1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT VẬN DỤNG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TRONG “TRUYỆN KIỀU” CỦA NGUYỄN DU

57 148 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 464,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Truyện Kiều còn là một tác phẩm đánh dấu cho sự phát triểnmanh nha của chữ quốc ngữ, trong hội khai trí Tiến Đức năm 1924 tại Hà Nội,Phạm Quỳnh một học giả và là Thượng Thư Bộ lại dưới t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ

KHOA NGỮ VĂN

************

TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT VẬN DỤNG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TRONG

“TRUYỆN KIỀU” CỦA NGUYỄN DU

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH: VĂN HỌC KHÓA HỌC: 2008 - 2012

CẦN THƠ, 2012 THÁI TÚ ANH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ

KHOA NGỮ VĂN

************

TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT VẬN DỤNG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TRONG

“TRUYỆN KIỀU” CỦA NGUYỄN DU

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH: VĂN HỌC KHÓA HỌC: 2008 - 2012

CẦN THƠ, 2012

GVHD: Tiến sĩ HOÀNG QUỐC SVTH: THÁI TÚ ANH

MSSV: 0856020006

Trang 3

M c l c ụ ụ

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI : 5

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ : 6

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU : 7

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 7

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: 7

6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN: 8

1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 9

1.1 KHÁI QUÁT VỀ THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ: 9

1.1.1 THÀNH NGỮ: 9

1.1.2 TỤC NGỮ: 15

1.2 PHÂN BIỆT THÀNH NGỮ VỚI TỤC NGỮ: 19

1.3 MỘT SỐ KHÁI NIỆM NỀN TẢNG CỦA NGỮ DỤNG HỌC CÓ LIÊN QUAN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: 20

1.4 SƠ LƯỢC VỀ TÁC GIẢ TÁC PHẨM: 22

CHƯƠNG 2: NGHỆ THUẬT VẬN DỤNG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU 25

2.1 CÁC KIỂU THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TRONG TRUYỆN KIỀU: 25

2.1.1 THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ ĐỐI: 25

2.1.2 THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ ĐIỆP: 27

2.1.3 THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ SO SÁNH: 28

2.2 CÁCH VẬN DỤNG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU: 29

2.2.1 GIỮ NGUYÊN THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ: 29

2.2.2 TÁCH CẤU TRÚC THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ: 31

2.2.3 RÚT GỌN THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ: 32

2.2.4 THAY ĐỔI THÀNH TỐ HOẶC CẤU TRÚC THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ: 32

2.2.5 DỊCH THÀNH NGỮ GỐC HÁN RA TIẾNG VIỆT: 33

2.2.6 TỰ TẠO RA THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ: 36

CHƯƠNG 3: MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC VẬN DỤNG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ VÀO TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU 39

3.1 XÂY DỰNG NHÂN VẬT: 39

3.1.1 VỀ NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT: 40

3.1.2 VỀ TÍNH CÁCH CON NGƯỜI: 43

3.1.3 VỀ TÂM LÍ NHÂN VẬT: 45

3.2 TẢ CẢNH, TẢ TÌNH: 47

3.3 DẪN DẮT CÂU CHUYỆN: 50

3.4 BÌNH LUẬN, BÌNH GIÁ VỀ MỘT VẤN ĐỀ CỤ THỂ: 52

3.5 BỘC LỘ THÁI ĐỘ CỦA NHÀ THƠ: 53

PHẦN KẾT LUẬN 56

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Cùng với sự phát triển ngày càng hiện đại của xã hội, mỗi con người cũng luôn cố gắng vươn lên không ngừng để góp phần đóng góp cho đất nước, dân tộc mình giàu đẹp và hùng mạnh.Em cũng vậy,nhưng để thực hiện được điều đó em cần có một tri thức vững vàng Mỗi người điều có sự lựa chọn cho riêng mình một lĩnh vực thích hợp để phát triển, riêng đối với bản thân em,em chọn ngành cử nhân văn mà phát triển Em luôn phấn đấu không ngừng để thực hiện được ước mơ của mình Nhưng để làm được điều đó em cần có được sự giúp đỡ của rất nhiều người Tuy hiện nay em chưa có được một thành công gì lớn lao, tuy nhiên trong suốt những năm học vừa qua tại trường Đại học Tây Đô em đã lớn lên rất nhiều cả về tri thức lẫn con người.

Vì thế em xin bày tỏ lòng biết ơn đến:

- Ban giám hiệu nhà trường Đại học Tây Đô.

- Quý thầy cô giáo khoa ngữ văn đã truyền đạt những kiến thức

chuyên môn, những bài học quý giá cho em.

Hơn thế em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Hoàng Quốc, giáo viên hướng dẫn cho em thực hiện luận văn này.

Xin chân thành cảm ơn thầy và chúc thầy luôn dồi dào sức khỏe và đạt được nhiều thành công hơn nữa !

Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2010

Sinh Viên Thực Hiện

Thái Tú Anh

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :

Thành ngữ, tục ngữ vốn là những viên ngọc quý của kho tàng văn học dângian Việt Nam, được sản sinh và gìn giữ qua lời ăn tiếng nói của nhân dân ta Thànhngữ và tục ngữ tuy chỉ là những câu nói ngắn gọn nhưng lại vô cùng súc tích, chúngmang những ý nghĩa hết sức to lớn trong việc dạy dỗ và truyền bá những kinhnghiệm bài học vô cùng quý giá mà ông cha ta đã đúc kết qua bao thế hệ Vì vậyviệc tìm hiểu thành ngữ, tục ngữ vừa giúp cho chúng ta có thể hiểu hơn về cộinguồn dân tộc vừa thể hiện được lòng tự hào và quyết tâm phát huy những truyềnthống tốt đẹp của dân tộc ta

“Truyện Kiều” là một tác phẩm văn học bất hủ được xem là quốc văn củadân tộc ta, tác phẩm này đã đưa tên tuổi của nhà văn Nguyễn Du trở thành một danhnhân văn hóa thế giới Truyện Kiều còn là một tác phẩm đánh dấu cho sự phát triểnmanh nha của chữ quốc ngữ, trong hội khai trí Tiến Đức năm 1924 tại Hà Nội,Phạm Quỳnh một học giả và là Thượng Thư Bộ lại dưới triều Nguyễn, đã đọc mộtbài diễn văn lịch sử, trong đó có một câu được coi như "kim chỉ nam" trong việc đềcao và phát triển chữ Quốc Ngữ: “Truyện Kiều không chỉ đối với văn hóa nước nhà

mà đối với văn học thế giới cũng chiếm được một địa vị cao quý Truyện Kiềucòn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn ” Một trong những yếu tố đem lại sựthành công trên chính là nghệ thuật vận dụng khéo léo những thành ngữ, tục ngữ, cadao, điển tích điển cổ trong kho tàng văn học dân gian Cho nên có thể nói việcnghiên cứu “Truyện Kiều” đã trở nên khá phổ biến và vô cùng phong phú và đadạng Tuy nhiên về vấn đề thành ngữ, tục ngữ trong “Truyện Kiều” dù đã được tìmhiểu từ rất sớm thế nhưng giá trị của chúng vẫn chưa được phân tích một cách rõràng và ngọn ngành

Thêm nữa, từ trước đến nay, việc tìm hiểu Truyện Kiều ở trường phổ thôngchỉ tập trung vào vấn đề tư tưởng, nội dung của tác phẩm, cho nên việc xem xét bảnchất văn học nghệ thuật dưới góc độ nghệ thuật ngôn từ vẫn còn chưa được khaithác một cách triệt để, học sinh phổ thông chưa quen khám phá tác phẩm văn học ởgóc độ ngôn ngữ học, thi pháp học Chính vì lẽ đó, trên cơ sở tổng hợp những bàiviết trước đó cộng với sự tìm hiểu của chính bản thân, em mong muốn rằng mình sẽ

có thể đóng góp được một phần giá trị mới mẻ, thú vị nào đó về vấn đề nghiên cứuthành ngữ, tục ngữ trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du theo hướng thipháp học – một hướng tiếp cận tác phẩm văn học mới mẻ

Hơn nữa em nghĩ rằng việc tìm hiểu thành ngữ, tục ngữ trong Truyện Kiều sẽgiúp cho em có thêm được nhiều kiến thức về vốn ngôn ngữ dân tộc, về nếp sốngphong tục tập quán của nhân dân ta từ bao đời nay Ngoài ra việc tìm hiểu này còngiúp cho em biết cách sử dụng lời ăn tiếng nói sao cho phù hợp với đối tượng vàhoàn cảnh giao tiếp được truyền cảm, giàu hình ảnh, lời ít ý nhiều nhưng lại đạtđược một hiệu quả cao trong hoạt động giao tiếp

Từ nghững lí do nêu trên đã giúp cho em có được một động lực, niềm say mêthực hiện đề tài: “Tìm hiểu nghệ thuật vận dụng thành ngữ, tục ngữ trong Truyệnkiều của Nguyễn Du”

