam, Truyện Kiều của Nguyễn Du nổi lênnhư một tác phẩm ưu tú, kết tinh những giá trị đặc sắc về cả nội dung và nghệthuật Tác phẩm được đánh giá là một lâu đài của nghệ thuật ngôn từ và chỉvới áng thiên cổ tình văn Truyện Kiều đã có thể thấy được tầm vóc thiên tàicủa Nguyễn Du Vì vậy, từ khi ra đời đến nay, tác phẩm này đã thu hút rấtnhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, bình luận cả trong nước và quốc

tế Dù đã có nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện trên nền của tácphẩm Truyện Kiều song nó vẫn là mảnh đất màu mỡ cho những tìm tòi, sángtạo trong nghiên cứu khoa học trên cả lĩnh vực văn học và ngôn ngữ Đểkhám phá thế giới nghệ thuật Truyện Kiều, mỗi nhà nghiên cứu lựa chọn chomình một cách tiếp cận riêng biệt, trong đó hướng nghiên cứu giá trị củaTruyện Kiều đi từ bản thân ngôn ngữ của tác phẩm là một hướng đi có cơ sởkhoa học và giàu sức thuyết phục

1.4 Thành ngữ được dùng rất phổ biến trong lời ăn tiếng nói hàng ngàycủa quần chúng nhân dân, từ đó đi vào các sáng tác văn chương, các bài viết,bài phát biểu trên báo chí, phát thanh, truyền hình… Vì vậy, việc tìm hiểu vàtrau dồi khả năng sử dụng thành ngữ đã trở thành nhu cầu bức thiết và hết sức

tự nhiên của con người Đó là lí do mà thành ngữ trở thành một đơn vị vănhóa dân gian được rất nhiều ngành nghiên cứu quan tâm như: Văn học, Dântộc học, Văn hóa học…

Việc nghiên cứu thành ngữ từ góc độ Ngôn ngữ học đã và đang thu hútđược sự quan tâm, chú ý của các nhà nghiên cứu Nếu như trước đây chỉ dừnglại ở mức độ nhận diện thành ngữ và nhận thức về cách sử dụng các thànhngữ một cách độc lập thì hiện nay, việc nghiên cứu thành ngữ lại đi theo xuhướng gắn với những tác phẩm văn học cụ thể Đây là hướng nghiên cứu phùhợp với xu thế nghiên cứu liên ngành và đặc biệt là quan điểm đổi mới theohướng tích hợp của chương trình dạy và học trong nhà trường phổ thông

Trang 3

1.5 Lựa chọn đề tài luận văn: “ Thành ngữ trong Truyện Kiều của

Nguyễn Du xét từ lí thuyết ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học”,

chúng tôi mong muốn soi chiếu lí thuyết ba bình diện để chỉ ra những giá trị củathành ngữ qua cách sử dụng của Nguyễn Du, từ đó góp phần khám phá, kháiquát đặc điểm phong cách và tài năng của tác giả Đồng thời, qua luận văn này,chúng tôi mong muốn khai thác vẻ đẹp của tiếng Việt nói chung và ngôn ngữTruyện Kiều nói riêng để cung cấp tư liệu giảng dạy Văn học Việt Nam theoquan điểm đổi mới sách giáo khoa phổ thông theo hướng tích hợp

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Trước đây, do ảnh hưởng của trường phái cấu trúc luận, ngữ pháptruyền thống chỉ xem xét và nghiên cứu câu trên bình diện ngữ pháp (theo cấutrúc chủ - vị) Câu tồn tại ở dạng tĩnh và hoàn toàn cô lập Ngữ pháp chứcnăng ra đời đã chỉ ra được mối liên hệ ràng buộc và chi phối giữa các mặt củacâu Từ khi ngữ pháp chức năng khẳng định được vị thế và tiếng nói đúng đắncủa mình thì câu được nghiên cứu toàn diện hơn

Có thể nói lí thuyết nghiên cứu câu trên ba bình diện: kêt học, nghĩahọc và dụng học xuất phát từ lí thuyêt hệ thống tín hiệu của F D Saussure.Ông đã chỉ ra mối quan hệ phức hợp giữa các bình diện thuộc mặt nội dung

và mặt hình thức của hệ thống tín hiệu Kế thừa lí thuyết này, các nhà nghiêncứu đã hoàn thiện và phát triển những hướng nghiên cứu mới Khi C S.Peirce và Ch Morris đưa ra mô hình tam phân thì câu bắt đầu được nghiêncứu trên ba bình diện là cú pháp, nghĩa học và dụng pháp, trong đó:

- Kết học nghiên cứu ký hiệu trong mối quan hệ với các ký hiệu khác

- Nghĩa học nghiên cứu mối quan hệ giữa các ký hiệu với hiện thựcđược nói tới

- Dụng pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa các ký hiệu và việc sử dụng,người sử dụng ký hiệu

Câu chính là đơn vị nhỏ nhất mà cả ba bình diện nói trên đều được thể hiện

Trang 4

Các nhà ngôn ngữ học thuộc trường phái Praha ( như F Danes) cũngphân biệt ba cấp độ:

- Cấp độ của cấu trúc ngữ pháp của câu

- Cấp độ của cấu trúc nghĩa của câu

đó, bình diện nghĩa học của câu phản ánh cái cấu trúc của một mảng sự tìnhđược nói đến trong câu; bình diện logic thông báo cho thấy rõ câu nói ra đểthông báo điều gì; bình diện cú pháp phản ánh bề mặt của câu, cho ta biết nó

được cấu tạo thế nào Còn Halliday quan niệm: “ Câu là sản phẩm của ba

quá trình biểu hiện nghĩa diễn ra đồng thời Nó vừa là một sự biểu hiện của kinh nghiệm vừa là một sự trao đổi có tính chất tác động lẫn nhau vừa là một thông điệp” Do đó, ba bình diện tam phân này đều thuộc mặt nghĩa Nghiên

cứu cơ cấu hình thức của câu đã chịu sự tác động của cơ cấu nghĩa, cơ cấugiao tiếp và được cấu trúc hóa Nghĩa là nghiên cứu cú pháp có tính tới nghĩahọc và dụng học khái quát đã được chuyển hóa thành cấu trúc chứ không tách

ra thành từng bình diện riêng

Như vậy, các nhà ngữ pháp chức năng đã đạt được những thành tựuđáng kể là phân rõ ràng giữa hai bình diện ngữ pháp và nghĩa học

Ở Việt Nam, những nhà ngữ pháp học đã tiếp thu tư tưởng của ngữ

pháp chức năng khi nghiên cứu câu Trong công trình “Câu tiếng Việt và các

bình diện nghiên cứu câu” (2007), tác giả Diệp Quang Ban đã tổng kết và

nghiên cứu câu trên ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học Theo tácgiả, ba mặt này không tách bạch mà hòa quyện với nhau để dẫn đến một cách

hiểu toàn diện nhất về câu Tác giả Nguyễn Thị Lương trong công trình “Câu

Trang 5

tiếng Việt” (2009) cũng theo hướng của ngữ pháp chức năng nghiên cứu câu

trên ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng

2.2 Thành ngữ là một đơn vị tương đương với từ Có thể nói cùng với

từ, thành ngữ đã góp phần tạo nên sự phong phú cho kho từ vựng tiếng Việt.Thành ngữ đã xuất hiện từ khá lâu và tồn tại phổ biến trong lời ăn tiếng nóihàng ngày nhưng nó chỉ thực sự trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhànghiên cứu văn học và ngôn ngữ từ nửa sau thế kỉ XX

2.2.1 Công trình nghiên cứu đầu tiên về thành ngữ tiếng Việt là “ Về

tục ngữ ca dao” của Phạm Quỳnh được công bố năm 1921 Sau đó là công

trình “Những ngữ so sánh trong tiếng An Nam” của nhà ngôn ngữ người Pháp V Birlier (1925), công trình “Tục ngữ phong dao” của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Ngọc (1928) và “Việt Nam văn học sử yếu” tác giả

Dương Quảng Hàm (1943)

Những công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học này đã đề cậpđến những vấn đề có ý nghĩa tiên phong trong việc nghiên cứu thành ngữnhưng quá trình nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở việc nhận diện, đánh giámột cách sơ lược và đôi chỗ còn mơ hồ về thành ngữ Hầu hết các tác giả nàychưa phân biệt được ranh giới và sự khác nhau cơ bản về đặc điểm, ý nghĩagiá trị sử dụng của thành ngữ và tục ngữ Tuy nhiên, những công trình nghiêncứu kể trên đã bước đầu gợi mở những vấn đề về thành ngữ, tạo tiền đề chocác nhà ngôn ngữ học sau này khai thác một mảnh đất giàu tiềm năng

2.2.2 Từ những năm 60 của thế kỉ XX, thành ngữ được nghiên cứu mộtcách phổ biến, rộng rãi và sâu sắc Thành ngữ được xem xét ở những khíacạnh, những bình diện và các hướng tiếp cận khác nhau

Thành ngữ được nghiên cứu theo hướng ngữ pháp học, từ vựng họctrong các công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Văn Tu (1962, 1981,1986), Nguyễn Kim Thản (1963), Nguyễn Văn Mệnh (1972, 1986), Cù Đình

Tú (1973, 1982), Nguyễn Thiện Giáp (1975, 1985, 1996), Hồ Lê (1976), ĐáiXuân Ninh (1976), Trương Đông San (1976)…

Trang 6

Ngoài ra, thành ngữ còn được nghiên cứu dưới những góc độ riêng biệt.Nghiên cứu về nguồn gốc hình thành và phát triển của thành ngữ, cácvấn đề về ngữ nghĩa hoặc các bình diện văn hóa của thành ngữ có những côngtrình nghiên cứu của các tác giả: Hoàng Văn Hành (1980), Phan Xuân Thành(1980, 1993), Đỗ Hữu Châu (1981), Thái Hòa (1982), Nguyễn Đức Dân(1986), Bùi Khắc Việt (1988), Nguyễn Như Ý (1992), Nguyễn Văn Khang(1994), Chu Bích Thu (1994)…

Một số tác giả khác lại nghiên cứu thành ngữ theo hướng tìm hiểu một loạithành ngữ cụ thể như: Thành ngữ so sánh trong công trình nghiên cứu của TrươngĐông San (1974), Hoàng Văn Hành (1976), Trịnh Thị Khánh Phượng (2003)

