1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Xây dựng nội dụng môn học phương pháp dạy học bộ môn cơ khí động lực trong trường đại học sư phạm kỹ thuật vinh

87 235 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện được hoạt động dạy học giáo viên dùng vốn tri thức, kỹ năng của mình truyền thụ cho học sinh, trong giáo dục giáo viên dùng tri thức, đạo đức của mình để ảnh hưởng đến nhân

Trang 1

-

luận văn thạc sỹ sư phạm kỹ thuật

Xây dựng nội dung môn học Phương pháp dạy học

bộ môn Cơ khí động lực trong trường CĐSPKT Vinh

Trang 2

Lời cảm ơn

Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới thầy giáo PGS.TS Nguyễn Tiến Đạt, người trực tiếp hướng dẫn tôi làm luận văn này Thầy đã dành nhiều thời gian hướng dẫn tôi lập kế hoạch, thực hiện và góp ý đánh giá trong tất cả các giai đoạn thực hiện công việc

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy lớp Cao học Vinh 2003 Các Thầy, Cô đã hướng dẫn tôi tìm tòi những tri thức mới, cơ sở để thực hiện luận văn này Các Thầy, Cô đã ảnh hưởng tới tôi những phẩm chất của con người làm việc khoa học

Tôi xin cảm ơn thầy Nguyễn Xuân Mai, hiệu trưởng trường ĐHSPKT Vinhvà các đồng nghiệp đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành bản luận văn này

Vì có nhiều yếu tố thuộc về hoàn cảnh nên luận văn không thể trành khỏi những thiếu sót, rất mong được các Thầy, Cô trong hội đồng chấm luận văn xem xét, góp ý kiến để luận văn đạt kết quả cao hơn

Trang 4

Phần 2 : Kết quả nghiên cứu 10

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc biên soạn nội dung môn học

Phương pháp dạy học bộ môn Cơ khí động lực (PPDHBMCKĐl)

10

I.2 Vị trí môn học Phương pháp dạy học bộ môn trong chương trình đào

tạo Cử nhân cao đẳng sư phạm kỹ thuật

15

II.2.1 Mục tiêu và nội dung môn học 41

II.2.2 Phương pháp dạy học 51 II.2.2.1.Các phương pháp thường được sử dụng trong chuyên ngành 51 II.2.2.2 Thực hành sử dụng các phương pháp 52

II.2.3 Hình thức tổ chức dạy học & công tác kiểm tra đánh giá 72

Trang 5

đề được đề cao trong quá trình đào tạo

Để tạo cho sinh viên có năng lực sư phạm, trong nhà trường ĐHSPKT Vinhthực hiện bằng cách trang bị cho sinh viên kiến thức và kỹ năng thông qua các môn học sư phạm Các môn học này được giảng dạy cho tất cả sinh viên đào tạo sư phạm, không phân biệt chuyên ngành Điều đó cũng có ý nghĩa là tạo cho các sinh viên thuộc các chuyên ngành khác nhau những năng lực sư phạm kỹ thuật như nhau Nhưng về thực tiễn, mỗi chuyên ngành có đặc

điểm khác nhau, quá trình dạy học chuyên ngành có những đặc trưng riêng

Qua thăm dò, điều tra việc vận dụng kiến thức vào giảng dạy chuyên ngành, người ta nhận thấy sinh viên chuyên ngành Cơ khí động lực phải mất nhiều thời gian sau khi ra trường mới tiếp cận được quá trình dạy học chuyên ngành Điều đó cũng một phần do nguyên nhân là thực tiễn dạy học chuyên ngành Cơ khí động lực đã có sự phát triển mạnh mẽ Với một vốn lý luận tương đối trừu tượng sẽ hạn chế khi tiếp cận thực tiễn, cần phải có một phương pháp luận nghiên cứu thực tiễn sư phạm chuyên ngành Cần phải trang bị cho sinh viên các kiến thức và kỹ năng sư phạm chuyên ngành

Trên thế giới, vấn đề lý luận dạy học chuyên ngành đã được đề cập từ lâu ở nước ta, trong các trường đại học sư phạm, vấn đề lý luận dạy học bộ

Trang 6

môn cũng đã được đề cập Nhưng trong các trường sư phạm kỹ thuật thì môn học này còn đang là mới mẻ Năm 2003, trường Cao đẳng sư phạm kỹ thuật Vinh đưa vào chương trình đào tạo giáo viên dạy nghề trình độ CĐSPKT môn học Phương pháp dạy học bộ môn Mặc dù đã có môn học song nội dung dạy học chưa khoa học, chưa phù hợp thực tiễn địa phương và chuyên ngành Để

có nội dung dạy học mang tính khoa học, phù hợp với thực tiễn, phù hợp trình

độ lĩnh hội của sinh viên thì cần có một nghiên cứu nghiêm túc

Từ những yêu cầu về thực tiễn của việc đào tạo trong nhà trường, mà tôi chọn đề tài nghiên cứu : “Xây dựng nội dung môn học Phương pháp dạy học

bộ môn Cơ khí động lực trong trường ĐHSPKT Vinh”

1.2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Vấn đề lý luận dạy học chuyên ngành về kỹ thuật trong thời gian gần

đây đã được quan tâm Bởi thực tiễn dạy học bộ môn đã phát triển, mỗi chuyên ngành đã chiếm một lĩnh vực trong thực tiễn giáo dục đào tạo Từ thực tiễn nghiên cứu, giảng dạy bộ môn, một hệ thống lý luận sư phạm được hình thành trên cơ sở vận dụng tri thức lý luận chung vào chuyên ngành Hệ thống

lý luận này dần dần được tách ra khỏi lý luận dạy học chung Do vậy, có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề lý luận dạy học bộ môn, có thể kể ra một số tài liệu sau :

“ Phương pháp giảng dạy bộ môn” của Trần Xuân Đam, trường CĐSPKT 1 -1997 ( Tài liệu ban hành nội bộ)

“Phương pháp dạy bộ môn kỹ thuật nghề nghiệp”của Nguyễn Đức Trí, Viện Nghiên cứu và phát triển giáo dục,1998

“Đề cương bài giảng Phương pháp dạy học sư phạm kỹ thuật công nghiệp” của TS Nguyễn Thanh Nhu, trường Đại học Bách khoa Hà Nội

“ Phương pháp dạy học thực hành nghề nghiệp” Phạm Bội Chương, trường ĐHSPKT Vinh, 1999

Trang 7

Ngoài các tài liệu nêu trên, trong các trường đào tạo giáo viên dạy nghề

đều có giáo trình môn học Phương pháp dạy học bộ môn

Những tài liệu trên đề cập đến một khía cạnh của quá trình dạy học bộ môn kỹ thuật nói chung hoặc đề cập đến quá trình dạy học bộ môn của trường

cụ thể Những tài liệu này do phản ánh được một phần của quá trình dạy học

bộ môn nên có thể được sử dụng để dạy bồi dưỡng, giảng dạy hoặc là tài liệu tham khảo Những tài liệu dạy học được biên soạn trên cơ sở mục tiêu của nhà trường cụ thể nên chỉ được sử dụng giảng dạy trong nhà trường đó ở trường CĐSP kỹ thuật Vinh cũng đã có một số tài liệu song chỉ phản ánh được một mặt, một khía cạnh của quá trình dạy học chuyên ngành Cơ khí động lực, không đưa vào giảng dạy được Hiện nay, chưa có tài liệu chuẩn giảng dạy môn Phương pháp dạy học chuyên ngành Cơ khí động lực

2 Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng nội dung môn học Phương pháp dạy học bộ môn Cơ khí động lực trong trường CĐSPKT Vinh

3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu : Nội dung dạy học môn Phương pháp dạy học

bộ môn Cơ khí động lựctrong trường CĐSPKT Vinh

Khách thể nghiên cứu : Quá trình dạy học môn học Phương pháp dạy học bộ môn Cơ khí động lực trong trường CĐSPKT Vinh

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung giải quyết 2 vấn đề sau :

- Xây dựng cơ sở lý luận của việc biên soạn nội dung môn học

- Biên soạn nội dung môn học

5 Phạm vi nghiên cứu

Tại trường CĐSPKT Vinh

6 Phương pháp nghiên cứu

Trang 8

- Phương pháp nghiên cứu lý luận : Đọc, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến nội dung bộ môn

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn : quan sát và phát vấn để thu thập thông tin

- Phương pháp thực nghiệm khoa học : Sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm trên các đối tượng

