1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu lựa chọn một số biện pháp nâng cao thể lực chung cho sinh viên trường đại học sư phạm kỹ thuật vinh

89 38 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 843,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác giáo dục thể chất GDTC và hoạt động thể dục thể thao TDTT trong các trường đại học, là một mặt giáo dục quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, để góp phần thực hiện mục

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHAN VĂN THÁM

NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO THỂ LỰC CHUNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC THỂ CHẤT

Nghệ An, 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới Trường Đại học Vinh, phòng Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin được bày tỏ lòng cảm ơn, biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo, các nhà khoa học đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học

Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Mạnh Hùng đã dành nhiều thời gian và tâm huyết chỉ bảo cho tác giả những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, giúp tôi tự tin trong quá trình nghiên cứu để hoàn thiện luận văn thạc sĩ này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm

Kỹ thuật Vinh, các cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, khảo sát, thu thập các dữ liệu liên quan đến đề tài

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã tận tình giúp đỡ trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học

Mặc dù trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, bản thân đã rất nỗ lực và cố gắng, song chắc chắn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Vì vậy, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các nhà giáo, bạn bè và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, tháng 8 năm 2017

Tác giả

Phan Văn Thám

Trang 4

MỤC LỤC

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 4

1.1 Một số vấn đề về giáo dục thể chất ở Việt Nam 11 1.1.1 Những khái niệm có liên quan đến năng lực thể chất và giáo

1.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC trường

1.2 Thực trạng giáo dục thể chất trong các trường Đại học, Cao đẳng ở

1.2.1 Mục đích, nhiệm vụ và nội dung công tác giáo dục thể chất

1.2.2 Thực trạng giáo dục thể chất ở các trường Đại học, Cao đẳng

1.3 Khái quát công tác giáo dục thể chất ở một số nước trên thế giới 24 1.4 Những tiêu chí đánh giá chất lượng GDTC 26 1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất 27 1.5.1 Các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất của

1.5.2 Các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất của con

Trang 5

1.6 Phương pháp đánh giá và các công trình nghiên cứu thể chất cho

1.6.1 Các phương pháp đánh giá khả năng thể chất cho HSSV 38 1.6.2 Những tiêu chuẩn RLTT do Bộ GD&ĐT đã ban hành ở Việt

1.6.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan 40

Chương 2 Nghiên cứu thực trạng công tác giáo dục thể chất của sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh 43

2.1 Thực trạng công tác GDTC của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật

2.1.1 Thực trạng về nhận thức của cán bộ, giáo viên, sinh viên về vai

trò của giáo dục thể chất trong nhà trường 43 2.1.2 Thực trạng về đội ngũ giáo viên TDTT của trường Đại học Sư

2.1.3 Thực trạng về hệ thống tổ chức và quản lý công tác GDTC của

trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh 45 2.1.4 Thực trạng về nội dung chương trình, hình thức tổ chức đào

tạo và phương pháp giảng dạy của trường Đại học Sư phạm Kỹ

2.1.5 Thực trạng về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác

GDTC của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh 49 2.1.6 Đánh giá của sinh viên về giờ học GDTC chính khoá và tập

2.1.7 Thực trạng kết quả học tập môn GDTC của sinh viên trường

Chương 3 Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số biện pháp nâng cao thể lực chung cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật

3.1 Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng các biện pháp nâng cao thể chất cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh 57

3.1.1 Cơ sở để xây dựng các biện pháp nâng cao thể chất cho sinh

viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh 57

Trang 6

3.1.2 Lựa chọn biện pháp nâng cao thể chất cho sinh viên trường Đại

3.1.3 Ứng dụng các biện pháp nâng cao thể chất cho sinh viên

trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh 66

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Phân phối nội dung và thời gian học môn GDTC 22 Bảng 1.2 Ảnh hưởng của di truyền đến một vài chỉ tiêu hình thái 29 Bảng 1.3 Ảnh hưởng của di truyền đến một vài chỉ số vận động và sinh lý 30 Bảng 2.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ, giáo viên và sinh viên về vai trò công tác GDTC tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh 44 Bảng 2.2 Thực trạng về đội ngũ giáo viên TDTT của trường Đại học Sư phạm

Kỹ thuật Vinh 45 Bảng 2.3 Chương trình GDTC áp dụng tại Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh 47 Bảng 2.4 Thực trạng về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác

TDTT của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh 50 Bảng 2.5 Đánh giá của sinh viên về giờ học GDTC chính khoá (n=200) 51 Bảng 2.6 Kết quả phỏng vấn về nhu cầu tập luyện TDTT ngoại khóa (n=200) 53 Bảng 2.7 Thực trạng kết quả học tập môn GDTC của sinh viên trường Đại học

Sư phạm Kỹ thuật Vinh (n=200) 55 Bảng 3.1 Kết quả phỏng vấn lựa chọn biện pháp nâng cao thể chất cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh (n=35) 59 Bảng 3.2 Số lượng CLB và người tham gia CLB sau ứng dụng các biện pháp 68 Bảng 3.3 Nội dung, hình thức và số lượng tham gia các giải đấu phong trào 69 Bảng 3.4 Kết quả học tập môn GDTC của sinh viên trước và sau khi ứng dụng các biện pháp (n=200) 71 Bảng 3.5 Kết quả so sánh thể lực của sinh viên trước và sau khi ứng dụng các biện pháp (n=100 nam, n=100 nữ) 72

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước theo định hướng

xã hội chủ nghĩa (XHCN), sức khỏe con người là vốn quý Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vị trí của công tác GDTC nhằm bồi dưỡng, nâng cao sức khỏe đối với thế hệ trẻ và xem đó là động lực quan trọng, cần phải có chính sách chăm sóc giáo dục đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam phát triển hài hòa về mặt thể chất, tinh thần, trí tuệ và đạo đức Công tác giáo dục thể chất (GDTC) và hoạt động thể dục thể thao (TDTT) trong các trường đại học, là một mặt giáo dục quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, để góp phần thực hiện mục tiêu: Nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài cho đất nước để đáp ứng nhu cầu đổi mới sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước GDTC trong trường học là thực hiện mục tiêu phát triển thể chất cho học sinh, sinh viên, nhằm góp phần vào việc đào tạo con người phát triển toàn diện, nâng cao thể lực, giáo dục nhân cách đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần trong sinh viên Thế hệ học sinh, sinh viên, là những người chủ tương lai của đất nước, nên sứ mệnh lịch sử tương lai của dân tộc đều trông mong vào thế

hệ này

Mục tiêu của sự nghiệp giáo dục và đào tạo là xây dựng con người mới phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu của xã hội, có tri thức khoa học, có đạo đức, có khả năng thẩm mỹ và có sức khoẻ Trong nhiều năm qua Đảng và Nhà nước luôn coi việc phát triển con người là một trong những chiến lược quan trọng nhất bởi yếu tố con người là yếu tố quyết định sự thành công trong công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta Ngày nay, người lao động trí óc lẫn lao động chân tay ngoài việc trang bị những kiến thức cần thiết về chuyên môn của mình còn cần có sức khoẻ tốt mới mong thích ứng được cường độ lao động cao trong một xã hội phát triển Chúng ta không thể nói đến