Nghiên cứu đặc điểm của cấu trúc ngữ nghĩa và giá trị biểu trưng củacác thành ngữ để tìm hiểu về các thành ngữ có chứa thành tố là tên gọi độngvật của Trịnh Cẩm Lan (1995), thành ngữ có chứa thành tố là vật thể - hiệntượng tự nhiên trong tiếng Việt của Chu Thị Hảo ( 1998), cấu trúc ngữ nghĩacủa thành ngữ có chứa thành tố là danh từ chỉ người trong tiếng Việt củaNguyễn Thị Hoa (2002), cấu trúc ngữ nghĩa của các thành ngữ tiếng Việt cóchứa các từ chỉ loài vật của Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2003)

Khi nghiên cứu đặc điểm của các thành ngữ, các tác giả thường chú ýnhấn mạnh tính dân tộc của thành ngữ Nhiều công trình nghiên cứu mangtính chất so sánh giữa thành ngữ tiếng Việt với thành ngữ tiếng Nga, tiếngAnh… đã làm nổi bật tính dân tộc của thành ngữ như công trình nghiên cứucủa Nguyễn Xuân Hòa (1996), Phan Văn Quế (1996)

Với tư cách là sản phẩm của văn hóa dân gian, thành ngữ còn đượcnghiên cứu trong sự so sánh với tục ngữ Các tác giả tiêu biểu của hướngnghiên cứu này là: Dương Quảng Hàm (1943), Vũ Ngọc Phan, Nguyễn VănMệnh (1972), Cù Đình Tú (1973) Thành ngữ cũng là đối tượng của các nhànghiên cứu văn hóa dân gian như: Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên (1972,

1973, 2001), Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ (1960)

Trang 7

Thành ngữ không chỉ được nghiên cứu ở trạng thái tĩnh mà còn đượcnghiên cứu trong hoạt động Có thể kể đến một số công trình nghiên cứuthành ngữ trong hoạt động của các tác giả như: Hoàng Văn Hành (1973),Nguyễn Thiện Giáp (1988), Phan Văn Quế ( 1995), Đặng Anh Đào (1997).

2.3 Thành ngữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng đã thu hút sựquan tâm, tìm hiểu của rất nhiều tác giả Ban đầu, thành ngữ trong TruyệnKiều chỉ được đề cập đến ở một phần nhỏ trong công trình nghiên cứu

“Những thủ pháp nghệ thuật trong văn chương Truyện Kiều” (2004) của

Phạm Đan Quế hay trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Thúy Hồng.Những kết quả nghiên cứu về thành ngữ trong Truyện Kiều của các tác giảtrên chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, gợi mở phục vụ cho mục đích nghiêncứu chung của công trình

Gần đây, thành ngữ trong Truyện Kiều đã được nghiên cứu cụ thể hơnvới các công trình như:

Luận văn thạc sĩ đề tài “ Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thành ngữ

trong Truyện Kiều” của tác giả Cao Thị Phương Lan (2005) Luận văn này đã

tập trung khảo sát các mô hình cấu tạo và chỉ ra giá trị ngữ nghĩa của các thành

ngữ trong Truyện Kiều Mặc dù luận văn đã khảo sát khá chi tiết về cấu tạo và

ngữ nghĩa của các thành ngữ trong tác phẩm Truyện Kiều song tác giả luận vănchưa quan tâm đến việc gắn thành ngữ với bình diện ngữ dụng

Khóa luận tốt nghiệp đại học đề tài “Tìm hiểu về thành ngữ trong

Truyện Kiều của Nguyễn Du” của tác giả Trần Văn Đông (2013) đã bước

đầu phân tích đặc điểm kết cấu, ngữ nghĩa và chỉ ra những sáng tạo củaNguyễn Du trong việc sử dụng thành ngữ trong tác phẩm Tuy nhiên, khóaluận mới chỉ dừng lại ở mức độ khái lược các kiểu cấu tạo, các giá trị nộidung và sự sáng tạo trong việc sử dụng thành ngữ của tác giả Nguyễn Du theo

mô hình lý thuyết về thành ngữ

Bên cạnh những công trình chuyên biệt, thành ngữ trong Truyện Kiềucủa Nguyễn Du còn thu hút được sự quan tâm chú ý của rất nhiều tác giả và trở

Trang 8

thành đối tượng của các bài viết trên các tạp chí Có thể kể ra một số bài viết

như: “Vai trò của ngôn ngữ nhân vật trong Truyện Kiều” của tác giả Lê Thị Hông Minh (2002), “ Thành ngữ trong ngôn ngữ độc thoại của nhân vật

Truyện Kiều” của tác giả Đinh Thị Khang ( 2005), “ Truyện Kiều và biệt tài

sử dụng thành ngữ của Nguyễn Du” của tác giả Vương Trọng (2009),

“Thành ngữ, tục ngữ trong Truyện Kiều” của tác giả Thanh Công (2011)…

Như vậy, trên những hướng tiếp cận khác nhau khi tìm hiểu về thànhngữ nói chung và thành ngữ trong Truyện Kiều nói riêng, các nhà nghiên cứu

đã đưa ra nhiều nhận định, ý kiến về thành ngữ tiếng Việt và đã có những

công trình nghiên cứu chuyên biệt về thành ngữ trong Truyện Kiều Tuy

nhiên, chưa có công trình nghiên cứu về thành ngữ trong Truyện Kiều xét từ líthuyết ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học

Kế thừa kinh nghiệm, thành công của những người đi trước, kết hợp

với việc vận dụng lí thuyết ba bình diện, chúng tôi đã chọn vấn đề “Thành

ngữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét từ lí thuyết ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học” làm đối tượng nghiên cứu của đề tài.

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung tìm hiểu nghiên cứu các thành ngữ trong Truyện

Kiều của Nguyễn Du, bao gồm cả thành ngữ nguyên mẫu, các thành ngữ được

vận dụng sáng từ thành ngữ nguyên mẫu và các thành ngữ do Nguyễn Dusáng tạo nên

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Khi tiến hành thống kê, khảo sát các thành ngữ trong tác phẩm TruyệnKiều của Nguyễn Du, luận văn tập trung tìm hiểu thành ngữ trong TruyệnKiều dựa trên cơ sở lý thuyết ba bình diện: Kết học – Nghĩa học – Dụng học

Văn bản tác phẩm được lựa chọn để khảo sát là Truyện Kiều – Nguyễn Du

(Nhà xuất bản Văn học, 2009).

Trang 9

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hướng tới mục đích vận dụng lýthuyết ba bình diện làm cơ sở tìm hiểu đặc điểm cấu tạo, giá trị ngữ nghĩa vàgiá trị ngữ dụng của các thành ngữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trình bày những vấn đề cơ bản về lí thuyết ba bình diện và thành ngữ

- Thống kê những thành ngữ được sử dụng trong Truyện Kiều.

- Phân loại thành ngữ đã thống kê, chú ý tới những thành ngữ đượcNguyễn Du vận dụng một cách sáng tạo so với thành ngữ sẵn có

- Miêu tả đặc điểm kết học của các thành ngữ trong Truyện Kiều.

- Chỉ ra giá trị ngữ nghĩa và ngữ dụng của các thành ngữ trong

Truyện Kiều.

5 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi áp dụng một số phương pháp, thủpháp nghiên cứu thông dụng sau :

5.1 Phương pháp thống kê, phân loại.

Chúng tôi vận dụng phương pháp này để thống kê các thành ngữ trongTruyện Kiều của Nguyễn Du rồi tiến hành phân loại chúng Đây là công việcđầu tiên khi chúng tôi triển khai đề tài Mọi nhận định, đánh giá mà luận vănđưa ra chủ yếu dựa vào tình hình khảo sát, thống kê, lựa chọn và ghi lại cácthành ngữ trong tác phẩm Phương pháp này giúp người viết tìm, chỉ ra mộtcách tương đối chính xác, đầy đủ và toàn diện những thành ngữ được sử dụngtrong tác phẩm

5.2 Phương pháp phân tích ngữ nghĩa, miêu tả dựa vào ngữ cảnh

Chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích ngữ nghĩa và miêu tả dựavào ngữ cảnh để phân tích và chỉ ra các giá trị của thành ngữ trong TruyệnKiều trên các bình diện nghĩa học và dụng học

Trang 10

5.3 Phương pháp so sánh.

Phương pháp so sánh được sử dụng để khảo sát các đặc điểm cấu tạocủa thành ngữ trong Truyện Kiều so với đặc điểm cấu tạo của thành ngữtruyền thống Đặc biệt, luận văn chú ý đến những thành ngữ sáng tạo và đượcvận dụng sáng tạo trong tác phẩm

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí thuyết

Chương 2: Thành ngữ Truyện Kiều xét từ bình diện kết học

Chương 3: Thành ngữ Truyện Kiều xét từ bình diện nghĩa học và dụng học

Luận văn của chúng tôi còn bao gồm phần phụ lục và tài liệu tham khảo

7 Ý nghĩa đề tài

7.1 Về mặt lý luận

Với việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi không có tham vọng đưa ra mộtkiến thức lý luận mới, mà chỉ góp phần làm sáng tỏ công dụng của lý thuyết babình diện trong quá trình nghiên cứu đối tượng thành ngữ trong Truyện Kiều

7.2 Về mặt thực tiễn

Khi nghiên cứu đề tài này, luận văn hi vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ giá trị

ý nghĩa của các thành ngữ trong Truyện Kiều nhìn từ lý thuyết ba bình diện, qua

đó làm phong phú thêm kho tư liệu quý giá về áng thiên cổ tình văn của văn họcdân tộc

Đồng thời, chúng tôi mong muốn gợi một hướng tiếp cận cho giáo viên,học sinh khi tìm hiểu tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du nói riêng và các tácphẩm của các tác giả khác trong chương trình phổ thông nói chung: vận dụng cáckiến thức ngôn ngữ học để phục vụ cho việc đọc hiểu tác phẩm văn học theophương pháp tích hợp