7 Cấu trúc luận văn

Phần 1 : Mở đầu

Phần 2 : Kết quả nghiên cứu

Chương 1 : Cơ sở lý luận của việc biên soạn nội dung môn học

Chương 2 : Nội dung bộ môn

Phần 3 : Thực nghiệm sư phạm

Phần 4 : Kết luận và kiến nghị

Phần 5 : Tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 9

Phần 2 : kết quả nghiên cứu

Chương 1 : Cơ sở lý luận của việc biên soạn nội dung môn học phương pháp dạy học bộ môn Cơ khí động lực

I.1 Các khái niệm cơ bản

I.1.1 Giáo dục học, Lý luận dạy học và Phương pháp dạy học bộ môn 1

Lượng tri thức của loài người được tăng theo thời gian Có nghiên cứu

đã chỉ ra rằng quy luật tăng khối lượng tri thức của loài người tăng theo hàm

số mũ, cứ 10 năm thì tăng gấp đôi

Tri thức về lĩnh vực giáo dục là một thành phần của lượng tri thức nói

chung cũng tăng theo quy luật đó Với sự gia tăng lượng tri thức, một số bộ

phận tri thức tìm ra đối tượng của mình, tách thành khoa học độc lập Từ một

bộ phận lý luận nằm trong Triết học, giáo dục học được ra đời Từ giáo dục

học, mỗi bộ phận tìm ra đối tượng nghiên cứu riêng, phương pháp riêng tách

thành các khoa học độc lập Chúng ta có Giáo dục học đại học, giáo dục học,

phổ thông, giáo dục học nghề nghiệp, Giáo dục học là khoa học về quá

trình giáo dục

Cũng từ các quá trình thực tiễn giáo dục, các bộ môn nghiên cứu được

tách riêng thành các khoa học độc lập như : lý luận chung, lý luận dạy học, lý

luận giáo dục, lý luận quản lý giáo dục Lý luận chung nghiên cứu về chính

sách chiên lược, hệ thống giáo dục, mục tiêu giáo dục, Lý luận dạy học

nghiên cứu quá trình dạy học, lý luận giáo dục nghiên cứu về quá trình giáo

dục các phẩm chất của nhân cách, lý luận quản lý giáo dục nghiên cứu quá

trình quản lý giáo dục từ vĩ mô đến vi mô Lý luận dạy học là bộ môn được

tách ra từ giáo dục học, nghiên cứu về quá trình dạy học

1 Nguồn : Nguyễn Tiến Đạt , Giáo dục học so sánh, đề cương bài giảng, 2006

Trang 10

Khi vận dụng lý luận dạy học vào các quá trình dạy học bộ môn cụ thể thì lượng tri thức về quá trình dạy học bộ môn được tăng lên Lý luận về quá trình dạy học này được tách ra thành bộ môn Phương pháp dạy học bộ môn

Như vậy, khoa học giáo dục với tính chất là khoa học nghiên cứu về quá trình giáo dục được phát triển theo con đường phân hóa Lý luận dạy học và phương pháp dạy học bộ môn được hình thành theo con đường đó

Sự phát triển của khoa học giáo dục còn theo con đường tích hợp Sự tích hợp giữa các bộ môn đã làm phát triển khoa học giáo dục Giáo dục học kết hợp với Tâm lý học thành Tâm lý học sư phạm, Giáo dục học kết hợp với khoa học quản lý thành Quản lý giáo dục, Giáo dục học kết hợp Sử học thành Lịch sử giáo dục, Giáo dục học kết hợp bộ môn khoa học thành Phương pháp dạy học bộ môn Phương pháp dạy học bộ môn cơ khí động lực là sự kết hợp giữa Lý luận dạy học và các khoa học về ôtô Phương pháp dạy học bộ môn là

bộ môn khoa học được hình thành từ con đường tích hợp

Phương pháp dạy học bộ môn cũng có thể hiểu theo 2 nghĩa Nghĩa thứ nhất phương pháp dạy học bộ môn là cách dạy học bộ môn đó Hiểu theo nghĩa này, phương pháp dạy học bộ môn bao gồm các vấn đề về cơ sở lý luận dạy học bộ môn Đó là lý luận về mục tiêu môn học, nội dung môn học, phương pháp dạy học môn học, hình thức tổ chức dạy học môn học, công tác kiểm tra đánh giá kết quả môn học, giáo viên và người học Lý luận về quá trình dạy học bộ môn sẽ là cơ sở để giáo viên tổ chức, lập kết hoạch, lựa chọn phương pháp thực hiện tốt quá trình dạy học bộ môn

Hiểu theo nghĩa hẹp, phương pháp dạy học bộ môn là phương pháp cụ thể sử dụng dạy học bộ môn đó Hiểu theo nghĩa này, phương pháp dạy học

bộ môn là sự lựa chọn và phối hợp phương pháp, sự vận dụng phương pháp chung vào quá trình dạy học bộ môn Sự lựa chọn và phối hợp phương pháp sẽ tạo nên phương pháp mới, sự vận dụng phương pháp làm sáng tỏ phương pháp

Trang 11

Trong luận văn này, chúng ta sử dụng khái niệm phương pháp dạy học

bộ môn theo nghĩa thứ nhất

I.1.2 Mục tiêu dạy học

Hoạt động của con người là hoạt động có ý thức Cũng chính vì vậy mà hoạt động của con người là hoạt động có mục đích Mục đích của hoạt động chi phối tất cả các thành tố cấu thành hoạt động Do vậy, khi tiến hành bất cứ hoạt động nào thì phải xác định mục đích hoạt động

Quá trình dạy học bao gồm hai quá trình tiến hành song song tương tác chặt chẽ với nhau Đó là hoạt động dạy và hoạt động học, hoạt động dạy có chủ thể là thầy, hoạt động học có chủ thể là trò Do có hai hoạt động tiến hành

đồng thời nên có mục đích của dạy và mục đích của học Song hai hoạt động dạy và học tương tác quan hệ chặt chẽ với nhau không tách rời nhau cùng nhằm tới một đích của quá trình là học sinh nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nên chúng ta có khái niệm mục đích dạy học Hoạt động dạy nhằm điều khiển điều chỉnh hoạt động học, thúc đẩy hoạt động học đạt được mục đích; hoạt động học hướng tới việc chiếm lĩnh những tri thức kỹ năng kỹ xảo, phát triển trí tuệ Mục đích dạy học là sản phẩm của quá trình dạy học được hình dung trước

Cũng chính vì lý do đó mà khi xác định mục đích dạy học chúng ta phải tiếp cận từ phía học sinh, mục tiêu phải xác định sau quá trình dạy học học sinh có được cái gì Sau quá trình dạy học, người học chiếm lĩnh được những tri thức, kỹ năng và thái độ gì Những tri thức, kỹ năng thái độ mà học sinh chiếm lĩnh được phải là những tri thức, kỹ năng và thái độ cần thiết cho quá trình phát triển nhân cách Những tri thức mà học sinh thu được là những tri thức cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp, những tri thức là cơ sở để hình thành thế giới quan và đạo đức cách mạng Mục đích dạy học là sản phẩm của quá trình dạy học, thể hiện ở tri thức, ký năng và thái độ của học sinh-năng lực và cơ sở của việc hình thành thế giới quan và đạo đức cách mạng

Trang 12

Mục đích thường được hiểu theo nghĩa rộng Trong quá trình sư phạm, mục đích phân cấp thành “cây” mục đích, từ từng bài học đến quá trình giáo dục tổng thể Do vậy, khi nghiên cứu mục đích cho từng quá trình cụ thể, hẹp, thời gian thực hiện ngắn, chúng ta đưa ra khái niệm mục tiêu Vì vậy, mục

đích dạy học được thay bằng thuật ngữ mục tiêu dạy học

I.1.3 Nội dung dạy học

Nếu mục tiêu dạy học trả lời câu hỏi dạy vì cái gì thì nội dung dạy học trả lời câu hỏi dạy cái gì Vậy nội dung dạy học là gì? Với các cách tiếp cận khác nhau, chúng ta có quan niệm theo các hướng khác nhau về nội dung dạy học chuyên ngành Do vậy, để đi sâu vào nội dung dạy học chuyên ngành, cần phân tích từ quan niệm tổng quát

Trong quá trình lao động, quá trình đấu tranh với thiên nhiên, xã hội, với bản thân, con người đúc rút được nhiều kinh nghiệm Những kinh nghiệm