Trang 6

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ :

Nhìn lại chặng đường nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ trong Truyện Kiều

đã qua, có thể thấy đây cũng là vấn đề được các nhà nghiên cứu lưu tâm Có điềuchưa được khám phá một cách chu đáo, toàn diện, đặc biệt dưới góc độ ngữ dụnghọc – một hướng tiếp cận mới về tác phẩm văn học, mang lại hiệu quả tối ưu

Ngay từ những năm nửa cuối thế kỉ XX đến đầu thế kỉ XXI, công việc

nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ trong Truyện Kiều mới manh nha từ việc phát hiện ra thành ngữ, tục ngữ được Nguyễn Du vận dụng vào Truyện Kiều Tuy nhiên, những

thành ngữ, tục ngữ ấy chỉ là công cụ có nhiệm vụ minh họa cho thành ngữ, tục ngữđược tác giả trình bày, giải thích trong từ điển Có thể kể tên ra như sau : “Thànhngữ tiếng Việt” – NXB KHXH, 1979 của Nguyễn Lực và Lương Văn Đang, “Từđiển thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt” – NXB Văn hóa, 2000 của Vũ Dung, VũThúy Anh, Vũ Quang Hào… Đây là những công trình nghiên cứu về thành ngữ, tụcngữ nói chung

Nguyễn Thái Hòa, tác giả của cuốn “Tục ngữ Việt Nam cấu trúc và thi

pháp” – NXB KHXH, 1997 – đã có đề cập đến tục ngữ trong Truyện Kiều của

Nguyễn Du Ông đã chỉ ra sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ một cách mềm dẻo sángtạo, không có hiện tượng gò ép, khiên cưỡng Ngoài ra ông còn lí giải việc vận dụngthành ngữ, tục ngữ trong các tình huống ngôn ngữ cụ thể (ngôn ngữ nhân vật, ngônngữ tác giả) Và trong bài viết này, tác giả cũng nói đến kiến trúc sóng đôi – mộtđặc điểm nổi bật của thành ngữ, tục ngữ Thế nhưng, học giả cũng chỉ mới chú ý

nhiều đến tục ngữ mà hầu như bỏ sót thành ngữ trong Truyện Kiều Sau này, thành ngữ dùng trong Truyện Kiều mới được Phạm Đan Quế nói đến trong quyển “Về

những thủ pháp nghệ thuật trong Truyện Kiều” – NXB GD, 2002 Cũng giống nhưNguyễn Thái Hòa, ông cũng chỉ nghiên cứu một phần là thành ngữ Bởi vì ranhgiới giữa thành ngữ, tục ngữ là không rõ ràng do giữa chúng có một số đơn vị trunggian Điều đáng lưu ý là thầy Phạm Đan Quế cũng chỉ ra sự sáng tạo trong vận dụngthành ngữ, tục ngữ của Nguyễn Du Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra đặc điểm về

hình thức và nội dung của thành ngữ Truyện Kiều.

Một nhà nghiên cứu văn học có tên tuổi là Nguyễn Lộc cũng góp cho việc

nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ trong Truyện Kiều một bài viết rất đáng ghi tâm,

được trích đăng trong cuốn “Nguyễn Du về tác giả và tác phẩm” – NXB GD, 1999.Ông đã đi vào chứng minh việc Nguyễn Du đã học tập thơ ca dân gian và ngôn ngữquần chúng (ca dao, thành ngữ, tục ngữ) Điều cần quan tâm ở đây là, học giả đã chỉ

ra cách Nguyễn Du vận dụng thành ngữ, tục ngữ vào Truyện Kiều, để rồi chỉ ra

điểm sáng tạo của đại thi hào này, thậm chí có khá nhiều trường hợp khó phân biệtđâu là thành ngữ, tục ngữ mà Nguyễn Du học của quần chúng, đâu là thành ngữ tụcngữ do nhà thơ sáng tạo nên

Trong “Tranh luận văn nghệ thế kỉ XX” – tập 1, NXB Lao động, 2003 – có

hai bài viết ngắn về thành ngữ, tục ngữ Truyện Kiều, một của Vũ Đình Long, bài

còn lại là của Đào Duy Anh Vũ Đình Long có vài dòng nói về việc Nguyễn Du rất

khéo đặt thơ “lắm câu đã thành ra tục ngữ, phương ngôn” Còn Đào Duy Anh chủyếu đi sâu vào việc minh chứng tài năng ngôn từ của Nguyễn Du, nhất là trong sửdụng thành ngữ, tục ngữ điêu luyện, sáng tạo, từ đó chỉ ra rằng : “Nguyễn Du có cáitài biến hóa những cái cũ rít thành ra mới mẻ tươi tắn” Có thể nói những ý kiên trên

là đóng góp quý báo, có ý nghĩa khơi nguồn và là tư liệu cho những ai quan tâm đến

việc nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ trong Truyện Kiều.

Trang 7

Giáo sư Trần Đình Sử, một nhà nghiên cứu văn học lỗi lạc của Việt Nam, đã

để lại một công trình nghiên cứu Truyện Kiều rất có giá trị - “Thi pháp Truyện

Kiều”, NXB GD, 2003 Trong cuốn náy tác giả nói đến phép đối ngẫu và sóng đôi

trong Truyện Kiều – vốn đặc trưng tiêu biểu của thành ngữ, tục ngữ Bên cạnh đó,

còn chỉ ra cách ngắt nhịp, các hình thức đối và chức năng của phép đối, tác dụng

của việc lặp từ ngữ của phép sóng đôi trong Truyện Kiều Có thể nói, đây là những ý kiến rất quan trọng đối với việc tìm hiểu thành ngữ, tục ngữ trong Truyện Kiều đặc

biệt là dưới góc độ nghiên cứu cấu trúc câu để tìm ra giá trị về ngữ nghĩa của tácphẩm

Nhìn chung, việc nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ trong Truyện Kiều của các

bật tiền bối chỉ mới xoáy sâu và làm sáng tỏ sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo, độcđáo thành ngữ, tục ngữ của Nguyễn Du Bên cạnh đó, ở mỗi học giả cũng đã cống

hiến một hướng nghiên cứu mới về thành ngữ, tục ngữ trong Truyện Kiều Đó là

những ý kiến rất có giá trị, rất đáng trân trọng đối với những người nghiên cứu sau

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU :

Trong luận văn này phần chủ yếu chỉ là tập trung nghiên cứu thành ngữ,tục ngữ được Nguyễn Du vận dụng trong Truyện Kiều và những vấn đề có liênquan như: cơ sở lí luận về thành ngữ, tục ngữ (khái niệm,đặc điểm, phân loại) vàmột số khái niệm của ngữ dụng học có liên quan đến nội dung nghiên cứu (nhânvật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp và nội dung giao tiếp) Do kiến thức của bảnthân có giới hạn nên trong đề tài luận văn này em chỉ nghiên cứu khái quátchung cả thành ngữ và tục ngữ có trong Truyện Kiều

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Trong luận văn này em đã sử dung một số phương pháp nghiên cứu sau:

trong Truyện Kiều, sắp xếp chúng theo trình tự A-B-C nhằm tiện theo dõi và tìmhiểu

Truyện Kiều của Nguyễn Du với thành ngữ, tục ngữ trong văn học dân gian để từ

đó nhận ra được đâu là sự vận dụng học hỏi của nhà văn đâu là sự sáng tạo củachính tác giả

nắm rõ đặc điểm của vấn đề đang xem xét, đặc biệt dưới góc độ ngữ nghĩa để rồitổng hợp chúng lại và rút ra những kết luận mang tính thống nhất

bằng việc thay thế đơn vị này bằng đơn vị khác tương đương để rồi phát hiện ra giátrị của chúng hoặc làm rõ giá trị của phương tiện thay thế

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

- Chỉ ra được hệ thống thành ngữ, tục ngữ được Nguyễn Du sử dụngtrong Truyện Kiều, đồng thời nêu ra được các phương diện ngữ nghĩa củachúng

Trang 8

- So sánh đối chiếu các thành ngữ, tục ngữ trong Truyện kiều củaNguyễn Du và thành ngữ, tục ngữ trong tiếng Việt Từ đó chỉ ra sự sáng tạo vàđặc sắc trong nghệ thuật ngôn từ của Nguyễn Du.

6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN:

Gồm có 03 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong đóphần nội dung là quan trọng nhất, có tổng cộng 03 chương:

- Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN.

Ở chương này sẽ đề cập đến những vấn đề cơ bản như về khái niệm, đặcđiểm, phân loại của thành ngữ, tục ngữ

- Chương 2: NGHỆ THUẬT VẬN DỤNG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU.

Đây sẽ là phần trọng tâm của luận văn, các thành ngữ, tục ngữ trong TruyệnKiều sẽ được tiến hành phân loại theo đúng tên gọi của chúng, sau đó là bước tiếnhành khảo sát sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều

- Chương 3: MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC VẬN DỤNG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ VÀO TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU.