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT

Trong chương thứ nhất, luận văn sẽ trình bày những cơ sở lí thuyếtđược coi như những tiền đề lí luận phục vụ cho việc tìm hiểu các thành ngữtrong Truyện Kiều trên ba bình diện: Kết học – Nghĩa học và Dụng học.Chúng tôi chỉ trình bày những vấn đề cốt lõi, cơ bản nhất của lí thuyết ba bìnhdiện và lí thuyết về thành ngữ để làm cơ sở lí luận cho đề tài Các dẫn chứngminh họa sử dụng trong chương này được chúng tôi lựa chọn từ chính ngữ

liệu trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du và một số ngữ liệu của các

tác giả khác nhằm làm sáng tỏ hơn cho các vấn đề lý thuyết được đề cập

1.1 Lí thuyết ba bình diện

Trước đây, câu chỉ được nghiên cứu ở mặt cấu trúc ngữ pháp nhưnghiện nay nó được tìm hiểu ở cả ba bình diện: ngữ pháp – ngữ nghĩa và ngữdụng Xuất phát từ sự nghiên cứu về tín hiệu, người ta thấy rằng mỗi tín hiệucần được xem xét trên cả ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học Màngôn ngữ cũng là một hệ thống tín hiệu và câu là sản phẩm được tạo ra bởi sựkết hợp các tín hiệu ngôn ngữ với nhau theo những quy tắc nhất định nên nócũng cần được nghiên cứu trên ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học

1.1.1 Bình diện kết học

Kết học là phương diện liên kết tín hiệu với tín hiệu trong một thông điệp.Tuy nhiên, trong một hệ thống tín hiệu, không phải các tín hiệu liên kết với nhautheo bất kỳ quy tắc nào cũng cho ta một thông điệp có thể lĩnh hội được

Trong cuốn “Dụng học”, G Yule đã đưa ra nhận định rằng cú pháp là

sự nghiên cứu các mối quan hệ giữa các hình thái ngôn ngữ, xem xét chúngđược sắp xếp như thế nào trong chuỗi lời nói và những chuỗi nào được coi là

tổ chức tốt nhất

Theo tác giả Nguyễn Thị Lương trong cuốn “Câu Tiếng Việt”, bình

diện ngữ pháp câu nghiên cứu các quy tắc, cách thức liên kết các từ thành

Trang 12

cụm từ (gọi là cú pháp cụm từ) và thành câu, các kiểu câu (gọi là cú phápcâu).

Cú pháp cụm từ nghiên cứu cấu tạo ngữ pháp của các loại cụm từ, đặcbiệt là cụm từ chính phụ

Cú pháp câu nghiên cứu đặc điểm, chức năng của các thành phần câu

và cấu tạo ngữ pháp của các kiểu câu theo kết cấu C – V, các kiểu câu phântheo mục đích nói

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thành ngữ trong Truyện Kiều,nghĩa là chúng tôi tìm hiểu cấu tạo ngữ pháp của các loại cụm từ, đặc biệt làcác cụm từ chính phụ

1.1.2 Bình diện nghĩa học

Nghĩa của từ vốn là một thực thể thuộc bình diện tinh thần và do nhiềuyếu tố tạo nên, tùy thuộc vào chức năng tín hiệu học mà chúng đảm nhiệmtrong thực tiễn giao tiếp Nghĩa của từ có nhiều thành phần: thành phần nghĩabiểu vật, thành phần nghĩa biểu niệm, thành phần nghĩa biểu thái, thành phầnnghĩa ngữ pháp

Nghĩa học là phương diện của quan hệ giữa tín hiệu và hiện thực đượcnói đến trong thông điệp, hay đúng hơn là giữa tín hiệu với vật được quychiếu trong thông điệp Đây là lĩnh vực của chức năng miêu tả, của thông tinmiêu tả, thông tin sự vật

Bình diện nghĩa học nghiên cứu phần nghĩa tường minh: nghĩa miêu tả

và nghĩa tình thái

Nghĩa miêu tả hay còn gọi là nghĩa sự vật là phần nghĩa phản ánh sựviệc, hiện tượng, sự vật, hoạt động trạng thái, tính chất quan hệ… ngoài thực

tế khách quan được đưa vào câu Nội dung phản ánh hiện thực đó được gọi là

sự việc (hay sự thể) Mỗi câu thường ứng với một sự việc

Nghĩa tình thái được thể hiện qua mục đích của người nói khi phátngôn câu nói, thái độ, quan hệ của người nói đối với người nghe và sự đánhgiá của người nói đối với hiện thực được nói tới

Trang 13

Nghĩa sự vật và nghĩa tình thái là các thành phần nghĩa được biểu thịqua câu chữ, nó thuộc phần nghĩa tường minh của câu Ngoài nghĩa tườngminh, câu còn có thể có phần nghĩa không tường minh Nghĩa này khôngđược thể hiện qua câu chữ mà liên quan đến tình huống sử dụng nên phải dựavào ngữ cảnh mới nhận diện được Phần nghĩa đó thuộc bình diện ngữ dụngcủa câu.

Khi nghiên cứu bình diện nghĩa học của thành ngữ trong Truyện Kiều,chúng tôi quan tâm tới phần nghĩa miêu tả của các thành ngữ Trong quá trìnhphân tích nghĩa học chúng tôi cố gắng thiết lập các mối quan hệ giữa nhữngmiêu tả bằng từ ngữ và các sự việc có trong thế giới để xem xét

1.1.3 Bình diện dụng học

Thuật ngữ “dụng học” được Ch W Morris đưa ra vào cuối những năm

30 của thế kỷ XX để gọi tên của một kí hiệu học Theo ông, “dụng học

nghiên cứu quan hệ giữa tín hiệu với người lý giải chúng”.

Với tư cách là một lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ học, dụng học được

hình thành sau kết học và nghĩa học Theo “Từ điển bách khoa ngôn ngữ và

ngôn ngữ học”, dụng học được hiểu là bộ môn nghiên cứu việc sử dụng ngôn

ngữ trong mối quan hệ với ngữ cảnh xã hội, đặc biệt là những ý nghĩa củaphát ngôn trong các tình huống

A.G.Smith nhận xét: “Kết học nghiên cứu mối quan hệ giữa các tín

hiệu, nghĩa học nghiên cứu quan hệ giữa các tín hiệu với sự vật và dụng học

nghiên cứu quan hệ giữa tín hiệu và người dùng”( Dẫn theo “ Đại cương

ngôn ngữ học”, tập 2, NXBGD 2011).

Bình diện dụng học nghiên cứu mối quan hệ giữa câu với người sử dụng,giữa câu với việc sử dụng câu trong một tình huống giao tiếp cụ thể nhằm pháthiện ra những ý nghĩa cảu câu – phát ngôn trong tình huống cụ thể đó

Nghĩa ngữ dụng của câu mơ hồ, phức tạp, khó xác định hơn so với nghĩa sựvật Bởi loại ý nghĩa này chỉ xuất hiện trong hoàn cảnh giao tiếp, hoàn cảnh sửdụng câu Mà hoàn cảnh giao tiếp ở đây không đơn thuần là địa điểm, thời gian cụ

Trang 14

thể của cuộc giao tiếp bởi ở đó còn có người sử dụng câu Họ không phải là nhữngcon người trừu tượng chung chung mà là những con người bằng xương bằng thịt.Ngoài sự hiểu biết chung, mỗi người lại có rất nhiều cái riêng: tuổi tác, nghềnghiệp, vị thế xã hội, vốn kinh nghiệm, khả năng nhận thức, thói quen ứng xử,điều kiện sống, trạng thái tâm lý tình cảm, dụng ý phát ngôn khi giao tiếp… Cácyếu tố, các quan hệ rất riêng và phức tạp đó của mỗi cá nhân đều có liên quan đếnsản phẩm mà họ tạo ra: câu – phát ngôn Bởi vậy, đối tượng nghiên cứu của dụnghọc rất rộng và phức tạp.

Với đối tượng nghiên cứu là thành ngữ trong Truyện Kiều, chúng tôinghiên cứu bình diện dụng học bằng cách xem xét nội dung của các thành ngữgắn với hoàn cảnh và nhân vật giao tiếp cụ thể Từ đó, có thể nhận ra những dụng

ý nghệ thuật của tác giả Nguyễn Du

Ba bình diện của câu có mối quan hệ khăng khít: hình thức của câu đượcdùng để biểu thị nội dung ý nghĩa và muốn hiểu đúng nghĩa của câu, cần đặt câutrong ngữ cảnh Ba bình diện ấy tồn tại vì nhau, dựa vào nhau, không thể hiểuthấu đáo một bình diện nếu tách nó khỏi hai bình diện kia

Do đó, khi nghiên cứu thành ngữ trong Truyện Kiều cần xét từ lý thuyết babình diện để có thể hiểu được trọn vẹn giá trị ý nghĩa của các thành ngữ đó

1.2 Lí thuyết về thành ngữ

1.2.1 Quan niệm về thành ngữ

Trong kho từ vựng của một ngôn ngữ, thành ngữ chiếm một vị trí quantrọng với số lượng lớn, hết sức đa dạng và phong phú Cùng với sự ra đời vàquá trình phát triển của tiếng nói dân tộc, thành ngữ được hình thành và trảiqua các thời kỳ khác nhau, được nhân dân sử dụng rộng rãi như một công cụgiao tiếp chung Tuy nhiên, không phải ngay từ đầu, thành ngữ đã có một kháiniệm rõ ràng với những đặc điểm riêng biệt và cụ thể Xung quanh vấn đềkhái niệm thành ngữ, đặc điểm của thành ngữ cũng như cách phân loại thànhngữ còn nhiều ý kiến và quan niệm khác nhau

Trang 15

Trước 1945, các nhà Việt ngữ học có đưa ra cách hiểu về thành ngữnhưng hầu hết các tác giả này chưa có một cái nhìn chính xác, rõ ràng vàđầy đủ Quan niệm của Phạm Quang Sáu (1918), Nguyễn Văn Ngọc(1928), Nguyễn Văn Tố (1944) coi thành ngữ là những sáng tác Folklore.Thậm chí có một số tác giả đồng nhất thành ngữ với tục ngữ, trong đó tiêu

biểu là Nguyễn Văn Tố trong bài “Tục ngữ ta đối với Tàu và tục ngữ

Tây” cho rằng: “ Tục ngữ là câu thành ngữ nói đã quen trong thế tục,

nhiều câu nghĩa lý thâm thúy, ý tứ cao xa, câu nào từ đời xưa truyền lại gọi là ngạn ngữ, tục ngữ hay tục ngạn thì nghĩa cũng gần giống nhau…” [

