Môn học “Mạch máy cơ bản và sữa chữa mạch điện máy công nghiệp” dùng giảng dạy trong Xưởng THĐ Khoa Điện - Trường ĐHSPKT Vinh là môn học thực hành dùng để giảng dạy cho các đối tượng CĐ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
HÀ QUỐC TUẤN
NHỮNG BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC THỰC HÀNH MÔN MẠCH MÁY CƠ BẢN VÀ SỮA CHỮA MẠCH ĐIỆN MÁY CÔNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC
SƯ PHẠM KỸ THUẬT VINH
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM KỸ THUẬT
CHUYÊN SÂU: SƯ PHẠM KỸ THUẬT ĐIỆN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS TRẦN VIỆT DŨNG
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi luôn được sự quan tâm, góp ý của thầy giáo PGS.TS Trần Việt Dũng Nhân dịp này tôi xin bày tỏ cảm ơn chân thành tới thầy Dũng, người đã trực tiếp hướng dẫn và dành nhiều thời gian, công sức giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể giáo viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, cũng như làm luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Sư phạm Kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô là nguồn
cổ vũ tinh thần lớn cho tôi trong suốt thời gian làm và hoàn thành cuốn luận văn này Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới các bạn đồng nghiệp lớp Cao học Sư phạm Kỹ thuật Điện khoá 2009 - 2011 đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và làm luận văn tốt nghiệp
Mặc dù đã rất cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo trong Hội đồng chấm luận văn và các bạn để luận văn đạt kết quả tốt hơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả
HÀ QUỐC TUẤN
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, những gì mà tôi viết trong luận văn này là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể
Luận văn này bàn về những biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học thực
hành môn mạch máy cơ bản và sữa chữa mạch điện máy công nghiệp ở Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng bảo vệ luận văn thạc sĩ nào và chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan ở trên đây
Hà nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả
HÀ QUỐC TUẤN
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Viết tắt Viết đầy đủ
1 CĐ Cao đẳng
2 CĐN Cao đẳng nghề
3 CĐ CNKTĐ Cao đẳng công nghệ kỹ thuật điện
4 CNTT Công nghệ thông tin
5 ĐH Đại học
6 ĐHSPKT Đại học Sư phạm Kỹ thuật
7 ĐNGV Đội ngũ giáo viên
8 MMCB&SCMĐMCN Mạch máy cơ bản và sữa chữa mạch điện
máy công nghiệp
9 NCKH Nghiên cứu khoa học
10 PPDH Phương pháp dạy học
11 THĐ Thực hành Điện
Trang 5
DANH MỤC CÁC BẢNG, CÁC HÌNH VẼ
1 Bảng 2.1 Thống kê số lượng cán bộ quản lý của trường
ĐHSPKT Vinh
33
2 Bảng 2.2 Trình độ sư phạm ĐNGV khoa Điện 36
3 Bảng 2.3 Trình độ ngoại ngữ của ĐNGV 36
4 Bảng 2.4 Trình độ tin học của ĐNGV Khoa Điện 37
5 Bảng 2.5 Trình độ tay nghề ĐNGV khoa Điện 37
6 Bảng 2.6 Nội dung tổng quát chương trình môn học 41
7 Bảng 2.7 Trình độ chuyên môn ĐNGV của Xưởng THĐ 44
8 Bảng 2.8 Trình độ tay nghề của ĐNGV Xưởng THĐ 44
9 Bảng 2.9 Trình độ Sư phạm của ĐNGV Xưởng THĐ 45
15 Bảng 3.1 Kết quả học tập bài giảng thứ 1 73
16 Bảng 3.2 Kết quả học tập bài giảng thứ 2 74
17 Bảng 3.3 Kết quả học tập bài giảng thứ 3 75
18 Bảng 3.4 Ý kiến của ĐNGV về mức độ khả thi của các biện
pháp
76
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chúng ta đã và đang bước vào thế kỷ XXI đầy hứa hẹn Cả nước đang dốc
sức vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng với tiến trình hội nhập quốc tế
và đảm bảo cho sự phát triển bền vững của quốc gia Bởi vậy chúng ta cần có đội ngũ lao động trí thức cũng như lao động kỹ thuật có tay nghề cao ngày càng lớn Nhận thức rõ vai trò của giáo dục với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước,
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã khẳng định "Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và
học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường…" [14, tr.207]
Để đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực của thị trường lao động, các trường, các
cơ sở đào tạo nghề của Việt nam không còn cách nào khác, là cần phải có các biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học Riêng đối với Trường ĐHSPKT Vinh việc dạy
và học các môn thực hành, lý thuyết nói chung và môn học thực hành Điện “Mạch
máy cơ bản và sữa chữa mạch điện máy công nghiệp’’ vẫn đang là một vấn đề băn
khoăn, trăn trở của người học và người dạy về việc tiếp thu kiến thức, lĩnh hội kỹ năng và việc vận dụng chúng vào thực tiễn
Môn học “Mạch máy cơ bản và sữa chữa mạch điện máy công nghiệp” dùng
giảng dạy trong Xưởng THĐ (Khoa Điện) - Trường ĐHSPKT Vinh là môn học thực hành dùng để giảng dạy cho các đối tượng CĐN ĐCN và CĐ CNKTĐ, nó có liên quan đến các kiến thức của một số môn học lý thuyết nghề Điện riêng rẽ như: Máy điện, Truyền động điện, Tự động khống chế, Trang bị điện, Khí cụ điện Hay nói cách khác học sinh muốn xuống Xưởng THĐ để học tốt môn học này phải được học các môn học lý thuyết trên Do quỹ thời gian đào tạo có hạn và việc phân phối lịch học cho các lớp còn chưa hợp lý và là môn học khó trong số các môn thực hành, trong khi đó các giáo viên cao tuổi có bề dày kinh nghiệm trong sư phạm, tay nghề cao thì lại bất cập về sử dụng các phương tiện và thiết bị dạy học hiện đại như các máy thế hệ cao, phần mềm dạy học, thiết kế bài giảng bằng máy tính thông qua
Trang 7Projector Còn ĐNGV Giáo viên trẻ có kiến thức chuyên môn, có thể sử dụng các phương tiện thiết bị dạy học hiện đại thì lại non kém về tay nghề, năng lực sư phạm , dẫn đến qúa trình vận dụng kiến thức để truyền đạt cho người học vẫn còn gặp nhiều khó khăn, sự tiếp thu của học sinh chưa tốt Các thiết bị thiếu thốn, hư hỏng đã ảnh hưởng đến việc hình thành và rèn luyện kỹ năng của học sinh, nên kết quả học tập chưa cao
Cho đến nay trong trường vẫn chưa có công trình nghiên cứu tìm biện pháp việc nâng cao chất lượng dạy và học môn học này Mặt khác, hiện nay tôi đang là giáo viên dạy thực hành nghề Điện nên vấn đề chất lượng dạy học nghề là điều trăn trở nhất, làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học để đào tạo được nhân lực trình
độ cao đáp ứng được nhu cầu của xã hội
Từ những lý do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học thực hành môn Mạch máy cơ bản và sữa chữa mạch điện máy công nghiệp tại Trường ĐHSPKT Vinh”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học thực hành môn học
“Mạch máy cơ bản và sữa chữa mạch điện máy công nghiệp ở Trường ĐHSPKT Vinh”
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể: Quá trình dạy và học thực hành môn “Mạch máy cơ bản và sữa chữa mạch điện máy công nghiệp ở Trường ĐHSPKT Vinh”
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học
thực hành môn “Mạch máy cơ bản và sữa chữa mạch điện máy công nghiệp ở Trường ĐHSPKT Vinh”
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Xác định một số vấn đề lý luận của việc nâng cao chất lượng dạy và học ở các Trường ĐHSPKT- Trường dạy nghề (DN)
4.2 Đánh giá thực trạng dạy và học thực hành môn “Mạch máy cơ bản và sữa chữa mạch điện máy công nghiệp ở Trường ĐHSPKT Vinh”
Trang 84.3 Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học thực hành môn MMCB&SCMĐMCN ở Trường ĐHSPKT Vinh
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Do thời gian hạn hẹp, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu đánh giá thực trạng và một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học thực hành môn MMCB&SCMĐ MCN trong Khoa Điện của Trường ĐHSPKT Vinh
6 Các phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tham khảo các tài liệu lý luận khoa học, tạp chí, sách báo, kỹ yếu hội thảo
6.2 Phương pháp điều tra: Khảo sát bằng phiếu thăm dò, tìm hiểu thực tế 6.3 Phương pháp quan sát, dự giờ
6.4 Phương pháp chuyên gia: Tham khảo các ý kiến của các chuyên gia về giáo dục đào tạo