Trang 9

1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

Từ xưa đến nay Thành ngữ và Tục ngữ luôn là đề tài được các nhà nghiêncứu văn học quan tâm,tìm hiểu Mà chủ yếu là việc phân biệt giữa Thành ngữ vàTục ngữ, có một số bài báo cũng bàn về vấn đề này như: “Ranh giới giữa thànhngữ và tục ngữ” của Nguyễn Văn Mệnh; “Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ vớitục ngữ” của Cù Đình Tú….Để góp phần giúp người đọc hiểu rõ hơn về sự khácnhau giữa Thành ngữ - Tục ngữ và nhằm phục vụ đắc lực cho quá trình tìm hiểu

đề tài: “Tìm hiểu nghệ thuật vận dụng Thành ngữ-Tục ngữ trong Truyện Kiềucủa Nguyễn Du”, bằng sự hiểu biết của mình,và việc đúc kết những kết quảnghiên cứu của những người đi trước, ví dụ như việc nắm các khái niệm, đặcđiểm và cách phân loại Thành ngữ-Tục ngữ Qua đó, chúng ta sẽ thấy đượcNguyễn Du đã am hiểu và vận dụng một cách sáng tạo khi đưa Thành ngữ-Tụcngữ vào tác phẩm của mình như thế nào Với mục đích vừa nêu, trước tiên em sẽtrình bày một cách khái quát về Thành ngữ, Tục ngữ

- “Thành ngữ hoặc là những cụm từ mang ý nghĩa cố định(phần lớn khôngtạo thành câu hoàn chỉnh về mặt ngữ pháp, không thể thay thế về mặt ngôn từ)

và độc lập riêng rẽ với từ ngữ hay hình ảnh mà thành ngữ sử dụng, Thành ngữthường được sử dụng trong việc tạo thành những câu nói hoàn chỉnh”

- “Thành ngữ là một cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa vừa cótính gợi cảm”

- “Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái-cấu trúc,hoàn chỉnh bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp thườngngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ”…

Từ những khái niệm trên, ta thấy được rằng mặc dù có nhiều ý kiến củanhiều người bàn luận về khái niệm Thành ngữ, nhưng đa số các nhà nghiên cứu đều

có những điểm chung thống nhất với nhau về Thành ngữ như sau: Thành ngữ lànhững tổ hợp từ - cụm từ cố định, có tính hình tượng và biểu cảm, có chức nănghoạt động như một từ, được dùng rộng rãi trong giao tiếp hằng ngày…Bên cạnh đócũng có một số ý kiến riêng như: Thành ngữ còn được các nhà văn nhà thơ vậndụng vào trong những tác phẩm của mình, có kết cấu khá lớn so với từ, vốn lànhững tổ hợp từ tự do đã được trải qua một quá trình lịch sử khá dài trong đời sốngcủa quần chúng nhân dân nên đã được gọt giũa và phát triển trở thành những tổ hợp

từ cố định

Trang 10

Ếch ngồi đáy giếng

Uống nước nhớ nguồn

1.1.2 Đặc điểm:

Thành ngữ có một số đặc điểm chung như sau:

 Thành ngữ là loại cụm từ cố định, đã hình thành từ trước, thuộc loạiđơn vị có sẵn, chứ không phải sản phẩm nhất thời trong giao tiếp như cụm từ

 Mỗi Thành ngữ thường có sắc thái biểu cảm, thể hiện cả thái độ đánhgiá và tình cảm của con người

 Thành ngữ có tính cân đối, có nhịp có thể có vần, thường có bốn tiếng.Điều này làm cho Thành ngữ dễ nhớ, dễ thuộc

Ngoài ra xin trích dẫn một số ý kiến của các nhà nghiên cứu ngôn ngữnhư Lương Văn Đang – Nguyễn Lực và Đỗ Hữu Châu

Ý kiến của Lương Văn Đang và Nguyễn Lực:

Về mặt kết cấu hình thái: Thành ngữ tiếng Việt thường phổ biến vớidạng cụm từ cố định, có những Thành ngữ có tính cố định rất cao, kết cấuvững chắc, đạt mức một ngữ cú cố định, như câu bắt chạch đằng đuôi,mèo mù vớ cá rán, chân đăm đá chân chiêu…Nếu đem thay đổi trật tự, vịtrí hay thay từ đồng nghĩa hoặc một từ loại tương đương thì lập tức kếtcấu sẽ bị phá vỡ, ý nghĩa sẽ bị thay đổi hoặc mang ý nghĩa xuyên tạc vàkhông còn có giá trị của một Thành ngữ nữa

Về mặt biểu hiện nghĩa: một bộ phận của Thành ngữ có tính đanghĩa cao, trong đó nghĩa bóng có ý nghĩa rất quan trọng Nghĩa này cótính khái quát tượng trưng cho toàn bộ tổ hợp nhưng nó không phải làtổng số nghĩa của các thành tố cộng lại Khi nói tới nghĩa bóng tức là nóitới nhiều phương thức biểu hiện nghĩa của Thành ngữ như: ẩn dụ, hoán

Trang 11

dụ, so ánh…Chẳng hạn như những câu: đi guốc trong bụng; ăn như mèohửi;ba que xỏ lá…Nghĩa bóng là đặc tính của bản chất của Thành ngữ, nógóp phần xem xét một cụm từ cố định có trở thành Thành ngữ hay không.Nhưng đây cũng chưa hẳn là một nhận định mang tính khẳng định hoàntoàn vì đôi lúc cũng có những trường hợp ngoại lệ.

Khi Thành ngữ xuất hiện dưới dạng một mệnh đề, một ngữ cố địnhtrong câu phức tạp thì nó có giá trị như một cụm từ chủ vị Các câu nhưchâu chấu đá xe, ếch ngồi đáy giếng, cốc mò vạc xơi…Thể hiện tính chấtmột cụm từ chủ vị khá rõ ràng

Ý kiến của Đỗ Hữu Châu: ông đã chỉ ra khá đầy đủ và cụ thể về đặcđiểm của Thành ngữ thể hiện qua các tính chất như:

+ Tính biểu trưng: Thành ngữ đúc kết từ những việc thật vật thật để biểutrưng cho những đặc điểm, tính chất, hoạt động, tình thế…phổ biến kháiquát Ví dụ: câu “ếch ngồi đáy giếng” chí những người không có ý chí cầutiến ham học hỏi tối ngày chỉ biết ru rú trong nhà an phận

+ Tính hình tượng cụ thể: Tính hình tượng là kết quả tất yếu của tínhbiểu trưng Thành ngữ sẽ mang tính chất của các sáng tác văn học, đó lànhững phác thảo văn học đã cố định hóa thành phương tiện giao tiếp Do cótính hình tượng nên Thành ngữ là cụ thể Tính cụ thể thể hiện ở tính bị quiđịnh về phạm vi sử dụng Ví dụ: câu “chuột chạy cùng sào” có thể dùng đểnói về một cá nhân và xã hội khác nhau, chuột là loài động vật bị coi là đángghét hôi hám nên câu Thành ngữ này thường được sử dụng để nói về nhữnghạng người mà ta coi thường, khinh bỉ và thù ghét

+ Tính dân tộc: Là đặc điểm nói chung của một ngôn ngữ cụ thể, tính dântộc giúp cho Thành ngữ của tiếng Việt không bị trùng lấp và lẩn lộn với cácThành ngữ của dân tộc khác Thành ngữ tiếng việt mang đậm màu sắc quêhương, xứ sở dân tộc Việt Nam: vắng như chùa Bà Đanh, lừ đừ như ông Từvào đền, hiền như bụt…

+ Tính biểu thái: Mỗi câu Thành ngữ thường đi kèm theo thái độ, cảm xúc

sự đánh giá như ca ngợi, coi thường, kính trọng hay khen chê như câu ăncơm nhà thổi tù và hàng tổng

Trang 12

+ Tính điệp và đối: Ngữ âm và ngữ nghĩa là hai phương diện luôn có mặttrong tính điệp và đối của Thành ngữ Ví dụ câu “sợi tơ kẽ tóc”, tính điệp thểhiện ở sự lặp lại phần phụ âm đầu “t” ở hai từ “tơ” và “tóc”, hoặc Thành ngữ

“đi ngược về xuôi” tính đối được thể hiện ở từ “đi” và “về”, “ngược” và

“xuôi” và ở thanh trắc “ngược” với thanh bằng “xuôi”

Từ những đặc điểm vừa được nêu ra ở trên đã giúp chúng ta hiểu rĩthêm về Thành ngữ,từ đó nắm được ý nghĩa và có thể nhận biết được dễ dàngđâu là Thành ngữ và đâu là Tục ngữ

