CHƯƠNG 3: THÀNH NGỮ TRUYỆN KIỀU XÉT TỪ BÌNH DIỆN NGHĨA HỌC VÀ DỤNG HỌC
3.1.1 Thành ngữ có nghĩa biểu trưng thấp
3.1.1.1 Thế nào là thành ngữ có nghĩa biểu trưng thấp
Thành ngữ có nghĩa biểu trưng thấp (còn được gọi là những thành ngữ có nghĩa dựa vào phần nghĩa của từng thành tố) là những thành ngữ có nghĩa
miêu tả (nghĩa sự vật) được tạo nên từ nghĩa gốc hoặc một phần nghĩa gốc của các yếu tố từ ngữ cấu thành nên thành ngữ đó.
Theo kết quả thống kê, chúng tôi nhận thấy có 232/446 thành ngữ có nghĩa biểu trưng thấp (chiếm 52%)
Ví dụ:
Thành ngữ “ Nạp thái vu quy” ( Đủ điều nạp thái vu quy/ Đã khi chung chạ lại khi đứng ngồi) có nghĩa được hiểu hoàn toàn dựa vào nghĩa của các thành tố tạo nên. Theo Từ điển Truyện Kiều, thành ngữ này được hiểu dựa vào nghĩa của “nạp thái” và “vu quy”. Nạp thái là lễ dẫn của, vu quy là lễ rước dâu [1,338]. Do đó, nạp thái vu quy chỉ việc hôn lễ của người con gái. Mã Giám Sinh lấy Kiều làm vợ lẽ là theo đúng mọi thủ tục cưới xin, do vậy mà không có quyền ép Kiều làm gái lầu xanh.
3.1.1.2 Phân loại
3.1.1.2.1 Tiêu chí phân loại
Các thành ngữ có tính biểu trưng thấp được khảo sát theo hai nhóm dựa trên tiêu chí nguồn gốc và đặc điểm cấu tạo. Về nguồn gốc, như đã trình bày ở chương 2, các thành ngữ trong Truyện Kiều bao gồm thành ngữ nguyên mẫu là những thành ngữ được vận dụng từ kho tàng thành ngữ dân gian và các thành ngữ sáng tạo là những thành ngữ được Nguyễn Du sáng tạo về hình thức và nội dung.
Về đặc điểm cấu tạo, như đã trình bày ở chương 2, các thành ngữ trong Truyện Kiều được xem xét theo ba kiểu cấu tạo chính là thành ngữ đối, thành ngữ so sánh và thành ngữ thường.
Qua việc thống kê, phân loại và miêu tả một số thành ngữ tiêu biểu, chúng tôi sẽ rút ra những nhận xét bước đầu về các thành ngữ có nghĩa biểu trưng thấp.
3.1.1.2.2 Kết quả phân loại
Theo thống kê, có 113/237 thành ngữ nguyên mẫu (47.7%), 120/209 thành ngữ sáng tạo (57.4%) là những thành ngữ có nghĩa biểu trưng thấp.
Với các thành ngữ nguyên mẫu, Nguyễn Du đã lựa chọn rất nhiều thành ngữ có thể hiểu nghĩa dựa vào nghĩa của các thành tố.
Ví dụ: thành ngữ “ Bước thấp bước cao” ( Một mình khôn biết làm sao/ Dặm rừng bước thấp bước cao hãi hùng) có nghĩa được giải thích dựa trên nghĩa của từng thành tố: Bước nghĩa gốc là khoảng cách trong khi đi bộ từ bàn chân này tới bàn chân kia. Bước thấp bước cao là thành ngữ tả bước đi không chắc chắn của con người đang lo sợ [1,74].
Các thành ngữ sáng tạo của Nguyễn Du cũng có nhiều thành ngữ có nghĩa biểu trưng thấp. Trong số 55 thành ngữ được Nguyễn Du vận dụng sáng tạo nên có tới 34 thành ngữ là những thành ngữ có nghĩa được hiểu dựa vào phần nghĩa của các thành tố. Thậm chí, ông còn chêm xen vào đó những yếu tố giúp người đọc dễ dàng hiểu nghĩa của từng thành ngữ.