6.5 Phương pháp phân tích, tổng hợp và thống kê các số liệu
6.6 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
7 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm: Phần mở đầu, phần nội dung chính: có 3 chương, kết luận và kiến nghị, ngoài ra còn có tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 9CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY
VÀ HỌC Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
VÀ TRƯỜNG DẠY NGHỀ 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Quá trình dạy học và mối quan hệ giữa dạy và học
a Quá trình dạy học
Từ trước đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về quá trình dạy học, song ta
có thể nói một cách tổng quát quá trình dạy, học như sau:
“Quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của hai thành tố cơ bản trong quá trình dạy học” [ 13, tr.134]
Quá trình dạy là quá trình hoạt động của giáo viên nhằm tổ chức và điều khiển quá trình học của học sinh, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, đồng thời giáo dục phẩm chất đạo đức, thái độ nghề nghiệp…, theo những mục tiêu đề ra Quá trình học là quá trình hoạt động của học sinh nhằm lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ…, để hoàn thiện nhân cách và tạo tiền đề cho người học có khả năng hoạt động trong lĩnh vực nghề nghiệp của mình, trở thành người có ích cho xã hội
Quá trình dạy học theo tiếp cận của hệ thống bao gồm tập hợp các thành tố cấu trúc có quan hệ biện chứng với nhau Hệ thống bao giờ cũng tồn tại trong môi trường Môi trường và các thành tố của hệ thống cũng có sự tương tác lẫn nhau Ở một thời điểm nhất định quá trình dạy học nó bao gồm các thành tố như:
- Mục đích, nhiệm vụ dạy học
- Nội dung, phương pháp dạy học
- Hình thức tổ chức dạy học
- Giáo viên (người hoạt động dạy)
- Học sinh (người hoạt động học)
- Phương tiện kỹ thuật dạy học
- Môi trường kinh tế xã hội, văn hóa, khoa học kỹ thuật trong đó diễn ra quá
Trang 10trình dạy học
Như vậy quá trình dạy học là hệ thống hoàn chỉnh, trong đó tất cả các nhân tố
cơ bản tác động qua lại lẫn nhau theo những quy luật nhất định nhằm đạt được nhiệm vụ dạy học Trong đó có hai nhân tố nổi lên rõ rệt là hoạt động dạy và hoạt động học
b Mối quan hệ giữa dạy và học
Dạy và học là hai mặt không thể thiếu được của quá trình dạy học
Hoạt động của người giáo viên nhằm lãnh đạo, tổ chức và điều khiển quá
trình nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và nghiên cứu của học sinh trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật nhất định có liên quan đến tương lai của họ Người giáo viên với tư cách là nhà sư phạm, nhà khoa học và nhà hoạt động xã hội
Học là hoạt động của học sinh, là sự tự giác tích cực huy động mọi chức năng
tâm lý từ cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy ngôn ngữ đến tình cảm, ý trí
và hành động Hoạt động học tập của học sinh học nghề phải kết hợp chặt chẽ giữa học tập với lao động sản xuất, thực hành nghề nghiệp của mình Bản thân phải luôn luôn ý thức được rằng: mình vừa là người học, vừa là người tập dượt nâng cao tay nghề, là người công nhân, người thợ có tay nghề cao, góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Dạy - học phải thống nhất biện chứng với nhau, vì kết quả của hoạt động học của học sinh phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động dạy của giáo viên Trong quá trình dạy học người giáo viên đóng vai trò chủ thể tác động đến học sinh bằng những biện pháp sư phạm thông qua nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học Còn học sinh nhận sự tác động đó Vậy học sinh là khách thể Nhưng trong quá trình dạy học , học sinh không chỉ đóng vai trò khách thể mà còn đóng vai trò chủ thể, vì họ là những thực thể có ý thức xã hội, họ là những con người đã trưởng thành, họ ý thức được nhiệm vụ học tập của mình, tự giác và tích cực trong học tập, nhận mọi sự tác động
từ phía giáo viên Vai trò chủ thể của học sinh càng được phát huy, thì tác động sư phạm càng có hiệu quả cao
Trong sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt của quá trình dạy học, hoạt động
Trang 11dạy bao giờ cũng đóng vai trò chủ đạo Người giáo viên phải chỉ rõ phương hướng, nội dung, phương pháp học tập cho học sinh, làm sao cho học sinh tự giác tuân theo
sự hướng dẫn của mình
Trong quá trình dạy học, dù phương tiện và thiết bị có hiện đại đến đâu đi nữa thì người giáo viên vẫn đóng vai trò chủ đạo và không được làm lu mờ tính tích cực, tính độc lập, chủ động sáng tạo của học sinh
Giáo viên phải có nhiệm vụ khơi gợi, bồi dưỡng và phát huy hứng thú nhận thức, tính tích cực nhận thức, tính sáng tạo, vai trò chủ thể của học sinh Do đó cần kết hợp chặt chẽ vai trò chủ đạo của giáo viên với tính tích cực, chủ động, độc lập của học sinh Phải đảm bảo sự thống nhất biện chứng giữa dạy và học, đó là vấn đề quan trọng trong nghệ thuật dạy học
Trong đào tạo nghề, thực hành được hiểu là quá trình tác động qua lại thống nhất giữa học tập và lao động Thông qua học tập, lao động sản xuất người học lĩnh hội và hoàn thiện những yếu tố quan trọng của nghề nghiệp như kiến thức, kỹ năng
và thái độ để hình thành và phát triển nhân cách của người công nhân, kỹ thuật viên, giáo viên dạy nghề theo mục tiêu đào tạo
Như vậy, thực hành có vai trò quyết định trong hình thành và phát triển nhân cách của người học Trong đào tạo nghề, thực hành nghề có thể khái quát các nhiệm
Trang 12dưỡng năng lực kỹ thuật
- Thực hiện chức năng giáo dục
b Đặc điểm của dạy học thực hành nghề
Dạy học thực hành nghề là một quá trình sư phạm giải quyết các nhiệm vụ do giáo viên thực hành và học sinh học nghề đặt ra trên cơ sở kiến thức và kỹ năng, kỹ xảo đã có nhằm hình thành những kỹ năng, kỹ xảo mới và tình cảm nghề nghiệp cho người công nhân tương lai Trong dạy nghề thì dạy học thực hành giữ vai trò chủ đạo và mang những đặc điểm sau:
- Dạy học thực hành nghề giải quyết mối liên hệ giữa lý thuyết và thực tiễn lao động, sản xuất Là quá trình hình thành ở người học cả năng lực tư duy và năng lực hành động, khả năng phối kết hợp giữa thao tác trí tuệ và thao tác chân tay
- Dạy học thực hành, học sinh tiếp xúc trực tiếp với quá trình sản xuất và được giáo dục thông qua các nhóm lao động
- Dạy học thực hành sử dụng hệ thống các bài tập luyện tập là phương pháp
cơ bản không chỉ vì chúng chiếm hầu hết thời gian học tập mà vì các phương pháp khác đều phụ thuộc vào tiến trình các bài tập
- Số lượng học sinh học thực hành thường thay đổi trong các giai đoạn của quá trình thực hiện hệ thống bài tập do thời gian hình thành kỹ năng, kỹ xảo của mỗi học sinh là khác nhau và điều này chỉ thực hiện được trong các giờ học, nên việc tổ chức lớp học phải mềm dẻo và linh hoạt
- Mức độ cá thể hóa trong dạy học thực hành là rất cao
Với những đặc điểm trên, để dạy học thực hành có chất lượng tốt cần phải có
sự tổ chức thực hiện phong phú, linh hoạt và hấp dẫn
c Vai trò của phương tiện dạy học trong dạy học thực hành nghề
Học thực hành là quá trình tác động thống nhất giữa học tập và lao động Thông qua thực tập sản xuất người học sẽ lĩnh hội và hoàn thiện những cơ sở quan trọng của nghề nghiệp, tiếp thu những giá trị cơ bản của giáo dục lao động từ đó hình thành và phát triển nhân cách của người học theo mục tiêu đào tạo PPDH
Trang 13truyền thống chú trọng việc truyền thụ tri thức thuần túy do xuất phát từ ngày xưa lượng thông tin cung cấp cho người học chưa nhiều và yêu cầu đối với người học chưa cao, người thầy có đủ thời gian để giảng giải các vấn đề một cách tường minh nên người học có thể nhớ từng câu từng chữ của thầy cung cấp Với xã hội hiện đại lượng thông tin rất phong phú, mỗi người đều cần có nhiều tri thức ở nhiều lĩnh vực khác nhau vì thế yêu cầu quá trình tiếp nhận phải ngắn mà hiệu suất phải cao cho nên PPDH hiện đại còn rất chú trọng đến công cụ, phương tiện, thiết bị vật chất để truyền tải tri thức đến với người học