Trang 10

cống hiến, nói đến sáng tạo hay đơn giản hơn nói đến chấp hành kỷ luật lao động đầy đủ nếu không có sức khoẻ tốt Vì vậy cùng với giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục đạo đức thì giáo dục thể chất (GDTC) là một bộ phận không thể thiếu trong việc tạo con người phát triển toàn diện Đây là hình thức giáo dục nhằm chuẩn bị thể lực và nâng cao sức khoẻ cho học sinh, những người lao động trí óc trong tương lai GDTC trong nhà trường là một bộ phận quan trọng không thể thiếu được của nền giáo dục chung Nó góp phần đào tạo con người mới phát triển toàn diện, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ tổ quốc Mục đích GDTC của nước ta là: Bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những người phát triển toàn diện, có sức khỏe dồi dào, thể chất cường tráng, có dũng khí kiên cường để kế tục sự nghiệp cánh mạng của Đảng một cách đắc lực

và một cuộc sống vui tươi lành mạnh GDTC học đường là một bộ phận hết sức quan trọng và cơ bản của hoạt động thể dục, có vai trò tăng cường sức khoẻ nâng cao thể lực cho học sinh, sinh viên, góp phần tích cực vào việc bồi dưỡng, đào tạo lớp người phát triển toàn diện để xây dựng và bảo vệ tổ quốc nhất là trong thời kỳ hiện đại hoá công nghiệp hoá đất nước

Tổng thể các giá trị văn hóa đạo đức, thể chất, tinh thần, là nền tảng để phát huy được hiệu quả nguồn lực Chính vì thế, công tác giảng dạy môn GDTC của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh đã không ngừng được cải tiến và nâng cao Song có thể xây dựng chương trình giảng dạy có tính khoa học cao hơn, hội tụ được tất cả các yếu tố để nâng cao hiệu quả học tập cho sinh viên cần phải có một chuẩn mực trong kiểm tra đánh giá, cho phép đánh giá một cách khách quan, chính xác trình độ thể chất của sinh viên Đồng thời, các tiêu chuẩn đánh giá sẽ trở thành mục tiêu để sinh viên tự phấn đấu

Trên thực tế công tác GDTC trong các trường Đại học, Cao đẳng nói chung và trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh nói riêng còn gặp nhiều khó khăn và cần phải nhanh chóng có giải pháp khắc phục Công tác GDTC của

Trang 11

trường còn một số tồn tại như: Nội dung chương trình môn học còn chưa thực sự hợp lý, cơ sở vật chất, sân bãi, dụng cụ, các phương tiện dạy học chưa đáp ứng được nhu cầu của sinh viên, thời gian học chính khoá ít, nhận thức của học sinh

về công tác GDTC còn hạn chế, hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa chưa thực sự phát triển và trở thành nhu cầu của sinh viên Đặc biệt công tác GDTC cho sinh viên trong giờ học GDTC vẫn còn nhiều hạn chế, rất nhiều sinh viên tố chất thể lực chung còn yếu, dẫn tới không hoàn thành chỉ tiêu của môn học, điều này ít nhiều ảnh hưởng đến kết quả học tập của các em và thành tích thi đua của nhà trường

Vấn đề nghiên cứu các giải pháp nâng cao thể chất cho sinh viên trong các trường đã được một số tác giả quan tâm và nghiên cứu như: Trần Văn Hưng (2010) “Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả trình độ thể lực cho nam sinh viên không chuyên ngành thể dục thể thao trường Đại học Tây Nguyên”, Nguyễn Việt Hòa (2009) “Nghiên cứu một số bài tập thể lực nhằm phát triển thể chấ cho nam sinh viên trường đại học Ngoại ngữ, đại học Quốc gia Hà Nội” và một số tác giả khác cũng có công trình nghiên cứu về nâng cao thể chất của sinh viên như Trần Thị Nguyệt Đán (1998), Phạm Khánh Ninh (2001), Trần Thị Thuỳ Linh (2002), Đỗ Thị Thái Thanh (2003), kết quả nghiên cứu của các tác giả kể trên đã xây dựng được tiêu chuẩn đánh giá phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng trường, đồng thời tuân thủ các yêu cầu cơ bản về mặt thể lực do Bộ GD&ĐT quy định Song chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu ứng dụng giải pháp nhằm nâng cao thể chất cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh

Từ những lý do trên, xuất phát từ yêu cầu nâng cao chất lượng GDTC cho sinh viên của nhà trường trong những năm tới, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài:

Trang 12

“Nghiên cứu lựa chọn một số biện pháp nâng cao thể lực chung cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh”

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất của sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh để từ đó lựa chọn một số biện pháp nhằm nâng cao thể lực chung cho sinh viên, góp phần đưa công tác GDTC trong trường Đại học

Sư phạm Kỹ thuật Vinh ngày càng có hiệu quả

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Chủ thể nghiên cứu: Giải pháp nâng cao thể chất cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh

+ Quy mô nghiên cứu:

- Số lượng mẫu nghiên cứu: 200 sinh viên (100 nam, 100 nữ)

- Phạm vi nghiên cứu: Trường ĐH Vinh và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh

- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11/2015 đến tháng 08/2017

Thời gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 11/2015 đến tháng 08/2017 được chia làm các giai đoạn sau:

Trang 13

Giai đoạn 1:Từ tháng 11/2015 đến tháng 12/2015, xác định hướng nghiên cứu

Giai đoạn 2: Từ tháng 01/2016 đến tháng 07/2016, đánh giá thực trạng, lựa chọn các giải pháp

Giai đoạn 3: Từ tháng 8/2016 đến tháng 1/2017, ứng dụng và đánh giá hiệu qủa các giải pháp trên đối tượng nghiên cứu

Giai đoạn 4: Từ tháng 2/2017 đến tháng 08/2017, xử lý số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu, phân tích các kết quả nghiên cứu, hoàn thiện

đề tài và báo cáo trước Hội đồng khoa học

4 Những đóng góp mới của đề tài

Đề tài đã nghiên cứu thực trạng công tác giáo dục thể chất của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh, qua đó lựa chọn và ứng dụng một số biện pháp nhằm nâng cao thể lực chung cho sinh viên của Trường

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài đã tiến hành giải quyết các nhiệm vụ sau:

Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu thực trạng công tác giáo dục thể chất của sinh

viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh

Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số biện pháp nâng

cao thể lực chung cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh

6 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

Trang 14

Việc sử dụng phương pháp này trong quá trình nghiên cứu là phục vụ chủ yếu cho việc giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Các tài liệu chuyên môn có liên quan được lấy từ các nguồn tài liệu khác nhau, với số lượng lớn hơn và khai thác các nguồn tài liệu chưa được tiếp xúc Đây là sự tiếp nối,

bổ sung các luận cứ khoa học và tìm hiểu một cách triệt để những vấn đề liên quan đến công tác tổ chức, quản lý giáo dục thể chất, phát triển phong trào tập luyện thể dục thể thao nội khoá và ngoại khoá cho đối tượng nghiên cứu

đã thu thập những thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu của đề tài Nội dung phỏng vấn giúp chúng tôi đánh giá được thực trạng và lựa chọn được giải pháp nâng cao năng lực thể chất của sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 45 cán bộ, giáo viên và 250 sinh viên trong trường

Phương pháp quan sát sư phạm

Phương pháp quan sát sư phạm để theo dõi liên tục, chặt chẽ, diễn biến năng lực thể chất của sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh và đánh giá sơ bộ thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị học tập như: phòng học, bàn ghế, sân trường, không gian, cây xanh phục vụ học tập nói chung và học thể dục nói riêng, qua đó đánh giá những điều kiện đảm bảo cho việc dạy và học ở nhà trường Bên cạnh đó quan sát sư phạm còn được dùng để đánh giá nội dung,

Trang 15

hình thức, phương tiện, phương pháp sử dụng GDTC cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh

Phương pháp kiểm tra sư phạm

Được sử dụng để đánh giá khả năng phát triển thể chất của đối tượng nghiên cứu thông qua các chỉ tiêu về thể lực của Bộ GD&ĐT