Dẫn theo Chu Xuân Diên] Dương Quảng Hàm trong sách “Việt Nam văn

học sử yếu” đã quan niệm: “ Tục ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta

tiện dùng để diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè” [

Dẫn theo Chu Xuân Diên 7, 107]

Sau năm 1945, thành ngữ tiếp tục được đề cập và được tìm hiểu mộtcách toàn diện, tổng quát, quan niệm về thành ngữ trở nên rõ ràng và đầy đủ

hơn Nguyễn Văn Mệnh trong bài “Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ”

đã chỉ ra những nét tiêu biểu để nhận biết thành ngữ như “ Về nội dung…

thành ngữ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng, một trạng thái, một nét tính cách, một thái độ… Về hình thức ngữ pháp nói chung thành ngữ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh” [ 28,72] Sau đó, tác giả đã bổ

sung cho quan niệm của mình về thành ngữ và đưa ra một khái niệm rõ ràng

hơn: “Thành ngữ là một loại đơn vị có sẵn, chúng là những ngôn ngữ có kết

cấu chặt chẽ và ổn định, mang một ý nghĩa nhất định, có chức năng định danh và được tái hiện trong giao tế” [28,12] Trương Đông San quan niệm về

thành ngữ: “ Thành ngữ là những cụm từ cố định, có ý nghĩa hình tượng tổng

quát, không suy ra trực tiếp từ ý nghĩa của các đơn vị từ tạo ra nó Thành ngữ gồm những đơn vị mang ý nghĩa hình tượng chung trong đó tất cả các vị

từ đều mang nghĩa đen” [ 33,2] Nguyễn Văn Tu lại đưa ra quan niệm của

mình về thành ngữ cụ thể và chi tiết hơn: “ Thành ngữ là những cụm từ cố

Trang 16

định mà các từ trong đó đã mất tính độc lập cao về ý nghĩa kết hợp thành một khối vững chắc hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không do nghĩa của từng thành

tố ( từ ) tạo ra Những thành ngữ này cũng có tính hình tượng cũng có thể không có Nghĩa của chúng có thể khác nghĩa của các từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học” [36,7] Nguyễn Thiện Giáp lại chú ý đến

thành ngữ từ góc độ tính gợi hình ảnh của thành ngữ và nhấn mạnh đến đặc

điểm này Tác giả cho rằng: “ Thành ngữ là một cụm từ cố định, vừa có tính

hoàn chỉnh về nghĩa vừa có giá trị gợi cảm Tính hình tượng là đặc trưng cơ bản của thành ngữ Thành ngữ biểu thị khái niệm nào đó dựa trên hình ảnh những biểu tượng cụ thể Tính hình tượng của thành ngữ được xây dựng trên

cơ sở của hiện tượng ẩn dụ và so sánh” [11,8] Nguyễn Đức Dân đặc biệt chú

ý đến tính dân tộc của thành ngữ Ông quan niệm: “ Thành ngữ là đơn vị

ngôn ngữ ổn định về hình thức, phản ánh lối nói, lối suy nghĩ đặc thù từng dân tộc Thành ngữ phản ánh các khái niệm và hiện tượng” [6,51 ] Đỗ Hữu

Châu khi nghiên cứu về thành ngữ lại nhấn mạnh đến tính chất thành ngữ

tương đương với từ, tác giả Đỗ Hữu Châu nhận xét: “ Các thành ngữ ( có

tính thành ngữ cao hay thấp) có thể được phân thành những thành ngữ tương đương với từ sẵn có ( hiển nhiên hay không hiển nhiên) và những thành ngữ không tương đương với từ chủ yếu là các thành ngữ đồng nghĩa sắc thái hóa,

có tính chất miêu tả” [5,71 ] Ngoài ra, còn có những quan niệm về thành ngữ

của các tác giả khác như Hoàng Văn Hành, Cù Đình Tú, Đái Xuân Ninh…

Nhìn chung, quan niệm về thành ngữ mặc dù còn không ít những bấtđồng nhưng qua việc tìm hiểu một số quan niệm về thành ngữ của các nhàViệt ngữ học, có thể nhận thấy các tác giả đều gặp nhau ở một điểm chungthống nhất đó là coi thành ngữ là một đơn vị có sẵn, có cấu tạo là một cụm từhoặc tổ hợp từ Sự khác biệt chủ yếu thể hiện ở chỗ nhấn mạnh của từng quanđiểm: có thể về mặt cấu trúc hình thức, có thể về đặc tính ngữ nghĩa hoặcchức năng của thành ngữ

Trang 17

Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi không nhằm mục đíchxây dựng một khái niệm mới về thành ngữ mà chỉ nhằm thể hiện một hướngnghiên cứu thành ngữ tiếng Việt trong một tác phẩm văn học cụ thể xét trêncác bình diện kết học, nghĩa học và dụng học Do đó, chúng tôi lựa chọn cáchhiểu phổ biến chung rút ra từ quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trước để

làm điểm tựa cho luận văn, đó là: “ Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định,

bền vững về hình thái, cấu trúc hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa Thành ngữ là đơn vị có sẵn và được sử dụng tương đương với từ trong giao tiếp ngôn ngữ”.

1.2.2 Phân biệt thành ngữ với các đơn vị khác

Thành ngữ xuất hiện từ khá lâu và đã trở thành cách nói quen thuộc,phổ biến trong lời ăn tiếng nói hàng ngày nhưng không phải ngay từ khi mới

ra đời, người ta đã có một khái niệm rõ ràng, hoàn chỉnh và đầy đủ về thànhngữ, nhất là ranh giới giữa thành ngữ với một số khái niệm gần gũi như từghép, cụm từ tự do và đặc biệt là tục ngữ Trong giới hạn của luận văn, chúngtôi không có điều kiện để đi sâu nghiên cứu tất cả những quan niệm phân biệtthành ngữ với từ ghép, cụm từ tự do và tục ngữ mà chỉ điểm qua một số ýkiến tiêu biểu làm cơ sở tiến hành luận văn của mình

1.2.2.1 Thành ngữ với từ ghép

Khi nghiên cứu thành ngữ và từ ghép, hầu hết các nhà Việt ngữ học đềuthống nhất thành ngữ và từ ghép đều là những đơn vị ngôn ngữ cố định, cósẵn, có chức năng định danh, có vai trò hành động như một từ đơn và có khảnăng thay thế cho từ hoặc có thể kết hợp với từ để tạo thành câu

Ví dụ: Từ “yên lặng” có thể thay bằng thành ngữ “lặng ngắt như tờ”trong “Chung quanh lặng ngắt như tờ/ Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?”

Từ “gầy guộc” có thể thay bằng thành ngữ “gầy như mai” trong câu “Nét buồn như cúc điệu gầy như mai”

Từ những ví dụ trên, có thể nhận thấy nếu từ ghép chỉ nêu lên kháiniệm chung về sự vật, hoạt động, tính chất hoặc trạng thái thì các thành ngữ

Trang 18

tương ứng lại hàm chứa nội dung rộng lớn và sâu sắc hơn Thành ngữ ngoàichức năng nêu lên khái niệm về sự vật, hoạt động, tính chất hoặc trạng tháicòn có khả năng diễn tả một cách cụ thể những sự vật, hoạt động, trạng thái

ấy như thế nào, có tính chất hoặc trạng thái ở mức độ ra sao

Ví dụ:

Tuy nhiên, trong thực tế có những trường hợp các thành thành ngữ cócấu tạo hình thức giống như các từ ghép: mắt lươn, bụng cóc,…

Giữa thành ngữ và từ ghép vẫn có sự khác nhau về cấu trúc và ngữ nghĩa

Về ngữ nghĩa, cả thành ngữ và từ ghép đều có chức năng định danhnhưng chức năng định danh của thành ngữ và từ ghép có sự khác biệt Chứcnăng định danh của từ ghép là chức năng đơn giản còn chức năng định danhcủa thành ngữ là chức năng phức hợp Khi vận dụng trong lời nói, các thànhngữ không cần đến sự trợ lực của những từ chỉ tính chất hoặc chỉ mức độ

Ví dụ: Từ ghép “yên lặng” cần sự trợ giúp của các từ chỉ tính chất và

Vì thế, người ta không thể nói: Rất lặng ngắt như tờ (-)hay Lặng

ngắt như tờ quá (-)

Về cấu trúc, theo tác giả Nguyễn Văn Mệnh: “ Mỗi thành ngữ chứa

đựng nhiều mối quan hệ ngữ pháp (ít nhất là 2) và đây là một nét quan trọng

để phân biệt thành ngữ với từ ghép Những mối quan hệ đó trong thành ngữ

Trang 19

thuộc vào những tầng bậc khác nhau Còn trong từ ghép thì mối quan hệ ngữ pháp đơn giản và ít tầng bậc hơn”.

1.2.2.2 Thành ngữ với cụm từ tự do

Để phân biệt sự khác nhau giữa thành ngữ với cụm từ tự do, có thể căn

cứ vào hình thức và ngữ nghĩa của chúng

Thành ngữ hay còn được gọi với các tên gọi khác như ngữ cố định hoặccụm từ cố định có một số nét giống với cụm từ tự do như: cả hai đều là cụm

từ, đều gồm từ hai từ trở lên nhưng giữa thành ngữ và cụm từ tự do cũng cónhững nét khác biệt như: thành ngữ có tính hoàn chỉnh về nghĩa, tương đối ổnđịnh về trật tự từ còn nghĩa của cụm từ tự do là sự kết hợp lâm thời nghĩa củacác từ được sắp xếp theo mục đích nói nhất định

Ví dụ:

Thành ngữ “Gương vỡ lại lành” (Bây giờ gương vỡ lại lành/ Khuôn

thiêng lừa lọc đã đành có nơi) có nghĩa là “tình duyên đã tan vỡ lại chắp nối

được” [23,174] Trật tự của thành ngữ này là cố định Nội dung của thành ngữtrên có thể diễn đạt bằng một cụm từ tự do: nối lại tình xưa, nối lại duyên xưa,

…Mặc dù cụm từ tự do và thành ngữ đều diễn đạt một nội dung nhưng nếudùng ngữ cố định thì phải dùng đúng như nó đã có, nghĩa là ổn định tương đối

về trật tự từ còn cụm từ tự do thì tùy ngữ cảnh mà có thể thêm hoặc bớt từ

1.2.2.3 Thành ngữ với tục ngữ

Có thể nói ranh giới, sự khác biệt giữa thành ngữ với tục ngữ là vấn đềphức tạp và khó khăn hơn cả khi phân biệt thành ngữ với các đơn vị gần gũivới nó Những năm cuối thế kỷ XX, các nhà Việt ngữ học đã tranh luận khánhiều về sự khác biệt giữa thành ngữ và tục ngữ Một số công trình nghiêncứu và sưu tập vẫn có những tác giả quan niệm đồng nhất thành ngữ với tụcngữ như quan niệm của Nguyễn Văn Tố đã được trình bày ở phần quan niệm

về thành ngữ Tác giả Chu Xuân Diên đã chỉ ra nguyên nhân của sự nhầm lẫnnày là do đã coi thành ngữ và tục ngữ đều là những hiện tượng ngôn ngữ Ý

kiến của tác giả Dương Quảng Hàm trong “ Việt Nam văn học sử yếu” đã

Trang 20

trích dẫn ở phần “quan niệm về thành ngữ” có thể coi là ý kiến đầu tiên về sựphân biệt thành ngữ với tục ngữ Tác giả Chu Xuân Diên cho rằng trong quan

niệm của Dương Quảng Hàm “đã thấy phần nào bộc lộ xu hướng coi tục ngữ

là một hiện tượng ý thức xã hội và thành ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ”.