Trong dạy học thực hành nghề, hình thức dạy học nhằm trang bị kỹ năng, kỹ xảo cho người học, thì phương tiện dạy học lại đóng vai trò hết sức quan trọng Bởi
lẽ, muốn hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp không có con đường nào khác ngoài việc người học phải được luyện tập nhiều trên các phương tiện, thiết bị Ngoài
ra, phương tiện dạy học còn giúp người học nắm vững cơ sở lý thuyết làm nền tảng vững chắc cho việc hình thành kỹ năng và rút ngắn thời gian học lý thuyết, dành nhiều thời gian cho học thực hành
Như vậy, phương tiện dạy học không những có vai trò trong việc rút ngắn thời gian lĩnh hội tri thức kỹ năng nghề nghiệp của mà còn nâng cao được chất lượng đào tạo và phát huy được mặt mạnh của các PPDH
1.1.3 Chất lượng dạy học
a Khái niệm về chất lượng
Đã có nhiều định nghĩa về chất lượng, từ định nghĩa truyền thống đến các định
nghĩa mang tính chiến lược và có cách hiểu đầy đủ hơn Dưới đây chúng ta xem xét một vài quan điểm về chất lượng:
Khái niệm truyền thống về chất lượng : Một sản phẩm có chất lượng là sản phẩm được làm ra một cách hoàn thiện, bằng vật liệu quý hiếm và đắt tiền Nó nổi tiếng và tôn vinh thêm cho người sở hữu nó Trong giáo dục nó có thể tương đồng với các trường Đại học nổi tiếng như Oxford hay Cambridge
Chất lượng là “tổng thể những tổ chức, thuộc tính cơ bản của sự việc làm cho
sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” [19]
Trang 14Chất lượng là “cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự việc’’ hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia” [20]
Chất lượng là “mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số số cơ bản” (Oxford Poket Dictionnary) Chất lượng là “tiềm năng của sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng” [17]
Chất lượng là “khả năng thỏa mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất” (K.Ishikawa)
Trong một vài trường hợp, tiêu chuẩn chất lượng trong Giáo dục và Đào tạo là thành tựu của học sinh, sinh viên ra trường với trình độ, kiến thức, kỹ năng đạt được của học sinh sau khoảng thời gian đạt được tại trường
Theo các quan niệm trên thì chất lượng là một thuật ngữ đa nghĩa, nhiều chiều Một cách chung nhất có thể hiểu chất lượng là cái tạo nên phẩm chất giá trị của một sự vật, sự việc hay một con người, nó là những thuộc tính cơ bản nhất của
sự vật giúp phân biệt nó với các sự việc khác
b Chất lượng dạy học
Chất lượng dạy học thể hiện qua năng lực, học sinh sau khi hoàn thành chương trình môn học Cụ thể là: Khối lượng kiến thức, kỹ năng thực hành, năng lực nhận thức, năng lực tư duy, phẩm chất nhân văn của học sinh tùy theo cách xác định, đánh giá mà chất lượng dạy học có thể phát biểu khác nhau
Theo cách đánh giá trong: Chất lượng dạy học là mức độ đáp ứng yêu cầu
của người học so với mục tiêu đề ra
Theo cách đánh giá ngoài: Chất lượng dạy học là mức độ đáp ứng yêu cầu
của cơ sở ứng dụng
Như vậy cho dù là cách đánh giá nào cũng cần phải xây dựng được các tiêu chí, chỉ số cụ thể cho việc đó và đánh giá chất lượng dạy học Chẳng hạn theo cách đánh giá, các tiêu chí đó (theo quan niệm hiện nay) có thể là khối lượng và chất lượng kiến thức, kỹ năng mà người học chiếm lĩnh, là khả năng hoạt động trì trệ và phẩm chất nhân văn của người học có được nhờ quá trình đào tạo
Trang 15Chất lượng dạy học là kết quả của quá trình dạy học được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các nghành nghề cụ thể
Chất lượng dạy học có liên quan chặt chẽ với hiệu quả dạy học, khi nói đến hiệu quả dạy học là nói đến mục tiêu dạy học đạt được ở mức độ nào so với yêu cầu
đề ra
Chất lượng dạy học chịu tác động của nhiều thành phần nhưng cơ bản là các thành phần sau:
- Mục tiêu, nội dung, chương trình và phương pháp dạy học
- Kinh nghiệm giảng dạy của giáo viên
- Học sinh và động cơ học tập của học sinh
- Thiết bị và phương tiện dạy học
- Tài liệu tham khảo và sách giáo khoa
Mức độ tác động của các thành phần tiến tới chất lượng dạy học là khác nhau
và trong từng điều kiện cụ thể thì đòi phải có những biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học
1.2 Một số vấn đề về dạy học ở các Trường ĐHSPKT - DN
1.2.1 Bản chất, nhiệm vụ và quy luật của quá trình dạy học
a Bản chất của quá trình dạy học ở các Trường ĐHSPKT - DN
Dạy học là hoạt động phối hợp giữa hai chủ thể Theo quan niệm thông thường khi nói tới dạy học người ta hiểu đó là một nghề, là một hoạt động đặc trưng của giáo viên, là hoạt động truyền thụ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh Cũng do quan niệm này mà trong thực tiễn giáo dục người ta chỉ chú trọng đến vai trò của giáo viên Đó là nhân vật trọng tâm, quyết định đến chất lượng dạy và học, phương pháp giảng dạy chủ yếu là truyền đạt, thông báo kiến thức người học hoàn toàn phụ thuộc vào giáo viên Đánh giá kết quả học tập dựa vào số lượng kiến thức học sinh đã ghi nhớ và sản phẩm các bài tập thực hành
Giáo viên là chủ thể và giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ tiến trình dạy học,
Trang 16người xây dựng và thực thi kế hoạch giảng dạy, tổ chức cho sinh viên thực hiện hoạt động học tập, người điều khiển các hoạt động trí tuệ và hướng dẫn thực hành cho học sinh, uốn nắn giúp đỡ học sinh học tập, rèn luyện kiểm tra đánh giá học sinh, sinh viên trong mọi lĩnh vực
Trên nguyên tắc phát huy tích cực nhận thức của học sinh giáo viên tổ chức điều khiển quá trình học tập của học sinh làm cho quá trình học tập trở một hoạt động độc lập có ý thức Bằng sự khéo léo của phương pháp sư phạm giáo viên khai thác tiềm năng, trí tuệ, kiến thức và kinh nghiệm của học sinh giúp họ tìm ra những phương pháp học tập sáng tạo, tự lực, hiểu và vận dụng kiến thức vào thực tiễn Bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của người học sinh Học sinh nhận thức thế giới thông qua các tài liệu học tập và thông qua sự hướng dẫn, kiểm tra, uốn nắn của giáo viên Dạy học giúp học sinh nhận thức kiến thức một cách đúng đắn, tránh được sai lệch, vấp váp, rèn luyện kỹ năng dưới sự tổ chức, hướng dẫn, và điều khiển của giáo viên
Quá trình nhận thức của học sinh học nghề về cơ bản cũng diễn ra theo đúng quy luật nhận thức của loài người “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng
Từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn là con đường biện chứng của sự nhận thức chân
lý, của sự nhận thức thực tại khách quan” [21,tr179]
Những yếu tố trực quan như sự vật, hiện tượng, mô hình, những lời miêu tả…, của giáo viên tác động vào giác quan học sinh mà tạo nên những biểu tượng về sự vật, hiện tượng mà học sinh nghiên cứu Đó là những tài liệu cảm tính Dựa vào đó, học sinh phân tích, tổng hợp, so sánh, tư duy trừu tượng, gạt bỏ cái vụn vặt ngẫu nhiên bề ngoài, để nắm lấy bản chất cái quy luật bên trong của sự vật, hiện tượng Kết quả là họ nắm được các khái niệm khoa học, các định luật, các nguyên tắc và lý thuyết có liên quan đến ngành nghề của mình
Học sinh học nghề chỉ nhận thức cái mới đối với bản thân Quá trình nhận thức đó diễn ra trong điều kiện có sự lãnh đạo tổ chức và điều khiển của giáo viên
Do vậy quá trình nhận thức của học sinh nói chung và học sinh học nghề nói riêng
đi theo đường thẳng Trong khi đó các nhà khoa học phải tìm ra cái mới bằng con
Trang 17đường quanh co, khúc khuỷu đầy khó khăn, gian khổ Quá trình nhận thức của học sinh chứa đựng các khâu củng cố, kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhằm biến chúng thành vốn riêng của học sinh Đồng thời quá trình nhận thức của học phải có tính giáo dục thông qua dạy chữ để dạy người
Từ những vấn đề nêu trên ta nhận thấy:
Chủ thể của hoạt động dạy học là giáo viên: người tổ chức mọi hoạt động học
tập của học sinh người quyết định chất lượng giáo dục
Đối tượng hoạt động của giáo viên là hệ thống kiến thức và sự phát triển trí
tuệ và nhân cách của học sinh, sinh viên
