Những thành ngữ được sáng tạo về cả hình thức và nội dung thực chất chính là những sáng tạo hoàn toàn mới của tác giả Nguyễn Du. Rất nhiều những thành ngữ do Nguyễn Du sáng tạo nên trong Truyện Kiều đã vượt khỏi phạm vi tác phẩm, đi vào lời ăn tiếng nói của quần chúng nhân dân. Đây là những đóng góp của Nguyễn Du nhằm làm phong phú hơn vốn ngôn ngữ dân tộc.
Số lượng thành ngữ do Nguyễn Du sáng tạo nên gồm 154 thành ngữ trong đó có cả ba loại: thành ngữ đối, thành ngữ so sánh và thành ngữ thường.
2.2.2.1 Thành ngữ đối 2.2.2.1.1 Số lượng
Tương tự như các thành ngữ đối được sử dụng ở dạng nguyên mẫu, các thành ngữ đối do Nguyễn Du sáng tạo nên trong tác phẩm cũng chiếm số lượng cao nhất trong số các thành ngữ được sáng tạo cả về hình thức và nội dung. Theo khảo sát và thống kê, có 127/154 thành ngữ được sáng tạo cả về hình thức và nội dung là thành ngữ đối (chiếm 83%).
Ví dụ:
Bẻ lau vạch cỏ ( Bẻ lau vạch cỏ tìm đi/ Tình thâm luống hãy hồ nghi nửa phần)
Càng dập càng nồng (Lửa tâm càng dập càng nồng/ Giận người đen bạc ra lòng trăng hoa)
2.2.2.1.2 Đặc điểm cấu tạo
Thành ngữ đối sáng tạo của Nguyễn Du được sử dụng trong Truyện Kiều có những đặc điểm tương tự về mặt cấu trúc, cấu tạo như thành ngữ đối ở dạng nguyên mẫu. Các thành ngữ đối sáng tạo cũng chủ yếu bao gồm bốn yếu tố tạo thành hai vế đối lập.
Ví dụ:
Hoa kia cành này (Tình sâu mong trả nghĩa dày/ Hoa kia đã chắp cành này cho chưa)
Cởi xiêm trút áo (Cởi xiêm lột áo sỗ sàng/ Trước thần sẽ nguyện mảnh hương lầm rầm)
Có thể mô hình hóa các thành ngữ đối sáng tạo của Nguyễn Du theo hai dạng tổng quát:
Dạng 1: Ax + Ay
Dạng này còn có tên gọi khác là thành ngữ điệp hay thành ngữ lặp do căn cứ vào đặc điểm có sự điệp điệp lại của một yếu tố trong thành ngữ (yếu
tố A). Các yếu tố x và y là những yếu tố kết hợp, chúng có thể cùng thuộc một từ loại hoặc khác kiểu từ loại. Quá trình khảo sát và thống kê cho thấy, dạng thành ngữ này gồm 24/127 thành ngữ ( chiếm 19%).
Ví dụ:
Một khắc một chày (Đêm thu một khắc một chày/ Bâng khuâng như tỉnh như say một mình)
Nửa tình nửa cảnh ( Bẽ bàng mây sớm đèn khuya/ Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng)
Dạng 2: Ax + By
Các thành ngữ đối dạng Ax + By được cấu tạo bởi sự kết hợp của các yếu tố A, B, x, y ( có thể thuộc một từ loại bất kỳ). Ở dạng này, số lượng thành ngữ đối thu được theo thống kê là 103/127 thành ngữ ( chiếm 81%).