Nhưng trái lại, Vũ Ngọc Phan đánh giá quan niệm như vậy là chưa rõ, chưađịnh ra được ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ Vũ Ngọc Phan trong cuốn

“Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” đã phân biệt rõ ràng thành ngữ và tục

ngữ như sau: “ Tục ngữ là một câu tự nó đã diễn trọn một ý, một nhận xét,

một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán Còn thành ngữ là một phần câu có sẵn, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng nhưng tự riêng nó không diễn đạt một ý trọn vẹn”

[30,108]

Tác giả Nguyễn Văn Mệnh đưa ra ý kiến về thành ngữ và tục ngữ: “ có

thể nói nội dung của thành ngữ mang tính chất hiện tượng, còn nội dung của tục ngữ nói chung là mang tính quy luật Từ sự khác nhau cơ bản về hình thức ngữ pháp và năng lực hoạt động trong chuỗi lời nói… Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là câu hoàn chỉnh Tục ngữ thì khác hẳn, mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu” [27,13] Như vậy, có thể

thấy ý kiến của Nguyễn Văn Mệnh đã chỉ ra cụ thể hơn về sự khác nhau giữathành ngữ và tục ngữ dựa trên hai tiêu chí hình thức và nội dung

Cũng đi vào sự phân biệt những điểm giống nhau và khác nhau giữathành ngữ và tục ngữ, tác giả Cù Đình Tú đã đưa ra ý kiến của mình không

đồng nhất với ý kiến của tác giả Nguyễn Văn Mệnh Cù Đình Tú cho rằng “

Sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là sự khác nhau về chức năng Thành ngữ là những đơn vị có sẵn mang tính định danh… Về mặt này

mà nói, thành ngữ là những đơn vị tương đương như từ… Tục ngữ cũng như các sáng tác khác của dân gian như ca dao, truyện cổ tích đều là các thông báo… Nó thông báo một nhận định, một kết luận về một phương diện nào đó

Trang 21

của thế giới khách quan Do vậy mỗi tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng…” [37,9].

Từ những ý kiến của các tác giả nêu trên, tác giả Chu Xuân Diên đã đưa

ra quan niệm của mình: “ Cần phải xét thành ngữ và tục ngữ không chỉ như hai

hiện tượng ngôn ngữ khác nhau mà chủ yếu là một hiện tượng ngôn ngữ và một hiện tượng có ý thức xã hội Cho nên tiêu chí gốc mà chúng tôi thấy cần phải dựa vào để tìm ra sự phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ là tiêu chí về nhận thức luận” Từ đó, tác giả đưa ra kết luận: “ Sự khác nhau về chức năng của hai hình thức ngôn ngữ chứa đựng hai hình thức tư duy đó” [7,110].

Thông qua việc trình bày các ý kiến, các quan niệm phân biệt thànhngữ và tục ngữ của các nhà Việt ngữ học, có thể rút ra một số tiêu chí cơ bản

để phân biệt thành ngữ và tục ngữ như sau:

Về hình thức, mỗi thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câuhoàn chỉnh còn mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu

Về nội dung, nội dung của thành ngữ mang tính chất hình tượng, cònnội dung của tục ngữ mang tính chất quy luật

Về chức năng, thành ngữ và tục ngữ không phải chỉ là hai hiện tượngngôn ngữ khác nhau mà có thể xem như là một hiện tượng ngôn ngữ và mộthiện tượng ý thức xã hội cho nên sự khác nhau của hai hình thức ngôn ngữchứa đựng hai hình thức tư duy

1.2.3 Đặc điểm cấu tạo của thành ngữ

1.2.3.1 Tính ổn định

Sự ổn định về hình thức của thành ngữ thể hiện ở cấu tạo từ vựng, trật

tự các thành tố trong thành ngữ Tính ổn định về hình thức là một tiêu chí cơbản để xác định thành ngữ Tuy nhiên, trong thực tế sử dụng, thành ngữ cũng

có thể có những biến đổi nhất định nhằm đạt được giá trị biểu cảm

Ví dụ: “Ong bướm qua lại” có thể được biến đổi để gia tăng mức độthành “Ong qua bướm lại” (Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa)

Trang 22

1.2.3.2 Các kiểu cấu tạo của thành ngữ

Để hiểu được thành ngữ cũng như giá trị sử dụng của nó trong quá trìnhnghiên cứu về thành ngữ, các nhà Việt ngữ học không chỉ đưa ra một kháiniệm hoàn chỉnh về thành ngữ, phân biệt nó với các đơn vị gần gũi như tụcngữ, từ ghép và cụm từ tự do mà còn chú ý đến việc phân loại thành ngữ tiếngViệt Việc phân loại thành ngữ tiếng Việt vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến khácnhau song khi phân loại thành ngữ tiếng Việt các nhà Việt ngữ học thườngdựa vào các tiêu chí:

1.2.3.2.1 Tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn “ Từ vựng ngữ nghĩa tiếng

Việt” đặt thành ngữ trong sự tương ứng về mặt chức năng và chỉ thay thế cho

nhau đã cho rằng: các thành ngữ (có tính thành ngữ cao hay thấp) có thể đượcphân thành những thành ngữ tương đương với từ sẵn có ( hiển nhiên haykhông hiển nhiên) và những thành ngữ không tương đương với từ [5,86]

1.2.3.2.2 Đặt thành ngữ trong tương quan với cách thức cấu tạo từghép, tác giả Nguyễn Thiện Giáp phân chia thành ngữ tiếng Việt thành hailoại:

Trang 23

1.2.3.2.4 Tác giả Nguyễn Công Đức coi thành ngữ tiếng Việt là một chỉnhthể cấu trúc hình thái ngữ nghĩa, ông chia thành ngữ tiếng Việt thành ba loại lớn:

- Thành ngữ đối

- Thành ngữ so sánh

- Thành ngữ thông thường ( không đối, không so sánh)

Như vậy, các thành ngữ được phân loại khác nhau tùy vào mục đíchnghiên cứu của từng tác giả, nếu đi sâu vào từng kiểu nhỏ thì thành ngữ cònđược phân loại đa dạng, phong phú và phức tạp hơn

1.2.3.2.5 Trong luận văn này, chúng tôi chọn cách phân loại thành ngữ

tiếng Việt theo quan niệm của nhóm tác giả trong cuốn “Kể chuyện thành

ngữ, tục ngữ” do Hoàng Văn Hành chủ biên và nhóm biên soạn Nguyễn Như

Ý, Phan Xuân Thành, Mai Xuân Huy, Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Khắc

Hùng Các tác giả này cho rằng: “ Nếu tạm gác lại tính logic, tính hệ thống

chặt chẽ trong việc phân loại thành ngữ mà chú ý nhiều đến tính chất tiện lợi cho việc mô tả, chúng ta có thể chia toàn bộ vốn thành ngữ tiếng Việt ra ba loại lớn: thành ngữ đối, thành ngữ so sánh và thành ngữ thường” [16,32].

Thành ngữ đối và thành ngữ so sánh còn được nhóm tác giả “Kể

chuyện thành ngữ, tục ngữ” lí giải và minh họa như sau:

- Thành ngữ đối: thành ngữ đối có đặc điểm nổi bật đó là tính chất đốiứng giữa các bộ phận, yếu tố tạo nên thành ngữ (đối lời) và nhờ quan hệ đốiứng này mà ta xác định được quan hệ đối ứng về ý của thành ngữ để từ đó suy

ra ý nghĩa của toàn thành ngữ Các tác giả đã đưa ra hai kiểu cấu trúc tổngquát của quan hệ đối ứng này:

Trang 24

tám yếu tố như: Vào lỗ hà ra lỗ hổng; Lành làm gáo, vỡ làm muôi (môi); Trờikhông chịu đất, đất phải chịu trời; Vào trong mắc đó, ra ngoài mắc đăng…

- Thành ngữ so sánh: Các tác giả của “Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ”

khi miêu tả về cấu trúc thành ngữ so sánh cũng thống nhất với mẫu cấu trúctổng quát của phép so sánh (theo Trương Đông San) là A như B và cấu trúccủa thành ngữ so sánh theo các tác giả đa dạng hơn cấu trúc của cụm từ tự do

trúc tổng quát của thành ngữ so sánh là t như B Các tác giả này đã lí giải

rằng trong bất kì trường hợp nào cấu trúc logic của phép so sánh cũng là At1như Bt2 Trong đó, {t1} là thuộc tính của A và {t2} là thuộc tính của B mà trongcấu trúc ngôn ngữ của phép so sánh t2 không bao giờ xuất hiện ở dạng hiểnngôn Mặt khác, thực chất mô hình (t) như B là hình tượng chuyển tiếp giữakiểu (A như B) với kiểu (như B)

Dấu {…} là nhóm biên soạn sử dụng các mô hình tổng quát của thànhngữ so sánh biểu thị ba khả năng:

- Có t

- Không có t

- Có thể có t mà cũng có thể không có t

Trang 25

Cách phân loại này là cơ sở để luận văn tiến hành khảo sát và phân tíchđặc điểm cấu tạo của thành ngữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.