Nằm ngửa gập bụng (số lần/30s)

Để đánh giá sức mạnh bền nhóm cơ bụng

Dụng cụ kiểm tra: Thảm vuông kích thước 1.5 x1.5m

Cách tiến hành kiểm tra: Người được kiểm tra nằm trên nền sân trải thảm

Chân co 90 độ ở đầu gối, bàn chân áp sát sàn, các ngón tay đan chéo nhau, lòng bàn tay áp chặt sau đầu, khuỷu tay chạm đùi Người giúp đỡ ngồi lên mu bàn chân, hai tay giữ cổ chân để không cho bàn chân người được kiểm tra xê dịch hoặc tách ra khỏi sàn Người được kiểm tra nằm ngửa, hai mu bàn tay và bả vai chạm sàn Khi nghe khẩu lệnh "bắt đầu" thì người được kiểm tra làm động tác gập bụng thành ngồi để hai khuỷu tay chạm đùi, sau đó động tác trở về tư thế ban đầu, mỗi chu kỳ như vậy được tính một lần

Bật xa tại chỗ (cm)

Để đánh giá sức mạnh bột phát của chân

Dụng cụ kiểm tra: Thước dài 3m rộng 0,5cm, kẻ vạch xuất phát, thước

băng đặt bên cạnh vuông góc vạch xuất phát và làm điểm xuất phát Thước được ghim chặt xuống đất để không bị xê dịch trong khi kiểm tra

Cách tiến hành: Người được kiểm tra đứng hai chân tự nhiên, hai mũi bàn

chân đặt sát mép vạch xuất phát, hai tay giơ lên cao, rồi hạ thấp trọng tâm, gấp khớp khuỷu, gập thân, người hơi lao về phía trước, đầu hơi cúi, hai tay hạ xuống dưới ra sau, dùng hết sức phối hợp toàn thân bấm mạnh đầu ngón chân xuống đất bật nhảy ra xa đồng thời hai tay vung về phía trước khi bật nhảy và khi tiếp

Trang 16

đất hai chân tiến hành đồng thời cùng một lúc Kết quả đo được tính bằng độ dài

từ vạch xuất phát đến điểm chạm cuối cùng của gót bàn chân, chiều dài lần nhảy được tính bằng đơn vị cm lấy lẻ từng 1cm Thực hiện hai lần lấy lần xa nhất

Chạy con thoi 4x10m (s)

Để đánh giá khả năng phối hợp vận động và sức nhanh

Dụng cụ kiểm tra: Đồng hồ bấm giây, cọc tiêu, cờ lệnh

Cách tiến hành: Người được kiểm tra thực hiện các thao tác “vào chỗ-sẵn

sàng-chạy” giống như chạy 30m xuất phát cao Khi chạy đến vạch 10m chỉ cần một chân chạm vạch lập tức quay người thật nhanh chạy về vạch xuất phát, đến khi một chân chạm vạch lại lặp lại tương tự như lần đầu, sau đó kết thúc Thành tích được tính từ khi có lệnh xuất phát đến khi đối tượng kiểm tra chạy hết 4x10m

Chạy 5 phút tùy sức (m)

Để đánh giá sức bền chung (khả năng ưa khí)

Dụng cụ kiểm tra: Đồng hồ, số đo và tích kê ứng với số đeo

Cách tiến hành: Khi bắt đầu tiến hành test chạy 5 phút các thao tác của

người được kiểm tra và người kiểm tra giống như “chạy con thoi” khi có lệnh

“chạy” người được kiểm tra chạy trong ô chạy, hết đoạn đường 50m vòng trái qua vật chuẩn chạy lặp lại trong khoảng thời gian 5phút Trong khi chạy nếu mệt

có thể đi bộ cho đến khi hết giờ Mỗi người được kiểm tra có một số đeo ở ngực

và tay cầm 1tích kê có số tương ứng Khi có lệnh báo hết 5 phút lập tức thả ngay tích kê của mình xuống dưới chân để đánh dấu số lẻ quãng đường chạy được, sau đó chạy chậm dần và thả lỏng kết thúc kiểm tra

Chạy 30m xuất phát cao(s)

Để đánh giá sức nhanh

Dụng cụ kiểm tra: Đồng hồ bấm giây

Trang 17

Cách tiến hành: Người được kiểm tra thực hiện các thao tác “vào chỗ -

sẵn sàng - chạy” Khi có khẩu lệnh người được kiểm tra chay hết cự ly 30m với tốc độ cao nhất, thành tích được tính từ khi có lệnh xuất phát đến khi đối tượng kiểm tra chạy hết 30m

Lực bóp tay thuận (kg)

Để đánh giá sức mạnh của tay thuận

Cách tiến hành: Người được kiểm tra hai chân đứng rộng bằng vai, tay

thuận cầm lực kế hướng vào lòng bàn tay Không được bóp giật cục và có các động tác trợ giúp khác Thực hiện hai lần, nghỉ 15s giữa hai lần thực hiện, lấy kết quả cao nhất và chính xác đến 0,1kg

Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm sử dụng để xác định hiệu quả và giải quyết các giải pháp được lựa chọn nâng cao hiệu quả GDTC cho sinh viên trường Đại học sư phạm Kỹ thuật Vinh Thực nghiệm được tiến hành bằng phương pháp tự đối chiếu trước và sau khi thực nghiệm các giải pháp đã lựa chọn trên 200 sinh viên Để có được kết quả mang tính khách quan và toàn diện, đề tài tiến hành thực nghiệm sư phạm theo yêu cầu sau:

Thực nghiệm được tiến hành toàn diện trên tất cả các công đoạn trong quá trình giảng dạy như: nội dung, chương trình, cách thức quản lý, cơ sở vật chất và được ghi chép vào các biên bản quy định những số liệu cần thiết trong nghiên cứu

Thời gian thực nghiệm được tiến hành trong học kỳ 2 năm học

2015-2016, trước thực nghiệm chúng tôi tiến hành kiểm tra, đo đạc để xác định trình

độ thể chất ban đầu của đối tượng, sau khi áp dụng các giải pháp vào đối tượng nghiên cứu, tiến hành kiểm tra bằng các chỉ tiêu đánh giá năng lực thể chất do

Trang 18

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành để xác định sự khác biệt trong quá trình nghiên cứu

Phương pháp toán học thống kê

Các số liệu được xử lý bằng phương pháp toán học thống kê TDTT trên máy vi tính theo chương trình phần mềm SPSS phiên bản 18.0 định sẵn để tính các tham số thống kê đặc trưng như: Trung bình cộng (x), Phương sai (2), Độ lệch chuẩn (), Hệ số biến sai (C V), Hệ số tương quan (r), Sai số chuẩn của giá trị trung bình (x), So sánh bằng phương pháp tự đối chiếu (t)

7 Cấu trúc của luận văn

Mở đầu

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Nghiên cứu thực trạng công tác giáo dục thể chất của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh

Chương 3: Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số biện pháp nâng cao thể lực chung cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh

Kết luận và kiến nghị

Trang 19

Chương 1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 1.1 Một số vấn đề về giáo dục thể chất ở Việt Nam

1.1.1 Những khái niệm có liên quan đến năng lực thể chất và giáo dục thể chất

Thể chất

Thể chất là chỉ chất lượng và khối lượng cơ thể con người Đó là những đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển do bẩm sinh, di truyền và điều kiện sống (bao gồm cả giáo dục và rèn luyện) [31] [32]