đó lại được con người vận dụng vào lao động của mình tạo ra sản phẩm, những sản phẩm đó chứa đựng những kinh nghiệm của người lao động Con người sáng tạo nên nền văn hoá - những giá trị vật chất và tinh thần Để truyền thụ cho thế hệ đi sau, để thế hệ đi sau có thể kế thừa được nền văn hoá mà thế

hệ đi trước sáng tạo ra thì phải nhờ vào giáo dục Nhưng những giá trị mà thế

hệ đi sau kế thừa được phải thông qua con đường tiếp thu kinh nghiệm xã hội, bởi chỉ có kinh nghiệm xã hội mới có thể truyền thụ được Khi phân tích kinh nghiệm xã hội, người ta nhận thấy có 4 thành phần sau :

Thành phần tri thức : tri thức là những hiểu biết của con người về thiên nhiên, xã hội về tư duy Tri thức có thể là những tri thức thông thường, những tri thức khoa hoc

Thành phần kinh nghiệm hoạt động : Thông qua lao động con người rút

ra các kinh nghiệm thực hiện các hoạt động Nhờ những kinh nghiệm này mà con người có khả năng thực hiện thành công các hoạt động trong thời gian

Trang 13

ngắn những kinh nghiệm hoạt động có thể là hoạt động thực hành, hoạt động trí tuệ

Thành phần kinh nghiệm hoạt động sáng tạo : trong lao động, con người

sẽ gặp phải hoạt động đòi hỏi phải có sự sáng tạo Thực hiện các hoạt động đó dần dần con người hình thành được kinh nghiệm hoạt động sáng tạo Phương pháp và kết quả hoạt động thì chưa biết nhưng con người tìm được kinh nghiệm khi gặp hoạt động sáng tạo đó Trong thực tiễn chúng ta thấy rằng có rất nhiều trường hợp trò phát triển giỏi hơn thầy Trò có thể tham gia các kỳ thi quốc tế nhưng thầy thì không Điều đó chỉ có thể giải thích là vì thầy nắm

được kinh nghiệm hoạt động sáng tạo và thầy truyền thụ cho trò

Thành phần thái độ : Những thái độ về tự nhiên, xã hội và về con người

mà con người tích luỹ được

Khi truyền thụ kinh nghiệm xã hội cho thế hệ đi sau, người ta phải lựa chọn những kinh nghiệm sao cho phù hợp với mục tiêu dạy học, kinh nghiệm xã hội trở thành nội dung dạy học Như vậy, nội dung dạy học là kinh nghiệm xã hội, nhưng đây là kinh nghiệm được lựa chọn, được xây dựng phù hợp với mục tiêu dạy học Nội dung dạy học là tổ hợp tri thức cơ bản, cơ sở, chuyên ngành, những kinh nghiệm hoạt động, những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo, những quy phạm về thái độ của con người mà học sinh cần nắm vững để phát triển nhân cách toàn diện và hài hoà

Trang 14

động của thầy thì có cách thức hoạt động của trò Do vậy, phương pháp dạy học được hiểu theo nghĩa là tổ hợp phương pháp dạy và học

Phương pháp rất đa dạng, có phương pháp hướng về tri thức trừu tượng,

có tri thức hướng về tri thức trực quan Việc lựa chọn phối hợp các phương pháp dạy học tạo nên phương pháp mới

I.1.6 Kiểm tra đánh giá kết quả

Kiểm tra đánh giá là một giai đoạn của quá trình dạy học, là một khâu hết sức quan trọng trong tiến trình dạy học Việc kiểm tra đánh giá đúng đắn

sẽ làm cho giáo viên và học sinh nhận thấy tình hình hoạt động của mình để

điều chỉnh hoạt động, là cơ sở để đánh giá hoạt động dạy và học

Kiểm tra là việc xác định việc nắm vững tri thức kỹ năng kỹ xảo của học sinh, đánh giá là việc so sánh kết quả của học sinh với mục tiêu dạy học

để đề ra những định lượng tương ứng Kiểm tra đánh giá có thể tiến hành thường xuyên, hoặc tổng kết phần, mục và như vậy công tác kiểm tra đánh giá

được xem như là một hệ thống

I.2 Vị trí môn học Phương pháp dạy học bộ môn Cơ khí động lực trong

chương trình đào tạo cử nhân CĐSPKT

I.2.1 Lao động và năng lực của người giáo viên kỹ thuật

I.2.1.1 Đặc điểm của lao động sư phạm

• Đối tượng của lao động sư phạm

Trang 15

Đối tượng của lao động sư phạm là con người với nhân cách của nó Những con người đang phát triển, sự thay đổi thường xuyên xảy ra, sự vận

động của con người tuân theo nhiều quy luật Sự vận động đa dạng của con người, sự phát triển thường xuyên làm cho hoạt động trở nên phức tạp Đối tượng là con người đang phát triển với mọi biểu hiện tâm sinh lý làm cho hoạt

động sư phạm phải thường xuyên thay đổi Sự vận động đa dạng tuân theo nhiều quy luật về tự nhiên, xã hội đòi hỏi hoạt động của người giáo viên phải linh hoạt sáng tạo, người giáo viên phải có vốn tri thức về nhiều mặt, về con người

• Công cụ lao động

Trong lao động, công cụ chiếm một vai trò quan trọng Trong lao động, con người chế tạo nên những công cụ lao động tạo ra sản phẩm với năng suất

và chất lượng cao hơn Do vậy, khi đánh giá sự phát triển của lao động người

ta thường quan tâm nhiều đến công cụ lao động

Công cụ phương tiện chủ yếu của lao động sư phạm là nhân cách người giáo viên Giáo viên dùng nhân cách tác động lên đối tượng lao động Để thực hiện được hoạt động dạy học giáo viên dùng vốn tri thức, kỹ năng của mình truyền thụ cho học sinh, trong giáo dục giáo viên dùng tri thức, đạo đức của mình để ảnh hưởng đến nhân cách học sinh Trong hoạt động của mình, giáo viên dùng nhân cách của mình để tác động lên đối tượng

Trong quá trình lao động, con người không ngừng “mài dũa”, phát triển công cụ lao động của mình Cũng chính vì vậy, trong thực tiễn chúng ta nhận thấy các học vị cao thường có nhiều ở ngành giáo dục

• Sản phẩm của lao động sư phạm

Lao động sư phạm góp phần tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội Sức lao động xã hội là sức mạnh về vật chất và tinh thần có trong con người Trong quá trình lao động, xã hội phải tái sản xuất ra sức mạnh lao động đó Phải tạo ra lớp người bổ sung vào những người (sức lao động) đã mất Nhưng

Trang 16

lao động sư phạm không phải tái sản xuất giản đơn bù đắp những sức lao động

đã bỏ ra mà tái sản xuất mở rộng sức lao động Lao động sư phạm tạo ra ở con người những năng lực mà trước đây chưa có Người thầy có thể hình thành ở học sinh những khả năng sáng tạo Trong thực tiễn giáo dục, chúng ta cũng nhận thấy rất nhiều trường hợp học sinh có những năng lực hơn thầy Điều đó chứng minh cho khả năng tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội của lao

động sư phạm

I.2.1.2 Năng lực

Năng lực là một phần trong cấu trúc nhân cách “Năng lực có thể xem

là tổ hợp những thuộc tính của nhân cách, phù hợp với những yêu cầu của hoạt

động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả”2 Như vậy, năng lực là

tổ hợp thuộc tính đảm bảo cho con người thực hiện thành công hoạt động Năng lực có những cấp độ khác nhau :

- Năng lực : là mốc khởi đầu, được hình thành trong quá trình đào tạo, thông qua hoạt động thực tiễn năng lực phát triển Thông qua dạy học và lao động để hình thành nên năng lực của con người

- Tài năng : tài năng là mức độ cao của năng lực, thể hiện của tài năng là việc thực hiện thành công những hoạt động phức tạp, những hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo cao Cơ sở của tài năng là năng lực, để có được tài năng trước hết phải có năng lực

- Thiên tài : là mức độ rất cao của năng lực, có tính độc đáo và có ảnh hưởng lớn

Năng lực có 2 loại : năng lực chung và năng lực riêng

Năng lực chung : có ở mọi người bình thường nhưng với mức độ khác nhau Đó là năng lực cần thiết cho nhiều lĩnh vực, chẳng hạn như những thuộc tính về thể chất, trí tuệ, Năng lực chung là cơ sở của bất kỳ năng lực