Mục đích của hoạt động dạy học là làm cho học sinh nắm vững kiến thức và
hình thành kỹ năng hoạt động độc lập, phát triển trí tuệ và nhân cách cho người học
để đáp ứng yêu cầu cho xã hội
Nội dung của hoạt động là tổ chức cho học sinh nhận thức truyền đạt kiến
thức hướng dẫn luyện tập, hình thành kỹ năng, kiểm tra, uốn nắn và giáo dục thái độ học tập cho học sinh
PPDH: Bao gồm phương pháp tổ chức nhận thức, phương pháp điều khiển
học sinh về trí tuệ và thực hành, phương pháp giáo dục ý thức học tập cho học sinh Vậy chúng ta thấy rằng hoạt động dạy, hoạt động học luôn luôn gắn bó với nhau, không tách rời nhau, thống nhất biện chứng với nhau tạo thành hoạt động chung đó là quá trình dạy học Dạy điều khiển học, học tuân thủ dạy Dạy tốt dẫn đến học tốt, học tốt đòi hỏi phải dạy tốt, học sinh vừa là mục tiêu vừa là động lực của quá trình dạy học
b Nhiệm vụ của quá trình dạy học
Trong các Trường ĐHSPKT - DN, giáo viên và học sinh gắn bó rất gần gũi với nhau Vì vậy học sinh coi người thầy như một tấm gương soi chung ở một góc
độ, người thầy có đạo đức chuẩn mực, sự tận tụy, yêu nghề, am hiểu kiến thức sâu
cả lý thuyết chuyên môn và tay nghề thực hành, có hiểu biết về xã hội sẽ tạo ra thế
hệ học trò có chất lượng toàn diện
Một số nhiệm vụ trọng tâm của quá trình dạy học:
Trang 18Truyền thụ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm nghề nghiệp
Truyền thụ kiến thức về lý thuyết chuyên môn:
Đây là công việc đầu tiên mà người giáo viên dạy nghề cần truyền thụ để học sinh có thể lĩnh hội những kiến thức hiểu biết cần thiết liên quan đến công việc thực hành Vốn hiểu biết về lý thuyết chuyên môn của học sinh càng sâu càng tạo điều kiện tốt cho họ ứng dụng vào công việc cụ thể khi thực hành và tạo tư duy kỹ thuật sáng tạo trong quá trình hành nghề, nâng cao năng lực “đọc sách” tự bồi dưỡng khi
ra trường
Trong các Trường ĐHSPKT - DN có nhiều hệ đào tạo khác nhau, nhất là hệ TCN và CĐN thì khả năng tiếp thu lý thuyết thấp.Vì vậy việc giảng dạy lý thuyết trong các Trường Dạy nghề gặp nhiều khó khăn khi phải lựa chọn nội dung sao cho vừa sức với học sinh Việc tham khảo tài liệu nước ngoài của giáo viên dạy nghề (GVDN) hiện nay rất hạn chế (do trình độ ngoại ngữ yếu), các tài liệu trong nước thường do những người nghiên cứu lý thuyết biên soạn, do đó nội dung nặng về lý thuyết khó hiểu và không thích hợp với cấp dạy nghề Chính vì thế, nhiệm vụ của giáo viên khi dạy lý thuyết chuyên môn nghề không hề đơn giản, họ cần có khả năng chuẩn bị lý thuyết sao cho vừa sức với học sinh, để học sinh dễ hiểu và điều quan trọng là có thể vận dụng lý thuyết đó vào thực hành
Truyền thụ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm thực hành:
Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất của giáo viên trong các trường dạy nghề, bởi vì mục đích của học sinh khi vào các trường học là thành thạo một nghề để sau khi ra trường họ có thể kiếm sống bằng chính nghề đã học Vì vậy họ cần luyện tập nhiều để hình thành kỹ năng, kỹ xảo thực hành, từ quy trình xử lý đến các động tác
cơ bản (GVDN phải hướng dẫn và làm mẫu thường xuyên), sự cố và quá trình tạo
ra sự cố để học sinh thực hành quan sát với thực tế lao động ngoài thị trường, phải giải thích được các sự cố bằng lôgic lý thuyết để chuyển hóa thành kiến thức, kinh nghiệm của học sinh
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Kiểm tra, đánh giá các kết quả học tập: kiểm tra, đánh giá các bài tập của học
Trang 19sinh là một khâu quan trọng của quá trình dạy học đồng thời là một biện pháp thúc đẩy tính tíc cực học tập của học sinh
Giáo dục phẩm chất, thái độ và hành vi cho học sinh
Mục tiêu đào tạo là rèn luyện cho học sinh trở thành những con người có nhân cách, biết sống và làm việc theo pháp luật, biết làm giàu chính đáng cho bản thân và cộng đồng bằng chính kỹ năng nghề nghiệp của mình Việc giáo dục phẩm chất đạo đức, thái độ hành vi cho học sinh trong giai đoạn hiện nay rất khó khăn, do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường mà nhiều chuẩn mực đạo đức bị xói mòn Để hoàn thành nhiệm vụ này, giáo viên phải là một nhà tâm lý và thực sự là một tấm gương sáng để học sinh noi theo
Tạo tiềm năng cho học sinh tiếp tục phát triển
Đây cũng là một nhiệm vụ rất quan trọng, vì trong xã hội hiện nay việc học một vài năm để học ra một nghề, học sinh chỉ có thể trang bị được những kiến thức
kỹ năng cơ bản nhất và hiện tại của nghề nghiệp Để học sinh theo kịp với sự phát triển của nghề khi ra trường, phụ thuộc chủ yếu vào sự tự vận động của họ Vì vậy, giáo viên phải tạo cho học sinh khả năng tự nghiên cứu, tìm tòi giải quyết những vấn đề kỹ thuật ngay từ khi họ còn học trong trường
Nhiều học giả trên thế giới cũng như ở Việt Nam rất ủng hộ quan điểm trong quá trình dạy học “lấy người học làm trung tâm” [11,tr 23], đây cũng là một cách tạo tiềm năng để học sinh, sinh viên sau này phát triển Thầy dạy cho họ những gì
mà họ cần chứ không phải những gì mà thầy có hoặc nhà trường có
Nghiên cứu công nghệ mới
Giáo viên cần có sự chuẩn bị và nghiên cứu công nghệ mới trước khi đưa vào khai thác sử dụng, đặc biệt đối với nghề mà sự thay đổi công nghệ diễn ra thường xuyên, cải tiến công nghệ là điều không thể thiếu Vì vậy Giáo viên cần phải tiếp cận thông tin thường xuyên của nghề, để quá trình đào tạo có sự thu hút và hấp dẫn
c Quy luật của quá trình dạy học
Ta biết rằng qúa trình dạy học là quá trình xã hội, sự vận động của nó bị chi phối bởi nhiều yếu tố, sự vận động và phát triển vẫn tuân theo quy luật khách quan
Trang 20Quy luật về tính quy định của xã hội đối với dạy học:
Giáo dục là một phạm trù thuộc thượng tầng kiến trúc trong một hình thái xã
hội Xã hội và giáo dục chi phối, tác động biện chứng qua lại và cùng tồn tại trong
một thời điểm lịch sử cùng phản ánh một trình độ phát triển nhất định
Mục đích xã hội quy định tính dạy học, mục đích dạy học tuân thủ và phục vụ
chiến lược phát triển xã hội Trình độ phát triển của xã hội, trình độ phát triển kinh
tế, văn hóa, khoa học công nghệ quốc gia quy định trình độ chất lượng dạy học Dạy
học là điểm xuất phát là cơ sở cho mọi sự phát triển của xã hội
Quy luật thống nhất giữa dạy học và phát triển trí tuệ học sinh:
Dạy học chủ động đón bắt sự phát triển trí tuệ của học sinh, đi trước một
bước bằng những khó khăn vừa sức hướng dẫn sự phát triển tối đa trí sáng tạo của
học sinh Dạy học ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ là một quy luật hiển nhiên
Quy luật thống nhất giữa dạy học và giáo dục nhân cách:
Dạy học và giáo dục không thể tách rời nhau, dạy học chính là giáo dục theo
một nghĩa hết sức cụ thể và ngược lại giáo dục chân chính chỉ đạt đến hiệu quả thực
sự khi nó được thực hiện bằng con đường khoa học, dạy kỹ năng, dạy thái độ sống
tích cực cho mỗi người Dạy học chính là giáo dục con người
Quy luật thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học:
Quá trình dạy học là quá trình hoạt động phối hợp của giáo viên và học sinh
Hoạt động tích cực của họ quyết định toàn bộ chất lượng giáo dục và đào tạo của
nhà trường Hoạt động dạy chỉ đạo hoạt động học và hoạt động học là cơ sở là trọng
tâm cho mọi cải tiến của hoạt động dạy, hai hoạt động này tác động biện chứng với
nhau thúc đẩy lẫn nhau để cùng nhau phát triển
Quy luật thống nhất biện chứng giữa mục đích, nội dung và PPDH:
Để đạt được chất lượng dạy và học thì quá trình dạy học phải được tổ chức
một cách khoa học có một nội dung hiện đại và phương pháp khơi dậy tính tích cực
cao nhất của người học Nội dung của dạy học quy định toàn bộ tiến trình dạy và
học của thầy và trò Như vậy mục đích, nội dung và PPDH là ba phạm trù cơ bản chúng có mối
Trang 21quan hệ biện chứng với nhau Tổ chức tốt quá trình dạy học về thực chất là xác định đúng mục đích, hiện đại hóa nội dung và hoàn thiện về phương pháp
1.2.2 Quá trình nhận thức tích cực của học sinh