Thể dục thể thao (TDTT) gắn bó chặt chẽ với quá trình phát triển thể chất

Đó là một quá trình hình thành, biến đổi tuần tự theo quy luật của từng cuộc đời mỗi con người (tương đối lâu dài) về hình thái, chức năng và cả những tố chất thể lực và năng lực thể chất Chúng được hình thành trên và trong cái nền cơ thể

ấy [23]

Năng lực thể chất bao gồm thể hình, khả năng chức năng và khả năng thích ứng của cơ thể

Thể hình là nói về hình thái, cấu trúc cơ thể, bao gồm trình độ phát triển

những chỉ số về hình thái và tỉ lệ giữa chúng Còn năng lực thể chất lại chủ yếu liên quan đến những khả năng chức năng của hệ thống cơ quan trong cơ thể, thể hiện chính qua hoạt động cơ bắp Nó bao gồm các tố chất thể lực (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo) Khả năng thích ứng chỉ trình độ (năng lực) thích ứng chủ yếu về chức năng của cơ thể con người với hoàn cảnh bên ngoài bao gồm tình trạng cơ thể qua một số dấu hiệu về thể trạng, được xác định bằng cách đo tương đối đơn giản về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, dung tích sống, lực tay, chân, lưng, trong một thời điểm nào đây [25] [31]

Trang 20

Đặc trưng của sự phát triển thể chất phụ thuộc nhiều vào các nguyên nhân cấu thành (điều kiện bên trong và điều kiện bên ngoài) và sự biến đổi của nó theo một số quy luật về tính di truyền, sự phát triển theo lứa tuổi và giới tính, sự thống nhất hữu cơ giữa cơ thể và môi trường, giữa hình thức, cấu tạo và chức năng cơ thể

Mỗi cá thể và xã hội không thể tùy ý thay bỏ hoặc làm ngược lại những quy luật khách quan này Chỉ có thể đạt hiệu quả phát triển thể chất tốt nếu nhận

ra được và biết vận dụng, tác động theo những phương hướng, mục đích nhất định, nhằm đáp ứng nhu cầu và lợi ích của cá nhân và xã hội Xét theo nghĩa

ấy, TDTT là một nhân tố xã hội chuyên môn nhằm tác động có chủ đích và hợp

lý đến quá trình phát triển thể chất của con người, chủ yếu là về các tố chất thể lực và những kỹ năng vận động quan trong trong đời sống [28]

Khái niệm mức độ phát triển thể chất là tổ hợp các tính chất về hình thái

và chức năng của cơ thể, quy định khả năng hoạt động của cơ thể Như vậy, khái niệm mức độ phát triển thể chất không chỉ bao hàm các đặc tính, hình thái, kích thước của cơ thể mà còn khả năng chức phận của cơ thể [30]

Trang 21

Sự hình thành kỹ năng vận động phụ thuộc nhiều vào mức độ phát triển các tố chất vận động Tuy nhiên, trong quá trình hình thành kỹ năng vận động, các tố chất vận động cũng được hoàn thiện [15]

Sự hoàn thiện thể chất là mức tối ưu (tương đối với giai đoạn lịch sử nhất định của trình độ thể lực toàn diện và phát triển thể chất cân đối, đáp ứng đầy đủ những yêu cầu của lao động và những hoạt động cần thiết khác trong đời sống, phát huy cao độ, đầy đủ những năng khiếu bẩm sinh về thể chất của từng người, phù hợp với những quy luật phát triển toàn diện nhân cách và giữ gìn, nâng cao sức khỏe để hoạt động tích cực, lâu dài và có hiệu quả [1] [24]

Giáo dục thể chất

Khái niệm GDTC nằm trong khái niệm giáo dục theo nghĩa rộng Điều đó

có nghĩa GDTC là một hiện tượng sư phạm với đầy đủ ý nghĩa của nó (vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của thầy giáo và học sinh phù hợp với nguyên tắc sư phạm ) Đặc điểm nổi bật của GDTC là quá trình hình thành

kỹ năng kỹ xảo vận động và dạy học động tác, phát triển các tố chất vận động GDTC về cơ bản được chia thành hai mặt chuyên biệt đó là: dạy học động tác và giáo dục các tố chất vận động

Dạy học động tác là nội dung cơ bản của GDTC Đó là quá trình tiếp thu

có hệ thống, cách thức điều khiển động tác, vốn kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho cuộc sống và tri thức chuyên môn Bản chất của thành phần thứ hai trong GDTC

là sự tác động hợp lý tới sự phát triển các tố chất vận động, phát triển kỹ năng Trong hệ thống giáo dục, nội dung ấy được gắn liền với trí dục, đức dục và mỹ dục [23]

Giáo dưỡng thể chất

Về bản chất của giáo dưỡng thể chất là làm sao để học, tách riêng các cử động ra và so sánh chúng với nhau, điều khiển có ý thức các cử động đó và thích

Trang 22

nghi với các trở ngại đó sao cho khéo léo và kiên trì nhất, nói một cách khác, rèn luyện để với sức lực ít nhất, trong một khoảng thời gian ngắn nhất có thể tiến hành có ý thức một hoạt động thể lực lớn nhất, có nghĩa là hình thành và hoàn

thiện từ kỹ năng tiến đến kỹ xảo [19]

Hoàn thiện thể chất

Hoàn thiện thể chất là tổng hợp các ý niệm về phát triển thể chất cân đối ở mức độ hợp lý và về trình độ huấn luyện thể lực toàn diện của con người [16] [31]

Sức khoẻ

Theo tổ chức Y tế thế giới (World Health Organisation), sức khoẻ được hiểu là trạng thái hài hoà về thể chất, tinh thần và xã hội, mà không chỉ nghĩa là không có bệnh hay thương tật, cho phép mỗi người thích ứng nhanh chóng với các biến đổi về môi trường, giữ được lâu khả năng lao động và lao động có kết quả [39]

Tố chất vận động

Trong quá trình GDTC cho sinh viên, giáo dục các tố chất thể lực luôn được coi là vấn đề quan trọng Vì vậy việc phát triển các tố chất thể lực một cách toàn diện là nhiệm vụ bắt buộc đối với những người làm công tác TDTT quần chúng và đặc biệt là trong huấn luyện thể thao nhằm đạt thành tích tối đa Các tố chất thể lực của con người (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, năng lực phối hợp vận động, mềm dẻo ) có mối quan hệ biện chứng, thống nhất và ràng buộc chặt chẽ với nhau Theo Harre “Sự phát triển cực hạn của một năng lực thể chất nào đó chỉ có được trên cơ sở nâng cao các khả năng chức phận chung của toàn

cơ thể” [13]

Khi sử dụng các phương tiện, phương pháp, điều kiện chuyên môn để

phát triển các tố chất thể lực, người ta thường xem xét dưới ba góc độ:

Trang 23

Sự phát triển hài hòa thống nhất các tố chất thể lực của cơ thể

Sự phát triển tương hỗ và sự chuyển lẫn nhau giữa các tố chất thể lực

Sự hạn chế lẫn nhau trong việc phát triển các tố chất thể lực

Ở lứa tuổi sinh viên, năng lực vận động phát triển nhanh chóng Giai đoạn này hầu như tất cả các chỉ tiêu về năng lực thể chất đều có tỉ lệ tăng trưởng lớn nhất, đặc biệt là sức nhanh, sức bền chung và năng lực phối hợp vận động Vì vậy giáo dục các tố chất vận động cho học sinh, sinh viên cần phải được đặc biệt chú trọng [32]