1.2.4 Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ

Mặc dù được xem là đơn vị tương đương với từ nhưng thành ngữ cónhững giá trị về mặt ngữ nghĩa khác với từ Thành ngữ không chỉ nói được

đúng sự vật, hiện tượng mà còn “bộc lộ được thái độ tình cảm, nhu cầu miêu

tả, nhu cầu thẩm mĩ, nhu cầu bộc lộ tính cách của chính mình, quan hệ xã hội của mình, tính địa phương và tính dân tộc của mình” [5,79] Tìm hiểu giá trị

ngữ nghĩa của thành ngữ trong Truyện Kiều cũng dựa trên những đặc điểmngữ nghĩa chung của thành ngữ tiếng Việt mà các nhà nghiên cứu thành ngữ

đã nêu ra, đó là giá trị bóng bẩy về nghĩa, tính biểu trưng, tính dân tộc, tính cụthể và tính hình tượng, tính biểu cảm

1.2.4.1 Giá trị bóng bẩy về nghĩa

Bên cạnh nghĩa định danh dùng để gọi tên sự vật, sự việc, hiện tượngthì thành ngữ tiếng Việt còn có khả năng biểu lộ tình cảm, thái độ, miêu tảtình thế của con người Các nhà ngôn ngữ học cho rằng thành ngữ luôn tồn tạisong song nghĩa đen và nghĩa bóng Nghĩa đen của thành ngữ chính là cơ sở

để tạo nên nghĩa bóng

Ví dụ:

Thành ngữ “Mèo mả gà đồng” có nghĩa đen chỉ loài mèo sống ở mả,khu vực nghĩa địa, loài gà sống lang thang ở ngoài đồng Hai loại này trở nêntinh quái vì chúng phải thích nghi với môi trường sống vừa kiếm ăn vừa tựbảo vệ mình Thành ngữ này dùng để “chỉ hạng người sống vô lại, lang thang,

dễ làm bậy” [23,248] Chẳng hạn, nhân vật Hoạn Bà nhận xét về Thúy Kiều:

“Ra tuồng mèo mả gà đồng/ Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào”

Nghĩa bóng của thành ngữ được hình thành trên cơ sở nghĩa đen, đó lànghĩa trừu tượng thoát khỏi nghĩa của các yếu tố cộng lại Nói cách khác,nghĩa bóng của thành ngữ không đơn thuần là phép cộng gộp nghĩa của từngyếu tố thành phần Trong hoạt động ngôn ngữ, nghĩa đen của thành ngữ hầu

Trang 26

như ít được sử dụng nhưng nó giữ vai trò cơ sở để từ đó người ta có thể suy ranghĩa bóng của thành ngữ.

Ví dụ:

Thành ngữ “Hoa xưa ong cũ” không phải để nói tới bông hoa và conong mà xuất phát từ mối quan hệ tự nhiên khăng khít của hai loài động thựcvật này mà thành ngữ muốn chỉ hai người thân tình cũ gặp nhau [1,241]

Như vậy, thành ngữ có tính bóng bẩy về nghĩa Với đặc điểm này, thànhngữ có khả năng nảy sinh và phát triển thêm về mặt ngữ nghĩa, mức độ gợi tả

và gợi cảm của thành ngữ sẽ tăng lên rõ rệt tùy thuộc vào sự cảm nhận củamỗi cá nhân

của từng thành tố trong thành ngữ ấy GS Đỗ Hữu Châu trong “ Từ vựng ngữ

nghĩa tiếng Việt” nhận xét: “ Hầu hết tất cả các thành ngữ cố định dù có tính

thành ngữ cao hay thấp đều là những bức tranh nhỏ về những vật thực, việc thực, cụ thể và riêng lẻ được nâng lên để nói về cái phổ biến, khái quát trừu tượng để biểu trưng cho những đặc điểm, tính chất, hoạt động, tình thế… Biểu trưng được coi là một cơ chế tất yếu mà ngữ cố định và từ vựng phải sử dụng để ghi nhận nhằm diễn đạt những nội dung phức tạp hơn một khái niệm đơn”.[5,82]

Ví dụ: Thành ngữ “Trâm gãy gương tan” “chỉ người đàn bà

chết”[1,516].

Nhờ có tính biểu trưng mà thành ngữ có khả năng diễn tả đầy đủ nộidung, hơn nữa còn đạt được tính hàm súc, gây ấn tượng sâu sắc đối với ngườinghe, người đọc, tránh cách nói dài dòng, rườm rà

Trang 27

1.2.4.3 Tính dân tộc

Mỗi ngôn ngữ đều mang tính dân tộc, song tính dân tộc được thể hiện

rõ nét hơn cả ở các thành ngữ Tính dân tộc của thành ngữ được thể hiện trênhai phương diện là nội dung biểu thị và tài liệu để truyền tải nội dung ấy

Thành ngữ tiếng Việt mang tính dân tộc sâu sắc: “ Con mèo, con chuột,

con chó, con ong, con kiến, con người,… ngôi chùa, pho tượng, ông bụt,… con voi, con ngựa, con rồng,… cái khố, tấm áo, manh quần,… cảnh hai gái lấy một chồng, cảnh ông từ vào đền, sự bám dai của con đỉa,… tình trạng con rắn mất đầu con đỉa phải vôi … tất cả là những tài liệu mang đậm màu sắc của quê hương, xứ sở Việt Nam trong xã hội nông nghiệp xưa được quan sát một cách tài tình, liên hệ một cách độc đáo mà đúng đắn, tinh tế… Những tài liệu này của ngữ cố định Việt Nam khiến cho chúng không thể lẫn được với bất cứ ngữ cố định nào của các dân tộc khác” [5,83]

Ví dụ: Thành ngữ “con ong cái kiến” (Kẻo khi sấm sét bất kỳ/ Con ongcái kiến kêu gì được oan) chỉ thân phận hèn mọn, nhỏ bé của Thúy Kiều

1.2.4.4 Tính cụ thể và tính hình tượng

“Tính hình tượng của thành ngữ là kết quả tất yếu của tính biểu trưng Ngữ cố định tái hiện lại chính những hình ảnh về các sự vật, hiện tượng – tài liệu đó Nhờ tính hình tượng mà các ngữ cố định thường gây ra các ấn tượng mạnh mẽ, đột ngột, tác động của chúng đậm đà và sắc, càng “ngẫm” càng thú vị”[5,83].

Trang 28

Chẳng hạn, các thành ngữ cùng chỉ về tính chất lúng túng nhưng có sắcthái ngữ nghĩa khác nhau, do đó tùy từng trường hợp mà người sử dụng cần lựachọn thành ngữ phù hợp GS Đỗ Hữu Châu đã phân tích tính cụ thể của nhữngthành ngữ này như sau: “ Lúng túng như gà mắc tóc” nói đến tình trạng lúngtúng do sa vào nhiều sự việc dồn dập mà không tìm được cách giải quyết.

“Lúng túng như thợ vụng mất kim” là nói đến sự lúng túng không phải do gặpnhiều sự việc rắc rối mà là do chưa có kinh nghiệm, lại mất phương hướng

“Lúng túng như ếch vào xiếc” là nói đến sự lúng túng do bị giam hãm trongnhững tình thế cực kỳ khó khăn không thi thố được tài năng Còn “Lúng túngnhư chó ăn vụng bột” là nói đến sự lúng túng của những người phạm sai lầmmuốn che giấu lỗi lầm của mình song tang chứng vẫn “sờ sờ” ra đấy [5,85]

1.2.4.5 Tính biểu cảm

Tính biểu cảm của thành ngữ được thể hiện ở “thái độ, cảm xúc, sự

đánh giá, có thể nói lên hoặc lòng kính trọng, hoặc sự ái ngại, hoặc sự xót thương, hoặc sự không tán thành, long khinh bỉ, thái độ chê bai, sự phủ định… của chúng ta đối với người, vật hay việc được nói tới” [5,85] Tính

biểu cảm của thành ngữ không thể dùng cho bất cứ hạng người nào mà tùythuộc vào từng đối tượng cụ thể có sự biểu hiện khác nhau

Ví dụ: Thành ngữ biểu thị thái độ khinh bỉ, chê bai: buôn thịt bán

người; trốn chúa lộn chồng, mèo mả gà đồng…

Thành ngữ biểu thị thái độ ca ngợi, kính trọng: nghiêng nước nghiêng

thành, nhả ngọc phun châu, quốc sắc thiên hương, quốc sắc thiên tài…

Tất cả những đặc điểm về mặt ngữ nghĩa đã tạo nên giá trị của thànhngữ - hình thức ngắn gọn nhưng nội dung cô đọng, hàm súc

* Tiểu kết chương 1:

1 Quan niệm về thành ngữ được lựa chọn làm cơ sở lý luận cho luậnvăn là: thành ngữ thường là một tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái cấu

Trang 29

trúc, hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa, được sử dụng với chức năng tươngđương với từ Ý nghĩa của thành ngữ không phải là phép cộng đơn giản ýnghĩa của các thành tố mà là sự tổng hòa ý nghĩa của các thành tố và mang ýnghĩa biểu trưng nhất định.