Giảng dạy là hình thức chủ yếu để truyền thụ cho học sinh các tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo một cách có hệ thống Cung cấp cho học sinh hiểu, sâu biết rộng về tri thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, áp dụng những kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tế Những nhiệm vụ này chỉ thực hiện được khi học sinh có tính tích
cực nhận thức làm cho quá trình học tập đạt kết quả cao
a Khái niệm
Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức nghề
Tính tích cực nhận thức biểu hiện rõ nét ở tính tự nguyện, tự giác, tự nhận lấy công việc và hoàn thành công việc bằng chính sức lực của mình, do những động cơ
và nguyên tắc do chính mình đề ra, có hoài bão vươn lên đạt đỉnh cao trong học tập, ham hiểu biết, có sự tập trung trí tuệ và sức lực để giải quyết vấn đề nào đó trong học tập và rèn luyện, say mê khoa học, tự lập, vận dụng tối đa sức lực của bản thân, không chờ đợi sự động viên nhắc nhở của người khác
Thực tế có học sinh học giỏi, học yếu, có em thông minh, có em chậm hiểu,
có em ham hiểu biết… không phải chỉ riêng bản thân, PPDH dẫn đến kết quả học tập cao mà còn có vấn đề khác ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh Đó là vấn đề kích thích tính tích cực nhận thức
b Kích thích tính tích cực nhận thức
Như ta đã biết những yếu tố sinh học có ảnh hưởng rất lớn đến tính tích cực nhận thức, chất lượng và kết quả học tập, đồng thời ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình nhận thức của học sinh Do bản chất tự nhiên, học sinh có trí nhớ, tư chất, thể lực, trí tuệ…khác nhau Tất cả những ảnh hưởng đến học tập, đến tính tích cực nhận thức của họ Những yếu tố sinh học không phải là yếu tố quyết định đến kết quả học tập Khoa học đã khẳng định, mỗi con người đều có những khả năng lớn lao về mặt
Trang 22phát triển và hoàn thiện trí tuệ không nên chỉ dựa vào học tập đơn thuần để suy xét năng lực của con người
Vấn đề là nhân tố nào bên trong ảnh hưởng đến tính tích cực nhận thức của học sinh Cái bên ngoài không thể chuyển trực tiếp thành cái bên trong được Bất kỳ một sự tác động nào cũng gây nên sự phản ứng bên trong của học sinh, gây nên sự phản ứng tâm lý nhất định, đó là tích cực hay tiêu cực Khi tích cực tiếp nhận những tác động bên ngoài đó là sự giảng dạy của giáo viên, học sinh sẽ biểu lộ tính tích cực nhận thức và cố gắng lĩnh hội bài học Ngược lại học sinh sẽ không nghe lời giáo viên và làm cản trở sự học tập của người khác Vì vậy trong học tập mỗi học sinh được biểu lộ tâm trạng chủ quan nhất định có ảnh hưởng đến tính tích cực nhận thức Như vậy rõ ràng chỉ có tâm trạng tích cực bên trong mới làm cho học sinh phát huy được tính tích cực nhận thức và ngược lại làm cho họ có thái độ thờ ơ và tính thụ động trí tuệ Trong trường hợp này nếu áp dụng các biện pháp ép buộc phần lớn đều không mang lại những kết quả tốt đẹp
Trong giảng dạy giáo viên khéo léo tạo nên mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, xây dựng nên tình huống có vấn đề Nhờ đó điều khiển có hiệu quả sự chú ý của học sinh, phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh Đồng thời giáo viên cần phải đặt một nhiệm vụ nào đó để học sinh tự giải quyết trước khi giáo viên giảng bài
c Bồi dưỡng tính tích cực nhận thức của học sinh
Tính tích cực của nhận thức được coi là nguyên tắc dạy học có liên quan mật thiết với mục đích và nhiệm vụ dạy học Tính tích cực tư duy là cơ sở của hoạt động nhận thức, là kích thích quan trọng nhất của hứng thú nhận thức Giáo viên phải dạy cho học sinh biết cách suy nghĩ và củng cố hứng thú nhận thức của học sinh, đồng thời cần thiết phải bồi dưỡng tính tích cực nhận thức của họ Phương pháp để giáo viên bồi dưỡng tính tích cực nhận thức của học sinh:
Kích thích tính tích cực hoạt động của học sinh là động viên các em tự đặt
câu hỏi khi nghe giảng Không phải câu hỏi nào cũng có tính chất nhận thức Vì vậy
để làm cho nó có ý nghĩa chân chính và có động cơ tích cực, phải chú ý đến tất cả
Trang 23các câu hỏi của học sinh Trong bất kỳ câu hỏi nào học sinh cũng xác định được mối liên hệ có ý nghĩa, tách ra những cái mà học sinh cho là bản chất tích cực tìm tòi tri thức Qua câu hỏi, giáo viên có thể phán đoán trình độ của học sinh Do đó giáo viên phải cân nhắc câu trả lời của mình, để không làm giảm tính tích cực nhận thức của học sinh mà vẫn giải quyết được những thắc mắc của học sinh giáo viên phải tìm cách lôi cuốn cả lớp tham gia vào việc phân tích sửa chữa, bổ sung câu trả lời của mình
Dùng PPDH nêu vấn đề, giờ học diễn ra rất tích cực, hầu hết học sinh muốn
đưa ra những phán đoán, những câu trả lời của mình, phát biểu những ý kiến có lập luận chắc chắn
Đưa ra cho học sinh những câu hỏi, những tình huống là một biện pháp quan
trọng để kích thích tính tích cực nhận thức Câu hỏi của giáo viên cần có tính xúc cảm tới học sinh Câu hỏi phải kích thích sự suy nghĩ của học sinh Đối với giáo viên, kỹ năng nhìn thấy trước trong bài học, một hệ thống nhiệm vụ nhận thức trung gian nhằm kích thích tính tích cực hoạt động trí tuệ của học sinh, là một trong những yếu tố cơ bản của nghệ thuật sư phạm Do vậy giáo viên phải có sự chuẩn bị
Mục tiêu dạy học chính là kết quả học tập cần đạt Thông thường mục tiêu dạy học của bài học góp phần thực hiện mục tiêu dạy học của học phần và mục tiêu dạy học cụ thể là các thành tố tạo nên mục đích dạy học
Mục tiêu dạy học đề ra là phải tạo cho người học có kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ từ đó hình thành các phẩm chất, năng lực cụ thể Các mục tiêu này phải phù hợp với người học, phù hợp với yêu cầu thực tế, có khả năng thực hiện được và
Trang 24đánh giá được
1.3.2 Nội dung dạy học
Câu hỏi cần đặt ra đầu tiên cho việc xác định nội dung dạy học là: Người học cần phải học những gì để đạt được các mục tiêu đã đặt ra trong một điều kiện thời gian, không gian và cho một đối tượng cụ thể
Việc xác định nội dung phù hợp có thể cho một bài học, một học phần hay
của một khóa học, nó giúp chúng ta xác định phần cứng cốt lõi hay phần mềm
Chính vì vậy nội dung dạy học có tầm quan trọng đặc biệt, là một trong những nhân
tố quyết định sự thành công bài giảng, đến chất lượng dạy và học
1.3.3 Giáo viên
Người giáo viên vừa có vai trò chủ đạo vừa là tác nhân
Luật giáo dục khẳng định rằng: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục” Với vai trò là người chủ đạo người dạy là người phải thiết kế, tổ chức hoạt động dạy học, điều khiển quá trình nhận thức cho người học Muốn có chất lượng đào tạo học sinh tốt thì chúng ta phải có lực lượng giáo viên tốt
và ngược lại Vậy để nâng cao chất lượng dạy học ở trường, giáo viên phải có năng lực chuyên môn cao, tay nghề sư phạm giỏi Năng lực chuyên môn của giáo viên không phải chỉ bó hẹp trong các tài liệu, sách vở, không chỉ trong phần kiến thức mình đảm nhiệm mà cần phải có kiến thức, kinh nghiệm thực tế trong lao động sản xuất Ngoài ra ra cần biết thêm kiến thức về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Những kiến thức này giúp cho giáo viên có được tầm nhìn nghề nghiệp, nhận biết được xu thế phát triển của nghề nghiệp, truyền cảm, đồng thời tạo được uy tín cảm phục đối với học sinh
1.3.4 Chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng dạy học Chương trình đào tạo chỉ đạo về mặt thời gian, nội dung, kiến thức do vậy nó ảnh hưởng đến chất lượng dạy học, gồm phương thức kiểm tra đánh giá, cách học và dạy trong nhà trường
Chương trình đào tạo theo các chuyên gia việc nghiên cứu, xây dựng cho hợp
Trang 25lý với đối tượng, khu vực, vùng miền, ngành nghề, môn học là một vấn đề không đơn giản, quá trình xây dựng góp ý, xây dựng cho phù hợp với tình hình phát triển của nhu cầu phát triển nhân lực của xã hội (người học, người dạy, người tuyển dụng, các tổ chức tôn giáo, chính trị xã hội)
Cụ thể trong một nhà trường Chương trình đào tạo là những điều được dạy trong nhà trường là tập hợp các môn học theo một lôgic tuần tự phù hợp với quá trình đào tạo