1.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC trường học

GDTC trong trường học các cấp là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, đồng thời là một bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân GDTC trong trường học đang góp phần cùng với thể thao thành tích cao, đảm bảo cho nền TDTT nước ta phát triển cân đối và đồng bộ, nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược củng cố, xây dựng và phát triển TDTT Việt Nam từ năm 2000 đến 2025 đưa nền TDTT nước ta hoà nhập

và đua tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới

Đảng và Nhà nước đã quan tâm, chú trọng đến sức khoẻ của toàn dân thông qua các chỉ thị, nghị quyết về tăng cường sức khoẻ cho mọi người Qua hơn nửa thế kỷ, kể từ khi khai sinh nền TDTT Cách mạng Việt Nam, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã viết “Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục” [20] Lời kêu gọi của Bác đã được thấm nhuần trong các tầng lớp nhân dân từ thiếu nhi cho đến người già, phong trào rèn luyện thân thể, tăng cường sức khoẻ được phát triển kế tiếp năm này qua năm khác, tạo nên một dân tộc Việt Nam khoẻ mạnh Những năm tháng cách mạng, các tầng lớp nhân dân ta đã chịu nhiều hy sinh, gian khổ về vật chất, tinh thần…làm cho sức khoẻ về thể chất bị giảm sút Chính vì thế Bác

ra sức kêu gọi toàn dân tập thể dục: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây

Trang 24

đời sống mới, việc gì cũng cần đến sức khoẻ mới thành công Mỗi một người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần; mỗi một người dân khoẻ mạnh tức là góp phần làm cho cả nước khỏe mạnh Vậy nên tập luyện thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi một người dân yêu nước” [20]

Đối với thế hệ trẻ, đặc biệt là thế hệ học sinh, sinh viên, Bác cũng rất quan tâm chỉ bảo vì đây là thế hệ tương lai của đất nước Bác khuyến khích học sinh, sinh viên phải: “Học tốt, rèn luyện tốt, lao động tốt” Những năm qua, trong học sinh sinh viên cả nước cũng dấy lên phong trào “Rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại ” và đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, số học sinh đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể tăng lên

GDTC trong trường học các cấp có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc nâng cao sức khoẻ cho học sinh, sinh viên, phù hợp với nguyên tắc phát triển con người toàn diện mà Đảng và Nhà nước đề ra Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992, điều 41 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển TDTT, quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học, khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức thể dục thể thao tự nguyện của nhân dân, tạo điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động thể dục thể thao quần chúng, chú trọng hoạt động TDTT chuyên nghiệp, bồi dưỡng tài năng thể thao” [14]

Quán triệt về quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học của Hiến pháp, các cấp, các ngành liên quan luôn quan tâm, chú trọng bồi dưỡng phát huy các yếu tố phát triển thể chất học sinh, tăng cường sự đầu tư, quản lý công tác GDTC trong trường học

Bên cạnh sự quan tâm chỉ đạo công tác GDTC trong trường học Đảng và Nhà nước ta cũng chỉ ra những yếu kém về quản lý, chuyên môn trong lĩnh vực này thể hiện qua Chỉ thị 36 CT/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng “Cơ

sở vật chất và khoa học kỹ thuật của thể dục thể thao vừa thiếu, vừa lạc hậu,

Trang 25

ngay cả ở các thành phố lớn, các địa bàn tập trung dân cư, các trường học và các

cơ sở của lực lượng vũ trang Nhiều sân bãi, cơ sở tập luyện đã bị lấn chiếm, sử dụng vào việc khác”, “Nhiều cấp uỷ đảng, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ

và còn xem nhẹ vai trò của thể dục thể thao trong sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng

và phát huy nhân tố con người”, “Nhà nước chưa kịp thời bổ sung, sửa đổi các chính sách, chế độ phù hợp với yêu cầu phát triển thể dục thể thao Đầu tư cho lĩnh vực thể dục thể thao còn rất hạn chế” [5]

Nguyên nhân chủ yếu của những yếu kém này là do nhiều cấp ủy đảng, chính quyền chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của công tác GDTC và còn xem nhẹ vai trò của GDTC, chưa nhìn thấy ý nghĩa của TDTT là một bộ phận trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, văn hoá,

tư tưởng… nên chưa quan tâm về chế độ, chính sách đối với việc phát triển TDTT Quản lý ngành còn kém hiệu quả, chưa phát huy hết được nguồn lực xã hội để phát triển TDTT giai đoạn mới

Luật giáo dục năm 2006 đã chỉ rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người phát triển toàn diện, về đạo đức, trí tuệ, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành

và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [21]

Luật thể dục thể thao năm 2007, điều 20 quy định: “Giáo dục thể chất là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện” [22]

Có thể thấy được rằng, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến sự nghiệp GDTC cho thế hệ trẻ, coi GDTC là nhiệm vụ bắt buộc đối với trường học các cấp vì mục tiêu phát triển con người toàn diện

Trang 26

Luật thể dục thể thao đã cho thấy cần có sự thay đổi nhận thức về thể dục thể thao; đổi mới thể dục thể thao trường học, trước hết phải đổi mới nhận thức

từ xã hội, các cấp lãnh đạo đến các cán bộ giáo viên, coi trọng thể dục thể thao giải trí, các hoạt động giải trí gắn liền với điều kiện sinh thái tự nhiên là một vấn

đề mới trong trường học

Luật giáo dục năm 2005 điều 65 khoản 1 ghi rõ: “Trường dân lập, tư thục

có nhiệm vụ và quyền hạn như trường công lập trong việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục và các quy định liên quan đến tuyển sinh, giảng dạy, học tập, thi, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp, cấp bằng, chứng chỉ” [21]

Việc tiến hành giảng dạy và nâng cao chất lượng GDTC trong trường học

là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, quyết định đến hiệu quả của công tác phát triển thể chất cho học sinh, sinh viên Vì vậy, Bộ Giáo dục và Đào tạo - Uỷ ban TDTT đã Thông tư liên bộ số 493 GD – ĐT/UBTDTT về việc đẩy mạnh và nâng cao chất lượng GDTC cho học sinh, sinh viên đã nêu rõ: “ …Trong quá trình phát triển và đào tạo, giáo dục thể chất là nội dung, giải pháp quan trọng góp phần đào tạo thanh thiếu niên Việt Nam phát triển hài hoà về trí tuệ, thể chất, tinh thần và đạo đức Đồng thời xây dựng nhà trường thành những cơ sở phong trào TDTT quần chúng của học sinh, sinh viên …” [29]

Như vậy, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề giáo dục cho thế

hệ trẻ, đặc biệt là GDTC thể hiện qua hầu hết các văn bản quan trọng, bên cạnh

đó việc đề cao chất lượng giáo dục cũng là một trong những yếu tố rất quan trọng quyết định đến trình độ giáo dục và đào tạo ở nước ta

Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chương trình và sách giáo khoa; thi và tuyển sinh; đội ngũ thầy giáo, cô giáo và cán bộ quản lý; cơ sở vật chất và thiết bị dạy học; sự quan tâm của các cấp ủy đảng và chính quyền,

đoàn thể; xã hội hóa giáo dục

Trang 27

Trong các yếu tố đó thì đội ngũ thầy giáo, cô giáo và cán bộ quản lý chính

là yếu tố quyết định Ban Bí thư Trung ương Ðảng đã có Chỉ thị số 40 - CT/TƯ ngày 15-6-2004 [6], Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 09/2005/QÐ-TTg ngày 11-01-2005 về xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục [26] Bộ Giáo dục và Ðào tạo đã ban hành chuẩn nghề nghiệp giáo viên các cấp và đang triển khai thực hiện

Hiện nay Bộ GD và ĐT đang tiếp tục triển khai xây dựng chuẩn nghề nghiệp giáo viên các bậc học mầm non, trung học cơ sở, trung học phổ thông Chuẩn hiệu trưởng các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông cũng đang được Bộ giáo dục xây dựng và thực hiện thí điểm trước khi triển khai đại trà