Trang 17

chuyên biệt nào Bất luận ai muốn giỏi một nghề trước hết phải có năng lực chung Phát triển năng lực chung chủ yếu ở bậc phổ thông, càng phát triển sớm càng tốt

Năng lực riêng thuộc loại năng lực chuyên biệt hay còn gọi là năng lực chuyên môn trong trong một lĩnh vực cụ thể, là năng lực đáp ứng công việc của một hoạt động chuyên biệt Ví dụ nhà giáo có năng lực sư phạm, người

công nhân có năng lực kỹ thuật,

I.2.1.3 Năng lực sư phạm

Theo quan điểm về tâm lý học thì “ Năng lực sư phạm là tổ hợp những

đặc điểm tâm lý cá nhân của nhân cách, đáp ứng các yêu cầu của hoạt động sư

phạm và quyết định sự thành công trong việc nẵm vững hoạt động ấy Năng lực sư phạm tựa như là “ hình chiếu của hoạt động sư phạm ở nhân cách ”3

I.2.1.4 Năng lực sư phạm kỹ thuật

Năng lực sư phạm kỹ thuật là tên gọi của một năng lực đặc biệt, đặc trưng cho người GVKT Năng lực sư phạm là năng lực tổng hợp của hai năng lực chuyên biệt: Năng lực chuyên môn và năng lực sư phạm Năng lực sư

phạm kỹ thuật là sự tổng hoà các thuộc tính độc đáo của nhà kỹ thuật và nhà sư phạm, nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo người lao động kỹ thuật của một nghề

nào đó với chất lượng cao Dựa vào hoạt động của người giáo viên, người ta chia năng lực của giáo viên gồm 3 nhóm sau : Nhóm năng lực dạy học, nhóm năng lực giáo dục, nhóm năng lực tổ chức hoạt động sư phạm Phân chia trên chỉ là tương đối, bởi trong quá trình sư phạm có sự đan xen của các hoạt động

Trong hoạt động dạy học có thực hiện chức năng giáo dục; trong giáo dục phải tổ chức hoạt động sư phạm Do vậy, khi xem xét các thuộc tính, chúng ta

Trang 18

dựa vào chức năng trội của hoạt động đó Khi xem xét năng lực sư phạm kỹ thuật phải coi năng lực là một tổ hợp, một khối chỉnh thể

I.2.1.5 Năng lực dạy học

Năng lực dạy học là tổ hợp những thuộc tính của nhân cách đảm bảo cho giáo viên thực hiện hoạt động dạy học có hiệu quả Để tổ chức tốt hoạt

động dạy học, người giáo viên cần có những năng lực cơ bản sau :

Năng lực chuyên môn và hiểu biết chung Đối với giáo viên kỹ thuật thì

yêu cầu trước tiên là phải giỏi về chuyên môn nghề nghiệp, có kỹ năng, kỹ xảo thuần thục Sự tinh thông nghề nghiệp không những giúp cho họ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao mà còn tạo được niềm tin và sự kích thích ở học sinh Nắm vững chuyên môn của mình, người giáo viên mới vạch ra được con

đường, hướng dẫn học sinh đi tới kiến thức kỹ năng kỹ xảo và phát triển trí tuệ4 Giáo viên kỹ thuật phải nẵm vững môn học mình dạy và các môn liên quan

Ngoài môn học trong chuyên ngành, người giáo viên cần có các kiến thức rộng hơn về mọi mặt Các môn học chung nâng cao tầm học vấn của giáo viên lên một bậc cao hơn Chính vì vậy, mà giáo viên mới có khả năng hoạt

động độc lập, có khả năng giải quyết những vấn đề mới, nghiên cứu tích luỹ kiến thức Ngoài hoạt động dạy học, giáo viên còn phải thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh, giáo viên còn phải cung cấp cho học sinh kiến thức về mọi mặt Từ đó, hình thành các phẩm chất của nhân cách Tri thức của giáo viên còn là phương tiện tạo nên uy tín đối với học sinh

Năng lực sư phạm người giáo viên kỹ thuật khác với các nhà chuyên

môn kỹ thuật ở chỗ nếu nhà chuyên môn có kiến thức chuyên môn để làm việc thì người giáo viên ngoài việc có chuyên môn thì còn phải làm cho học

4 Nguồn : Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (2001), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư

phạm, giáo trình môn học, Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội

Trang 19

sinh nắm vũng được chuyên môn đó Do vậy, ngoài năng lực chuyên môn giáo viên cần phải có năng lực sư phạm Năng lực sư phạm bao gồm các thành phần sau

Thành phần tri thức sư phạm :

Đối với nghề dạy học thì người giáo viên có nhiệm vụ tổ chức và quản

lý quá trình dạy học, do vậy họ cần có có :

Tri thức chung về sư phạm , đó là các kiến thức hiểu biết về vị trí, vai

trò của người giáo viên trong xã hội, các kiến thức chung về Giáo dục học, Tâm lý học, Lịch sử giáo dục, những tri thức này trang bị cho giáo viên phương pháp tiếp cận nghiên cứu các kiến thực chuyên ngành, tạo cho giáo viên một “thế giới quan giáo dục”, tổ chức tốt hoạt động sư phạm

Tri thức về phương pháp giảng dạy, ngoài những kiến thức, kỹ năng, kỹ

xảo chuyên môn nghề nghiệp thì người giáo viên cần phải có kiến thức về phương pháp giảng dạy, phải nắm vững các phương pháp giảng dạy lý thuyết

và thực hành, có phương pháp giảng dạy phải phù hợp với từg nội dung, mục tiêu, đối tượng cho học sinh theo từng môn học Có như vậy mới giúp cho người GVKT lựa chọn phương pháp truyền thụ có hiêu quả nhất

Tri thức về phương tiện giảng dạy, với xu thế phát triển của phương tiện

dạy học, người giáo viên kỹ thuật càng phải tích luỹ kiến thức về phương tiện dạy học Việc dạy học hiện nay được ứng dụng phương tiện hiện đại, đa phương tiện trong quá trình dạy học, học sinh tiếp nhận thông tin bằng nhiều con đường Việc ứng dụng phương tiện hiện đại làm xuất hiện các khái niệm mới như là "công nghệ dạy học", ứng dụng khoa học khoa học kỹ thuật vào dạy học Để tổ chức được quá trình dạy học của mình thì nhất thiết giáo viên

kỹ thuật phải có tri thức về phương tiện dạy học, phương tiện dạy học hiện đại Giáo viên phải có tri thức về máy chiếu, về bản giấy trong, về các phần mềm dạy học, chỉ có tri thức về phương tiện dạy học, giáo viên kỹ thuật mới có

được kỹ năng sử dụng phương tiện dạy học trong các bài giảng

Trang 20

Tri thức về tiềm lực, cũng giống như những lĩnh vực khác của thực tiễn

xã hội, thực tiễn giáo dục không ngừng phát triển Chính điều này đòi hỏi giáo viên kỹ thuật phải không ngừng bồi dưỡng nâng cao vốn tri thức của mình Để thực hiện được điều này giáo viên phải có vốn tri thức về tiềm lực, những tri thức thuộc về phương pháp nghiên cứu, học tập Đó là những tri thức chung về quá trình sư phạm, các tri thức về tâm lý, giáo dục, về triết học, Những tri thức này sẽ tạo cho giáo viên phương pháp luận khi đi vào nghiên cứu, cập nhật tri thức

Thành phần kỹ năng sư phạm

Năng lực sư phạm của giáo viên không chỉ được đánh giá ở tri thức, tri thức chỉ mới là bước khởi đầu để giáo viên có thể hoàn thành công việc Để

đánh giá năng lực của giáo viên kỹ thuật, chúng ta còn phải căn cứ vào trình

độ về kỹ năng Để tổ chức hoạt động dạy học của mình, người giáo viên kỹ thuật phải tiến hành các giai đoạn sau : chuẩn bị bài giảng, tiến hành bài giảng

và kết thúc bài giảng Để thực hiện được các công đoạn đó, giáo viên phải có một số kỹ năng sau :