Ví dụ: thành ngữ “Ai khảo mà xưng” được hiểu theo nghĩa “dùng để phê bình một người tự thân nói ra một việc kín tuy rằng không ai đòi hỏi” [23,10]. Thành ngữ này được hiểu dựa vào phần nghĩa của từng thành tố. Cụ thể: “Ai gốc ở từ Brâu Côai là người. Vì gốc như thế cho nên khi dùng làm đại từ, có chỉ người một cách phiếm định” [1,32]. Kết hợp “ai…mà” nghĩa là không có ai. Nét nghĩa phủ định là do kiến trúc cảm thán đưa đến [1,33]. “Khảo là dụng cụ tra tấn người có tội để bắt xưng tội ra” [1,264]. “Xưng là khai ra, thú tội” [1,560]. Như vậy, nghĩa của thành ngữ “Ai khảo mà xưng” được hiểu từ phần nghĩa của từng thành tố tạo nên nó. Trong khi vận dụng vào Truyện Kiều, Nguyễn Du còn chêm xen vào các yếu tố từ ngữ để vừa đảm bảo nhịp điệu câu thơ vừa giúp người đọc rõ nghĩa: “Nghĩ đà bưng kín miệng bình/ Nào ai có khảo mà mình lại xưng”. Thành ngữ này nói tới suy tính của Thúc Sinh liệu có nên thú thật với Hoạn Thư về việc có thêm vợ lẽ hay không khi mà Hoạn Thư tỏ ra chưa biết gì về việc Thúc Sinh dan díu với Thúy Kiều.
Những thành ngữ do Nguyễn Du hoàn toàn sáng tạo nên cũng có rất nhiều thành ngữ có thể hiểu nghĩa thông qua phần nghĩa của các thành tố tạo nên chúng. Thành ngữ “Rấp thảm quạt sầu” ( Thương càng nghĩ, nghĩ càng đau/ Dễ ai rấp thảm quạt sầu cho khuây) được hiểu dựa vào nghĩa của các thành tố. “Rấp” là vùi lấp có vẻ tạm bợ [1,413]. “Thảm” là đau đớn xót xa [1, 478]. Do đó, “Rấp thảm” nghĩa là chôn vùi nỗi đau. “Quạt” từ nghĩa chỉ vật để phe phẩy cho mát được dùng để chỉ vật dùng để quạt [1,403]. “Sầu” nghĩa là buồn rầu. Do đó, “Quạt sầu” nghĩa là quạt cho nỗi sầu dịu đi [1,404]. Từ đó, nghĩa của thành ngữ “Rấp thảm sầu vùi” nghĩa là chôn vùi mối thảm, làm tan mối sầu [1,413].
* Về cấu tạo
Quá trình khảo sát và thống kê các thành ngữ trong Truyện Kiều cho thấy hầu hết các thành ngữ so sánh và thành ngữ thường là những thành ngữ có nghĩa biểu trưng thấp, nghĩa của các thành ngữ này được hiểu dựa trên phần nghĩa của các thành tố cấu tạo nên chúng.
Các thành ngữ so sánh có nghĩa được hiểu dựa trên nghĩa của các thành tố bởi về mặt cấu tạo, thành ngữ so sánh được bắt nguồn từ phép so sánh với nghĩa biểu trưng. So sánh dựa trên quan hệ tương đồng giữa cái đưa ra so sánh và cái so sánh. Do đó, thông thường các thành ngữ được cấu tạo ở dạng so sánh bao gồm ba bộ phận là cái đưa ra so sánh (t), cái so sánh (B) và từ so sánh (như, bằng, hơn, tày…) theo cấu trúc {t} như B. Cái so sánh thông thường là cái đã biết, đã quen thuộc trong thực tế cuộc sống nên có thể dễ dàng hiểu được nghĩa của thành ngữ so sánh thông qua chính nghĩa của các thành tố tạo nên thành ngữ đó.