2 Để khảo sát, miêu tả đặc điểm kết học của thành ngữ trong “Truyện

Kiều”, chúng tôi dựa trên hướng phân loại cấu tạo thành ngữ của nhóm tác

giả trong “Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ” làm cơ sở Cụ thể, các thành ngữ

được miêu tả về cấu tạo theo ba nhóm là: thành ngữ so sánh, thành ngữ đối vàthành ngữ thường

3 Những nghiên cứu về nghĩa học và dụng học của thành ngữ là cơ sở

quan trọng để tìm hiểu về thành ngữ trong Truyện Kiều từ góc độ nghĩa học

và dụng học

Trang 30

CHƯƠNG 2: THÀNH NGỮ TRUYỆN KIỀU

XÉT TỪ BÌNH DIỆN KẾT HỌC

Trong chương 2, luận văn tập trung khảo sát và tìm hiểu thành ngữ

Truyện Kiều trên bình diện kết học Chúng tôi dựa trên cơ sở lí thuyết về bình

diện kết học kết hợp với lí thuyết về đặc điểm cấu tạo của thành ngữ đã trìnhbày ở chương 1 để vận dụng phân tích đặc điểm cấu tạo và khả năng kết hợp

của thành ngữ trong Truyện Kiều Để đạt được mục đích trên, trong chương

2, luận văn thực hiện các nhiệm vụ:

- Thống kê, phân loại các thành ngữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

- Mô tả đặc điểm cấu tạo hình thức và khả năng kết hợp của các thànhngữ trong tác phẩm

- Nhận xét về đặc điểm kết học của các thành ngữ trong Truyện Kiều Thành ngữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du không chỉ bao gồm

những thành ngữ có nguồn gốc thuần Việt và những thành ngữ Hán Việt đượclấy từ vốn từ vựng tiếng Việt (thành ngữ nguyên mẫu) mà còn có các thànhngữ được tác giả vận dụng sáng tạo (biến đổi từ thành ngữ nguyên mẫu) đồngthời bao gồm cả những thành ngữ được Nguyễn Du sáng tạo nên

Trong quá trình khảo sát và thống kê các thành ngữ trong Truyện Kiều

của Nguyễn Du, chúng tôi nhận thấy có 446 thành ngữ được tác giả sử dụng,trong đó số thành ngữ nguyên mẫu là 237/446 thành ngữ (chiếm 53.1%), sốthành ngữ sáng tạo là 209/446 thành ngữ (chiếm 46.9%)

Tổng số thành ngữ Thành ngữ nguyên mẫu Thành ngữ sáng tạo

Nhìn vào bảng thống kê trên, có thể thấy số lượng thành ngữ được tácgiả Nguyễn Du sử dụng khá phong phú, trong đó so sánh tỉ lệ phần trăm giữathành ngữ nguyên mẫu được sử dụng với thành ngữ sáng tạo có thể kết luậnbên cạnh việc vận dụng phù hợp các thành ngữ nguyên mẫu trong kho tàngthành ngữ của dân tộc nhằm diễn đạt nội dung, tác giả Nguyễn Du còn có ý

Trang 31

thức sáng tạo và vận dụng linh hoạt các thành ngữ để vừa truyền tải trọn vẹnnội dung vừa góp phần làm phong phú thêm kho thành ngữ dân tộc.

Về mặt nguồn gốc, quá trình khảo sát và thống kê cho thấy số lượngthành ngữ Hán Việt xuất hiện không nhiều (14/446 thành ngữ), chứng tỏ tácgiả Nguyễn Du là người rất có ý thức trong việc sử dụng, tôn vinh sự giàu đẹpcủa ngôn ngữ tiếng Việt

Tổng số thành ngữ Thành ngữ thuần Việt Thành ngữ Hán Việt

Từ những số liệu thống kê và phân loại khái quát nêu trên, chúng tôi

tiến hành tìm hiểu bình diện kết học của thành ngữ trong Truyện Kiều dựa

trên cơ sở phân tích đặc điểm cấu tạo của các thành ngữ được sử dụng

2.1 Đặc điểm cấu tạo của thành ngữ nguyên mẫu trong Truyện Kiều

2.1.1 Thành ngữ đối

2.1.1.1 Số lượng

Quá trình khảo sát và thống kê cho thấy, trong tác phẩm Truyện Kiều

tác giả Nguyễn Du đã sử dụng 237/446 thành ngữ nguyên mẫu, trong đó có187/237 thành ngữ đối (chiếm 78.9%) Về mặt nguồn gốc, có thể thấy thànhngữ đối bao gồm cả thành ngữ thuần Việt và thành ngữ Hán Việt

2.1.1.2 Đặc điểm cấu tạo

Thành ngữ đối cấu tạo dựa theo quy tắc đối và điệp giữa các thành tố.Đặc điểm nổi bật của các thành ngữ đối chính là tính chất đối ứng giữa các bộ

phận và các yếu tố tạo nên thành ngữ Thành ngữ đối trong Truyện Kiều của

Nguyễn Du phần lớn đều gồm bốn yếu tố tạo thành hai vế đối lập, mỗi vế của

Trang 32

thành ngữ gồm hai từ Xét về mặt từ loại, các từ thuộc hai vế có thể cùng một

từ loại hoặc khác từ loại

(Nghĩ mình mặt nước cánh bèo/ Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân)

Xét về kiểu kết cấu, chúng có thể cùng một kiểu kết cấu hoặc khác kiểukết cấu

Về mặt ngữ nghĩa, chúng vừa có nét tương đồng, vừa có nét khác biệt

Ví dụ:

Trọng nghĩa khinh tài ( Chiếc thoa nào của mấy mươi/ Mà lòng trọng

nghĩa khinh tài xiết bao)

Đổi trắng thay đen ( Trong tay đã sẵn đồng tiền/ Dầu lòng đổi trắng

thay đen khó gì)

Về mặt ngữ âm, các vế của thành ngữ đối trong Truyện Kiều có số

lượng âm tiết ngang nhau (thường là hai âm tiết)

Ví dụ:

Buôn phấn bán hương ( Chung lưng mở một ngôi hàng/ Quanh năm

buôn phấn bán hương đã lề)

Bèo nổi mây chìm (Vì ai rụng cải rơi kim/ Để con bèo nổi mây chìm vì ai?)

Thành ngữ đối được biểu hiện dưới hai dạng tổng quát:

Dạng 1: Ax + Ay

Trong đó, A là từ được điệp lại, lặp lại và có thể thuộc một từ loại bất

kỳ (danh từ, động từ, tính từ…) còn x, y là từ kết hợp, chúng cũng có thểthuộc vào một từ loại bất kỳ nào đó

Trang 33

Theo thống kê của chúng tôi, dạng thành ngữ này chiếm tỉ lệ nhỏ trongtác phẩm với 16/186 thành ngữ (8.6%).

Dạng thành ngữ Ax + By là dạng thành ngữ đối chủ yếu được sử dụng

trong tác phẩm Truyện Kiều với 170/187 thành ngữ (90.9%).

Dạng thành ngữ đối này có những đặc điểm phong phú về kết cấu,được thể hiện trong một số dạng sau:

+ Thành ngữ đối có cấu trúc: Động từ - Số từ (trong đó A, B là động từcòn x,y là số từ)

Ví dụ:

Lỡ một lầm hai (Cũng là lỡ một lầm hai/ Đá vàng sao nỡ ép nài mưa mây)

+ Thành ngữ đối có cấu trúc: Động từ - Tính từ hay Tính từ - Động từ ( trong

đó A, B là động từ còn x, y là tính từ hoặc A, B là tính từ còn x, y là động từ)

Ví dụ:

Đổi trắng thay đen ( Trong tay đã sẵn đồng tiền/ Dầu lòng đổi trắng

thay đen khó gì)

Xa chạy cao bay ( Liệu mà xa chạy cao bay/ Ái ân ta có ngần này mà thôi)

+ Thành ngữ đối có cấu trúc: Động từ - Danh từ hay Danh từ - Động từ(trong đó A, B là động từ còn x, y là danh từ hoặc A, B là danh từ còn x, y làđộng từ)

Ví dụ:

Trang 34

Chọc trời khuấy nước ( Chọc trời khuấy nước mặc dầu/ Dọc ngang nào

biết trên đầu có ai)

Cửa đóng then cài ( Mấy lần cửa đóng then cài/ Đầy thềm hoa rụng

biết người ở đâu)

+ Thành ngữ đối có cấu trúc: Danh từ - Danh từ (trong đó A, B, x, yđều là danh từ)

Thành ngữ so sánh nguyên mẫu được Nguyễn Du sử dụng với số lượng

nhỏ trong Truyện Kiều, gồm 12/237 thành ngữ ( chiếm 5%).

Trang 35

Ví dụ:

Đau như dần ( Nàng càng mặt ủ mày chau/Càng nghe mụ nói càng đau

như dần)

Nhẹ như bấc, Nặng như chì

( Nhẹ như bấc, nặng như chì/ Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên)

2.1.2.2 Đặc điểm cấu tạo

Thành ngữ so sánh được bắt nguồn từ phép so sánh với nghĩa biểutrưng, dựa theo lối nói ví von Cấu trúc tổng quát của thành ngữ so sánh là {t}như B, trong đó t là cái đưa ra so sánh còn B là cái so sánh, giữa t và B có thể

có các từ so sánh: như, bằng, tày, hơn…

Những thành ngữ so sánh nguyên mẫu trong Truyện Kiều của Nguyễn

Du có thể miêu tả dưới các dạng thức sau:

- Dạng thức t như B:

Ở dạng thức này, thành ngữ so sánh xuất hiện đầy đủ cả ba yếu tố: t là cáiđược so sánh, B là cái so sánh và từ chỉ quan hệ so sánh (tày, bằng, như…)

Ví dụ:

Lặng ngắt như tờ (Chung quanh lặng ngắt như tờ/ Nỗi niềm tâm sự bây

giờ hỏi ai?)

Mặt như chàm đổ ( Cho gươm mời đến Thúc lang/ Mặt như chàm đổ,

Trang 36

Lặng ngắt như tờ (Chung quanh lặng ngắt như tờ/ Nỗi niềm tâm sự bây

giờ hỏi ai)

+ Dạng thức t như B trong đó t (cái được so sánh) là danh từ và B ( cái

Trong ngọc trắng ngà ( Rõ ràng trong ngọc trắng ngà/ Dày dày đúc sẵn

một tòa thiên nhiên)

2.1.3 Thành ngữ thường

2.1.3.1 Số lượng

Thành ngữ thường là loại thành ngữ chiếm vị trí thứ hai về mặt số

lượng ( sau thành ngữ đối) trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du Theo

thống kê, loại thành ngữ này gồm 38/237 thành ngữ ( chiếm 16%)

Ví dụ:

Chạy chẳng khỏi trời (Biết thân chạy chẳng khỏi trời/ Cũng liều mặt

phấn cho rồi ngày xanh)

Ngứa ghẻ hờn ghen (Nghĩ rằng ngứa ghẻ hờn ghen/ Xấu chàng mà có

ai khen chi mình)

2.1.3.2 Đặc điểm cấu tạo

Trang 37

Thành ngữ thường là các thành ngữ được cấu tạo theo phương thức

ghép từ thông thường Nói cách khác, thành ngữ thường chính là “sự cố định

hóa, thành ngữ hóa một đoạn tác ngôn”.