Kỹ năng chuẩn bị bài giảng: chuẩn bị bài giảng là công việc hết sức

quan trọng, góp phần không nhỏ trong việc hoàn thành tốt bài giảng Theo kết quả nghiên cứu của Dự án giáo dục kỹ thuật và dạy nghề thì công việc chuẩn

bị lên lớp có thể được “chuyên môn hoá”, có nghĩa là giáo viên này chuẩn bị bài giảng thì giáo viên kia có thể sử dụng để giảng dạy được.Chuẩn bị bài giảng đòi hỏi giáo viên phải có khả năng thực hiện một số công việc sau : nhận thức được trình độ người học, tìm hiểu mục tiêu đào tạo, mục tiêu môn học, xác định mục tiêu của bài, lựa chọn nội dung dạy học, phương pháp dạy học, phương tiện dạyhọc, phân phối thời gian, Để lựa chọn được nội dung dạy học, giáo viên còn phải có năng lực chế biến tài liệu, có nghĩa là lựa chọn lượng tri thức kỹ năng và thái độ phù hợp với yêu cầu của chương trình và phù

Trang 21

hợp với trình độ nhận thức của người học Với các công việc trên, giáo viên phải thực hiện một cách kỹ lưỡng trước khi lên lớp

Kỹ năng tiến hành bài giảng Từ bản kế hoạch đã lập sẵn, giáo viên tiến

hành bài giảng Giáo viên phải triển khai mục tiêu dạy học vào trong từng nội dung bài giảng, phân phối mục tiêu vào các phần nhỏ Theo trình độ lĩnh hội của học sinh, giáo viên phải trình bày nội dung phù hợp; vận dụng được và sáng tạo phương pháp dạy học; sử dụng được các phương tiện dạy học Giáo viên phải sử dụng ngôn ngữ giao tiếp với học sinh để thực hiện hoạt động dạy của mình Giáo viên phải tổ chức quản lý tốt quá trình học tập của học sinh Người giáo viên phải thực hiện được hoạt động của mình và của học sinh

Kỹ năng kết thúc bài giảng Sau mỗi bài giảng, giáo viên phải kiểm tra

và đánh giá được hoạt động của mình và của học sinh Giáo viên phải đánh giá

kỹ năng giao tiếp

Trong quá trình chuẩn bị bài giảng, giáo viên phải xây dựng được mục tiêu thực hiện bài giảng Mục tiêu đó phải đảm bảo đầy đủ các cấu phần, phù hợp lô gíc dạy học Từ mục tiêu môn học, giáo viên kỹ thuật phải có khả năng viết mục tiêu cho từng bài giảng

Nội dung môn học được lấy từ các khoa học, thông qua con đường chọn lựa cho phù hợp với đối tượng Con đường xây dựng nội dung dạy học thông qua nhiều bước, do nhiều người với tư cách khác nhau xây dựng Trong đó, có

Trang 22

hai công đoạn mà giáo viên thực hiện : từ tài liệu giáo trình, giáo khoa kết hợp với trình độ của đối tượng học sinh cụ thể giáo viên lựa chọn xây dựng nên nội dung dạy học thể hiện trong giáo án và từ giáo án kết hợp tình huống dạy học

cụ thể giáo viên tổ chức nội dung dạy học Như vậy, giáo viên phải có kỹ năng chế biến tài liệu Từ nội dung có trong giáo trình, giáo viên phải xây dựng

được nội dung dạy học phù hợp trình độ học sinh

Giáo viên kỹ thuật phải có khả năng thực hiện được các phương pháp dạy học, phải biết lựa chọn và phối hợp các phương pháp dạy học phù hợp với mục tiêu và nội dung dạy học Ngày nay, với sự phát triển mạnh về nội dung dạy học, sự phát triển đa dạng của phương tiện kỹ thuật dạy học càng làm cho phương pháp dạy học càng phong phú Điều đó đòi hỏi giáo viên kỹ thuật phải nắm phương pháp dạy học một cách có hệ thống, phải luôn luôn bồi dưỡng phương pháp dạy học

Người giáo viên phải có kỹ năng sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là các phương tiện dạy học hiện đại Giáo viên làm chủ được các phương tiện dạy học mới thực hiện được bài giảng ở mức độ cao của kỹ năng, giáo viên kỹ thuật phải thiết kế, chế tạo được phương tiện dạy học phục vụ cho dạy hoc

Giáo viên còn phải xây dựng và thực hiện được các cấu trúc bài giảng Khi có được kỹ năng này, giáo viên kỹ thuật mới vận dụng vào thực hiện các bài học của môn học một cách hợp lý Có nhiều kiểu bài học lỹ thuyết và thực hành Mỗi bài có một cấu trúc tối ưu Từ vốn tri thức của mình, giáo viên phải lựa chọn và xây dựng cấu trúc hợp lý, từ đó thực hiện thành công cấu trúc đó

Hoạt động dạy của giáo viên về thực chất là hoạt động chỉ đạo, tổ chức quá trình nhận thức của học sinh Vì vậy, giáo viên phải có khả năng tổ chức quản lý học sinh trong quá trình dạy học Giáo viên kỹ thuật phải tổ chức chỉ

đạo được hoạt động của mình và học sinh Giáo viên kỹ thuật phải biết lập kế hoạch, phải biết tổ chức, phải biết sử dụng phương tện giao lưu để chỉ đạo học

Trang 23

sinh hoạt động Trong và sau mỗi bài học, giáo viên phải thực hiện công việc kiểm tra đánh giá Việc kiểm tra đánh giá phải dẫn tới tự kiểm tra đánh giá, phải làm cho học sinh có khả năng tự kiểm tra đánh giá bài giảng của mình

Để thực hiện được các chức năng trong hoạt động của mình, giáo viên

kỹ thuật phải có kỹ năng giao tiếp Giáo viên phải biết sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp Từ giao tiếp, giáo viên kỹ thuật mới tổ chức được hoạt động của học sinh, hạt động của mình (giao tiếp để hoạt động), mới truyền thụ được tri thức

kỹ năng kỹ xảo cho học sinh

Tóm lại, lao động sư phạm là một loại lao động phức tạp, đòi hỏi tính sáng tạo cao Lao động sư phạm đòi hỏi người giáo viên phải có năng lực đặc biệt mới có thể thực hiện được có kết quả Người giáo viên kỹ thuật cần có năng lực sư phạm kỹ thuật, phải có trình độ về chuyên môn và trình độ về sư phạm kỹ thuật Trong đó, năng lực dạy học là hết sức quan trọng, vì hoạt động dạy học là hoạt động chủ đạo trong sự phát triển nhân cách Từ những phân tích trên, chúng ta có thể thể hiện trực quan năng lực dạy học trong mối quan

Kỹ năng dạy học : kỹ năng chuẩn bị bài giảng,

kỹ năng thực hiện bài giảng và kỹ năng kiểm tra đánh giá

Trang 24

Hình II-1 Sơ đồ cấu trúc năng lực sư phạm kỹ thuật

Vậy, trong trường ĐHSPKT Vinh việc hình thành mặt năng lực của nhân cách, năng lực dạy học cho sinh viên như thế nào?

I.2.2 Các môn học sư phạm trong chương trình đào tạo cử nhân Cao

đẳng sư phạm kỹ thuật

Để đào tạo bồi dưỡng người lao động có nhân cách phát triển toàn diện

và hài hoà, nhà trường tổ chức các hoạt động sư phạm và đưa người học vào các hoạt động đó Trong các hoạt động sư phạm ở nhà trường sư phạm kỹ thuật thì hoạt động dạy học đóng vai trò chủ đạo Vai trò chủ đạo thể hiện ở chỗ năng lực sư phạm kỹ thuật của sinh viên được hình thành thông qua hoạt

động này Qua dạy học, sinh viên nắm vững được hệ thống tri thức, kỹ năng

và thái độ, phát triển trí tuệ Thông qua dạy học, nhà giáo dục hình thành các phẩm chất của nhân cách Trong quá trình dạy học, sinh viên được lĩnh hội hệ thống tri thức về thế giới quan, đạo đức cách mạng; sinh viên được tham gia các hoạt động mang tính giáo dục, được thể nghiệm những tri thức, tình cảm của mình Hoạt động dạy học chiếm thời gian chủ yếu ở trường, hoạt động dạy học có thể hình thành ở sinh viên năng lực lẫn phẩm chất Vì vậy, trong nhà trường tổ chức tốt hoạt động dạy học sẽ hình thành được nhân cách của sinh viên Năng lực sư phạm kỹ thuật cũng được hình thành từ hoạt động dạy học

Để bồi dưỡng năng lực dạy học nói riêng, năng lực sư phạm kỹ thuật nói chung, trong trường ĐHSPKT Vinhthực hiện bằng cách thực hiện hoạt

động dạy học các môn học cho sinh viên Trong chương trình đào tạo GVDN ngành Cơ khí động lực trình độ CĐ gồm các môn học cho ở bảng I-1