Ví dụ: hai thành ngữ “ Nhẹ như bấc” và “Nặng như chì” ( Nhẹ như bấc, nặng như chì/ Gỡ ra cho nữa còn gì là duyên) chỉ thái độ của Hoạn Thư bề ngoài tuy có vẻ nhẹ như bấc nhưng thật ra lại nặng như chì, rất nguy hiểm [1,379]. Cả hai thành ngữ này đều cấu tạo đầy đủ ba phần: cái đưa ra so sánh (t): nhẹ, nặng; cái so sánh (B): bấc, chì và từ so sánh: như. Nghĩa của hai
thành ngữ trên đều được hiểu dựa vào nghĩa của từng thành tố. Cụ thể: “Nhẹ” nghĩa là không nặng gì, dễ dàng [1,379], “Bấc” là ruột thứ cỏ xốp và nhẹ dùng làm tim đèn [1,52], “Nặng” nghĩa đen chỉ một vật có trọng lượng lớn, khó nhấc lên [1,340], “Chì” là loại kim loại đen và nặng, do đó nó dùng theo nghĩa bóng chỉ chỉ cái gì đen hay nặng [1,124].
Các thành ngữ thường là các thành ngữ được cấu tạo nên theo cấu trúc các cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ hoặc các cụm chủ - vị. Các thành ngữ thường có cấu tạo là các cụm danh từ, động từ hoặc tính từ có thể hiểu nghĩa thông qua nghĩa của thành tố trung tâm.
Ví dụ: thành ngữ “Phận bọt bèo” có cấu tạo là một cụm danh từ trong đó danh từ trung tâm là “phận” chỉ cái phần riêng dành cho con người trong cuộc đời mình, tức số phận [1,391]. Do đó phận bọt bèo là chỉ thân phận trôi nổi, nhỏ bé của con người có số phận long đong, vất vả.
Thành ngữ có cấu tạo từ cụm chủ vị lại càng dễ dàng trong việc xác định nghĩa của thành ngữ dựa vào nghĩa của các thành tố.
Ví dụ: thành ngữ “Thuyền đã êm giầm” (Một lời thuyền đã êm giầm/ Hãy đưa canh thiếp trước cầm làm nghi) có nghĩa là thuyền chở hàng, xếp hàng xuống đã xong, thuyền đã êm giầm không chòng chành nữa [1,506]. Thành ngữ này ý chỉ việc bàn bạc, trao đổi về sính lễ mà thực chất là ngã giá để mua Kiều đã xong, chỉ còn chờ ngày để đón Kiều về làm vợ lẽ của Mã Giám Sinh.
Nguyễn Du đã sử dụng một số lượng lớn các thành ngữ có tính biểu trưng thấp, có thể hiểu được nghĩa của các thành ngữ này thông qua việc tìm hiểu nghĩa của các thành tố tạo nên chúng. Việc sử dụng các thành ngữ như trên giúp cho người đọc có thể dễ dàng tiếp cận tác phẩm nhờ lối nói quen thuộc của dân gian. Đặc biệt, với các thành ngữ sáng tạo, Nguyễn Du đã lựa chọn những cách kết hợp quen thuộc, dễ hiểu để hướng tới lớp người đọc bình dân có số lượng khá đông đảo trong xã hội.
Kết quả thống kê trên cho thấy số lượng các thành ngữ có nghĩa dựa vào phần nghĩa của các thành tố chiếm tỉ lệ khá cao trong tổng số các thành ngữ Truyện Kiều. Điều này thể hiện dụng ý của tác giả Nguyễn Du khi đối tượng hướng tới của ông là những độc giả ở mọi tầng lớp, đặc biệt là những độc giả bình dân. Việc sử dụng các thành ngữ gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày của quảng đại quần chúng nhân dân sẽ giúp những người đọc bình dân dễ dàng tiếp cận với tác phẩm, từ đó dễ hiểu, dễ cảm và dễ đi vào lòng người đọc. Nhờ thế mà Truyện Kiều đã trở thành một tác phẩm nằm lòng của rất nhiều thế hệ người dân Việt, lưu truyền từ đời này sang đời khác dưới nhiều hình thức từ văn bản thành văn đến truyền miệng.