Các thành ngữ đối theo mô hình cấu tạo Ax + By có thể được thể hiện dưới những dạng nhỏ hơn dựa vào sự phân loại từ ngữ tham gia cấu thành nên thành ngữ đó. Cụ thể:
+ Thành ngữ đối có cấu trúc: Danh từ - Danh từ ( trong đó cả bốn yếu tố A, B, x, y đều thuộc từ loại danh từ)
Ví dụ:
Giá áo túi cơm ( Phong trần mài một lưỡi gươm/ Những phường giá áo túi cơm sá gì)
Thềm quế cung trăng ( Vả trong thềm quế cung trăng/ Chủ trương đành đã chị Hằng ở trong)
+ Thành ngữ đối có cấu trúc: Động từ - Động từ ( trong đó cả bốn yếu tố A, B, x, y đều thuộc từ loại động từ)
Ví dụ:
May thuê viết mướn (Đều là sa sút khó khăn/ May thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi)
Thảm lấp sầu vùi (Phật tiền thảm lấp sầu vùi/ Ngày pho thủ tự/ Đêm nồi tâm hương)
+ Thành ngữ đối có cấu trúc: Tính từ - Tính từ ( trong đó cả bốn yếu tố A, B, x, y đều thuộc từ loại tính từ)
Ví dụ:
Thưa hồng rậm lục (Lần lần ngày gió đêm trăng/ Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua)
+ Thành ngữ đối có cấu trúc: Danh từ - Tính từ hay Tính từ - Danh từ ( trong đó A, B là danh từ còn x,y là tính từ hoặc A, B là tính từ còn x, y là danh từ)
Ví dụ:
Bể rộng sông dài ( Bấy giờ ai lại biết ai/ Dầu lòng bể rộng sông dài thênh thênh)
Gan héo ruột đầy ( Sinh thì gan héo ruột đầy/ Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng)
+ Thành ngữ đối có cấu trúc: Danh từ - Động từ hay Động từ - Danh từ ( trong đó A, B là danh từ còn x, y là động từ hoặc A, B là động từ còn x, y là danh từ)
Ví dụ:
Gió quét mưa sa ( Đòi cơn gió quét mưa sa/ Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi Nam)
Bẻ lau vạch cỏ ( Bẻ lau vạch cỏ tìm đi/ Tình thâm luống hãy hồ nghi nửa phần)
+ Thành ngữ đối có cấu trúc: Số từ - Động từ hay Động từ - Số từ ( trong đó A, B là số từ còn x, y là động từ hoặc A, B là động từ còn x, y là số từ)
Ví dụ:
Một tỉnh mười mê (Sinh càng một tỉnh mười mê/ Ngày xuân lắm lúc đi về với xuân)
Bớt một thêm hai ( Cò kè bớt một thêm hai/ Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm)
+ Thành ngữ đối có cấu trúc: Số từ - Danh từ ( trong đó A, B là số từ còn x, y là danh từ)
Ví dụ:
Muôn binh nghìn tướng ( Vội truyền sửa tiệc quân trung/ Muôn binh nghìn tướng hội đồng tẩy oan)
2.2.2.2 Thành ngữ so sánh 2.2.2.2.1 Số lượng
Theo thống kê, số thành ngữ so sánh được Nguyễn Du sáng tạo và sử dụng trong tác phẩm Truyện Kiều là 14/154 thành ngữ ( chiếm 9%)
Ví dụ:
Hơi giá như đồng (Phòng văn hơi giá như đồng/ Trúc se ngọn thỏ tơ chùng phím loan)
Như bào lòng son (Sinh càng thảm thiết khát khao/ Như nung gan sắt như bào lòng son)
2.2.2.2.2 Đặc điểm cấu tạo
Các thành ngữ so sánh do Nguyễn Du sáng tạo nên cũng có những đặc điểm như thành ngữ so sánh đã được trình bày. Tuy nhiên, các thành ngữ so sánh của Nguyễn Du được vận dụng một cách sáng tạo và linh hoạt hơn, do đó ngoài những đặc điểm chung của thành ngữ nó còn mang những đặc điểm phong cách cá nhân rõ nét của tác giả.
Các thành ngữ so sánh do Nguyễn Du sáng tạo cũng có cấu trúc tổng quát là {t} như B, trong đó t là cái được so sánh, B là cái so sánh, giữa t và B có các từ so sánh: tày, bằng, hơn, như…
Có thể điểm qua một vài dạng thức cụ thể để thấy sự sáng tạo của tác giả Nguyễn Du như sau:
- Dạng thức t như B: Ở dạng thức này thành ngữ so sánh có đủ cả ba yếu tố cái được so sánh ( t ), cái so sánh ( B) và từ so sánh.
Ví dụ:
Trong dạng thức này, chúng ta lại có thể chia nhỏ thành các dạng cụ thể hơn dựa trên sự phân loại từ loại của các thành tố trong thành ngữ.
+ Dạng thức t như B trong đó t là một tính từ còn B là một danh từ Ví dụ:
Trong như tiếng hạc (Trong như tiếng hạc bay qua/ Đục như nước suối mới sa nửa vời)
+ Dạng thức t như B trong đó t là một động từ, B là một danh từ Ví dụ:
Buồn như cúc ( Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai)
+ Dạng thức t như B trong đó t là một danh từ, B là một danh từ Ví dụ:
Ngựa xe như nước , Áo quần như nêm
(Dập dìu tài tử giai nhân/ Ngựa xe như nước áo quần như nêm)
Hơi giá như đồng (Phòng văn hơi giá như đồng/ Trúc se ngọn thỏ tơ chùng phím loan)
- Dạng thức Như B ( không có t): Đây là kiểu kết cấu mà cái được so sánh ẩn đi, chỉ còn lại cái so sánh B.