Trang 25

Bảng I-1 : Các môn học trong chương trình đào tạo cử nhân CĐSPKT

SP-03 Tổ chức và quản lý quá trình dạy học 2

Trang 26

CK-01 An toµn vµ m«i tr−êng c«ng nghiÖp 2

Trang 27

(1) (2) (3) (4) THĐL- 07 TH hệ thống phun xăng & phanh ABS 2

Chúng ta có thể phân tích thành các khối kiến thức và kỹ năng như sau :

Khối kiến thức đại cương : Khối kiến thức cơ bản gồm các môn cho ở

Nắm vững các môn học này sẽ nâng tầm học vấn của sinh viên lên bậc

cao hơn Nếu học sinh học xong bậc phổ thông rồi tham gia lao động thì vốn

học vấn chỉ dừng lại ở mức cơ bản Để đi vào hoạt động trong các lĩnh vực lao

Trang 28

động khoa học, đòi hỏi người học phải có tầm học vấn cao hơn Học xong các môn học cơ bản, sinh viên sẽ có một tầm học vấn tương xứng bậc đào tạo (Cao

đẳng)

Những môn học này còn làm cho tầm tri thức, vốn hiểu biết chung của sinh viên được mở rộng Những tri thức này là cơ sở để hình thành các phẩm chất con người Xã hội chủ nghĩa Lĩnh hội được những tri thức về thế giới quan, nhân sinh quan, thể chất, lao động, thẩm mỹ, sẽ là cơ sở để hình thành niềm tin, tình cảm để hình các phẩm chất của người giáo viên dạy nghề trình độ CĐ Việc lĩnh hội những tri thức này còn là phương tiện để giáo viên giáo dục học sinh sau này Giáo viên phải có vốn tri thức về mọi mặt mới có thể truyền thụ cho học sinh, bồi dưỡng niềm tin cho học sinh, từ đó hình thành các phẩm chất của nhân cách

Những tri thức sinh viên thu nhận được trong phần này còn tạo cho sinh viên phương pháp luận khi đi vào học tập và nghiên cứu kiến thức chuyên ngành Các môn học đại cương cung cấp những tri thức mang tính khái quát cao, rất nhiều khái niệm ở cấp phạm trù Do vậy, nắm được những tri thức này sinh viên sẽ có được phương pháp tìm hiểu nghiên cứu những tri thức cụ thể hơn Cũng chính vì những lý do đó mà các môn học này được bố trí giảng dạy vào những giai đoạn đầu của quá trình đào tạo

CK-08 TĐ T lực & khí nén trong công nghiệp 3

Trang 29

CK-01 An toàn và môi trường công nghiệp 2

Khối kiến thức chuyên ngành cho ở bảng I-4

Bảng I-4 : Các môn học chuyên môn trong chương trình đào tạo cử nhân CĐSPKT CKĐL

Trang 30

công việc của mình khi và chỉ khi có năng lực chuyên môn Năng lực chuyên môn thể hiện ở trình độ kiến thức và kỹ năng chuyên ngành của sinh viên

Các môn học chuyên môn được sắp xếp theo một trình tự lô gíc, theo các cấp độ nhận thức khác nhau Sinh viên nắm kiến thức theo trình tự : Lĩnh hội các tri thức cụ thể, từ cơ sở của tri thức cụ thể sinh viên tìm hiểu các kiến thức trừu tượng Ban đầu, sinh viên được giảng dạy các môn thực hành cơ bản Mục tiêu của những môn học này là trang bị cho sinh viên vốn kiến thức về cấu tạo và nguyên lý làm việc của các bộ phận, cụm máy trên ôtô và kỹ năng tháo lắp Sau khi học xong các môn học này, sinh viên được học các môn học

có lượng tri thức tương đối trừu tượng như Lý thuyết ôtô, Nguyên lý động cơ

đốt trong, Kết cấu ôtô Những môn học này sử dụng kiến thức của những môn thực hành cơ bản Lĩnh hội được vốn tri thức lý thuyết, sinh viên được tổ chức vận dụng vào thực tiễn thông qua học tập môn học Thực hành vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa ôtô và môn thực tập sản xuất

Việc lĩnh hội kỹ năng được sắp xếp theo lô gíc nhận thức Ban đầu, sinh viên được hình thành những kỹ năng cơ bản như kỹ năng nhận biết, kỹ năng tháo lắp, kỹ năng kiểm tra thông qua môn học Thực hành cơ bản Những kỹ năng thu được thông qua môn học cơ bản là kỹ năng cơ bản Từ những kỹ năng cơ bản đã có, sinh viên được học các môn học cung cấp kỹ năng phức tạp Những kỹ năng này là cơ sở để vận dụng vào hình thành những kỹ năng phức tạp Điều này phù hợp với quy luật nhận thức Nhận thức bắt đầu từ những cái cụ thể, từ cái cụ thể phải đi tới cái trừu tượng, từ cái trừu tượng dẫn

đến cái cụ thể bản chất hơn Để lĩnh hội được cái cụ thể (kỹ năng phức tạp), sinh viên phải lĩnh hội được cái trừu tượng (kỹ năng cơ bản); sau khi lĩnh hội

được vốn kỹ năng cơ bản, sinh viên lĩnh hội kỹ năng phức tạp (Cái cụ thể bản chất)

Việc lĩnh hội kỹ năng được sắp xếp theo trình tự nhận thức kỹ năng lao

động Chúng ta đều biết rằng, trong một nghề có rất nhiều kỹ năng lao động từ

Trang 31

đơn giản đến phức tạp để lĩnh hội được nghề đó đòi hỏi nghười lao động phải nắm được các kỹ năng đó Khi phân tích các kỹ năng lao động, người ta nhận thấy, các kỹ năng lao động phức tạp đều được xây dựng trên cơ sở những kỹ năng cơ bản Một kỹ năng cơ bản có thể được vận dụng vào nhiều kỹ năng phức tạp Do vậy, con đường lĩnh hội kỹ năng cơ bản hợp lý nhất là nẵm vững các kỹ năng cơ bản, vận dụng kỹ năng cơ bản vào nắm các kỹ năng phức tạp

Hiện nay, có 3 hệ thống luyện tập để nắm được kỹ năng lao động : Hệ thống luyện tập giản đơn, hệ thống luyện tập tăng tiến, hệ thống luyện tập theo trình tự không đầy đủ Hệ thống luyện tập được áp dụng trong chương trình này là hệ thống luyện tập theo trình tự không đầy đủ Có nghĩa là sinh viên được học các kỹ năng cơ bản và các kỹ năng phức tạp xen kẽ nhau

SP-03 Tổ chức và quản lý quá trình dạy học 2

Trang 32

nghề nghiệp, Giáo dục học nghề nghiệp, Tổ chức và quản lý quá trình dạy học

Các môn học Giáo dục học nghề nghiệp, Phương pháp dạy học chuyên ngành, Thực tập sư phạm còn cung cấp cho sinh viên các tri thức về phương pháp, phương tiện dạy học Môn học phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục hình thành cho sinh viên vốn tri thức và kỹ năng nghiên cứu khoa học, tìm hiểu tri thức mới

Các kỹ năng dạy học được hình thành thông qua các môn học : Kỹ năng dạy học, Phương pháp dạy học sửa chữa động lực và môn thực tập sư phạm Môn Kỹ năng dạy học nhằm hình thành cho sinh viên các kỹ năng cơ bản về dạy học như kỹ năng chuẩn bị bài giảng, kỹ năng sử dụng phương pháp, ; môn Phương pháp dạy học chuyên ngành sửa chữa động lực hình thành ở sinh viên kỹ năng chuẩn bị, thực hiện các yếu tố của quá trình dạy học chuyên ngành, môn Thực tập sư phạm hình thành các kỹ năng phức tạp để tổ chức quá trình dạy học và giáo dục học sinh

I.2.3 Môn học phương pháp dạy học bộ môn Cơ khí động lực

Năng lực dạy học của người giáo viên dạy nghề Cơ khí động lực trình

độ CĐ bao gồm kiến thức và kỹ năng Để đạt được năng lực đó, trong nhà trường ĐHSPKT Vinhthực hiện bằng cách tổ chức cho sinh viên học tập các môn học nêu trên Trong cấu trúc của chương trình đào tạo đó, chúng ta nhận thấy nếu không có môn học Phương pháp dạy học bộ môn Cơ khí động lực thì việc hình thành kỹ năng dạy học của sinh viên sẽ hạn chế Sinh viên rất khó tiếp cận khi đi vào thực tiễn nghề nghiệp