1.1.3 Phân loại:

Phân loại Thành ngữ là một vấn đề cũng khá phức tạp, vì ở mỗi góc độ tiêuchí khác nhau thì sẽ co những cách chia khác nhau, cho nên Thành ngữ có rấtnhiều cách chia Trước hết, có thể dựa vào cơ chế cấu tạo (cả nội dung lẫn hìnhthức) để chia thành ngữ tiếng Việt ra hai loại: Thành ngữ so sánh và Thành ngữmiêu tả ẩn dụ

trúc là một cấu trúc so sánh Ví dụ: lạnh như tiền; đắt như tôm tươi; dainhư đĩa…

Mô hình tổng quát: A so sánh (ss) B Trong đó A là vế được so sánh, B

là vế đưa ra để so sánh, các từ so sánh thường được dùng: như, bằng, tựa,hệt…Tuy vậy, sự hiện diện của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt khá đadạng, không phải lúc nào ba thành phần trong cấu trúc cũng đầy đủ.Chúng có thể có các kiểu:

- A ss B: Đây là dạng đầy đủ của thành ngữ so sánh Ví dụ: đắt nhưtôm tươi, nhẹ tựa lông hồng, lạnh như tiền, dai như đỉa đói, đủng đỉnhnhư chĩnh trôi sông, lừ đừ như ông từ vào đền

- (A) ss B: Ở kiểu so sánh này, thành phần A của thành ngữ khôngnhất thiết phải có mặt Nó có thể xuất hiện hoặc không ở trong câu nhưngngười nghe vẫn sẽ lĩnh hội được ý nghĩa của Thành ngữ ở dạng toàn vẹn

Ví dụ: (chắc) như đinh đóng cột, (vui) như mở cờ trong bụng, (khinh)như rác, (Chậm) như rùa

Trang 13

- Ss B: Trong trường hợp này A không phải là thành phần có mặttrong câu Thành ngữ nhưng khi đi vào hoạt động trong câu nói, thành ngữkiểu này sẽ được nối thêm với A một cách tuỳ nghi, nhưng nhất thiết phải

có A là của câu nói và nằm ngoài thành ngữ Ví dụ: Như tằm ăn rỗi, nhưvịt nghe sấm, như con chó ba tiền, như gà mắc tóc, như đỉa phải vôi, nhưngậm hột thị

Đối với Thành ngữ so sánh tiếng Việt, có thể nêu một vài nhận xét vềcấu trúc như sau:

 Vế A (vế được so sánh) không phải bao giờ cũng buộc phải hiện diệntrên cấu trúc hình thức, nhưng nội dung của nó thì vẫn luôn luôn là cáiđược "nhận ra" A thường là những từ ngữ biểu thị thuộc tính, đặc trưnghoặc trạng thái hành động nào đó Rất ít khi chúng ta gặp những khả năngkhác

 Từ so sánh trong thành ngữ so sánh tiếng Việt phổ biến là từ như, cònnhững từ so sánh khác: tựa, tựa như, như thể, bằng, tày Ví dụ: (gươngtày liếp, tội tày đình, cưới không bằng lại mặt ) chỉ xuất hiện hết sức ítỏi

 Vế B (vế để so sánh) luôn luôn hiện diện, một mặt để thuyết minh làm

rõ cho A, mặt khác, nhiều khi nó lại chỉ bộc lộ ý nghĩa của mình trong khikết hợp với A, thông qua A Ví dụ: Ý nghĩa “lạnh” của tiền chỉ bộc lộtrong “lạnh như tiền” mà thôi Các Thành ngữ: nợ như chúa Chổm; ráchnhư tổ đỉa; say như điếu đổ cũng tương tự như vậy

Mặt khác, các sự vật, hiện tượng, trạng thái được nêu ở B phản ánhkhá rõ nét những dấu ấn về đời sống văn hoá vật chất và tinh thần củadân tộc Việt Vế B có cấu trúc không thuần nhất:

 B có thể là một từ Ví dụ: Lạnh như tiền, Rách như tổ đỉa, Nợ nhưchúa Chổm, Đắng như bồ hòn

 B có thể là một kết cấu chủ-vị (một mệnh đề) Ví dụ: Như đỉa phảivôi, như chó nhai giẻ rách, lừ đừ như ông từ vào đền, như thầy bói xemvoi

cơ sở miêu tả một sự kiện một hiện tượng bằng cụm từ nhưng biểu hiệnnghĩa một cách ẩn dụ Xét về bản chất, ẩn dụ cũng là so sánh, nhưngđây là so sánh ngầm, từ so sánh không hề hiện diện Cấu trúc bề mặtcủa thành ngữ loại này không phản ánh cái nghĩa đích thực của chúng

Ví dụ: Thành ngữ “ngã vào võng đào”, cấu trúc của thành ngữ nàycho thấy: có ai đó bị ngã, bị gặp nạn không may; bị ngã, nhưng rơi vàovõng đào (một loại võng được coi là sang trọng, tốt và quý) tức là được

đỡ bằng cái võng, êm, quý, sang, không mấy ai và không mấy lúc đượcngồi, nằm ở đó

Trang 14

=> Từ việc hiểu được cái ý nghĩa cơ sở của cấu trúc bề mặt này người tamới hiểu ra được ý nghĩa thực của câu thành ngữ này là: tưởng chừng làchuyện không may nhưng thực ra là rất may mắn cũng như người ta haynói là trong cái rủi có cái may.

Căn cứ vào nội dung của thành ngữ miêu tả ẩn dụ kết hợp cùng vớicấu trúc của chúng, có thể phân loại nhỏ hơn như sau:

- Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu một sự kiện: Trong các thànhngữ này chỉ có một sự kiện, một hiện tượng nào đó được nêu ra Chính vìvậy, cũng chỉ một hình ảnh được xây dựng và phản ánh Ví dụ: Ngã vàovõng đào; nuôi ong tay áo; nước đổ đầu vịt; chó có váy lĩnh; hàng thịtnguýt hàng cá; vải thưa che mắt thánh; múa rìu qua mắt thợ

- Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu hai sự kiện tương đồng: trongmỗi thành ngữ sẽ có hai sự kiện, hai hiện tượng dược nêu ra, được phảnánh, chúng tương đồng với nhau Ví dụ: Ba đầu sáu tay, nói có sách mách

có chứng; ăn trên ngồi trốc; mẹ tròn con vuông; hòn đất ném đi hòn chìném lại

- Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu hai sự kiện tương phản: trongmỗi câu thành ngữ của loại này cũng sẽ có hai hiện tượng hoặc hai sựkiện được phản ánh nhưng chúng lại mang ý nghĩa tương phản với nhau

Ví dụ: Một vốn bốn lời; méo miệng đòi ăn xôi vò; miệng thơn thớt dạ ớtngâm; bán bò tậu ễnh ương; xấu máu đòi ăn của độc

Ngoài ra còn có những cách chia khác như:

 Dựa vào chức năng địa danh (theo Cù Đình Tú):

 Thành ngữ biểu thị sự vật: châu chấu đá xe, bách chiến bách thắng,

 Dựa vào kết cấu (theo Đỗ Hữu Châu):

 Thành ngữ cố định có kết cấu câu: giao trứng cho ác, lời nói gió bay,nước đổ lá khoai, gió vào nhà trống…

 Thành ngữ cố định có kết cấu cụm từ: đao to búa lớn, gắp lửa bỏ tayngười,chăn đơn gối chiếc…

Tóm lại việc phân loại thành ngữ có rất nhiều tiêu chí khác nhau Tuynhiên không phải trong số đó có tiêu chí thì quan trọng, tiêu chí thì khôngquan trọng, mà điều cần thiết đó là qua các tiêu chí đó bổ sung thêm chonhau giúp cho người đọc, người viết có thể qua đó mà phát hiện được cácđặc trưng ngữ nghĩa của thành ngữ

Trang 15

- Một định nghĩa khác trong giáo trình “Lịch sử văn học Việt Nam”(tập1): Tụcngữ là câu nói thường ngắn gọn có vần hoặc không có vần, có nhịp điệu hoặckhông có nhịp điệu, đúc kết kinh nghiệm sản xuất hay đấu tranh xã hội, rút ramột chân lí phổ biến, ghi lại một nhận xét về tâm lí, phong tục tập quán củanhân dân, tục ngữ do nhân dân sáng tác và được toàn thể xã hội công nhận Haytrong giáo trình “Văn học dân gian” (tập 2) của cố giáo sư Hoàng Tiến Tựu diễnđạt lại định nghĩa về tục ngữ đã nêu ở trên gọn hơn như sau: “ Tục ngữ là thểloại VHDG nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét, phánđoán, lời khuyên răn của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, giản

dị súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền”

Hay còn có một số khái niệm khác như:

“Tục ngữ là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân vềthiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội Tục ngữ thiên về trítuệ nên thường được ví von là "trí khôn dân gian" Trí khôn đó rất phong phú màcũng rất đa dạng nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, xúc tích, dễnhớ, giàu hình ảnh và nhịp điệu Có thể coi tục ngữ là văn học nói dân gian nênthường được nhân dân vận dụng trong đời sống sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng

và xã hội hay hẹp hơn như lời ăn tiếng nói và khuyên răn.”