Ðối với bậc học phổ thông, học sinh chịu ảnh hưởng rất nhiều ở thầy giáo,

cô giáo Thầy giáo có uy tín, thầy giáo có tài năng sư phạm sẽ tạo nên hứng thú học tập cho học sinh, từ đó sẽ định hướng, tác động các em trong việc xây dựng

ý thức, thái độ học tập, hình thành nhân cách Thầy giáo giúp cho học sinh đánh giá đúng khả năng, năng lực học tập của mình Ðặc biệt đối với những học sinh giỏi, người thầy giỏi sẽ giúp các em phát hiện ra khả năng của mình Người thầy cũng là điểm tựa vững chắc để từ đó giúp các em vượt qua mọi khó khăn, vươn lên trong học tập nhằm đạt kết quả cao

GDTC có vị trí vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức khoẻ thể lực của học sinh Là phương tiện chủ yếu để hoàn thiện nhân cách học sinh cả về thể chất và tinh thần Qua đó nâng cao năng lực lao động xã hội và phát triển văn hoá dân tộc cho các thế hệ công dân Góp phần đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài cho tổ quốc

Mục tiêu của GDTC trong trường học chủ yếu là phải làm cho mỗi học sinh đều được học tập, giáo dục và tự giáo dục về thể chất, làm cho việc rèn luyện sức khoẻ thể chất của học sinh thành thói quen về nề nếp trong cuộc sống hàng ngày

Trang 28

GDTC phải được tiến hành đúng quy luật khoa học phù hợp với mục tiêu chung, quy luật tâm sinh lý lứa tuổi, an toàn và hiệu quả về cả 4 khía cạnh:

Bảo vệ và tăng cường sức khoẻ

Phát triển thể chất

Bồi dưỡng kỹ năng hoạt động và tài năng thể thao

Xây dựng nếp sống văn minh khoẻ mạnh và hình thành nhân cách của người Việt Nam chân chính

Để có chất lượng và hiệu quả cần đề cao chức năng quản lý Nhà nước và

xã hội hoá hoạt động GDTC trong nhà trường tạo mọi điều kiện để mọi nhà trường đều tiến hành giáo dục thể dục chính khoá chất lượng, nề nếp theo chương trình và huy động đông đảo học sinh, sinh viên hoạt động ngoại khoá thể thao rộng khắp, nhờ sự tham gia của 3 lực lượng : Nhà trường, đoàn thể, gia đình

GDTC trường học phải gắn với nhiệm vụ chính trị của địa phương, với phong trào giáo dục cũng như sự nghiệp thể thao của đất nước, sự nghiệp chăm sóc bảo vệ trẻ em, phong trào tình nguyện của thanh niên và công tác đoàn đội

GDTC phải gắn với xu thế thời đại mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế để tiếp nhận thành tựu mới về khoa học công nghệ và kinh nghiệm tiên tiến của thế giới, nhưng phải bảo tồn và phát huy truyền thống bản sắc dân tộc

1.2 Thực trạng giáo dục thể chất trong các trường Đại học, Cao đẳng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

1.2.1 Mục đích, nhiệm vụ và nội dung công tác giáo dục thể chất trong trường đại học, cao đẳng

Mục đích của giáo dục thể chất trong các trường đại học, cao đẳng là góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh

Trang 29

tế và văn hoá xã hội, phát triển hài hoà, có thể chất khỏe mạnh, đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nghề nghiệp và có khả năng tiếp cận với thực tiễn lao động, sản xuất của nền kinh tế thị trường [3]

Chương trình giáo dục thể chất trong các trường đại học, cao đẳng nhằm giải quyết các nhiệm vụ sau:

Giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa; Rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực, lành mạnh, tinh thần tự giác học tập và rèn luyện thân thể; chuẩn bị sẵn sàng phục vụ sản xuất và bảo vệ Tổ quốc

Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp luyện tập TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản một số môn thể thao thích hợp, trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sử dụng các phương tiện

để tự rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc truyên truyền và tổ chức các hoạt động TDTT của nhà trường và xã hội

Góp phần duy trì và củng cố sức khoẻ của sinh viên, phát triển cơ thể một cách hài hoà, xây dựng thói quen lành mạnh và khắc phục những thói quen xấu, rèn luyện thân thể đạt những tiêu chuẩn thể lực quy định cho từng đối tượng và năm học trên cơ sở tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi

Căn cứ vào điều kiện thực tế của trường cũng như để hoàn thành được nhiệm vụ đã giao ở trên, bộ môn giáo dục thể chất của trường Đại học Sư phạm

Kỹ thuật Vinh đã tiến hành tổ chức giảng dạy môn giáo dục thể chất dựa vào chương trình khung về giáo giục thể chất của Bộ giáo dục và đào tạo Theo quy định của Bộ giáo dục và đào tạo, căn cứ vào điều kiện thực tế của nhà trường, chương trình GDTC được bố trí theo 5 học phần tương ứng 5 học kỳ như sau:

Trang 30

Chương trình chính khóa gồm 150 tiết, với 5 học phần, tương ứng với 5 đơn vị học trình Mỗi một đơn vị học trình được học trong 1 học kỳ và được tiến hành trong 3 kỳ đầu của khóa học

Chương trình gồm 2 phần: Phần lý thuyết: 20 tiết; phần thực hành: 130 tiết

Nội dung chương trình được phân bổ cụ thể như trình bày tại bảng 1.1

Bảng 1.1 Phân phối nội dung và thời gian học môn GDTC

Kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi

Kỹ thuật nhảy cao kiểu bước qua

4

13

13

3 Kiến thức cơ bản

Kỹ thuật nhảy xa kiểu ưỡn thân

Kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng

4

13

13

4 Kiến thức cơ bản

Kỹ thuật phát bóng thấp tay, cao tay

Kỹ thuật chuyền bóng thấp tay , cao tay

Trang 31

1.2.2 Thực trạng giáo dục thể chất ở các trường Đại học, Cao đẳng nước ta hiện nay

Theo điều tra của Bộ Giáo dục và đào tạo về công tác giảng dạy nội khoá cho thấy, nhìn chung khối các trường Đại học và Cao đẳng đảm bảo về chương trình và thời gian giảng dạy (95%) có giáo viên chuyên trách về thể dục, có sân tập, dụng cụ tối thiểu Tuy nhiên chất lượng giờ dạy thể dục vẫn còn thấp, nhiều nơi chỉ là hình thức

Hoạt động TDTT ngoại khóa của sinh viên: Việc rèn luyện thường xuyên của sinh viên chưa trở thành thói quen cho sinh viên, số lượng sinh viên tham gia tập luyện TDTT ngoại khóa chiếm tỷ lệ thấp, hầu hết các trường chưa thực hiện chương trình TDTT ngoại khoá một cách nghiêm túc, chưa có sự phối hợp giữa nhà trường và Bộ môn Giáo dục thể chất để tổ chức chương trình TDTT ngoại khóa có hiệu quả

Đội ngũ giáo viên thể dục thể thao: Trình độ chuyên môn của các giảng viên đã có sự tiến bộ, tỷ lệ giáo viên được đào tạo sau đại học và tiến sĩ tăng Tuy nhiên do quan điểm về xây dựng quy mô và chất lượng giáo viên thể dục thể thao trong trường học còn chưa được nhất quán từ trung ương đến địa phương, chưa có biên chế và định chuẩn giáo viên TDTT thống nhất trong trường học, ở một số trường giáo viên giảng dạy chưa có giáo viên trong biên chế (chỉ thuê theo thời vụ), nên chất lượng giảng dạy không cao Hệ thống chính sách, chế độ với giáo viên TDTT còn thiếu, chưa được giải quyết kịp thời, việc bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ của giáo viên chưa được quan tâm đúng mức