Kế hoạch dạy học bao gồm học cái gì và dạy cái gì? Tiêu chuẩn quyết định của mục tiêu học tập và nội dung trong một Chương trình đào tạo là tầm quan trọng của nó trong hoàn cảnh sống, tương lai của người học chúng không phải là dự định trước duy nhất qua hệ thống các môn học
Theo nghị định 43/CP Chương trình đào tạo là văn bản cụ thể hóa mục tiêu giáo dục, quy định phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp, hình thức hoạt động dạy học, chuẩn mực và cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp học và toàn bộ bậc học, cấp học, trình độ đào tạo
Nếu chương trình đào tạo được xây dựng không phù hợp sẽ ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra trong thời gian trước mắt và lâu dài Bên cạnh ảnh hưởng của Chương trình đào tạo đến chất lượng đào tạo, nó còn là động cơ thúc đẩy các hoạt động liên quan trong nhà trường
Qua những quan điểm trên đây, ta thấy Chương trình đào tạo là một nhân tố hết sức quan trọng trong quá trình đào tạo Để quá trình đào tạo đạt chất lượng, nhà trường cần chọn cho mình đúng mục tiêu cũng như nội dung, Chương trình đào tạo
1.3.5 Phương pháp dạy học
PPDH là cách thức, con đường để đạt được mục đích nhất định, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định “PPDH là cách thức hoạt động tương hỗ giữa thầy và trò nhằm đạt được mục đích dạy học Hoạt động này được thể hiện trong việc sử dụng các nguồn nhân thức, các thủ thuật lôgic, các dạng hoạt động độc lập của học sinh
và cách thức điều khiển quá trình nhận thức của giáo viên” [16, tr46]
PPDH phản ánh sự vận động quá trình nhận thức của học sinh, sự vận động của
Trang 26nội dung giảng dạy, cách thức trao đổi thông tin và giao tiếp giữa thầy và trò, cách thức điều khiển hoạt động nhận thức, tổ chức hoạt động nhận thức, kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động
Trên lý thuyết có nhiều PPDH Mỗi giờ học, mỗi giáo viên lại phải tìm cho mình những phương pháp phù hợp nhất, phải vận dụng một cách hết sức linh hoạt, sáng tạo cho hợp lý với hoàn cảnh thực tế Nội dung bài giảng hay phương pháp cùng với phương pháp truyền thụ tốt sẽ là yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công trong bài giảng Chính vì vậy, PPDH cũng là một yếu tố không thể thiếu được trong quá trình nâng cao chất lượng dạy học
1.3.6 Cơ sở vật chất
Trong những năm gần đây, KHCN phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, việc áp dụng sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghệ không chỉ riêng trong lĩnh vực sản xuất sản phẩm xã hội mà còn đi sâu vào lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu việc tăng quy mô đào tạo, nâng cao chất lượng dạy học không những phải có sự tăng cường về đội ngũ giáo viên có chất lượng mà còn đòi hỏi phải tăng cường về
cơ sở vật chất cho đào tạo Việc đầu tư phòng học, trang thiết bị, nhà xưởng… cho dạy học đang còn là một vấn đề cần quan tâm, cả về số lượng, chủng loại phù hợp cho đào tạo Có như vậy mới thực hiện tốt nội dung, mục tiêu của Chương trình đào tạo, hỗ trợ giáo viên chuyển tải nội dung và giúp học sinh thực hiện quá trình nhận thức nội dung, nâng cao năng lực thực hành cho học sinh
1.3.7 Kiểm tra đánh giá
Bất kỳ một lĩnh vực nào, công tác kiểm tra đánh giá có một vai trò quan trọng Đặc trong Giáo dục đào tạo thì việc kiểm tra đánh giá có một vai trò hết sức quan trọng và có ý nghĩa lớn
Đối với giáo viên: Qua kiểm tra, giáo viên đánh giá được hoạt động của học
sinh cũng như hoạt động giảng dạy của mình, để có biện pháp điều chỉnh cho hợp
lý
Mặt khác giáo viên có thể đánh giá được ưu, nhược điểm của nội dung chương trình môn học, tài liệu học tập…để kịp thời sữa đổi, bổ sung
Trang 27Đối với học sinh: Qua kiểm tra, đánh giá học sinh có thể tự nhận xét, tự đánh
giá kết quả học tập của mình theo từng môn học từ đó xét lại bản thân mà kịp thời thay đổi phương pháp học tập để đạt kết quả như mong muốn
- Sự phát triển của Khoa học giáo dục
Cùng với sự phát triển của các ngành khoa học khác, khoa học giáo dục nghề nghiệp là lĩnh vực khoa học còn mới mẻ nhưng đã và đang phát triển, ngày càng được quan tâm nhiều hơn Trong thời kỳ hiện nay, khoa học giáo dục đang có xu hướng đa dạng hóa về mục tiêu và nội dung, Chương trình đào tạo Khi khối lượng kiến thức của nhân loại ngày càng nhiều vấn đề lựa chọn mục tiêu, nội dung kiến thức và phương pháp là rất quan trọng Ngày nay chúng ta có rất nhiều phương pháp, phương tiện giúp cho việc giảng dạy rút ngắn được thời gian hơn góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất và hiệu quả lao động của người dạy, ý thức tự lập hiệu suất học của người học
- Sự hội nhập quốc tế
Sự hội nhập quốc tế trong lĩnh vực giáo dục là vô cùng quan trọng Nó góp phần cho sự hội nhập và phát triển về khoa học kỹ thuật, văn hóa cũng như kinh tế Hội nhập giáo dục là xu thế tất yếu không thể thiếu được trong thời kỳ hiện nay Để
có sự hội nhập thành công chúng ta cần phải có những bước đột phá trong đào tạo, nâng cao chất lượng dạy học ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới
Trang 28Với Trường ĐHSPKT Vinh trong 10 năm lại đây dưới sự hỗ trợ, chỉ đạo của các Bộ, nghành đã không ngừng phát triển nâng cao mối quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới Giáo viên của nhà trường đã được cử đi học, tham quan, nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục ở một số nước như Đài Loan, Hàn Quốc, Đức, Séc, Belarut…để nâng cao trình độ, tiếp cận KHCN và giáo dục nhằm nâng cao chất lượng dạy học cho nhà trường và xã hội
Trang 29CHƯƠNG II THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN MẠCH MÁY CƠ BẢN VÀ SỮA CHỮA
MẠCH ĐIỆN MÁY CÔNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
SƯ PHẠM KỸ THUẬT VINH 2.1 Khái quát về trường ĐHSPKT Vinh
2.1.1 Tóm tắt về quá trình hình thành và phát triển của nhà trường
Trường công nhân kỹ thuật (CNKT) Vinh được thành lập năm 1960 theo Quyết định số 113 CP/ PG ngày 8/ 4/ 1960 của Chính phủ, ra đời Trường trực thuộc
Bộ Công nghiệp nặng Lễ khai giảng khóa đầu tiên (khóa I tuyển 450 học sinh) vào
25 tháng 12 năm 1961 với các nghề đào tạo: Cắt gọt, Nguội, Gò, Hàn, Rèn, Đúc, Mộc mẫu và Điện
Từ năm 1975 Trường được Tổng cục Dạy nghề (TCDN) trực tiếp quản lý và đổi tên thành Trường giáo viên dạy nghề (GVDN) Vinh, nghành nghề đào tạo: gồm các ngành cơ khí và luyện kim có tay nghề bậc thợ 3/7
Năm 1978 Trường đã được đổi tên thành Trường Sư phạm kỹ thuật 3 Vinh
Từ năm 1982 Trường bắt đầu đào tạo GVDN hệ 4,5 năm Với tổng số là 955 học sinh
Ngày 28 tháng 5 năm 1999, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 129/1999/ QĐ- TTg nâng cấp Trường SPKT Vinh thành Trường CĐSPKT Vinh Năm 1992 Trường đã tuyển sinh GVDN bậc CĐ và bắt đầu đào tạo CĐKT từ 1996 Đến tháng 4 năm 2006 đã được nâng lên thành Trường ĐHSPKT Vinh (với tổng số khoảng 5000 sinh viên) thuộc Bộ lao động thương binh và xã hội
Đến tháng 10 năm 2010 quy mô đào của trường đạt 8000 sinh viên, trong đó khoa Điện có 1563 sinh viên Nghành nghề đào tạo chủ yếu trong nhà trường cho tới nay là: Cơ khí chế tạo, Cơ khí động lực, Điện, Điện tử, Tin học Bao gồm các hệ: Trung cấp nghề, CĐN, CĐ, ĐH
Cơ sở của trường như sau:
- Khu hành chính: Khu nhà làm việc 3 tầng gồm văn phòng, phòng làm việc của hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng, hội trường, các phòng chức năng
Trang 30- Hội trường lớn để tổ chức các buổi hội nghị, học nghị quyết…cho giáo viên toàn trường Với diện tích 891m2
- Nhà 4 tầng là các phòng làm việc của các phòng, trung tâm, các phòng đọc của thư viện
- Hai khu nhà 5 tầng có 92 phòng học lý thuyết với diện tích 15.900m2
- Với hệ thống gồm 9 nhà xưởng thực hành nghề, 08 phòng thí nghiệm được trang bị các thiết bị tiên tiến tự động hoá cao, 13 phòng học thực hành tin học, 03 phòng học ngoại ngữ với trang bị đầy đủ Ngoài ra còn có một số phòng học chuyên môn hoá và phòng thực tập khác