 “Là một câu tự nó diễn đạt được trọn vẹn một ý, một nhận xét,một kinh nghiệm, một luân lý, có khi là một sự phê phán”(Vũ Ngọc Phan)

 “Tục ngữ là những sáng tác dân gian ngắn gọn, có đơn vị là câu,nội dung ghi lại những điều quan sát về thiên nhiên, con người và xã hội, nhữngkinh nghiệm sống, những lời khuyên răn Có thể xem Tục ngữ như là một triết lídân gian”(Chu Xuân Diên)

Trong cuốn “Tục ngữ Việt Nam cấu trúc và thi pháp” của tác giả NguyễnThái Hòa thì cho rằng: “Tục ngữ được hình thành từ trong lời nói hằng ngày, cósức sản sinh và được sử dụng thường xuyên như một công cụ tư duy và diễn đạtsắc bén, đồng thời cũng là kho tàng lưu giữ những kinh nghiệm, tri thức cuộcsống của nhân dân, phản ánh tâm thức và ý thức của dân tộc và được lưu truyền

từ đời này sang đời khác”

Qua các khái niệm trên, ta thấy các học giả đều cho rằng: Tục ngữ là câu nóingắn gọn xuôi tai,dễ nhớ; diễn đạt những kinh nghiệm, bài học, lời khuyênrăng… nói về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội Nóthường được nhân dân vận dụng trong suy nghĩ, trong nói năng và trong nhữnghoạt động thực tiễn của mình như:trong công việc, giao tiếp, ứng xử…

Một số ví dụ:

Trang 16

“Đói cho sạch, rách cho thơmGần mực thì đen, gần đèn thì sáng

Có công mài sắt có ngày nên kimUống nước nhớ nguồn”

nội dung như sau:

chỉnh về mặt ngữ pháp, diễn đạt một ý trọn vẹn Về mặt cấu trúc,câu tục ngữ có nhiều nét đặc sắc, trong đó có hai đặc điểm nổi bật:

bao giờ cũng rất ngắn gọn, không dài dòng nhưng bên tronglại chứa đựng rất nhiều ý nghĩa Tục ngữ ưa nói ngắn, nóingắn một cách thường xuyên, câu ngắn nhất chỉ có ba tiếng

như: “may hơn khôn; túng thì tính” Câu dài nhất là câu lục

bát, cùng dạng với ca dao:

“ Rượu ngon bất luận be sành

Áo rách khéo vá hơn lành vụng may”

Thông thường thì những câu tục ngữ sẽ có từ bốn đến tám tiếng: Ác giả, ácbáo; khéo ăn thì no, khéo co thì ấm; tre già măng mọc; đi một ngày đàng họcmột sàng khôn; chưa làm xã đã học ăn bớt…

Qua đó cho ta thấy được rằng gọn chắc là một yêu cầu cao nhất của sự sángtạo tục ngữ, mỗi tiếng mỗi từ trong câu tục ngữ đều có vai trò, ý nghĩa quantrọng và được ép chặt với nhau

trúc đặc trưng của câu tục ngữ là cấu trúc đối xứng Câu đốixứng là câu có sự tương ứng đều đặn của các thành phầntrong câu Ta thấy, đó là câu có những đặc điểm sau:

+ Cấu tạo thành những vế (thường là hai vế) đối xứng với nhau, có quan

hệ lôgíc chặt chẽ với nhau

+ Giữa các vế có sự cân bằng (đôi khi chỉ là cân bằng tương đối) về sốlượng từ và sự đối xứng về từ loại, từ nghĩa …của những từ đồng vị

Căn cứ vào các tiêu chí cú pháp và logic có thể chia câu tục ngữ ra làm hailoại:

+ Cấu trúc đối xứng đơn: Câu đối xứng đơn là câu, thứ nhất về mặt logic,biểu đạt một phán đoán, thứ hai về mặt cú pháp, là câu đơn (“vế” tươngđương với thành phần của câu)

+ Cấu trúc đối xứng kép: Câu đối xứng kép là câu: thứ nhất về mặt lôgíc,

có sự liên kết hai (hoặc hơn hai) phán đoán tương tự, tương đương hoặctương phản thành một suy lý, thứ hai về mặt cú pháp, là câu phức (“vế”tương đương với câu đơn)

có tính chất bền vững, được xây dựng bởi ba loại vật liệu chính là

Trang 17

từ ngữ, nhịp và vần Những vật liệu này được kết hợp chặt chẽ, hàihòa với nhau để tạo ra sức biểu đạt hoàn hảo của câu.

rất chính xác và sâu sắc, gần như là khó có thể thay đổi được sự trật

tự vốn có của nó nhưng đồng thời những từ ngữ ấy lại mang nét rấtgiản dị, đơn sơ Từ ngữ trong câu tục ngữ thường đích đáng và sâusắc vì nhằm để đảm bảo tính chất tối ưu cho không gian ngôn ngữ,giản dị và đơn sơ vì tục ngữ là hình thức tinh luyện của khẩu ngữdân gian Muốn đi sâu vào đặc điểm này nên tập trung sự quan sátvào bộ phận vị ngữ trong câu tục ngữ, cụ thể là những động từ vànhững tính từ chỉ tình thái hay tính chất

Một diều nữa cũng rất tiêu biểu của từ ngữ trong câu tục ngữ, là tính hìnhảnh của sự diễn đạt những khái niệm, những ý tưởng trừu tượng Ở đây, biệnpháp được sử dụng rộng rãi hơn cả vẫn là biện pháp so sánh Trong tục ngữ,xét chung, có ba loại quan hệ so sánh:

 So sánh nhằm diễn đạt những khái niệm trừu tượng một cách cụ thể,hình ảnh

 So sánh giữa hai vế của cấu trúc câu tục ngữ nhằm biểu đạt một suy

là trong ứng dụng, câu tục ngữ này trở thành một thí dụ hoặc ẩn dụ khi người

sử dụng muốn nhấn mạnh, đề cao mối quan hệ huyết thống

quan trọng không thể thiếu trong việc tạo dựng cấu trúc của câu tục ngữ cả về phương diện nội dung lẫn nghệ thuật Vần và nhịp gắn bó với nhau để cùng tạo nên tính nhạc cho câu tục ngữ, góp phần thể hiện nổi bật ý nghĩa của câu tục ngữ

+ Trong tục ngữ vần là yếu tố giữ nhịp, tạo ra sự hài hòa về mặt âm thanhcho câu, đồng thời góp phần làm nâng nổi những từ có ý nghĩa quan trọngtrong câu Vần hết sức phong phú, linh hoạt, bắt với nhau rất tự nhiên mà tài

tình và không tùy tiện cốt lấy sự “xuôi tai, vần vè” Ví dụ: Khôn đâu có trẻ,

khỏe đâu có già; đầu năm buôn muối, cuối năm buôn vôi; khéo ăn thì no,

khéo co thì ấm; việc người thì sáng, việc mình thì quáng…

+ Nhịp là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên cấu trúc đối xứng của câutục ngữ và làm cho cấu trúc đối xứng đó hiển hiện ra khi nói Thường thì câutục ngữ sẽ có cấu trúc đối xứng nằm ở giữa hai vế (nếu ba vế thì sẽ có haitrục) ví dụ: đầu gà/má lợn; quan xứ Nghệ/ lính lệ xứ Thanh; chè hàng nồi/xôihàng chõ/võ hàng đời…Đa phần các câu tục ngữ có số lượng âm tiết bằngnhau thì sẽ có nhịp trùng với ranh giới giữa các vế, tuy nhiên cũng có trườnghợp ngoại lệ đó là có những câu tục ngữ không có số lượng âm tiết giữa các

vế bằng nhau nhưng câu tục ngữ đó vẫn có nhịp Ví dụ: Không thầy/đố màylàm nên; sợ hẹp lòng/ không ai sợ hẹp nhà…

Trang 18

Nói tóm lại chính nhờ vào những đặc điểm vừa nêu ra ở trên đã cho ta cóthể thấy và hiểu rõ hơn về tục ngữ, từ đó có một cái nhìn bao quát hơn về sựkhác biệt giữa tục ngữ với thành ngữ,quán ngữ hay ca dao dân ca.

học giả trước, xin được trích dẫn một số cách phân loại như sau:

- Căn cứ vào nội dung( theo Trần Hoàng):

+ Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất:

Ví dụ: “Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưaĐầu năm sương muối, cuối năm gió bất”

“Ai ơi nhớ lấy câu nàyNuôi tằm ba lứa, ruộng cày ba nămNhờ trời hòa cốc phong đăngCấy lúa lúa tốt, nuôi tằm tằm tươi”…

Ví dụ: “Chữ tốt xem tay, người hay xem khoáy”

“Mỏng môi hay hớt, trớt môi nói thừa”

“Con mắt lá răm, lông mày lá liễu đánh trăm quan tiền”

“Đi tát sắm gàu, đi câu sắm gió”

“Vì cây dây leo”…

Ngoài ra xin nêu thêm những cách phân loại khác để tìm hiểu thêm như:

đoán như:

+ Phán đoán xác thực: ví dụ: tấc đất, tấc vàng; lời nói, gói vàng; sứakhông nhảy qua đăng Dạng phán đoán này nói lên xu hướng khẳngđịnh tuyệt đối trong suy nghĩ của nhân dân về bản chất của các hiệntượng tự nhiên, xã hội và đời sống con người Dạng phán đoán nàychiếm tần số rất cao trong tục ngữ

+ Phán đoán xác suất: ví dụ: Những người lử khử lừ khừ, chẳng ở Đại

Từ cũng ở Vơ Nhai; Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, chẳng thanh lịch

Trang 19

cũng người Thượng Kinh Thật ra dạng phán đoán xác suất cũng làphán đoán xác thực vì chẳng A thì B chính là một câu khẳng định dướihình thức phủ định.

+ Phán đoán bác bỏ: ví dụ: Thề ca trê chui ống; thật thà cũng thể láitrâu, thương nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng Những phán đoán bác

bỏ ở đây không biểu thị bằng hình thức phủ định với các từ “không”,

“chẳng”, “không phải”…mà lại có hình thức so sánh để nêu lên ýnghĩa thực mà câu tục ngữ muốn nói đến

từ đầu đã có thể nắm bắt và diễn tả đúng được bản chất của sự vật

và hiện tượng Nên việc nhận thức bắt đầu từ những sự vật, hiệntượng đơn giản nhất, từ sự quan sát những mối quan hệ riêng lẻ,

từ đó chuyển sang phân tích những sự vật, hiện tượng trong tínhphổ biến của chúng, trong tính tất yếu và tính quy luật của chúng.Đấy là mục đích chủ yếu của quá trình nhận thức, quá tŕnh này đãđược phản ánh vào các hình thức phán đoán của tục ngữ Có badạng phán đoán theo tiêu chí tầng bậc:

+ Phán đoán đơn nhất: ví dụ: Người ta là hoa đất; nước mưa là củatrời…

+ Phán đoán bộ phận: ví dụ: Nốt tiền ở cổ có lỗ tiền chôn; có bát, mátmặt…

+ Phán đoán toàn thể: ví dụ: Chim khôn ai nỡ bắn, người khôn ai nỡnói nặng; bà chúa đứt tay, ăn mày sổ ruột…

Tóm lại tục ngữ cũng giống như thành ngữ có rất nhiều cách để phân loại.Nhưng nhìn chung các tác giả điều dựa vào giá trị ngữ nghĩa để phân loại rathành các loại nhỏ

Thành ngữ và tục ngữ được dùng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhândân ta Tuy nhiên, để hiểu đúng nghĩa một câu tục ngữ hay một thành ngữ, nhất

là phân biệt đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ cũng không mấy dễ dàng với khánhiều người Muốn phân biệt được đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ thì phải cócăn cứ, có cơ sở khoa học và tiêu chí để phân định

Về mặt lí thuyết , các nhà ngôn ngữ học cũng đã để tâm khi tìm hiểu mốiquan hệ bao gồm sự giống nhau và khác nhau giữa Thành ngữ và Tục ngữ.Chẳng hạn Tục ngữ thường được hiểu là “những câu ngắn gọn có cấu trúc tươngđối ổn định, đúc kết kinh nghiệm sống, tri thức của một dân tộc”, còn Thành ngữ

là “những cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thànhmột chỉnh thể địa danh, có ý nghĩa chung khác với tổng số ý nghĩa của các thành

tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ởtrong câu” Hay nói một cách đơn giản hơn thì Thành ngữ là những cụm từmang tính biểu trưng còn Tục ngữ là những câu- ngôn bản đặc biệt, biểu thịnhững phán đoán một cách nghệ thuật Tuy nhiên về mặt thực tế, người ta thấy

có sự chuyển hóa đan xen giữa Thành ngữ và Tục ngữ Chính vì thế ta khôngcần ngạc nhiên khi thấy những câu: thuốc đắng dã tật; uống nước nhớ nguồn; saimột li đi một dặm… vừa được đưa vào từ điển Thành ngữ nhưng cũng có thể

Trang 20

thấy trong từ điển Tục ngữ Và chính trong Truyện Kiều chúng ta cũng bắt gặp

sự chuyển hóa như thế:

- Thăm ván bán thuyền <=> có thăm ván mới bán thuyền

- Tai vách mạch rừng <=> rừng có mạch, vách có tai

- Cờ đã đến tay <=> cờ đến tay ai người ấy phất

- Mạt cưa mướp đắng <=> mạt cưa gặp mướp đắng

- Kẻ cắp bà già <=> kẻ cắp gặp bà già

Vì đây là một vấn đề khá phức tạp, và dường như chưa có một giải pháp nào đểphân định rạch ròi cho hai phạm vi này, nên dung hòa chúng với nhau để tìm hiểu sẽ làcách tốt hơn là phân chia chúng ra Theo ông Cù Đình Tú, ta có được bảng tóm tắtphân biệt Thành ngữ và Tục ngữ như sau:

Thành ngữ Tục ngữ

1 Chức năng -Định danh: gọi tên sự

vật, hoạt động, tính chất -Thông báo: thông báomột nhận định, một kết

luận về một phương diệncủa thế giới khách quan

2 Cấu tạo - Đại bộ phận là những

kết cấu của một trung tâm

hệ giữa các bộ phận trongthông báo

3 Vận dụng trong lời nói - Dùng làm bộ phận để

tạo thành câu

- Có khả năng độc lập tạothành câu, cũng có khi dùng làm một bộ phận để tạo thành câu

LIÊN QUAN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:

động của con người Thông qua hoạt động giao tiếp, những mối quan hệ giữacon người được xây dựng Sự hiểu biết và nắm vững những quy luật của giaotiếp góp phần làm tăng hiệu quả của lao động sản xuất và điều chỉnh các mốiquan hệ xã hội

một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, cácdiễn ngôn qua đó mà tác động lẫn nhau Đó là những người tương tác bằngngôn ngữ, giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp và quan hệliên cá nhân Trong nhân vật giao tiếp gồm có vai giao tiếp và quan hệ liên cánhân

1.2.2.1 Vai giao tiếp:

Trong một cuộc giao tiếp luôn có sự phân vai:

Trang 21

+ Vai phát ra diễn ngôn tức là vai người nói hoặc viết, được kí hiệubằng Sp1(speaker 1).

+ Vai tiếp nhận diễn ngôn, tức là người nghe hoặc đọc, được kí hiệu bằng Sp2(speaker 2)

Trong cuộc giao tiếp nói, mặt đối mặt, hai vai nói- nghe thường luân chuyển,Sp1 sau khi nói xong sẽ chuyển thành vai nghe Sp2 và ngược lại Trong mộtcuộc giao tiếp bằng lời trừ thuyết ngôn, các vai giao tiếp trên có thể có mặt hoặcvắng mặt và tiếp ngôn có thể ở tình trạng chủ động (có thể đáp lời ngay lời củangười nói) mà cũng có thể là bị động(chỉ tiếp nhận, không phản hồi tại chỗ)

1.2.2.2.Quan hệ liên cá nhân:

Quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểubiết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau Quan hệ liên cá nhân giữacác nhân vật giao tiếp có thể xét theo hai trục:

+ Trục tung là trục vị thế xã hội còn gọi là trục quyền uy (Power)

+ Trục hoành là trục của quan hệ khoảng cách còn gọi là trục thân cận(solidarity)

Theo như sự phân chia của trục giao tiếp thì những người giao tiếp ở trụcquyền uy dù ở mức độ cao hay thấp hoặc bình đẳng với nhau và quan hệ vị thế

là phi đối xứng, có nghĩa là trong quá trình giao tiếp vị thế của người giao tiếp

sẽ không vì sự thương lượng mà thay đổi Còn ở trục khoảng cách thì các nhânvật giao tiếp có thể gần gũi mà cũng có thể xa cách nhau nhưng qua thươnglượng có thể thay đổi được khoảng cách đó

thế giới vật lí, sinh lí, tâm lí, xã hội, tôn giáo, lịch sử các nghành khoa học, nghệthuật… Ở thời điểm và không gian trong đó đang diễn ra cuộc giao tiếp Không

có những hiểu biết này, lời nói có thể rất dài mà người nghe vẫn không hiểu biếtđược hết

1.2.4.Nội dung của diễn ngôn:

Về nội dung, diễn ngôn có hai thành tố:

+ Nội dung thông tin hay còn gọi là nội dung miêu tả: là thành tố nghĩa học, bịqui định bởi đúng- sai, lôgic, cũng là nội dung trí tuệ , hình thành do quan hệgiữa diễn ngôn và hiện thực được nói tới

+ Nội dung liên cá nhân: bao gồm tất cả các nội dung của diễn ngôn, không bịqui định bởi tính đúng- sai, lôgic

Hai thành tố nội dung này có thể hiện diện một cách tường minh trong diễnngôn, nhưng qua câu chữ của diễn ngôn nó cũng có thể tồn tại một cách hàm ẩn,những người giao tiếp phải suy từ nội dung tường minhcủa diễn ngôn mới nắmbắt được nó

đích của diễn ngôn qua các thành tố của nội dung diễn ngôn Nói một cách tổngquát, diễn ngôn có đích tác động Người nói, nói ra một diễn ngôn là nhằm tácđộng đến người nghe qua các thành tố nội dung của diễn ngôn Trong giao tiếp,các nhân vật giao tiếp Sp1 và Sp2 có thể làm thay đổi nhận thức của nhau, đó là

Trang 22

đích thuyết phục của diễn ngôn, họ có thể làm thay đổi trạng thái cảm xúc tìnhcảm của nhau, đó là đích truyền cảm Họ có thể thúc đẩy nhau hành động, đó làđích hành động của diễn ngôn Đích thuyết phục về nhận thức do thành tố thôngtin đảm nhiệm Hai đích truyền cảm và hành động do thành tố liên cá nhân đảmnhiệm.