Thực trạng về tổ chức, quản lý GDTC và thể thao trường học: Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước còn chưa đồng bộ, nhận thức về vị trí môn học giáo dục thể chất trong nhà trường của các cấp quản lý giáo dục còn có nhiều hạn chế,

Trang 32

chưa tạo được điều kiện đồng bộ về cơ sở vật chất phục vụ việc dạy và học Ở nhiều trường còn bỏ giờ dạy học, cắt xén chương trình thể dục

Sự hiểu biết và nhận thức về môn học giáo dục thể chất của học sinh, sinh viên chưa đúng đắn Sinh viên chưa hiểu được vai trò của giáo dục thể chất đối với con người trong quá trình giáo dục con người phát triển toàn diện Do đó việc tham gia học môn giáo dục thể chất đối với nhiều sinh viên chỉ mang tính đối phó, hoặc chỉ để hoàn thành môn học Chính vì lý do đó mà hiệu quả môn giáo dục thể chất trong các trường hiện nay chưa cao, chưa phát huy hết vai trò, tác dụng trong công tác giáo dục con người toàn diện Vì thế chưa lôi cuốn số đông học sinh, sinh viên tham gia tập luyện ngoại khoá, Thể dục ngoại khoá chưa trở thành thói quen trong học sinh, sinh viên và chiếm tỷ lệ rất nhỏ, mới chỉ đạt từ 20 -25 % số học sinh, sinh viên

Từ nguyên nhân trên dẫn đến những thiếu sót và khuyết điểm trong sự phát triển thể lực của học sinh, sinh viên cũng là điều hiển nhiên, dễ hiểu Một

số năng lực thể chất so với trước đây hầu như không thay đổi hoặc phát triển chậm So với một số nước trong khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan

ở nhiều chỉ tiêu học sinh, sinh viên nước ta còn thua kém đáng kể

1.3 Khái quát công tác giáo dục thể chất ở một số nước trên thế giới

Giáo dục thể chất trong nhà trường ở các nước trên thế giới được coi là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong sự nghiệp giáo dục nói chung, vì giáo dục thể chất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc củng cố, duy trì sức khỏe cho học sinh, sinh viên, góp phần to lớn trong quá trình hình thành và phát

triển con người toàn diện đáp ứng được yêu cầu của xã hội

Giáo dục thể chất ở nhà trường là biện pháp quan trọng để bồi dưỡng cho các em khả năng tự tập luyện lâu dài, hình thành thói quen luyện tập thường ngày, làm khơi dậy lòng ham thích đối với các môn thể thao, truyền thụ những

Trang 33

hiểu biết về thể dục thể thao, xem chúng như là một phương tiện để khám phá và phát triển nhân cách, nâng cao thể lực và trí lực, làm cho đời sống văn hoá tinh thần ngày càng tốt đẹp hơn Giáo dục thể chất nhằm hình thành, phát triển và củng cố ở các em những kỹ năng cơ bản gắn liền với đời sống thường nhật như

đi, chạy, nhảy đồng thời, qua giáo dục thể chất làm tăng khả năng thích ứng của cơ thể với cuộc sống của thời kỳ hiện đại hoá, công nghiệp hoá Một mặt giáo dục thể chất trong trường học giúp các em giảm bớt sự căng thẳng mệt mỏi trong học tập đưa lại, hình thành những phẩm chất đáng quý như lòng kiên trì,

sự bình tĩnh, lòng tự tin, dũng cảm… tự xây dựng cho mình thói quen và lối sống lành mạnh

Chương trình giáo dục thể chất ở nhiều nước, nhất là các nước châu Âu, thường có nội dung cơ bản bao gồm thể dục phát triển chung, điền kinh, các môn bóng, trò chơi vận động… chương trình giáo dục thể chất được chia làm hai phần Chương trình quốc gia (chương trình bắt buộc) và chương trình tự chọn Do đó nội dung và hình thức giáo dục thể chất rất phong phú, đa dạng

Xu hướng hiện đại trong xây dựng chương trình giáo dục thể chất là cố gắng lựa chọn nội dung thể chất phù hợp với năng lực và nhu cầu của học sinh

để nâng cao lòng say mê và phù hợp với điều kiện của các em Bên cạnh đó còn xây dựng chương trình cho những học sinh có thể lực yếu và có chương trình riêng cho những học sinh có năng khiếu Thiết kế kiểu này được thực thi rất có hiệu quả ở Đức, Trung Quốc [18]

Giáo dục thể chất ở Cộng hòa Liên bang Nga giống như nhiều quốc gia khác và có nhiệm vụ:

Tăng cường sức khoẻ, phát triển thể chất, rèn luyện cơ thể, nâng cao năng lực hoạt động của học sinh

Trang 34

Giáo dục phẩm chất đạo đức, hình thành ý thức, nghĩa vụ xã hội đối với việc tự chăm sóc sức khoẻ, nhu cầu tập luyện và ước vọng hoàn thiện thể chất, sẵn sàng lao động và bảo vệ Tổ quốc

Trang bị kiến thức tối thiểu về vệ sinh, y học, thể dục thể thao

Giảng dạy những kỹ năng, kỹ xảo vận động quan trọng trong cuộc sống

và ứng dụng chúng trong thực tiễn

Phát triển các tố chất thể lực chủ yếu và hình thành thói quen tập luyện thể dục thể thao hàng ngày

1.4 Những tiêu chí đánh giá chất lượng GDTC

Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu nhận và xử lý thông tin về trình

độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh, sinh viên, về tác động của quá trình dạy học là cơ sở cho những quyết định sư phạm của nhà trường và giáo viên đối với học sinh, để chất lượng giáo dục ngày một nâng cao Đánh giá chất lượng giáo dục là một công việc được tiến hành có hệ thống để xác định mức độ đạt được của người học đối với các mục tiêu dạy học hay đào tạo đã đặt ra Nó

có thể bao gồm sự mô tả liệt kê định lượng hay định tính các kết quả đó kèm theo nhận xét khi đem đối chiếu, so sánh chúng với mục tiêu đã đặt ra

Mục tiêu giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và kiến thức cho học sinh, sinh viên, đào tạo những người lao động phát triển toàn diện, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức,

có sức khoẻ, có học vấn cao và nghề nghiệp Có ý thức cộng đồng, năng động và sáng tạo, có ý thức giữ gìn phát huy các giá trị truyền thống văn hoá của dân tộc

và tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, có tính tổ chức kỷ luật và tác phong công nghiệp, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đánh giá chất lượng GDTC được tiến hành trên các nội dung:

Kiến thức lý luận về GDTC được quy định theo chương trình

Trang 35

Kỹ năng thực hiện kỹ thuật động tác các môn thể thao được học

Thực hiện các chỉ tiêu thể lực theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể

Tính chuyên cần và hứng thú tập luyện, thi đấu thể thao

Để đánh giá thành tích môn học theo cách tính cho điểm dựa trên các mặt sau:

Thái độ học tập, tính chuyên cần khi tham gia học tập

Nhận thức về TDTT

Năng lực vận động, trình độ thể lực

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất

1.5.1 Các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất của con người

Yếu tố bẩm sinh (di truyền)