Nếu cho sinh viên học tập các môn lý thuyết, sau đó cho sinh viên học tập môn kỹ năng dạy học và môn thực tập sư phạm thì sẽ có một số vướng mắc Học tập môn kỹ năng dạy học, sinh viên được tiếp nhận những kỹ năng cơ bản của việc dạy học Học môn Thực tập sư phạm, sinh viên hình thành

được kỹ năng dạy học, giáo dục học sinh qua một số hoạt động và diễn ra

Trang 33

trong thời gian ngắn Điều đó dẫn đến sinh viên sẽ gặp khó khăn khi tiếp cận với quá trình dạy học chuyên ngành đầy phức tạp Với các kiến thức và kỹ năng chung, khái quát thì việc vận dụng vào quá trình dạy học chuyên ngành với các đặc điểm riêng là rất khó khăn

Quá trình dạy học chuyên ngành có những đặc điểm riêng Những đặc

điểm riêng, làm cho nó khác với quá trình dạy học khác bởi các yếu tố cấu thành Quá trình dạy học chuyên ngành có hệ thống mục tiêu phân cấp nhằm

đào tạo người công nhân kỹ thuật ngành Sửa chữa động lực Quá trình dạy học chuyên ngành có những đặc điểm riêng về kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp riêng, những phương pháp đa dạng được lựa chọn và vận dụng phù hợp nội dung dạy học chuyên ngành Trên cơ sở của hệ thống mục tiêu, có hệ thống kiểm tra đánh gía tương ứng Những đặc điểm đặc trưng đã làm cho quá trình dạy học chuyên ngành động lực có những đặc điểm chung của quá trình dạy học, những cũng có những đặc điểm riêng của quá trình Nếu cho sinh viên nắm kiến thức và kỹ năng chung, sau đó đi vào hoạt động nghề nghiệp thì sẽ rất khó khăn - phải trải qua thời gian tập sự dài Chỉ khi nắm vững quá trình dạy học chuyên ngành Động lực mới tổ chức tốt được quá trình dạy học chuyên ngành

Môn học phương pháp dạy học chuyên ngành động lực đáp ứng yêu cầu nêu trên Môn học cung cấp cho sinh viên vốn kiến thức và kỹ năng sư phạm chuyên ngành, cung cấp cho sinh viên vốn kiến thức và kỹ năng gắn liền với

đối tượng cụ thể Học môn học này, sinh viên sẽ có được kiến thức về quá trình dạy học mà sau này mình sẽ tổ chức Sinh viên nắm được tri thức về hệ thống mục tiêu, đặc điểm nội dung dạy học, các phương pháp dạy học thường dùng trong chuyên ngành, các hình thức, phương pháp tổ chức dạy học kiểm tra đánh giá và kỹ năng thực hiện các yếu tố đó Do vậy, sinh viên sẽ có khả năng tổ chức được quá trình dạy học chuyên ngành với những đặc điểm cụ thể của nó

Trang 34

Môn học Phương pháp dạy học chuyên ngành Động lực góp phần giảm khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn Môn học cung cấp cho sinh viên những kiến thức, kỹ năng tế về quá trình dạy học chuyên ngành, tạo điều kiện để sinh viên vận dụng những kiến thức và kỹ năng đã học vào quá trình dạy học chuyên ngành - quá trình dạy học mà sau này mình tổ chức Thực tiễn cũng đã kiểm chứng rằng : nếu được học tập bộ môn này, khoảng thời gian tiếp cận thực tiễn của sinh viên được rút ngắn lại Sinh viên tiếp cận nhanh với những thực tiễn chuyên ngành, tổ chức tốt quá trình dạy học mà không mất nhiều thời gian nghiên cứu tìm hiểu

I.3 Các nguyên tắc xây dựng nội dung môn học

I.3.1 Nội dung môn học phải phù hợp với mục tiêu đào tạo và mục tiêu môn học

Khi xây dựng quá trình đào tạo giáo viên dạy nghề chúng ta phải xây dựng mực tiêu đào tạo Mục tiêu đào tạo được xây dựng trên cơ sở khảo sát nhu cầu nhân lực xã hội, dựa trên định hướng phát triển ngành Từ việc khảo sát, người ta xây dựng được mẫu người cần đào tạo Như vậy có thể xem mục tiêu đào tạo là yếu tố được xác định đầu tiên của quá trình đào tạo, xây dựng mục tiêu đào tạo cũng thực hiện việc kết hợp giáo dục với xã hội

Mục tiêu môn học được xác định trên cơ sở mục tiêu đào tạo, góp phần thực hiện mục tiêu môn học Mục tiêu môn học hướng học sinh đạt được một

đích nào đó trong thang bậc mục tiêu để đạt được mục tiêu chung

Trong mối quan hệ biện chứng của quá trình dạy học, mục tiêu dạy học

là yếu tố chi phối các yếu tố còn lại của quá trình dạy học Từ mục tiêu dạy học, người ta mới lựa chọn nội dung dạy học phù hợp, từ nội dung dạy học và mục tiêu dạy học lựa chọn phương pháp, phương tiện dạy học Mục tiêu dạy học chi phối thầy và trò, ảnh hưởng đến tổ chức quá trình dạy học, mục tiêu dạy học còn ảnh hưởng đến công tác kiểm tra đánh giá kết quả dạy học, mục tiêu dạy học là chuẩn đánh giá của công tác kiểm tra đánh giá dạy học Khi

Trang 35

thực hiện các yếu tố của quá trình dạy học thì mục tiêu được rõ dần, mục tiêu dạy học đạt được từng bước Đạt được những mục tiêu bộ phận sẽ thúc đẩy quá trình dạy học phát triển lên một giai đoạn cao hơn Quan hệ giữa mục tiêu dạy học và các yếu tố của quá trình dạy học là mối quan hệ biện chứng trong

đó mục tiêu giữ vai trò chi phối ảnh hưởng đến các yếu tố khác

Do vậy, khi xây dựng những thành tố khác của quá trình dạy học phải căn cứu vào mục tiêu dạy học Nguyên tắc này đòi hỏi khi xây dựng nội dung dạy học phải cắn cứ vào mục tiêu đào tạo và mục tiêu môn học để lựa chọn nội dung, để sắp xếp hợp lý Nội dung dạy học phải hướng tới mục tiêu dạy học, khi xây dựng nội dung phải quan tâm với nội dung góp phần như thế nào trong việc đạt mục tiêu dạy học

Để thực hiện nguyên tắc trên, khi xây dựng nội dung dạy học cần thực hiện một số vấn đề sau :

- Tìm hiểu kỹ mục tiêu đào tạo, mục tiêu môn học Xác định vị trí mục tiêu môn học so với mục tiêu đào tạo, mục tiêu môn học thực hiện mục tiêu đào tạo ở khía cạnh nào Tìm hiểu rõ những đặc điểm về năng lực và phẩm chất

mà mục tiêu đào tạo đặt ra, những kiến thức, kỹ năng, thái độ mà mục tiêu môn học yêu cầu

- Lựa chọn nội dung dạy học phải căn cứ vào mục tiêu môn học Những nội dung nào liên quan đến mục tiêu, lĩnh hội nó người học đạt được mục tiêu thì mới đưa vào nội dung dạy học

- Sắp xếp nội dung dạy học đảm bảo phù hợp mục tiêu dạy học Nội dung dạy học có 4 thành phần cơ bản: tri thức, kỹ năng, kỹ năng sáng tạo và thái

độ Việc sắp xếp nội dung sẽ làm cho học sinh lĩnh hội được các thành phần này khác nhau Do vậy, chúng ta phải căn cứ vào mục tiêu đào tạo để sắp xếp nội dung hợp lý để người học lĩnh hội được các thành phần theo yêu cầu đặt ra trong mục tiêu

I.3.2 Nội dung môn học phải đảm bảo tính khoa học

Trang 36

Nội dung dạy học được xây dựng trên cơ sở các khoa học Từ hệ thống khái niệm khoa học, kết hợp với mục tiêu và trình độ người học để lựa chọn những tri thức, kỹ năng sắp xếp nó thành nội dung dạy học Như vậy, thực chất nội dung dạy học là hệ thống khái niệm khoa học nhưng đã được “lọc thông qua tấm kính mục tiêu dạy học và trình độ người học”