Nói tóm lại, những điều đã trình bài ở trên là một phương tiện cực kì quantrọng và góp phần phục vụ đắc lực cho quá trình tìm hiểu, phát hiện những giátrị về mặt cấu trúc và ngữ nghĩa Với kiến thức ở phần một khái quát về Thànhngữ, tục ngữ đã làm nền tảng cho việc tìm hiểu nghệ thuật vận dụng thành ngữ,tục ngữ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều, không đơn giản chỉ là sử dụng lạinhững thành ngữ và tục ngữ nguyên khối có sẵn trong tiếng Việt mà qua đó tacòn thấy được sự sáng tạo tài tình của đại thi hào Nguyễn Du, ông không nhữngkhôn khéo sử dụng những thành ngữ, tục ngữ hay vốn có sẵn mà còn từ đó pháttriển hơn để tạo thành những thành ngữ, tục ngữ được tách, đảo, mượn ý hayyếu tố…xét về mặt cấu trúc Riêng ở phần hai chính những khái niệm nền tảngcủa ngữ dụng học đã giúp ích cho việc khai thác giá trị về mặt ngữ nghĩa Nhữngvấn đề vừa nói trên sẽ được trình bài một cách rõ hơn trong chương II: “Nghệthuật vận dụng Thành ngữ, tục ngữ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều”

1.3.1.Tác giả:

Nguyễn Du (1765-.1820), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; quêlàng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; sinh trưởng trong một giađình đại quí tộc có truyền thống văn học và nhiều đời làm quan Ông là mộtnhà thơ lớn của Việt Nam, được người Việt kính trọng gọi ông là "Đại thihào dân tộc" Năm 1965, Nguyễn Du được UNESCO công nhận là danhnhân văn hóa thế giới

Nguyễn Du sinh trưởng trong một thời đại có nhiều biến động dữ dội: xãhội phong kiến Việt Nam bước vào thời kì khủng hoảng sâu sắc, phong tràonông dân khởi nghĩa nổ ra liên tục mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa nông dânTây Sơn Phong trào nông dân Tây Sơn thất bại, chế độ phong kiến triềunguyễn được thiết lập Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Du đã sống nhiều nămphiêu bạt trên đất Bắc(1786 – 1796) rồi về ở ẩn tại quê nội Hà Tĩnh (1796 –182) Sau khi Nguyễn ánh lên ngôi, Nguyễn Du ra làm quan bất đắc dĩ vớitriều Nguyễn Năm 1813 – 1814, ông được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc,năm 1820 khi chuẩn bị làm chánh sứ sang Trung Quốc lần thứ hai, nhưng chưakịp đi thì ông bị bệnh và mất tại Huế vào ngày mồng 10 tháng 8 al (16-9-1820)

Trang 23

thọ 54 tuổi Năm Giáp Thân (1824), người ta cải táng ông và đưa về quê nhàTiên Điền, Hà Tĩnh.

Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị lớnbằng chữ Hán và chữ Nôm Về chữ Hán Nguyễn Du có ba tập thơ (Thanh Hiênthi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục) với tổng số 243 bài Về chữNôm xuất sắc nhất là Đoạn trường tân thanh, thường gọi là Truyện Kiều, ngoài

ra còn có Văn chiêu hồn

1.3.2.Tác phẩm:

Truyện Kiều là tên gọi phổ biến của tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh,một tác phẩm đã tạo nên tên tuổi của tác giả Nguyễn Du trở thành danh nhânvăn hóa thế giới Truyện được viết dựa theo cốt truyện “Kim vân Kiều Truyện”của nhà văn Thanh Tâm Tài Nhân Tuy nhiên để tạo nên giá trị không bị lưu

mờ bởi thời gian là sự sáng tạo đột phá và đặc sắc bởi ngòi bút tài tình của nhàthơ Nguyễn Du

Truyện Kiều bao gồm 3254 câu thơ lục bát và được chia làm 3 phần:

- Phần thứ nhất: gặp gỡ và đính ước

- Phần thứ hai: gia biến và lưu lạc

- Phần cuối: đoàn tụ

Truyện Kiều đã đem lại ba giá trị nghệ thuật hết sức to lớn:

phong kiến đầy rẫy sự bất công, tàn bạo Phản ánh sâu sắc hiện thực xã hộiđương thời là cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỉ XIX (xã hội đồng tiền, xấu xa đồibại và những bất công) Phản ánh thân phận thấp hèn của người phụ nữ trong

xã hội, cho dù là người phụ nữ có nhan sắc

- Giá trị nhân đạo:

+ Ca ngợi phẩm chất đẹp đẽ và tài sắc của người phụ nữ.

+ Thông cảm và đồng cảm sâu sắc trước nỗi khổ của con người, đặcbiệt là với nỗi khổ của người phụ nữ dưới xã hội phong kiến

+ Thể hiện khao khát trong tình yêu, hạnh phúc lứa đôi

+ Ước mơ tự do công bằng trong cuộc sống

- Giá trị nghệ thuật:

Trang 24

+ Về ngôn ngữ: Một trong những lý do để tác phẩm truyện Kiều trởthành quen thuộc, gần gũi và dễ hiểu với người đọc là bởi tác phẩm mangđậm bản chất dân gian, gần gũi với đời sống hàng ngày nhất là nghệ thuật sửdụng tiếng nói quần chúng của đại thi hào qua biệt tài vận dụng thành ngữ,tục ngữ trong kho tàng văn học dân gian.

Có lẽ trong lịch sử thi ca của ta từ xưa đến nay, khó tìm được một tácphẩm nào mà thành ngữ, tục ngữ xuất hiện nhiều như trong "Truyện Kiều".Ngôn ngữ độc thoại được vận dụng tài tình để bộc lộ nội tâm nhân vật, ngônngữ đối thoại được thể hiện tinh tế nhằm làm nổi bật tính cách và hoàn cảnhcủa nhân vật

Nói tóm lại, trong suốt cuộc đời của mình tác giả Nguyễn Du đã sáng tác

và để lại cho đời rất nhiều tác phẩm hay nhưng thành công hơn hết đó là tácphẩm “Truyện Kiều”, một tác phẩm được đánh giá là viên ngọc quý của nềnvăn học Việt Nam,bởi sự sáng tạo độc đáo của nhà thơ trong việc đã vậndụng và phát huy thành công những thành ngữ, tục ngữ vốn có sẵn trong nềnvăn học dân gian

Trang 25

2 CHƯƠNG 2: NGHỆ THUẬT VẬN DỤNG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA

NGUYỄN DU

Dựa vào những tài liệu đã tìm hiểu được và thành tựu của những nhànghiên cứu đi trước như nhà nghiên cứu Phạm Đan Quế [31]; Nguyễn QuốcDũng [11], nên xin được trình bài một số khái niệm cơ bản về các kiểu Thành

ngữ, tục ngữ trong Truyện Kiều như sau:

5.1 THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ ĐỐI:

Thành ngữ, tục ngữ đối là thành ngữ, tục ngữ được cấu tạo theo phươngthức đối nhau như sau:

 Về ngữ pháp: mỗi vế của thành ngữ, tục ngữ gồm hai từ cùng loại,

cùng kiểu kết cấu và cùng chức năng ngữ pháp

 Về ngữ nghĩa: vừa có nét đồng nghĩa, vừa có nét khác biệt.