Di truyền là yếu tố mang tính chất bẩm sinh, sinh ra đã có, thế hệ sau tiếp thu kế thừa và phát huy những đặc tính của các thế hệ trước đó, là quy luật tự nhiên các sinh vật sống trên trái đất đều phải tuân thủ nghiêm ngặt Ở loài người,

di truyền đóng vai trò quan trọng đối với phát triển thể chất của từng cá thể, có nghĩa là nếu ông bà, cha mẹ có những đặc tính tốt hay xấu về thể chất và tinh thần (thể lực, trí tuệ, tính cách ) thì sẽ truyền thụ lại cho con cháu những phẩm chất tốt hay xấu đó gây nên sự phát triển tốt hay không tốt sau này Di truyền là

cơ sở, là nền tảng đóng vai trò quan trọng với phát triển thể chất của một cá thể,

là yếu tố thể hiện khả năng tiềm ẩn của cá thể đó Khi nắm bắt được những khả năng ấy chúng ta có thể điều khiển phát triển thể chất của cá thể đó đi đúng hướng phù hợp với cá nhân - xã hội thông qua quá trình giáo dục, giáo dục thể chất, điều kiện sống, sinh hoạt và học tập khác nhau [36] [37]

Trang 36

Những đặc tính di truyền do chủng tộc và gia tộc truyền lại cho thế hệ sau

là những yếu tố có tính bẩm sinh thường có tác dụng trực tiếp quyết định đến hình thức và tính chất của quá trình trao đổi chất trong cơ thể, tiềm năng sinh trưởng của tế bào và cơ quan hiệu ứng, đến năng lực điều tiết của hệ thần kinh trung ương và các tuyến nội tiết, là những yếu tố có vai trò quyết định đến sự hình thành thể hình và thể chất của các thế hệ con cháu

Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã chỉ ra được vai trò của di truyền đối với PTTC của con người (bảng 1.1 và 1.2) [34] [33] [8] [7] [10-11] [27]

Trang 37

Bảng 1.2 Ảnh hưởng của di truyền đến một vài chỉ tiêu hình thái

di truyền (%)

2 Dài (thân, cánh tay, cẳng tay, đùi, cẳng chân) 80 - 85

3 Khối lượng cơ thể (cân nặng), rộng (hông và đùi)

Rộng (vai, cẳng chân và cổ tay)

70 - 85

4 Vòng (cổ tay, đùi, cánh tay, cẳng chân, cẳng tay) 60 – 70

Trang 38

Bảng 1.3 Ảnh hưởng của di truyền đến một vài chỉ số vận động và sinh lý

TT Các chỉ số vận động và sinh lý Ảnh hưởng của di

Trang 39

Quy luật trưởng thành và phát dục của cơ thể người

Trưởng thành và phát dục là quá trình biến đổi về lượng và chất Quá trình này có mối quan hệ chặt chẽ và diễn ra theo các giai đoạn khác nhau, tuần

tự nối tiếp nhau Những biến đổi mạnh mẽ nhất về hình thái và chức năng của cơ thể diễn ra vào thời kỳ mới sinh đến hết dậy thì Thí dụ: chiều cao tăng 3 - 4 lần, trọng lượng tăng 10 - 30 lần, dung tích sống tăng 5 - 10 lần, lưu lượng tâm thu tăng 20 - 30 lần, trọng lượng bộ não trẻ em từ lúc sơ sinh đến khi được 7 tuổi, tăng 3 - 4 lần, từ 350 lên 1400g Sự biến đổi về chất thể hiện qua hệ thần kinh là các tế bào thần kinh phát triển mạnh mẽ Khả năng tư duy, phân tích, tổng hợp

và sáng tạo tăng lên Khả năng hoạt động thể lực cũng tăng lên đáng kể, sức mạnh tăng tới 40 - 50 lần

Sau đó đến các thời kỳ ổn định tương đối về hình thái và chức năng và cuối cùng đến thời kỳ giảm sút khả năng hoạt động của hình thái và chức năng của cơ thể (thời kỳ “phát triển ngược”)

Theo hai tác giả Nguyễn Ngọc Cừ và Dương Nghiệp Chí thì quá trình trưởng thành và phát dục cơ thể người được chia làm 8 giai đoạn phát triển thay thế, kế tiếp nhau một cách thống nhất như sau: “Thời kỳ phôi thai; thời kỳ thai nhi; thời kỳ sơ sinh; thời kỳ bú mẹ; thời kỳ ấu nhi; thời kỳ trước tuổi đi học; thời

kỳ tuổi đi học; thời kỳ thanh xuân phát dục” [9]

Thời kỳ thanh xuân phát dục được tính từ khi con người bước vào giai đoạn dậy thì (khoảng 13-17 tuổi) đến khi kết thúc giai đoạn này Sinh viên đại học là độ tuổi từ 18-23, Thời kỳ này về cơ bản cơ thể các em đã phát triển hoàn thiện về hình thái và chức năng, khả năng thích ứng tăng lên với các mối quan

hệ đan xen trong học tập và sinh hoạt xã hội Thời kỳ này rất thuận tiện cho việc tiếp thu các kỹ năng, kỹ xảo vận động và phát triển các tố chất thể lực [11]

Trang 40

Môi trường tự nhiên

Nhiệt độ không khí, khí hậu thời tiết, nước, ánh sáng, địa hình tự nhiên được coi như là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới phát triển thể chất của con người Bên cạnh đó các yếu tố này còn được sử dụng để tôi luyện, củng cố sức khoẻ và nâng cao năng lực hoạt động của con người Có thể nói đây là môi trường sống tồn tại và phát triển của sinh vật trên trái đất trong đó có con người Con người là một thực thể tự nhiên, do tự nhiên tạo ra, vì vậy giữa cơ thể sống

và môi trường tự nhiên có quan hệ rất chặt chẽ Phát triển thể chất của con người chịu ảnh hưởng lớn của môi trường xung quanh Môi trường sống trong sạch sẽ tạo nên những điều kiện tốt, những sự biến đổi có lợi cho việc nâng cao sức khoẻ, đẩy lùi bệnh tật, kéo dài tuổi thọ, làm cho người ta yêu đời, yêu cuộc sống,

có trách nhiệm với bản thân và xã hội, cống hiến được nhiều, góp phần cải thiện

và nâng cao chất lượng cuộc sống, là vấn đề hàng ngàn đời nay con người vẫn luôn phấn đấu không mệt mỏi [40]

Nhiệt độ không khí: Nhiệt độ của không khí có ảnh hưởng đến chức năng

cơ bản của sự sống, đó là quá trình trao đổi nhiệt Cơ thể con người có khả năng chịu đựng sự thay đổi đáng kể về nhiệt độ của môi trường bên ngoài nhờ những

cơ chế sinh lý điều hoà thân nhiệt đặc biệt Tuy nhiên khả năng điều hoà thân nhiệt của cơ thể có giới hạn nhất định Nhiệt độ không khí lạnh có thể gây nên một số bệnh cho cơ thể như các bệnh cơ, khớp, thần kinh, đặc biệt là các bệnh cảm cúm, viêm họng Nhiệt độ không khí cao, do sự truyền nhiệt khó khăn nên

cơ thể dễ bị nóng Sự rối loạn điều hoà thân nhiệt của cơ thể người có thể xuất hiện khi nhiệt độ không khí đạt 300

C - 310C và độ ẩm 80%-90% hoặc khi nhiệt

độ 400C và độ ẩm 40%-50% trong yên tĩnh

Độ ẩm không khí: Khi độ ẩm của không khí cao, nhất là trong điều kiện

nhiệt độ không khí cũng cao, cơ thể dễ bị say nóng do quá trình tỏa nhiệt bị hạn chế, chủ yếu là vì sự bay hơi mồ hôi từ bề mặt da gặp khó khăn Khi nhiệt độ

Ngày đăng: 27/01/2021, 19:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w