- Nhà ở ký túc xá sinh viên gồm 96 phòng có công trình khép kín với diện tích 1152m2
- Các sân chơi thể thao, đường xá, vườn hoa cây cảnh
- Các xưởng thực hành được trang bị: Máy vi tính, Máy Tiện, Máy Tiện CNC, Máy khoan, Doa, Bào, Phay, Máy hàn các loại, các thiết bị thí nghiệm sữa chữa ôtô…Máy hiện sóng, máy thu hình phẳng, radio…
2.1.2 Tổ chức bộ máy hoạt động của nhà trường
Từ khi mới thành lập đến nay trải qua 50 năm phát triển và trưởng thành, nhà trường đã biết bao đổi thay Bộ máy hoạt động của nhà trường cũng thay đổi theo,
cơ cấu tổ chức bộ máy hiện nay như sau:
Ban giám hiệu nhà trường bao gồm: 1 Hiệu trưởng và 3 phó Hiệu trưởng
làm nhiệm vụ lãnh đạo chung Dưới sự chỉ đạo của ban giám hiệu gồm có các phòng, khoa sau đây:
Trang 31- Khoa Công nghệ thông Tin
- Khoa Cơ khí chế tạo
- Khoa Giáo dục đại cương, ngoại ngữ
- Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng, chuyên môn, nghiệp vụ
- Trung tâm thông tin thư viện
2.1.3 Cơ cấu ngành nghề
a Cơ cấu nghành:
Hiện nay đối với xu hướng đào tạo theo diện rộng, chuyên nghành chỉ là định hướng bước đầu nhằm tạo điều kiện để người tốt nghiệp sớm phát huy công việc phù hợp với định hướng đó Khi học sinh tốt nghiệp đảm nhận một công việc không đúng với chuyên nghành nhưng vẫn thuộc nghành đào tạo, họ vẫn có khả năng tự thích nghi được mà không phải đào tạo theo chuyên nghành khi nắm bắt được nhu cầu của xã hội về các chuyên nghành đó Nên Bộ Lao động Thương binh & Xã hội cho phép trường ĐHSPKT Vinh mở các nghành như sau:
Khoa công nghệ thông tin
- Tin học ứng dụng
- Công nghệ thông tin
- Khoa học máy tính
- Kỹ thuật phần mềm
Trang 32- Công nghệ kỹ thuật điện
- Tự động hóa xí nghiệp công nghiệp
- Hệ thống điện
Khoa cơ khí chế tạo
- Công nghệ chế tạo máy
- Công nghệ hàn
- Công nghệ cơ điện tử
Cơ khí động lực
- Công nghệ kỹ thuật ô tô
- Sữa chữa thiết bị công nghiệp
Khoa sư phạm
Sư phạm Kỹ thuật công nghiệp
b Cơ cấu nghề
Do nhu cầu của xã hội nên nhà trường đã mở các nghề sau:
1 Công nhân bảo trì, sữa chữa, lắp ráp thiết bị điện tử công nghiệp và dân dụng
2 Sữa chữa điện công nghiệp
3 Sữa chữa điện dân dụng
4 Kỹ thuật lắp đặt và điều khiển điện công nghiệp
5 Cắt gọt kim loại
6 Nghề hàn, cắt kim loại
7 Sữa chữa ô tô
8 Nguội sữa chữa máy công cụ
9 Lắp đặt thiết bị cơ khí
Trang 332.1.4 Quản lý hoạt động dạy và học ở trường ĐHSPKT Vinh
a Quản lý đội ngũ giáo viên
Tính đến năm 2010 tổng số giáo viên, cán bộ công nhân viên nhà trường là
292 người, trong đó có 6 Tiến sĩ, 147 Thạc sĩ, 99 người có trình độ ĐH, 10 người có
trình độ CĐ Phần lớn các giáo viên nằm ở độ tuổi 30 đến 50 tuổi
Hàng năm nhà trường có kế hoạch để tuyển dụng phát triển đội ngũ, việc tuyển dụng ngày càng được cải tiến có chất lượng trên cơ sở thực hiện theo quy trình chặt chẽ, khách quan
Nhà trường rất quan tâm vấn đề giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho ĐNGV Những năm gần đây nhà trường đã chú trọng việc nâng cao trình độ học vấn đối với các giáo viên có khả năng và điều kiện phát triển Hiện nay số giáo viên
là Tiến sĩ còn rất ít, nên nhà trường đang kêu gọi và tạo điều kiện cho một số giáo viên đi nghiên cứu sinh trong và ngoài nước Mong muốn của nhà trường là đến năm 2020 có 20% giáo viên đạt trình độ Tiến sĩ
Ngoài ra nhà trường còn cử nhiều giáo viên có trình độ và năng lực đi học tập bồi dưỡng về nghiệp vụ, tin học, tiếp cận các phương tiện dạy học hiện đại nhằm thực hiện đổi mới PPDH cho nhà trường
Bên cạnh những nỗ lực phát triển đội ngũ nêu trên thì công tác quản lý ĐNGV cũng có những tồn tại sau đây:
Thứ nhất, việc thực hiện nề nếp kỷ cương trong hoạt động dạy học của
Trường đôi khi còn buông lỏng, công tác thanh tra đào tạo trong nhà trường chưa được quan tâm đúng mức
Thứ hai, chưa có một quy hoạch dự báo xây dựng ĐNGV mang tính khoa học
cao và thực tiễn sâu sắc cho tương lai, Đủ về số lượng, mạnh về chất lượng chuyên môn, khoa học, nghiệp vụ sư phạm để phát triển nhà trường ổn định, bển vững
Thứ ba, hầu hết các giáo viên đều phải dạy quá tải, ảnh hưởng đến việc học
tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ và họ không còn thời gian tham gia NCKH, tìm tòi đổi mới phương pháp Đây cũng chính là một lực cản không nhỏ đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
Trang 34c Về đội ngũ cán bộ quản lý
Đội ngũ cán bộ quản lý của nhà trường hầu hết đều trưởng thành từ các giáo viên trực tiếp giảng dạy, họ đều là những giáo viên có kinh nghiệm và năng lực giảng dạy, đồng thời có khả năng làm công tác quản lý Ban giám hiệu nhà trường
là những người được học qua các lớp bồi dưỡng chính trị trung và cao cấp
Bảng 2.1: Thống kê số lượng cán bộ quản lý của trường ĐHSPKT Vinh
Tổng số cán
bộ quản lý
(người)
Ban giám hiệu
(người)
Trưởng, phó phòng
(người)
Trưởng, phó khoa
(người)
Trưởng trung tâm
(người)
36 04 12 18 02
Trong số 36 người cán bộ quản lý của nhà trường (số TS: 05; ThS: 27; ĐH: 4; CĐ: 0) Về sự đề bạt cán bộ quản lý trong nhà trường được tiến hành dân chủ, cẩn trọng Trên cơ sở thực tế công việc và qua quá trình bồi dưỡng, phân tích phẩm chất và năng lực các thành viên trong đơn vị để tìm ra người có khả năng, sau
đó lấy ý kiến thăm dò của quần chúng bằng bỏ phiếu kín rồi mới trình lên cơ quan quản lý cấp trên ra quyết định Chính vì vậy sự đoàn kết trong trường học được giữ vững và phát huy được sức mạnh của từng đơn vị trong nhà trường
b Công tác quản lý giáo dục học sinh – sinh viên
Đây là nhiệm vụ trọng tâm mà nhà trường đặc biệt quan tâm tới học sinh Ngay từ khi mới nhập trường, họ đã được học tập nội quy, quy chế theo chương trình giáo dục đầu khoá bắt buộc, có kiểm tra đánh giá kết quả Mặt khác mỗi học sinh phải làm một bản cam kết không vi phạm các tệ nạn xã hội
Nhà trường đã phối hợp giữa phòng công tác học sinh - sinh viên với trợ lý nhân lực của các Khoa và giáo viên chủ nhiệm, giữa nhà trường và gia đình trong việc quản lý toàn diện học sinh Qua đó đã đảm bảo an ninh trật tự, xử lý nghiêm khắc những trường hợp vi phạm, đôn đốc nhắc nhở học sinh thực hiện tốt nội quy của nhà trường
Lãnh đạo nhà trường, Đoàn thanh niên nhà trường tổ chức tốt các tổ chức tốt phong trào thi đua trong học tập cũng như sinh hoạt ngoại khoá cho học sinh, các
Trang 35hoạt động về thể dục thể thao, văn hoá văn nghệ, câu lạc bộ thanh niên, đội thanh niên xung kích, tổ chức cắm trại, tham gia tình nguyện mùa hè xanh, tổ chức hiến máu nhân đạo
Có thể nói công tác quản lý và giáo dục học sinh ở trường ĐHSPKT Vinh được thực hiện tốt Tuy nhiên, trong điều kiện số lượng học sinh trong trường đông, việc quản lý giáo dục học sinh rất phức tạp, nhà trường cần phải có biện pháp xử lý những vi phạm nội quy nghiêm minh hơn và mạnh hơn
d Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
Để tạo điều kiện đảm bảo cho dạy và học, nhà trường chú trọng kết hợp chặt chẽ việc xây dựng, khai thác và bảo quản trong quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học
Những năm gần đây trường đã đầu tư nhiều tỷ đồng để mua sắm, bổ sung các phương tiện dạy học, trang bị các phòng thí nghiệm, xưởng thực tập nghề, phòng thực hành vi tính, ngoại ngữ…đặc biệt tập trung đầu tư có chiều sâu một số máy móc thiết bị hiện đại như các thiết bị kiểm tra bằng kỹ thuật số, các thiết bị tự động hóa cao, các máy gia công cắt gọt kim loại NC, CNC phục vụ học tập và NCKH Bên cạnh việc xây dựng và tổ chức bảo quản tốt cơ sở vật chất, nhà trường hết sức quan tâm đến vấn đề khai thác tốt nhất các thiết bị và phương tiện hiện có phục
vụ cho đào tạo Tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng đào tạo trong những năm tới
Tuy nhiên bên cạnh những điều kiện đạt được, trong quản lý cơ sở vật chất và
thiết bị dạy học cũng còn những hạn chế sau:
- Do nguồn vốn đầu tư của Nhà nước có hạn, nhiều dự án của nhà trường chưa được triển khai, các phòng chuyên môn hóa, các trang thiết bị luyện tập, thiết