Các thành ngữ thường nguyên mẫu được sử dụng trong tác phẩm

Truyện Kiều có thể quy vào một số mô hình cấu tạo cơ bản sau đây:

- Thành ngữ có cấu trúc là một cụm động từ:

Ví dụ:

Chạy chẳng khỏi trời (Biết thân chạy chẳng khỏi trời/ Cũng liều mặt

phấn cho rồi ngày xanh)

Giết người không dao (Bề ngoài thơn thớt nói cười/ Mà trong nham

hiểm giết người không dao)

Nặng gánh tương tư ( Não người cữ gió tuần mưa/ Một ngày nặng

gánh tương tư một ngày)

Ủ dột nét hoa ( Lại càng ủ dột nét hoa/ Sầu tuôn đứt nối châu sa vắn dài)

Trang 38

Mặc dù thành ngữ thường là một tổ hợp từ cố định, hoàn chỉnh, bềnvững về hình thái cấu trúc, bóng bẩy về nghĩa, được một cộng đồng thừa nhận

và sử dụng với chức năng như từ nhưng không phải vì thế mà thành ngữ đánhmất đi dấu ấn cá nhân của người sử dụng Tùy từng trường hợp và đối tượngvận dụng thành ngữ trong lời ăn tiếng nói hàng ngày mà mỗi thành ngữ khi đivào hoạt động giao tiếp có thể sẽ có những khác biệt đầy sáng tạo và mangđậm bản sắc cá nhân

Với thiên tài ngôn ngữ Nguyễn Du, bên cạnh những thành ngữ nguyênmẫu được sử dụng một cách phù hợp, chính xác với đối tượng và hoàn cảnhđược nói tới thì ông còn vận dụng những thành ngữ nguyên mẫu một cáchlinh hoạt, sáng tạo như: thay đổi từ ngữ, thay đổi cấu trúc ngữ pháp của thànhngữ hoặc thay đổi hoàn toàn từ ngữ của thành ngữ mà vẫn giữ nguyên đượcnội dung của thành ngữ nguyên mẫu

Đặc biệt, trong tác phẩm Truyện Kiều, Nguyễn Du đã thể hiện khả năng

ngôn ngữ thiên phú của mình khi sáng tạo ra những thành ngữ hoàn toàn mới,làm giàu thêm cho kho tàng thành ngữ của dân tộc với những giá trị đặc sắc.Những thành ngữ này dần dần trở thành một bộ phận trong ngôn ngữ dân tộc vàđược người Việt vận dụng thường xuyên trong lời ăn tiếng nói hàng ngày

Theo thống kê, số lượng thành ngữ được Nguyễn Du vận dụng sáng tạo

từ các thành ngữ nguyên mẫu và thành ngữ được ông sáng tạo hoàn toàn trong

Truyện Kiều gồm 209/446 thành ngữ ( chiếm 46.9%), trong đó số thành ngữ

được vận dụng sáng tạo là 55/209 thành ngữ (chiếm 26.3%) và số thành ngữđược sáng tạo hoàn toàn là 154/209 thành ngữ ( chiếm 73.7 %) Để tiện choquá trình khảo sát, các thành ngữ trên được chia thành hai loại: các thành ngữđược vận dụng sáng tạo từ thành ngữ nguyên mẫu được gọi là các thành ngữsáng tạo về hình thức và các thành ngữ được sáng tạo mới hoàn toàn được gọi

là các thành ngữ sáng tạo cả về hình thức và nội dung

2.2.1 Thành ngữ được sáng tạo về hình thức

Trang 39

Đây là những thành ngữ được vận dụng linh hoạt từ các thành ngữnguyên mẫu, bao gồm cả thành ngữ thuần Việt và thành ngữ Hán Việt Việcsáng tạo trong sử dụng thành ngữ nguyên mẫu cũng được Nguyễn Du vậndụng ở các cấp độ khác nhau Có thể khái quát mức độ vận dụng sáng tạothành hai cấp độ: thành ngữ có hình thức được sáng tạo bộ phận và thành ngữ

có hình thức được sáng tạo hoàn toàn

Đất khách quê người ( Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người)

Buôn thịt bán người ( Cũng phường bán thịt, cũng tay buôn người) Cháy gan đứt ruột ( Tơ tình đứt ruột lửa phiền cháy gan)

Hào hoa phong nhã ( Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa)

2.2.1.1.2 Đặc điểm cấu tạo

Những thành ngữ có hình thức được sáng tạo bộ phận là những thànhngữ có sự thay đổi một phần trên bề mặt câu chữ so với thành ngữ nguyênmẫu Có thể chỉ ra các sáng tạo trong dạng thức này của tác giả thông qua một

số hiện tượng thay đổi sau:

- Hiện tượng rút gọn từ ngữ của thành ngữ

Ví dụ:

Ngậm bồ hòn làm ngọt => Ngậm bồ hòn

(Sinh càng nát ruột tan hồn/ Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay)

- Hiện tượng thay đổi một số từ ngữ của thành ngữ

Ví dụ:

Lạ nước lạ cái => Lạ nước lạ non

(Những là lạ nước lạ non/ Lâm Tri vừa một tháng tròn tới nơi)

- Hiện tượng tách các yếu tố và thay đổi một số từ ngữ của thành ngữ

Trang 40

Ví dụ:

Xa mặt cách lòng => Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng

(Trăng thề còn đó trơ trơ/ Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng)

Ngâm hoa vịnh nguyệt => Khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười cợt hoa

(Khi khóe hạnh khi nét ngài/ Khi ngâm ngợi nguyệt khi cười cợt hoa)

- Hiện tượng tách, đảo các yếu tố và thay đổi một số từ ngữ của thành ngữ

Ví dụ:

Tay đao tay thước => Người nách thước kẻ tay đao

( Người nách thước kẻ tay đao/ Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi)

Chết trong còn hơn sống đục => Đến điều sống đục sao bằng thác trong

(Sợ khi ong bướm đãi đằng/ Đến điều sống đục sao bằng thác trong)

- Hiện tượng đảo các yếu tố của thành ngữ

Ví dụ:

Đắn đo ngược xuôi => Đo đắn ngược xuôi

( Những là đo đắn ngược xuôi/ Tiếng gà nghe đã gáy sôi mé tường)

- Hiện tượng tách các yếu tố của thành ngữ

Ví dụ:

Rút dây động rừng => Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi

(Những là e ấp dùng dằng/ Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi)

Trong ấm ngoài êm => Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm

(Nàng rằng: Non nước xa khơi/ Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm)

- Hiện tượng tách và đảo các yếu tố của thành ngữ

Ví dụ:

Hào hoa phong nhã => Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa

( Phong tư tài mạo tót vời/ Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa)

Như vậy, qua việc khảo sát và thống kê các thành ngữ có hình thứcđược sáng tạo bộ phận, có thể thấy sự vận dụng linh hoạt thành ngữ dân tộccủa Nguyễn Du nhằm tăng cường giá trị biểu đạt của thành ngữ Những thayđổi, sáng tạo về mặt hình thức của các thành ngữ có thể góp phần duy trì vần

Ngày đăng: 20/07/2017, 15:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2000), Từ điển Truyện Kiều, NXB VHTT HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Truyện Kiều
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB VHTTHN
Năm: 2000
2. Vũ Thúy Anh (1985), Cấu trúc so sánh và thành ngữ so sánh, TCNN số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc so sánh và thành ngữ so sánh
Tác giả: Vũ Thúy Anh
Năm: 1985
3. Diệp Quang Ban (2009), Ngữ pháp Việt Nam, NXBGDVN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Việt Nam
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXBGDVN
Năm: 2009
4. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXBGD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1998
5. Đỗ Hữu Châu (2009), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt.NXBĐHQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXBĐHQG
Năm: 2009
6. Nguyễn Đức Dân (1986), Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ, sự vận dụng, TCNN số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa thành ngữ và tụcngữ, sự vận dụng
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1986
7. Chu Xuân Diên (2001), Văn hóa dân gian – mấy vấn đề phương pháp luận nghiên cứu thể loại, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian – mấy vấn đềphương pháp luận nghiên cứu thể loại
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2001
8. Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh, Nguyễn Du về tác giả và tác phẩm, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Duvề tác giả và tác phẩm
Nhà XB: NXBGD
9. Trịnh Bá Đĩnh, Bình giải Truyện Kiều, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình giải Truyện Kiều
Nhà XB: NXB Văn học
10. Hà Huy Giáp, Nguyễn Thạch Giang (2000), Truyện Kiều (chú thích, chú giải và những tư liệu gốc), NXB VHTTHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Kiều(chú thích, chú giải và những tư liệu gốc)
Tác giả: Hà Huy Giáp, Nguyễn Thạch Giang
Nhà XB: NXB VHTTHN
Năm: 2000
11. Nguyễn Thiện Giáp (1975), Về khái niệm thành ngữ tiếng Việt, TCNN số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khái niệm thành ngữ tiếngViệt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Năm: 1975
12. Nguyễn Thiện Giáp (1985), Từ vựng tiếng Việt, NXB ĐH và THCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB ĐHvà THCN
Năm: 1985
13. Dương Quảng Hàm (1943), Việt Nam văn học sử yếu, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Năm: 1943
14. Hoàng Văn Hành (1976), Về bản chất của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt, TCNN số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bản chất của thành ngữ sosánh trong tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1976
16. Hoàng Văn Hành (chủ biên), Kể chuyện thành ngữ tục ngữ, NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể chuyện thành ngữ tụcngữ
Nhà XB: NXB KHXH
17. Đỗ Việt Hùng (2013), Ngữ nghĩa học từ bình diện hệ thống đến hoạt động, NXBĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa học từ bình diện hệthống đến hoạt động
Tác giả: Đỗ Việt Hùng
Nhà XB: NXBĐHSP
Năm: 2013
19. Lê Đình Kỵ (1971), Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du, NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thựccủa Nguyễn Du
Tác giả: Lê Đình Kỵ
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1971
20. Đinh Trọng Lạc (2002), Phong cách học tiếng Việt, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2002
22. Cao Thị Phương Lan (2005), Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thành ngữ trong “Truyện Kiều”, Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm cấu tạo và ngữnghĩa của thành ngữ trong “Truyện Kiều”
Tác giả: Cao Thị Phương Lan
Năm: 2005
23. Nguyễn Lân (2001), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, NXBGD HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: NXBGD HN
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w