Ví dụ:
Như khóc như than (Bốn dây như khóc như than/ Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng)
Như dại như ngây (Sinh càng như dại như ngây/ Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi)
Trong kho tàng thành ngữ dân tộc cũng có thể bắt gặp rất nhiều các thành ngữ so sánh ở dạng thức Như B.
Ví dụ:
Như điên như dại Như trời như biển …
Điểm khác biệt giữa thành ngữ so sánh nguyên mẫu dạng thức Như B với những thành ngữ so sánh sáng tạo của Nguyễn Du là ở yếu tố B. Nếu như trong các thành ngữ nguyên mẫu ở dạng thức Như B, yếu tố B thường là những danh từ thì trong thành ngữ sáng tạo của Nguyễn Du, yếu tố B lại thường là những động từ hoặc tính từ diễn tả trạng thái tâm lý của con người. Các thành ngữ sáng tạo của Nguyễn Du được cấu tạo theo phương thức tách từ ghép ( tỉnh say, ngây dại, oán sầu, khóc than) và gia tăng thêm từ so sánh (như). Nhờ phương thức sáng tạo này mà các thành ngữ của Nguyễn Du có khả năng diễn tả tăng cấp tâm trạng của nhân vật. Làm một phép đối chiếu đơn giản giữa việc tách từ ghép kết hợp với gia tăng từ so sánh và không tách từ ghép, có thể nhận thấy rõ ràng những thành ngữ được Nguyễn Du sáng tạo không chỉ có tác dụng tạo nhịp điệu cho câu thơ mà quan trọng hơn các thành ngữ này có khả năng diễn tả tâm lý, tâm trạng của nhân vật một cách đặc biệt. Tâm trạng ấy được nhấn mạnh hơn, diễn tả sâu sắc và rõ nét hơn qua sự sáng tạo của tác giả.
Ví dụ:
Không tách từ ghép Tách từ ghép và gia tăng từ so sánh Như ngây dại Như dại như ngây
Như tỉnh say Như tỉnh như say
Như oán sầu Như oán như sầu
2.2.2.3 Thành ngữ thường 2.2.2.3.1 Số lượng
Các thành ngữ thường được Nguyễn Du sáng tạo xuất hiện trong
Truyện Kiều gồm 13/154 thành ngữ ( chiếm 8%) Ví dụ:
Nước đã đến chân ( Phòng khi nước đã đến chân/ Dao này thì liệu với thân sau này)
Các thành ngữ thường do Nguyễn Du sáng tạo nên cũng có những đặc điểm cấu tạo giống với các thành ngữ thường ở dạng nguyên mẫu. Cụ thể, chúng có những dạng mô hình cấu tạo cơ bản sau:
- Thành ngữ có cấu trúc là một cụm danh từ Ví dụ:
Thân gái dặm trường (Canh khuya thân gái dặm trường/ Phần e đường sá phần thương dãi dầu)
- Thành ngữ có cấu trúc là một cụm động từ Ví dụ:
Nổi tam bành (Mụ nghe nàng nói hay tình/ Bấy giờ mới nổi tam bành mụ lên)
- Thành ngữ có cấu trúc là một cụm tính từ Ví dụ:
Túng đất sẩy chân (Nghĩ mình túng đất sẩy chân/ Thế cùng nàng mới xa gần thở than)
- Thành ngữ có cấu trúc là một cụm chủ - vị Ví dụ:
Nước đã đến chân ( Phòng khi nước đã đến chân/ Dao này thì liệu với thân sau này)
* Tiểu kết chương 2:
1. Trong Truyện Kiều, tác giả Nguyễn Du đã sử dụng 446 thành ngữ trong đó có 237 thành ngữ nguyên mẫu và 209 thành ngữ sáng tạo hoặc được
vận dụng sáng tạo. Về mặt nguồn gốc, các thành ngữ trong tác phẩm phần lớn là những thành ngữ thuần Việt.
2. Việc sáng tạo thành ngữ trong Truyện Kiều được Nguyễn Du thực hiện theo hai hướng:
- Biến đổi hình thức ( có thể biến đổi bộ phận hoặc biến đổi hoàn toàn hình thức của các thành ngữ nguyên mẫu sẵn có)
- Sáng tạo mới cả về nội dung và hình thức
3. Những thành ngữ do Nguyễn Du sáng tạo trong tác phẩm không nằm ngoài kiểu cấu tạo của các thành ngữ nguyên mẫu. Tuy nhiên, bằng tài năng của mình, Nguyễn Du đã có những sáng tạo linh hoạt và uyển chuyển để hướng tới việc truyền tải nội dung một cách hiệu quả nhất.