 Về ngữ âm: tuy số lượng âm tiết ngang nhau nhưng đối lập với nhau

về thanh điệu bằng trắc, đặc biệt đối nhau về nghĩa

Ví dụ: Lên thác xuống ghềnh, kẻ ngược người xuôi, nhớ ít tưởng nhiều,

phận mỏng phúc dày, bàn ra nói vào, trai tài gái sắc, tử biệt sinh li, đất thấp trời cao, đội trời đạp đất, kẻ ở người đi …

Đối ngẫu là một trong những nhân tố có vai trò quan trọng trong kết cấucủa Thành ngữ - Tục ngữ đối, – vì đây là một nhân tố tạo nên sự hoài hòa,cân đối cho câu thơ bằng cách dùng những từ ngữ, những kết cấu cú phápnhư thế nào cho cân xứng với nhau về nội dung, xứng với nhau thành từngcặp để tạo nên một giá trị tu từ nhất định Trong một bài viết có nhan đề

“Đặc điểm hoài hòa cân đối của yếu tố Hán Việt trong kết cấu cú pháp thơ

của Truyện Kiều” được đăng trên tạp chí Văn học – ngôn ngữ [38;596-601]

của Tác giả Nguyễn Quốc Dũng cũng có nói đến cấu trúc hoà đối trong câuthơ do tác động ngữ âm của nhiều nhân tố khác nhau như vần, nhịp, thanhđiệu và đối ngẫu

Trong Truyện kiều, để tạo nên sự hài hòa cân đối trong câu thơ Nguyễn

Du đã thiết lập nên sự đối xứng giữa các tổ hợp từ, kết cấu cú pháp trong mộtphần câu, cả câu (đôi khi là mở rộng cả cặp câu lục bát)

Ví dụ :

 Lạ gì bỉ sắc / tư phong

 Thấy nàng hiếu trọng / tình thâm

Trang 26

 Vào trong phong nhã / ra ngoài hào hoa

Tuy nhiên để tạo nên sự hài hòa cân đối đó tác giả đã sử dụng các hìnhthức, các kiểu kết hợp từ, trong đó các hình thức, các kiểu có sự tham gia củacác yếu tố Hán – Việt là chiếm ưu thế Có thể nói các yếu tố Hán – Việt làphương tiện đối ưa dùng của Nguyễn Du Các hình thức đó là lặp, lồng ghép,đảo láy Vì tính chất đối nên gọi các hình thức đối này là đối lặp, đối lồngghép, đối đảo láy

a Đối lặp:

Đối lặp là lặp lại mô hình kết cấu ngữ pháp trong thế đối ứng của từngyếu tố ở các vị trí nhất định Trong Truyện Kiều, đây là kiểu đối xuất hiệnnhiều nhất

Ví dụ:

 Ngỡ là phu quý / phụ vinh

 Rồi ra lạt phấn / phai hương

 Trong cơn âm cực / dương hồi khôn hay

Cái tài tình của tác giả là ở chổ ngay trong kết cấu của yếu tố Hán – Việt,bất luận kết cấu ấy là từ hay cụm từ, quy luật đối vẫn thể hiện đầy đủ, chiphối đến từng yếu tố

b Đối lồng ghép:

Đây là hình thức tạo thế hài hòa có đối bằng cách chẻ đôi hai kết cấu để xenlồng vào nhau, kiểu [Ax, By] hay [xA, yB], [Ax, Ay] Trong đó, A và B làcác yếu tố Hán, x và y là các yếu tố Việt

Ví dụ:

 Xót thay huyên cõi / thông già

 Sinh đà phách lạc / hồn xiêu

 Nào người phượng chạ / loan chung

Nào người tiếc lục / tham hồng là ai?

 Chước đâu rẽ thúy / chia quyên

Rõ ràng các từ “già cỗi”, “xiêu lạc”, “chung chạ”, “tiếc tham”, “chia

rẽ” được tách đôi để xen lồng các yếu tố Hán vào theo thế “cài răng lược”,

đối nhau rất chỉnh về mặt thanh điệu, từ loại, cấu trúc của mỗi vế

Với trường hợp đặc biệt, A và C trùng nhau, ta lại vừa có kiểu thành ngữ,tục ngữ đối lồng ghép vừa có kiểu thành ngữ, tục ngữ điệp như sau:

Ví dụ:

 Những là lạ nước / lạ non

 Nghe tin nở mặc / nở mày

Cấu trúc xen lồng vào nhau của các thành tố tạo ra các dạng cặp đối ứng ;AB/CD, AC/BD, CD/AB ( với A, B, C, D là các từ của thành ngữ, tục ngữ cóbốn âm tiết)

Ví dụ: vào luồn / ra cúi, vào ra / luồn cúi, ra cúi / vào luồn …

Có thể minh họa bằng sơ đồ sau:

Trang 27

Cũng theo Nguyễn Thái hòa [17]: lặp lại thành phần cú pháp đồng thờicũng là sự nhấn mạnh về nghĩa của các cụm từ kết hợp với láy từ, láy vần tạo

ra một nhạc điệu riêng dễ nghe, dễ nhớ, khiến cho thành ngữ, tục ngữ khácvới các phát ngôn ngữ bình thường khác

Ví dụ: nở mặt / nở mày, lạ nước / lạ non, một hội / một thuyền, trai tài /gái sắc, tai vách / mạch rừng, thăm ván / bán thuyền …

Một đặc điểm quen thuộc của thành ngữ, tục ngữ là kết cấu sóng đôi haygói là tiểu đối có bốn âm tiết là sự láy về mặc ngữ pháp của hai cụm từ giốngnhau về mặc từ loại, có thể đồng nghĩa hoặc trái nghĩa nhau nhưng tham giathể hiện một nội dung nào đó Chẳng hạn như ví dụ trên ; nở mặc nở mày –xét về mặc cấu trúc, có đối nhau và láy theo mô hình động từ - danh từ /động từ - danh từ ; xét về mặc ngữ nghĩa thì “mặt” và “mày” thuộc cùng mộttrường nghĩa, còn trai tài gái sắc gồm hai cụm từ “trai tài”, “gái sắc” đối vớinhau rất chuẩn cả về từ loại, cấu trúc ngữ nghĩa theo mô hình danh từ - tính

từ / tính từ - danh từ Với cách diễn đạt này là do được bắt nguồn từ ngônngữ của dân tộc chứ không phải ảnh hưởng của cách hành văn trong sách cổcủa Trung Quốc

c Đối đảo láy:

Đây là hình thức tạo thế hài hòa bằng cách đảo cấu trúc của các kết cấusong tiết trong câu thơ Tác dụng của nó là lập thành sự luân phiên chuyểnđổi giữa các sự vật, hiện tượng, có khi tác động lên nhau như trường hợp:

 Hại nhân nhân hại sự nào tại ta

5.2 THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ ĐIỆP:

Thành ngữ, tục ngữ điệp là thành ngữ, tục ngữ được cấu tạo theophương thức điệp, nhằm tăng cường ý nghĩa và tạo mối liên hệ cấu trúc, vềthanh điệu các thanh bằng trắc có thể sóng đôi hoặc xen kẽ nhau, về mặt từngữ có thể lặp lại yếu tố đầu của một vế, còn về loại từ có khi sẽ đi đôi songsong với nhau Tuy nhiên đây không phải là một sự trùng lặp vô ích không

có ý thức mà phép điệp là sự lặp lại nghệ thuật đem đến sự thành công caocho tác phẩm

Ví dụ một số câu thành ngữ, tục ngữ trong Truyện Kiều như sau:

 Nghe tin nở mặt nở mày

 Mụ càng kể nhặt kể khoan

Trang 28

 Cũng người một hội một thuyền đâu xa

 Dù em nên vợ nên chồng

 Một hai nghiêng nước nghiêng thành

 Vợ chồng chén tạc chén thù

 Dặm rừng bước thấp bước cao hãi hung

 Hơn điều giấu ngược giấu xuôi

 Giọt ngắn giọt dài, chén đầy chén vơi

 A như B: Ngựa xe như nước, áo quần như nêm

 A có tính chất như B:

o Phận sao phận bạc như vôi

o Buồng không lặng ngắt như tờ

 Có tính chất như B:

o Nhẹ như bấc, nặng như chì

o Trơ như đá, vững như đồng

Sau đây là vài ví dụ khác về thành ngữ, tục ngữ so sánh trong Truyện Kiều:

 Càng nghe mụ nói càng đau như dần

 Kiều nhi phận mỏng như tờ

 Chàng càng nghe nói càng dầu như dưa

 Nét buồng như cúc, điệu gầy như mai

 Trong ngoài kín mít như bưng

 Sinh đà rát ruột như bào

Rất có thể, nhiều người sẽ nhầm lẫn giữa cấu trúc so sánh của cụm từ tự

do với thành ngữ, tục ngữ so sánh Nhưng nếu một cấu trúc mà được lặp đi lặplại nhiều lần trong nhiều văn bản khác nhau với nội dung ổn định sẽ đươc gọi là

“đắt đỏ” hoặc “rất đắt”, cho nên nó sẽ trở thành một đơn vị hoàn chỉnh Còn cụm

từ tự do có cấu trúc so sánh thì kết cấu của nó không ổn định, rời rạc, mặt khác

nó có yếu tố so sánh (“như”, “hơn”, “gấp đôi”….) Chẳng hạn như: đắt nhưvàng, đắt gắp đôi vàng, đắt bằng mấy vàng…

Ngày đăng: 25/04/2020, 10:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w