bị kiểm tra, các trang thiết bị công nghệ cao chiếm tỷ lệ còn khiêm tốn
- Những năm gần đây công tác biên soạn giáo trình các môn học còn chậm, chưa trở thành phong trào trong ĐNGV của nhà trường
- Việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại còn hạn chế, chưa trở thành nhu cầu của giáo viên trong các giờ lên lớp, phần nhiều giáo viên ngại tiếp
Trang 36cận với cái mới
Tóm lại, nhận thức tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động dạy học nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo ĐNGV dạy nghề góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Để phát huy hơn nữa những kết quả đã đạt được, khắc phục tối đa những tồn tại trong công tác Đào tạo ở trường ĐHSPKT Vinh chúng ta tin tưởng rằng với các
đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực Giáo dục – Đào tạo của giáo viên sẽ là một trong những động lực thúc đẩy nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường
2.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên Khoa Điện trường ĐHSPKT Vinh
2.2.1 Đặc điểm đội ngũ giáo viên Khoa Điện
Khoa Điện được nhà trường giao nhiệm vụ tổ chức quản lý và đào tạo Kỹ
thuật viên CĐ, TCN, CĐN và cán bộ kỹ thuật có trình độ ĐH Với các ngành nghề:
Tự động hoá, Điện công nghiệp, Hệ thống Điện
Mục tiêu đào tạo của trường cũng như Khoa Điện, học sinh sau khi tốt nghiệp phải đạt yêu cầu có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành về nghành nghề, đáp ứng được các yêu cầu của doanh nghiệp
Đặc điểm của ĐNGV Khoa Điện là được chia thành 2 khối: khối giáo viên lý
thuyết và giáo viên thực hành Khối dạy lý thuyết gồm lý thuyết cơ sở và lý thuyết chuyên môn
Để phát huy thế mạnh của ĐNGV Khoa Điện, nhà trường đã tập trung tạo mọi điều kiện để các đồng chí giáo viên cả lý thuyết và dạy thực hành tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn, phấn đấu vừa giỏi thực hành vừa chắc lý thuyết
2.2.2 Về số lượng đội ngũ giáo viên
Hiện tại ĐNGV của Khoa Điện- trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh có tổng số 31 người, 100% giáo viên có trình độ ĐH và trên ĐH
Giáo viên nam là 24 người, nữ 07 người Giáo viên trên 45 tuổi chiếm 10 người, còn lại đội ngũ trẻ chiếm 21 Độ tuổi trung bình trong khoa là 36,2 tuổi Tổng số HS-SV trong khoa hiện tại là 1563 em Số giáo viên/ học sinh là 1/46
Trang 372.2.3 Về trình độ của đội ngũ giáo viên
a Về trình độ chuyên môn
ĐNGV của Khoa Điện rất đa dạng, phần lớn được đào tạo từ các trường trung cấp, cao đẳng trong nước Sau đó được đào tạo ĐH tại chức ở các Trường ĐH mỏ,
ĐH Thái nguyên, ĐH TPHCM rồi đến cao học Trình độ của ĐNGV Khoa Điện:
Thạc sĩ: 11 người; Đại học: 20 người
Qua đó ta thấy ĐNGV của khoa Điện cũng đã có rất nhiều cố gắng trong việc học tập nâng cao trình độ
b Về trình độ sư phạm
ĐNGV của Khoa Điện được tuyển dụng từ nhiều nguồn đào tạo như: ĐH BKHN, ĐH BKĐN, ĐH Thái nguyên, ĐH Mỏ, ĐHSPKT Vinh do vậy đội ngũ này không đồng đều về trình độ chuyên môn và trình độ sư phạm Tuy nhiên các giáo viên đã được bồi dưỡng, học nghiệp vụ sư phạm bậc 1 và bậc 2, song việc ứng dụng các phương pháp dạy học vào các tiết giảng của mình thì cũng chưa được linh hoạt
và sinh động Phần lớn đang còn dạy chay, chưa đưa ra các mô hình, thiết bị cho học sinh quan sát Chủ yếu là thuyết trình
Bảng 2.2: Trình độ sư phạm ĐNGV khoa Điện được thống kê như sau:
Trang 38- Hiện tại trình độ học vấn của ĐNGV trong khoa, đã đáp ứng được phần nào
về công tác giảng dạy Đây là thế mạnh của khoa Điện, ĐNGV của khoa tạm đủ đáp ứng quy mô Đào tạo Các giáo viên được bố trí sử dụng đúng ngành nghề đã được
ĐT nên đã phát huy được năng lực giảng dạy
- Giáo viên của Khoa đã chuẩn hoá theo chức danh quy định 100% đã qua bồi dưỡng sư phạm bậc 1 và bậc 2
- ĐNGV của Khoa còn trẻ, chịu khó học tập và rèn luyện phẩm chất đạo đức, nghề nghiệp, nâng cao kiến thức bổ trợ như tin học, ngoại ngữ, có thêm tiềm năng phát triển
Trang 39Năng lực sư phạm của giáo viên so với yêu cầu còn nhiều bất cập Hầu hết giáo viên
vẫn dùng phấn, bảng ít sử dụng máy chiếu, CNTT, giáo cụ trực quan, mà chủ yếu là
dạy chay
- Khả năng sử dụng ngoại ngữ và tin học còn hạn chế
- Số giáo viên có tay nghề thợ bậc cao chiếm tỷ lệ thấp, thiếu quan tâm đến
việc rèn nghề do chính tay nghề của giáo viên còn hạn chế Điều này ảnh hưởng đến
chất lượng dạy học, tay nghề của học sinh
- Các giáo viên đều phải dạy quá tải, có rất nhiều giáo viên dạy vượt giờ
chuẩn, hầu hết các giáo viên dạy vượt giờ đến hoặc hơn 200% định mức, họ không
còn thời gian để học tập, bồi dưỡng và tham gia NCKH, tìm tòi đổi mới PPDH
2.3 Thực trạng dạy và học thực hành môn Mạch máy cơ bản và sữa chữa
mạch điện Máy công nghiệp ở trường ĐHSPKT Vinh
2.3.1 Về môn học
a Vị trí và vai trò của môn Mạch máy cơ bản và sữa chữa mạch điện Máy công
nghiệp trong trường ĐHSPKT Vinh
Môn học thực hành MMCB&SCMĐMCN có tên đầy đủ là môn thực hành lắp
đặt và sữa chữa các mạch điện cơ bản, mạch điện các máy công nghiệp (do các giáo
viên Xưởng THĐ giảng dạy) Môn học nằm trong chương trình THĐ, dùng để
giảng dạy cho đối tượng: CĐN ĐCN, CĐ CNKTĐ Là môn học có liên quan đến
nhiều môn lý thuyết nghề như đã nói ở chương I Môn học bao gồm các bài thực hành về lắp đặt và sữa chữa các mạch điện cơ
bản điều khiển động cơ điện, mạch điện của các Máy sản xuất thuộc nhóm máy cắt
gọt kim loại như: Máy Tiện, Máy Mài, Máy Phay, Máy Doa, Máy Bào và mạch
điện một số máy Công nghiệp dùng chung như : mạch điện điều khiển Thang máy,
Cầu trục, Lò hồ quang Mỗi bài tập được xây dựng để thực hiện một số kỹ năng
thuộc một công việc cụ thể của người thợ sửa chữa điện trong xí nghiệp công
nghiệp Môn học nhằm trang bị cho sinh viên các kiến thức và kỹ năng cần thiết để
thực hiện các công việc cơ bản trong lắp đặt, sữa chữa các mạch điện điều khiển
động cơ điện, mạch điện của các Máy sản xuất và máy Công nghiệp dùng chung
Trang 40. Vai trò và tầm quan trọng của môn học thực hành MMCB&SCĐMCN được
diễn giải như sau: Hầu hết các Máy sản xuất (Máy công nghiệp) muốn hoạt động để thực hiện
quá trình sản xuất cũng cần phải có các mạch điện tự động khống chế được lắp ráp
bởi các thiết bị điện từ, thiết bị điện tử, các phần tử tự động… theo một sơ đồ mạch
điện nhất định cho trước Sơ đồ được thiết kế dựa vào yêu cầu của quá trình công
nghệ Bất kể một máy móc, thiết bị nào sau một thời gian, một quá trình làm việc
đều sẽ bị sự cố, hư hỏng cần phải sữa chữa hoặc đến kỳ bảo dưỡng…, những lúc
này không thể không trông cậy vào đội ngũ những người thợ sữa chữa, kỹ thuật
viên Những người đã được trang bị đầy đủ các kiến thức, kỹ năng học được từ môn
thực hành MMCB&SCMMCN trong Trường ĐHSPKT Vinh Đặc biệt ngày nay cơ chế thị trường đã mở, nhà nước đã hội nhập và liên kết
làm ăn kinh tế với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới Trước kỷ nguyên
“Nền văn minh công nghiệp” thì nhu cầu và mức sử dụng các máy công nghiệp
ngày nhiều và ở mức độ hiện đại càng cao hơn, phức tạp hơn Một nhiệm vụ nặng
nề và khó khăn hơn cho ĐNGV Xưởng THĐ của Khoa Điện - Trường ĐHSPKT
Vinh Đó là: để đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi khắt khe của xã hội thì bắt buộc
người thầy và nhà trường phải tìm ra những biện pháp để nâng cao chất lượng dạy
học thực hành môn MMCB& SCMĐMCN sao cho có hiệu quả tốt nhất
Qua đây ta thấy được vị trí và vai trò của môn học MMCB&SCMĐMCN
trong Trường ĐHSPKT Vinh hiện nay
b Đặc điểm nội dung môn học MMCB&SCMĐMCN
Tính cụ thể và trừu tượng
Trong dạy học thực hành môn MMCB&SCMĐMCN, tính cụ thể biểu hiện
qua nội dung chương trình đào tạo, phản ánh những đối tượng cụ thể như các máy
móc, các thiết bị điện, phần tử của các thiết bị điện, nguyên lý tháo lắp, các phương
pháp sữa chữa mạch máy…Học sinh có thể tri giác các nội dung này ngay trên đối
tượng nghiên cứu Còn tính trừu tượng thì thể hiện thông qua các nguyên lý hoạt