Do nội dung dạy học được lấy ra từ các khoa học nên nó phải đảm bảo các đặc điểm như đối với khoa học Đặc điểm thức nhất là tính chân thực Tính chân thực thể hiện ở chỗ các tri thức trong nội dung dạy học phải đảm bảo phản ánh chính xác thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy

Đặc điểm thứ hai là đảm bảo tính hiện đại Tính hiện đại thể hiện ở chỗ những tri thức trong nội dung dạy học phải mới, phải góp phần giải quyết một cách hiệu quả những vấn đề thực tiễn Những tri thức mới nhiều khi chưa hẳn

đã là hiện đại Có những tri thức tìm ra từ rất lâu những đến nay vẫn còn tác dụng, vẫn còn nguyên tính hiện đại của nó Như vậy, tính hiện đại thể hiện ở chỗ những tri thức trong nội dung dạy học phải là tri thức giải quyết tốt các vấn đề thực tiễn

Đặc điểm thứ ba là tính hệ thống và tổ chức hợp lý Tính hệ thống thể hiện ở chỗ nội dung dạy học phải được sắp xếp một cách có hệ thống, phải

đảm bảo tính lô gíc của khái niệm khoa học Các kiến thức phải được sắp xếp theo trình tự từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Sự tổ chức kiến thức thể hiện ở chỗ : tri thức khoa học phải tinh giản, phải là những tri thức cơ bản, cơ sở, và được tổ chức chặt chẽ

Một đặc điểm xuất phát từ các đặc điểm trên mà nội dung dạy học phải

có là : Lô gíc của khái niệm khoa học Lô gíc của khái niệm khoa học có thể hiểu là trình tự, con đường đi đến các khái niệm khoa học Mỗi khái niệm khoa học có một lô gíc riêng của nó Nội dung dạy học phải đảm bảo tính lô gíc của khái niệm khoa học

Trang 37

Nguyên tắc này đòi hỏi, khi xây dựng nội dung dạy học chúng ta phải

đảm bảo tính chân thực, hiện đại, tính hệ thống của nội dung và tuân thủ lô gíc của khái niệm khoa học Nội dung dạy học phải chân thực, phải hiện đại, phải phản ánh được những thành tựu của khoa học khoa học kỹ thuật, phải gồm những tri thức giải quyết tốt các các vấn đề thực tiễn Tri thức, kỹ năng phải

được sắp xếp hợp lý có hệ thống và đảm bảo tính lô gíc của khái niệm khoa học

Để thực hiện nguyên tắc trên, khi xây dựng nội dung dạy học cần thực hiện một số vấn đề sau :

- Khi xây dựng nội dung dạy học, tri thức phải đảm bảo tính chân thực, những tri thức chưa được kiểm chứng, những tri thức đang còn tranh luận không được đưa vào nội dung dạy học

- Nội dung dạy học phải đảm bảo tính hiện đại, điều đó có nghĩa là phải thường xuyên hiện đại hoá nội dung dạy học Phải loại bỏ những tri thức đã lỗi thời, không giải quyết được những vấn đề thực tiễn Cập nhập bổ sung những tri thức mới, làm cho nội dung dạy học phù hợp với sự tiến bộ của khoa học, khoa học kỹ thuật

- Lựa chọn những tri thức cơ bản, cơ sở để đưa vào nội dung dạy học Những tri thức đóng vai trò chủ chốt trong việc hình thành năng lực và là cơ

sở để hình thành các phẩm chất của nhân cách, những tri thức mà lĩnh hội

được nó người học có thể lĩnh hội được những tri thức cùng loại hoặc liên quan Nội dung dạy học phải được sắp xếp một cách lô gíc khoa học

- Sắp xếp tri thức đảm bảo tính lô gíc của khái niệm khoa học Cần tuân thủ các bước, trình tự lĩnh hội các tri thức khoa học

I.3.3 Nội dung môn học phải phù hợp với trình độ lĩnh hội của sinh viên

Đặc điểm khác biệt giữa hệ thống khái niệm khoa học và nội dung dạy học là nội dung dạy học hướng tới một đối tượng nhất định Hay nói cách

Trang 38

khác, trong nội dung dạy học thể hiện trình độ lĩnh hội người học Nội dung dạy học được biên soạn cho một chủ thể nhận thức nhất định Do vậy, nội dung dạy học phải biên soạn cho phù hợp với trình độ lĩnh hội của đối tượng

đó Cùng một khái niệm khoa học những khi trình bày cho hai đối tượng khác nhau thì cần phải trình bày khác nhau Do vậy trong nội dung dạy học cần thể hiện được lô gíc của khái niệm khoa học và lô gíc lĩnh hội của một đối tượng người học nào đó

Nguyên tắc này đòi hỏi khi xây dựng nội dung dạy học phải căn cứ vào trình độ người học để lựa chọn và biên soạn nội dung Đối với mỗi trình độ người học phải có nội dung dạy học phù hợp

Để thực hiện nguyên tắc này, khi biên soạn nội dung dạy học, chúng ta cần :

- Dựa vào mục tiêu dạy học và trình độ người học để lựa chọn khối lượng và chất lượng nội dung phù hợp

- Biên soạn nội dung dưới hình thức phù hợp đối tượng học tập

- Sắp xếp nội dung dạy học theo lô gíc phù hợp lô gíc nhận thức của người học

Trang 39

Chương 2 : Nội dung bộ môn Phương pháp dạy học

bộ môn Cơ khí động lực

II.1 Mục tiêu môn học

II.1.1.Mục tiêu chung

Môn học Phương pháp dạy học bộ môn Cơ khí động lực trang bị cho sinh viên : các kiến thức về quá trình dạy học chuyên ngành, các kỹ năng tổ chức và thực hiện quá trình dạy học chuyên ngành, các thái độ cần thiết Môn học trang bị cho sinh viên những kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết về quá trình dạy học chuyên ngành Cơ khí động lực, từ đó sinh viên tiếp cận dễ dàng với thực tiễn

II1.2 Mục tiêu cụ thể

Sau khi học xong môn học này, sinh viên có khả năng :

- Trình bày đặc điểm của quá trình dạy học chuyên ngành Cơ khí

- Xây dựng được các kiểu bài lên lớp hợp lý phù hợp với nội dung, đối tượng và điều kiện cơ sở vật chất

- Chuẩn bị và thực hiện được các hình thức và phương pháp kiểm tra

đánh giá thường dùng trong chuyên ngành

Trang 40

II.2 Nội dung môn học

II.2.1 Mục tiêu dạy học và nội dung dạy học

II.2.1.1 Mục tiêu dạy học

• Định nghĩa mục tiêu dạy học chuyên ngành

Mục tiêu dạy học chuyên ngành là kết quả của quá trình dạy học chuyên ngành được hình dung trước

Mục đích dạy học chuyên ngành được phân cấp từ lớn đến nhỏ Mục

đích dạy học chuyên ngành có các cấp độ mục tiêu dạy học môn học, mục tiêu học trình, mục tiêu bài học

• Các mức độ lĩnh hội

Để chiếm lĩnh được kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, học sinh phải tiến hành theo từng cấp độ Do vậy, người ta phân ra các mức độ lĩnh hội kiến thức, kỹ năng và thái độ

Về mặt nhận thức nói chung, có thể chia ra các cấp độ lĩnh hội như sau: Hiểu, nhớ, vận dụng và vận dụng thành thạo Hiểu có thể phân chia thành các mức độ sau : hiểu lơ mơ - hình dung không rõ nét về đối tượng, hiểu nhưng không trình bày được, hiểu nhưng không trình bày được bằng ngôn ngữ của bản thân mà phải trình bày bằng nguyên bản, hiểu và trình bày được bằng ngôn ngữ bản thân Cấp độ nhớ là cấp độ mà học sinh hiểu và có thể tái hiện

được tri thức Cấp độ vận dụng là cấp độ học sinh có thể vận dụng kiến thức vào những tình huống quen thuộc, vận dụng thành thạo là trường hợp vận dụng vào các tình huống khác nhau Như vậy, các cấp độ lĩnh hội được phân tích theo con đường từ lý luận đến thực tiễn, trong đó thực tiễn là đỉnh cao của nhận thức

Trong dạy kỹ thuật người ta lại phân chia các cấp độ lĩnh hội chi tiết hơn Chúng ta có các cấp độ nắm vững kiến thức cho ở bảng II-1

Bảng II-1 Các cấp độ nắm vững kiến thức

Ngày đăng: 18/07/2017, 21:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN