1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Các biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn học cơ ứng dụng ở trường đại học sư phạm kỹ thuật vinh

95 232 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 725,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học bách khoa hà nội ----—[ \—---- Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục Các biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn học cơ ứng dụng ở trường đại họ

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học bách khoa hà nội

—[ \—

Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục

Các biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn học cơ ứng dụng ở trường đại học

sư phạm kỹ thuật vinh

Chuyên ngành: sư phạm kỹ thuật Mã số:

Nguyễn Trọng phúc

Người hướng dẫn: PGS.TS: Nguyễn Đức Trí

Hà Nội, 2006

Trang 2

Phần I: Mở đầu 1

Chương I:

những vấn đề lý luận của việc nâng cao chất lượng dạy

học ở Trường đại học sư phạm kỹ thuật

6

1.2 Bản chất, nhiệm vụ và quy luật của quá trình dạy học ở trường đại học 7

1.3 Quá trình dạy và học ở Trường đại học sư phạm kỹ thuật 171.3.1 Vai trò hoạt động dạy học trong việc nâng cao chất lượng đào tạo 171.3.2 Chương trình học ở Trường đại học sư phạm kỹ thuật 191.3.3 Vị trí của môn học cơ học ứng dụng ở Trường ĐHSP Kỹ thuật 221.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy học ở Trường ĐHSP Kỹ

Trang 3

2.2.4 Về trang thiết bị và phương pháp dạy học 51

Các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học

môn học cơ ứng dụng ở Trường đHSP kỹ thuật Vinh

58

3.2 Các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn học cơ ứng

dụng ở Trường ĐHSP Kỹ thuật Vinh

58

3.2.1 Biện pháp 1: Tích cực hoá hoạt động nhận thức của người học 583.2.2 Biện pháp 2: Kết hợp hài hoà giữa lý thuyết và bài tập thực hành 693.2.3 Biện pháp 3: Biện pháp về bồi dưỡng giáo viên trong tổ môn 71

- Phụ lục

Trang 4

Danh mục viết tắt

CĐSPKT Cao đẳng sư phạm kỹ thuật

ĐHSPKT Đại học Sư phạm kỹ thuật

GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

CNH.HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá

CTĐT Chương trình đào tạo

Trang 5

PhÇn I

Më ®Çu

Trang 6

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

ở nước ta trong những năm gần đây khoa học kỹ thuật và công nghệ

được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư và đang phát triển mạnh mẽ, để đáp ứng và theo kịp với tình hình phát triển khoa học và kỹ thuật trên thế giới Cụ thể hơn là trong lĩnh vực khoa học giáo dục và kỹ thuật công nghệ, các trường

đào tạo nghề được mở ra đa dạng và phong phú Để đáp ứng nhu cầu nhân lực lao động kỹ thuật trong cả nước cũng như hợp tác lao động với nước ngoài

- Để đáp ứng trước nhu cầu trên tại các cơ sở đào tạo nghề việc dạy và học các môn học kỹ thuật cơ sở nói chung và môn học cơ ứng dụng nói riêng vẫn đang là một vấn đề băn khoăn của người học và người dạy về phương diện tiếp thu kiến thức và ứng dụng những kiến thức đó vào thực tiễn công tác

- Tính đặc thù của môn học cơ ứng dụng: Môn học cơ ứng dụng được giảng dạy những năm gần đây ở các trường đào tạo ngành cơ khí được hình thành từ các môn học riêng rẽ như: Cơ học lý thuyết, sức bền vật liệu và cơ sở của nguyên lý máy Do quỹ thời gian đào tạo có hạn, khi giảng dạy môn học này so với khối lượng kiến thức cần truyền đạt quá khó cũng với sự mới mẻ của kiến thức môn học so với người học , nên dẫn đến việc áp dụng kiến thức

được truyền đạt vào thực tiễn gặp nhiều khó khăn và hạn chế

Vậy để góp phần nâng cao chất lượng dạy học và học môn học cơ ứng dụng trong nhiều năm qua giáo viên khoa đã có những cố gắng tiến tới áp dụng cải tiến phương pháp dạy học nhằm nâng cao kết quả chất lượng dạy học Tuy nhiên chất lượng dạy học ở môn vẫn có nhiều bất cập cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách có căn cứ khoa học lý luận

và thực tiễn đầy đủ đối với việc nâng cao chất lượng dạy học Việc giải quyết

Trang 7

vấn đề này càng có tính cấp thiết khi Trường CĐSP Kỹ thuật Vinh được quyết

định nâng cấp thành trường ĐHSP Kỹ thuật Vinh Do vậy tôi đã chọn đề tài: Các biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn học cơ ứng dụng ở Trường

đại học sư phạm kỹ thuật Vinh

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn học cơ ứng dụng ở Trường đại học sư phạm kỹ thuật Vinh nhằm tạo điều kiện cho người học tiếp thu kiến thức và lý thuyết và ứng dụng được vào thực hiện công tác một cách dễ dàng hơn

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình daỵ và học môn học cơ ứng dụng ở Trường Đại học sư phạm kỹ thuật Vinh

- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn học cơ ứng dụng ở Trường Đại học sư phạm kỹ thuật Vinh

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định một số vấn đề lý luận của việc nâng cao chất lượng dạy và học

ở Trường Đại học sư phạm kỹ thuật Vinh

- Đánh giá thực trạng dạy và học môn học cơ ứng dụng ở Trường đại học sư phạm kỹ thuật Vinh

- Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn học cơ ứng dụng ở Trường đại học sư phạm kỹ thuật Vinh

5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu đánh giá thực trạng dạy và học môn học cơ ứng dụng trong khoa cơ khí chế tạo ở Trường đại học sư phạm kỹ thuật Vinh trong 5 năm vừa qua

Trang 8

Phần II: Nội dung

Chương 1: Những vấn đề lý luận của việc nâng cao chất lượng dạy và

học ở Trường đại học sư phạm kỹ thuật Vinh

Chương 2: Thực trạng và học môn học cơ ứng dụng ở Trường đại học

sư phạm kỹ thuật Vinh

Chương 3: Các biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn cơ học

ứng dụng ở Trường đại học sư phạm kỹ thuật Vinh

Phần III: Kết luận và kiến nghị

- Tài liệu tham khảo

- Phụ lục

Trang 9

PhÇn II

Néi dung

Trang 10

đạo đức xã hội, thái độ nghề nghiệp cho người học hay nói một cách khác người giáo viên làm thay đổi nhân cách của người học, tạo cho người học có khả năng hoạt động trong lĩnh vực nghề nghiệp của mình, trở thành người có ích cho xã hội

"Quá trình được xem xét như một hệ thống toàn vẹn" [8-133]

Hệ thống toàn vẹn là một hệ thống bao gồm những thành tố liên hệ, tương tác với nhau tạo nên chất lượng mới Quá trình dạy học theo tiếp cận của hệ thống bao gồm tập hợp các thành tố cấu trúc có quan hệ biện chứng với nhau Hệ thống bao giờ cũng tồn tại trong môi trường Môi trường và các thành tố của hệ thống cũng có sự tương tác lẫn nhau ở một thời điểm nhất

định quá trình dạy học nó bao gồm các thành tố như mục đích dạy học, nội dung dạy học, phương pháp, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học, giáo viên, học sinh… tất cả các thành tố trên đều bị chi phối bởi môi trường bên ngoài, môi trường vĩ mô đó là môi trường được tạo nên do sự tương tác giữa người giáo viên và học sinh và giữa học sinh với nhau cùng với việc vận dụng phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học tác động vào nội dung dạy học, hướng vào việc thực hiện mục đích dạy học

Trang 11

"Quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của hai thành tố cơ bản trong quá trình dạy học Hoạt động dạy và hoạt động học" [8-134]

- Hoạt động dạy của người giáo viên: Đó là hoạt động lãnh đạo, tổ chức

điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của học sinh giúp học sinh tìm tòi khám phá tri thức

- Hoạt động học của học sinh: là hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, tự

tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức Tự xử lý việc thu nhận tin thức, xử

lý biến đổi thông tin thành nhận thức của mình

"Quá trình dạy học là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức - học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm

vụ dạy học" [8-139]

1.2 Bản chất, nhiệm vụ và quy luật của quá trình dạy học ở Đại học

1.2.1 Bản chất của quá trình dạy học ở Đại học

- Dạy học là hoạt động phối hợp giữa hai chủ thể

Theo quan niệm thông thường khi nói tới dạy học người ta hiểu đó là một nghề, là một hoạt động đặc trưng của giáo viên là hoạt động truyền thụ kiến thức trên lớp Cũng do quan niệm này mà trong thực tiễn giáo dục người ta chỉ chú trọng đến vai trò của giáo viên Đó là nhân vật trọng tâm, quyết định đến chất lượng dạy và học, phương pháp giảng dạy chủ yếu là truyền đạt, thông báo kiến thức người học hoàn toàn phụ thuộc vào giáo viên, cách học chủ yếu

là nghe hiểu, ghi nhớ và tái hiện Đánh giá kết quả học tập dựa vào số lượng kiến thức học sinh đã ghi nhớ được Những điều đó nói lên sự hạn chế chất lượng giáo dục và đào tạo

Trang 12

Từ khái niệm dạy học ngay cả khi xét về hình thức tự nhận thấy rằng đó

là hoạt động phối hợp của 2 chủ thể là người dạy và người học Dạy học được thực hiện đồng thời với cùng 1 nội dung và hướng tới cùng một mục đích, nếu

2 hoạt động này bị tách rời sẽ lập tức bị phá vỡ khái niệm quá trình dạy học Học tập không có giáo viên sẽ trở thành tự học và dạy học không có học sinh

sẽ trở thành độc thoại

Giáo viên là chủ thể và giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ tiến trình dạy học Người xây dựng và thực thi kế hoạch giảng dạy bộ môn, tổ chức cho học sinh thực hiện hoạt động học tập với mọi hình thức trong thời gian và không gian khác người điều khiển các hoạt động trí tuệ và hướng dẫn thực hành của học sinh trên lớp, trong phòng thí nghiệm, liên hệ thực tiễn uốn nắn giúp đỡ học sinh học tập, rèn luyện, kiểm tra đánh giá học sinh trong mọi phương diện

Trên nguyên tắc phát huy tích cực nhận thức của học sinh giáo viên tổ chức điều khiển quá trình học tập của học sinh làm cho quá trình học tập trở thành một hoạt động độc lập có ý thức Bằng sự khéo léo của phương pháp sư phạm giáo viên khai thác tiềm năng, trí tuệ, kiến thức và kinh nghiệm của học sinh giúp họ tìm ra những phương pháp học tập sáng tạo, tự lực nắm, hiểu và vận dụng kiến thức vào thực tiễn

Từ những vấn đề đã nêu trên ta nhận thấy

- Chủ thể của hoạt động dạy học là giáo viên: người tổ chức mọi hoạt

động học tập của học sinh người quyết định chất lượng giáo dục

- Đối tượng hoạt động của giáo viên là hệ thống kiến thức và tự phát triển trí tuệ và nhân cách của học sinh

- Mục đích của hoạt động dạy học là làm cho học sinh nắm vững kiến thức và hình thành kỹ năng hoạt động độc lập, phát triển trí tuệ và nhân cách

để trở thành người có ích cho xã hội

Trang 13

- Nội dung của hoạt động là tổ chức cho học sinh nhận thức truyền đạt kiến thức hướng dẫn luyện tập, hình thành kỹ năng, kiểm tra uốn nắn và giáo dục thái độ học tập cho học sinh

- Phương pháp dạy học: bao gồm phương pháp tổ chức nhận thức phương pháp điều khiển các học sinh trí tuệ và thực hành, phương pháp giáo dục ý thức học tập cho học sinh

Vậy chúng ta thấy rằng hoạt động dạy hoạt động học luôn luôn gắn bó với nhau, không tách rời nhau, thống nhất biện chứng với nhau tạo thành hoạt

động chung đó là quá trình dạy học Dạy điều khiển học, học tuân thủ dạy Dạy tốt dẫn đến học tốt, học tốt đòi hỏi phải dạy tốt, học sinh vừa là mục tiêu vừa là động lực của qúa trình dạy học

* Dạy học là hoạt động trí tuệ, hoạt động nhận thức

Dạy học là hoạt động trí tuệ của thầy và trò, một quá trình vận động và phát triển liên tục trong trí tuệ và nhâ cách của học sinh

Học là quá trình nhận thức nhằm tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử xã hội, thực hành là rèn luyện để có kỹ năng hoạt động và có thái độ tốt trong các mối quan hệ với cuộc sống lao động Việc học tập là con đường để mỗi người

tự làm giàu kiến thức, như một phương thức để tự biến đổi bản thân là cơ hội

để trở thành người lao động tự chủ và sáng tạo

Bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của người học sinh

Học sinh nhận thức thế giới thông qua các tài liệu học tập được chọn lọc

từ các thành quả của nền văn minh nhân loại và được sắp xếp theo một chương trình Thông qua sự hướng dẫn, kiểm tra, uốn nắn của giáo viên Dạy học giúp học sinh nhận thức kiến thức một cách đúng đắn, tránh được sai lệch và

mò mẫm, vấp váp trong cuộc sống từ những phân tích trên ta có thể khẳng

định rằng quá trình dạy học là quá trình kết hợp của 2 chủ thể, trong đó dưới

Trang 14

sự tổ chức, hướng dẫn và điều khiển của giáo viên Học sinh nhận thức lại nền văn minh nhân loại và rèn luyện hình thành kỹ năng hoạt động, tạo lập cuộc sống tốt đẹp

* Quá trình dạy học với tư cách là một hệ thống

Quá trình dạy học là một chỉnh thể có cấu trúc gồm nhiều thành tố mỗi thành tố có một vị trí xác định, có chức năng riêng, có quan hệ mật thiết biện chứng với nhau cụ thể là quá trình dạy học là một chỉnh thể thống nhất ngoài

2 nhân tố trung tâm là giáo viên và học sinh còn có nhiều nhân tố khác tham gia bao gồm: Mục đích và nhiệm vụ dạy học, nội dung và các hình thức tổ chức dạy học phương pháp và phương tiện dạy học, môi trường văn hoá, chính trị xã hội, môi trường kinh tế khoa học kỹ thuật của đất nước trong trào lưu phát triển chung của thời đại

Vậy từ việc xây dựng mục đích dạy học cho quá trình dạy học chúng ta phải xác định các nhiệm vụ dạy học cụ thể mới đạt đến chất lượng, mục đích

- Dạy học được tiến hành bằng các phương pháp với sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại, dựa trên cơ sở phát huy tích cực của học sinh và thực hiện bằng nhiều hình thức tổ chức phong phú và đa dạng

- Dạy học cần có môi trường giáo dục thuận lợi ở cả 2 phương diện vĩ mô

và vi mô đó là môi trường chính trị xã hội ổn định, pháp luật, kỷ cương vững chắc, nền văn hoá, khoa học và công nghệ tiến bộ kinh tế phát triển, môi

Trang 15

trường vi mô là môi trường giáo dục gia đình, nhà trường, tập thể và các mối quan hệ bạn bè thuận lợi tích cực Vậy muốn nâng cao chất lượng của quá trình học phải nâng cao chất lượng của từng yếu tố ảnh hưởng và đồng thời nâng cao chất lượng tổng hợp của toàn hệ thống

1.2.2 Các nhiệm vụ của quá trình dạy học ở đại học

- Nhiệm vụ cung cấp kiến thức cho học sinh

Đặc trưng cơ bản của quá trình dạy học là cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức khoa học toàn diện về tự nhiên, xã hội, tư duy về kỹ thuật…

và hệ thống kỹ năng thực hành và phương pháp tư duy sáng tạo phù hợp với mục đích giáo dục và đào tạo ở cấp học và ngành học bằng các phương pháp sư phạm phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và trình độ phát triển trí tuệ của học sinh, dạy học là cho học sinh hiểu được nắm vững các khái niệm, các phạm trù, các lý thuyết khoa học, từ đó làm cơ sở nghiên cứu, khám phá tìm ra các quy luật khoa học và biết áp dụng trong thực tế cuộc sống

- Nhiệm vụ phát triển trí tuệ cho học sinh

Ngoài những nhiệm vụ cung cấp kiến thức cho học sinh, quá trình học cần định hướng phát triển trí tuệ cho học sinh Trên cơ sở cung cấp kiến thức khoa học rèn luyện kỹ năng thực hành, luôn luôn định hướng, phát huy nỗ lực

cố gắng và sức vươn lên, rèn luyện tính sáng tạo, tư duy cho học sinh

- Nhiệm vụ của giáo dục các phẩm chất, nhân cách cho học sinh

Dạy học không chỉ chú ý đến kiến thức khoa học mà phải chú ý đến kiến thức đời thường, kiến thức xã hội, học làm người có nhân cách, có phẩm giá

có ích cho xã hội Giáo dục nhân cách là nhiệm vụ quan trọng của quá trình dạy học

Dạy học là một qúa trình vận động và phát triển chỉ số để đo sự vận động

và phát triển của quá trình dạy học, chính là phát triển của trí tuệ và các phẩm chất nhân cách cho học sinh

Trang 16

Phân tích quá trình dạy học hiện đại ta thấy chúng có nhiều mâu thuẫn như:

- Mâu thuẫn giữa mục đích dạy học được đề ra rất cao và phương tiện dạy học còn hạn chế

- Mâu thuẫn giữa nội dung dạy học hiện đại và phương pháp dạy học còn mang nặng về truyền thống

- Mâu thuẫn giữa nội dung kiến thức mới với kiến thức và kinh nghiệm

cũ đã có của người học sinh

- Mâu thuẫn giữa yêu cầu của chương trình, nội dung dạy học, của thầy giáo và nhà trường với trình độ học tập và khả năng nhận thức có hạn của người học sinh

Trong các mâu thuẫn trên thì mâu thuẫn giữa yêu cầu học tập cao với trình độ và khả năng học tập có hạn của học sinh ở một thời điểm nhất định là mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn này được giải quyết sẽ trở thành động lực thúc

đẩy quá trình dạy học

- Lô gíc của quá trình dạy học

Dạy học là hoạt động có tổ chức,có chương trình vì thế dạy học phải tuân theo lô gíc của nội dung dạy học Nội dung dạy học là hệ thống kiến thức

được chọn lọc và sắp xếp theo chương mục, theo chủ đề , được trình bày theo lịch sử phát minh, phù hợp với đặc điểm của học sinh và khả năng ứng dụng của các kiến thức đó

Vậy lo gíc của quá trình dạy học là sự thống nhất của lô gíc nhận thức và lô gíc của chương trình nội dung dạy học

- Các khâu của quá trình dạy học

* Quá trình dạy học được thực hiện trong một bài học cụ thể thường được diễn ra theo các khâu sau đây

Trang 17

- Giáo viên đề xuất và gây ý thức cho học sinh về nhiệm vụ học tập, đặt vấn đề cho bài giảng, giáo viên tạo ra các môn, đưa học sinh vào hoàn cảnh có vấn đề, tạo ra tình huống phải nhận thức theo phương pháp nêu vấn đề hay phương pháp tình huống, giáo viên tự lập hứng thú khơi dậy tính tích cực của học sinh để họ tìm cách khám phá kiến thức

- Tổ chức cho học sinh nhận thức tài liệu mới

Giáo viên giúp học sinh nắm được kiến thức mới của bài học thông qua việc chọn các phương pháp dạy học để phù hợp với nội dung, tính chất của bài giảng và trình độ của học sinh

- Hệ thống hoá tài liệu đã học

Sau khi học sinh đã tự giác tài liệu giáo viên cần phải hệ thống hoá giúp học sinh nhìn lại một cách toàn diện, đẩy đủ, chính xác nội dung của bài học Vấn đề cối lõi và ứng dụng thực tiễn của bài học

- Vận dụng kiến thức giải quyết các bài tập thực hành

Vận dụng kiến thức vào giải quyết các bài tập, thực hành là vấn đề cốt lõi

là thuộc bản chất của quá trình dạy học

- Việc vận dụng kiến thức có 2 mức độ: mức độ thứ nhất là cho học sinh làm các bài tập theo chương trình môn học, mức độ thứ hai là vận dụng kiến thức vào thực tế

- Kiểm tra lại các kết quả học tập

Kiểm tra đánh giá kết quả học tập là một khâu quan trọng của quá trình dạy học đồng thời là một biện pháp thúc đẩy tính tích cực học tập của học sinh

1.2.3 Quy luật của quá trình dạy học ở đại học

Ta biết rằng quá trình dạy học là qúa trình xã hội, sự vận động của nó bị chi phối bởi nhiều yếu tố, sự vận động và phát triển vẫn tuân theo quy luật khách quan

Trang 18

- Quy luật về tính chề ước của xã hội đối với dạy học

Giáo dục là một hình thái xã hội nằm ở thượng tầng kiến trúc, xã hội và giáo dục là 2 hệ thống lớn, nhỏ, bao trùm, chi phối, tác động biện chứng qua lại và cùng tồn tại trong một thời điểm lịch sử cùng phản ánh một trình độ phát triển nhất định

Mục đích xã hội quy định tính dạy học Mục đích dạy học tuân thủ và phục vụ chiến lược phát triển xã hội Trình độ phát triển của xã hội, trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, khoa học công nghệ quốc gia quy định trình độ và chất lượng dạy học Dạy học là điểm xuất phát là cơ sở cho mọi sự phát triển của xã hội

- Quy luật thống nhất giữa dạy học và phát triển trí tuệ học sinh

Dạy học chủ động đón bắt sự phát triển trí tuệ của học sinh, đi trước một bước, bằng những khó khăn vừa sức hướng dẫn sự phát triển tối đa trí sáng tạo của học sinh Dạy học ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ là một quy luật hiển nhiên

- Quy luật thống nhất giữa dạy học và giáo dục nhân cách

Dạy học và giáo dục không thể tách rời nhau, dạy học chính là giáo dục theo một nghĩa hết sức cụ thể và ngược lại giáo dục chân chính chỉ đạt đến hiệu quả thực sự khi nó được thực hiện bằng con đường khoa học, dạy kỹ năng, dạy thái độ sống tích cực cho mỗi con người Dạy học chính là giáo dục con người

- Quy luật thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học

Quá trình dạy học là quá trình hoạt động phối hợp của thầy giáo và học sinh Hoạt động tích cực của họ quyết định toàn bộ chất lượng giáo dục và

đào tạo của nhà trường

Trang 19

Hoạt động dạy chỉ đạo hoạt động học và hoạt động học là cơ sở là trọng tâm cho mọi cải tiến của hoạt động dạy 2 hoạt động này tác động biến chứng với nhau thúc đẩy lẫn nhau để cùng nhau phát triển

- Quy luật thống nhất, biến chứng giữa mục đích, nội dung và phương pháp dạy học

Để đạt được chất lượng dạy và học thì quá trình dạy học phải được tổ chức một cách khoa học có một nội dung hiện đại và phương pháp khơi dậy tính tích cực cao nhất của người học Nội dung của dạy học quy định toàn bộ tiến trình dạy và học của thầy và trò

Như vậy mục đích, nội dung và phương pháp dạy học là 3 phạm trù cơ bản chúng có mối quan hệ biến chứng với nhau Tổ chức tốt quá trình dạy học

về thực chất là xác định đúng mục đích, hiện đại hoá nội dung và hoàn thiện

về phương pháp

1.2.4.Chất lượng dạy học

* Khái niệm về chất lượng

- Chất lượng là "tổng thể những tổ chức, thuộc tính cơ bản của sự việc làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác" (Từ điển tiếng Việt phổ thông - 1992)

- Chất lượng là: "cái làm nên phẩm chất , giá trị của sự việc" hoặc là "cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia" (Từ điển Việt thông dụng - NXB giáo dục - 1998)

- Chất lượng là "mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt

đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ liệu, các thông số cơ bản" oxford Poket Dictionnary)

Trang 20

- Chất lượng là "tập hợp là các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn (TCVN-ISO 8402)

Theo các quan niệm trên thì chất lượng là một thuật ngữ đa nghĩa, nhiều chiều Một cách chung nhất có thể hiểu chất lượng là cái tạo nên phẩm chất giá trị của một sự vật, sự việc hay một con người, nó là những thuộc tính cơ bản nhất của sự vật giúp phân biệt nó với các sự việc khác

* Chất lượng dạy học

Chất lượng dạy học thể hiện qua năng lực, học sinh sau khi hoàn thành chương trình môn học Cụ thể là: Khối lượng kiến thức, kỹ năng thực hành năng lực nhận thức, năng lực tư duy, phẩm chất nhân văn của học sinh tùy theo cách xác định, đánh giá mà chất lượng dạy học có thể phát biểu khác nhau

- Theo cách đánh giá trong: chất lượng dạy học là mức độ đáp ứng yêu cầu của người học so với mục tiêu đề ra

- Theo cách đánh giá ngoài: Chất lượng dạy học là mức độ đáp ứng yêu cầu của cơ sở sử dụng

Như vậy cho dù là cách đánh giá nào cũng cần phải xây dựng được những tiêu chí, chỉ số cụ thể cho việc đó và đánh giá chất lượng dạy học Chẳng hạn theo cách đánh giá , các tiêu chí đó (theo quan niệm hiện nay) có thể là khối lượng và chất lượng kiến thức , kỹ năng mà người học chiếm lĩnh,

là khả năng hoạt động trì trệ và phẩm chất nhân văn của người học có được nhờ quá trình đào tạo

- Chất lượng dạy học là kết quả của quá trình dạy học được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể:

Trang 21

- Chất lượng dạy học có liên quan chặt chẽ với hiệu quả dạy học, khi nói

đến hiệu quả dạy học là nói đến mục tiêu dạy học đạt được ở mức độ nào so với yêu cầu đề ra

- Chất lượng dạy học chịu tác động của nhiều thành phần nhưng cơ bản nhất là các thầnh phần sau:

1 Mục tiêu, nội dung, chương trình và phương pháp dạy học

2 Kinh nghiệm giảng dạy của giáo viên

3 Học sinh và động cơ học tập của học sinh

4 Thiết bị và phương tiện dạy học

5 Tài liệu tham khảo và sách giáo khoa

- Mức độ tác động của các thành phần tiến tới chất lượng dạy học là khác nhau và trong từng điều kiện cụ thể thì đòi hỏi phải có những biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học

1.3 Quá trình dạy học ở Trường đại học sư phạm kỹ thuật

1.3.1 Vai trò hoạt động dạy học trong việc nâng cao chất lượng đào tạo

Quá trình dạy học như đã trình bày ở trên là một quá trình xã hội gắn liền với hoạt động của con người Hoạt động dạy và hoạt động học trong nhà trường ĐHSP Kỹ thuật phải hướng tới mục tiêu đào tạo trên cơ sở phải hoàn thành những nhiệm vụ nhất định

Quá trình dạy và quá trình học là một hệ thống toàn vẹn, có cấu trúc gồm nhiều thành tố: Mục đích và nhiệm vụ dạy học, nội dung phương pháp và phương tiện, thầy trò, hình thức tổ chức dạy học cùng với các môi trường văn hoá - chính trị, xã hội Môi trường kinh tế - khoa học kỹ thuật Mỗi thành tố

có một vị trí xác định, có chức năng riêng và có mối quan hệ mật thiết, biện chứng với nhau Mỗi thành tố vận động theo quy luật riêng và đồng thời tuân

Trang 22

theo quy luật chung của toàn hệ thống… Mặt khác toàn bộ hệ thống quá trình dạy học lại có mối quan hệ qua lại và thống nhất với các môi trường mà nó tồn tại Trong cấu trúc của quá trình dạy học thì thầy với hoạt động dạy, và trò với hoạt động học là 2 nhân tố trung tâm Hai nhân tố này luôn gắn bó mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau cùng nhau tồn tại để cùng hướng vào một mục

đích chung đó là nội dung chương trình đào tạo các môn học trong nhà trường

- Hoạt động dạy là tổ chức và điều kiện tối ưu hoá quá trình sinh viên chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỷ xảo Nó gồm 2 chức năng cơ bản là truyền đạt

và điều khiển

- Hoạt động học của sinh viên là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức dưới sự điều khiển sư phạm của thầy… nó thực hiện 2 chức năng thống nhất với nhau là lĩnh hội và tự điều khiển, hoạt động này được thực hiện các chức năng khác nhau song chúng có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau Trong quá trình dạy học ở đại học và cao đẳng, người giảng viên là chủ thể của hoạt động giảng dạy, giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học Giảng viên với hoạt động dạy có chức năng tổ chức điều khiển lãnh đạo hoạt

động học của sinh viên, đảm bảo cho sinh viên thực hiện đầy đủ và có chất lượng cao những yêu cầu đã được quy định phù hợp với mục đích dạy học Còn sinh viên vừa là đối tượng của hoạt động dạy của giáo viên, vừa là chủ thể của hoạt động nhận thức có tính chất tự nghiên cứu Nói cách khác quá trình dạy học ở đây, người sinh viên vừa là khách thể của hoạt động dạy, vừa là chủ thể hoạt động dạy, vừa là chủ thể hoạt động tích cực, độc lập, sáng tạo nhằm chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo có liên quan đến nghề nghiệp tương lai của mình

Hai nhân tố trung tâm thầy với hoạt động dạy, trò với hoạt động học là

đặc trưng cơ bản nhất của qúa trình dạy học với chúng là các nhân tố đặc trưng cho tính chất 2 mặt của quá trình dạy học Nếu không có thầy và trò, không có dạy và học thì sẽ không bao giờ có quá trình học trong nhà trường

Trang 23

Chất lượng dạy học trong trường có được nâng cao hay không , là phải kết hợp hài hoà, hỗ trợ cho nhau giữa các nhân tố mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và phương tiện học

1.3.2 Chương trình học ở Trường đại học sư phạm kỹ thuật

Trong một vài năm gần đây một số Trường ĐHSP Kỹ thuật trong cả nước

được nâng cấp thành các Trường ĐHSP Kỹ thuật, đó là do các yêu cầu về nhân lực của xã hội, sự đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật, sự phát triển tất yếu của các truờng về mọt mặt trong quá trình đào tạo

Tuy vậy chương trình đào tạo bậc đại học SPKT đang có là một vấn đề cần quan tâm, không chỉ riêng của Trường ĐHSP Kỹ thuật Vinh mà còn là chung cho cả khối ĐHSP kỹ thuật cả nước

Qua tham khảo và điều tra số liệu chương trình khung đào tạo bậc đại học của các trường vừa nâng cấp

* Trường ĐHSP kỹ thuật Hải Hưng (trước đây là Trường CĐSP kỹ thuật 1)

Gồm hai khối kiến thức với 188 ĐVHT (đơn vị học trình) thời gian đào tạo 5 năm

- Khối kiến thức đại cương: 30 - 36 ĐVHT bao gồm các kiến thức về khoa học xã hội và nhân văn, ngoại ngữ, khoa học tự nhiên, giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất

- Khối giao dục chuyên nghiệp: 150 - 152 ĐVHT bao gồm các lĩnh vực kiến thức:

+ Lý thuyết chuyên ngành 70 ĐVHT (cơ sở và chuyên sâu)

+ Thực hành nghề nghiệp 50 ĐVHT

+ Kiến thức và kỹ thuật năng sư phạm 26 - 28 ĐVHT

+ Thi tốt nghiệp 5 ĐVHT

Trang 24

* Trường Trường ĐHSP Kỹ thuật Nam Định:

Gồm 2 khối kiến thức với 200 ĐVHT thời gian đào tạo 5 năm được phân

bổ như sau:

- Khối kiến thức giáo dục đại cương 58 ĐVHT Trong đó:

+ Khoa học xã hội và nhân văn 18 ĐVHT

+ Ngoại ngữ 16 ĐVHT

+ Giáo dục quốc phòng 3 ĐVHT

+ Giáo dục thể chất 3 ĐVHT

* Trường ĐHSP kỹ thuật Vinh

Chương trình đào tạo sư phạm kỹ thuật thời gian 5 năm cho 2 khối kiến thức với 200 ĐVHT được phân bố như sau:

- Khối kiến thức giáo dục đại cương 58 ĐVHT

- Khối kiến thức giáo dục nghề nghiệp 142 ĐVHT Trong đó:

Trang 25

Qua các số liệu tham khảo số liệu về chương trình đạo tạo các Trường

ĐHSP kỹ thuật đã nêu trên Ta nhận thấy rằng cùng một thời gian đào tạo, cùng một trình độ đào tạo như nhau, cùng tạo ra một sản phẩm là Kỹ sư sư phạm kỹ thuật như cấu trúc chương trình đào tạo còn khác nhau Tuy nhiên xét về mặt cơ cấu vùng, miền trong điều kiện cho phép lãnh đạo các Trường

ĐHSP kỹ thuật đã chế biến, thay đổi theo từng thời kỳ đào tạo trên cơ sở quyết định số 1395/TH-DN của Bộ Giáo dục và Đào tạo

* Khối kiến thức giáo dục đại cương

Phương pháp giảng dạy các môn học trong khối kiến thức này thường áp dụng là thuyết trình, diễn giải nêu vấn đề

* Khối kiến thức cơ sở ngành: ở khối kiến thức này một số môn học đã

áp dụng được phương pháp mô phỏng và các thiết bị dạy học như vẽ kỹ thuật, thuỷ lực, khí nén…

* Khối kiến thức ngành: Đa số các môn học trong khối kiến thức này đã kết hợp được hài hoà giữa lý thuyết và trang thiết bị dạy học đã có trong trường

* Thực tập - thực hành, thí nghiệm: Trong các ngành học được đào tạo trong nhà trường đã có phòng thí nghiệm, cơ sở thực tập, thực hành, đặc biệt

có ngành đã liên hệ với các cơ sở sản xuất ngoài trường để cho sinh viên thực tập, tham quan làm quen với thực tế liên hệ làm sáng tỏ giữa kiến thức được trang bị trong nhà trường với thực tiễn

Trang 26

Nhìn chung các khối kiến thức được trang bị cho sinh viên ở Trường đại học sư phạm kỹ thuật có mối quan hệ khăng khít với nhau, hỗ trợ cho nhau giữa các môn học phù hợp với mục tiêu của quá trình đào tạo trong từng ngành học, từng bậc học

1.3.3 Vị trí của môn học cơ ứng dụng ở Trường đại học sư phạm kỹ thuật

- Môn học cơ ứng dụng nhằm cung cấp cho sinh viên những kiến thức tính toán và phân tích lực tác dụng lên kết cấu, chịu lực khi xem xét vật kết cấu là vật rắn lý tưởng Trên cơ sở đó khi kết cấu là vật rắn thực (vật chất thực) thì sinh viên phải xác định được các yếu tố cần thiết cho kết cấu đó để sao cho dưới tác dụng của hệ lực đã phân tích trên không bị phá huỷ Đó là các yếu tố như độ bền, độ cứng và các kích thước cần có của kết cấu

Môn học còn cung cấp các kiến thức về động học chất điểm, động học vật rắn, động lực học vật rắn, các cơ cấu thường được ứng dụng trong ngành chế tạo cơ khí

Đây là môn học khoa học bán thực nghiệm thuộc khối kỹ thuật cơ sở trong các trường đại học nhằm cung cấp những kiến thức cần thiết về tác dụng cơ học để giải quyết các vấn đề thực tế liên quan tới các khâu từ thiết kế đến chế tạo và để phục vụ cho việc nghiên cứu các môn học chuyên ngành khác trong lĩnh vực cơ khí và xây dựng

Ngày nay do sự bùng nổ thông tin thường xuyên trong kỹ thuật và đời sống đẫ làm nảy sinh mâu thuẫn giữa quỹ thời gian với nội dung cần truyền

đạt nên việc áp dụng các biện pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng là một vấn đề cần quan tâm

- Môn học cơ ứng dụng được trang bị những kiến thức hoàn toàn mới mẻ

đối với sinh viên trong năm học thứ hai của khoá học và được kết hợp, rút gọn

từ các môn học: cơ lý thuyết, sức bền vật liệu, cơ sở nguyên lý máy trong những năm trước đây, do yêu cầu quỹ thời gian đào tạo Do đó việc tiếp thu

Trang 27

kiến thức, áp dụng thực tiễn của môn học là một vấn đề thật khó khăn cho thầy và trò để nâng cao chất lượng dạy và học

1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học ở Trường đại học sư phạm kỹ thuật

1.4.1 Các yêu tố bên trong

a) Giáo viên

Luật giáo dục khẳng định rằng: "Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục" muốn có chất lượng đào tạo học sinh tốt thì chúng ta phải có lực lượng giáo viên tốt và ngược lại Vậy để nâng cao chất lượng dạy học ở trường, giáo viên phải giỏi về chuyên môn nghề nghiệp, có

kỹ năng, kỹ xảo, có kinh nghiệm và sự tinh thông nghề nghiệp Năng lực chuyên môn cuả giáo viên không phải chỉ bó hẹp trong các tài liệu, sách vở, giáo trình, không chỉ thuần tuý trong phần nội dung kiến thức mình đảm nhiệm, mà cần phải có kiến thức, kinh nghiệm thực tế trong lao động sản xuất Ngoài ra cần phải biết thêm kiến thức về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá Những kiến thức này giúp cho giáo viên được tầm nhìn nghề nghiệp, nhận biết

được xu thế phát triển của nghề nghiệp, truyền đạt và gây được uy tín cảm phục trước học sinh giáo viên phải là tấm gương cho học sinh noi theo

b) Chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng dạy học chương trình đào tạo chỉ đạo về thời gian, nội dung, kiến thức do vậy nó ảnh hưởng đến chất lượng dạy học, gồm phương thức kiểm tra đánh giá, cách học

và cách dạy trong nhà trường

Chương trình đào tạo theo các chuyên gia việc nghiên cứu, xây dựng cho hợp lý phù hợp với đối tượng, khu vực, vùng miền, ngành nghề , môn học là một vấn đề không đơn giản, quá trình xây dựng góp ý , sửa đổi cho phù hợp

Trang 28

với tình hình phát triển của nhu cầu phát triển nhân lực của xã hội (người học, người dạy, người tuyển dụng lao động, các tổ chức tôn giáo, chính trị xã hội)

Cụ thể trong một nhà trường Chương trình đào tạo là những điều được dạy trong nhà trường là tập hợp các môn học theo một lô gíc tuần tự phù hợp với quá trình đào tạo

- Kế hoạch dạy học bao gồm học cái gì, và dạy cái gì? tiêu chuản quyết

định của mục tiêu học tập và nội dung trong một Chương trình đào tạo là tầm quan trọng của nó cho hoàn cảnh sống, tương lai của người học chúng không phải là dự định trước duy nhất qua hệ thống các môn học Khái niệm này cũng được hiểu từ sự phê phán ở quá tải về nội dung của Chương trình đào tạo truyền thống Chương trình đào tạo đã liệt kê nội dung học tuy phù hợp với hệ thống chuyên môn và các môn học cụ thể nhưng không rõ ràng: Để làm gì và với mục tiêu nào, nội dung này cần được học?

- Theo nghị định 43/CP Chương trình đào tạo là văn bản cụ thể hoá mục tiêu giáo dục, quy định phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp, hình thức hoạt động dạy học, chuẩn mực và cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và toàn bộ một bậc học, cấp học, trình độ đào tạo

Tại sao Chương trình đào tạo có vai trò cực kỳ quan trọng đối với chất lượng đào tạo?

Trước hết Chương trình đào tạo xét về mặt nội dung phản ánh nội dung các môn học mà nhà trường cần truyền đạt cho học sinh Chương trình này phải thoả mãn của 3 nhóm đối tượng khác nhau Học sinh và gia đình, người

sử dụng lao động (doanh nghiệp) và xã hội nói chung Thông qua 3 nhóm đối tượng này khác nhau về kỳ vọng và niềm tin nên một Chương trình đào tạo thường phải giải quyết những mâu thuẫn có thể có giữa 3 nhóm đối tượng trên

Trang 29

Theo quan niệm của thế giới Chương trình đào tạo còn phải phản ánh phương pháp dạy, phương pháp thi kiểm tra đánh giá chất lượng dạy học và các điều kiện đảm bảo Chương trình đào tạo được thực hiện đúng như thiết kế Kết cấu giữa các môn học, nội dung của chúng trong Chương trình đào tạo thời lượng và phương pháp tổ chức thực hiện phù hợp thuộc vào trình độ mà khoá đào tạo cung cấp Một chương trình trung học chuyên nghiệp phải khác với một chương trình cao đẳng hay đại học, ở mục tiêu, nội dung, thời lượng

và phương pháp đo lường đánh giá

Nếu Chương trình đào tạo được xây dựng không phù hợp sẽ ảnh hưởng

đến chất lượng đầu ra trong thời gian, trước mắt và lâu dài, có thể nói mọi cuộc cải cách giáo dục có thể thất bại nếu chương trình đào tạo không được quan tâm đúng mức

Bên cạnh ảnh hưởng của Chương trình đào tạo đến chất lượng đào tạo nó còn là động cơ thúc đẩy các hoạt động liên quan trong nhà trường.Từ cơ cấu

bộ máy đến việc tuyển dụng giáo viên, từ việc lập kế hoạch đào tạo cho đến các hoạt động dịch vụ khác trong trường như thư viện, phòng đào tạo, quản lý học sinh, sinh viên và đến các mối quan hệ với bên ngoài trong xã hội

Qua những quan điểm trên đây, ta thấy nội dung Chương trình đào tạo là một nhân tố hết sức quan trọng trong quá trình đào tạo Để quá trình đào tạo

đạt chất lượng thì nhà trường cần chọn cho mình đúng mục tiêu cũng như nội dung đào tạo

c) Phương pháp giảng dạy

Theo quan điểm lý luận dạy học chuyên ngành, phương pháp trong giờ học theo cấu trúc con đường nhận thức được thể hiện như sau: {28 Tr50}

Trang 30

là yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công trong bài giảng Chính vì vậy, phương pháp giảng dạy cũng là một yếu tố không thể thiếu được trong quá trình nâng cao chất lượng dạy học

d) Cơ sở vật chất

Trong những năm gần đây, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, việc áp dụng sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghệ không chỉ riêng trong lĩnh vực cơ sở sản xuất sản phẩm xã hội mà còn đi sâu vào lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu việc tăng quy mô đào tạo, nâng cao chất lượng dạy học đỏi hỏi phải có sự tăng cường về đội ngũ giáo viên có chất lượng và cơ sở vật chất dùng cho đào tạo.Việc đầu tư trang thiết bị cho dạy học đang còn là một vấn đề cần quan tâm, cả về số lượng, chủng loại phù hợp cho các ngành nghề đào tạo và con người vận hành và sử dụng nó

Để đào tạo được người kỹ thuật viên vừa có tri thức và kỹ năng nghề nghiệp, điều không thể thiếu được là cơ sở vật chất trong nhà trường phục vụ cho công tác đào tạo gồm: phòng học trang thiết bị dạy học, nhà xưởng… để

đảm bảo thực hiện tốt nội dung mục tiêu của chương trình đào tạo Nếu muốn

Trang 31

nâng cao năng lực thực hành cho học sinh, cơ sở thực tập với các trang thiết bị phù hợp là điều kiện quan trọng để nâng cao tay nghề cho giáo viên và học sinh

1.4.2 Các yếu tố bên ngoài

Đây là những yếu tố tác động từ bên ngoài môi trường, xã hội vào làm thay đổi chất lượng đào tạo, mỗi xã hội có một điều kiện hoàn cảnh cụ thể, con người sống trong một môi trường phải dần làm quen và thích nghi với môi trường ấy Chính vì vậy việc đào tạo ở trường đại học sư phạm kỹ thuật Vinh cũng có tác động không nhỏ từ bên ngoài làm ảnh hưởng tới chất lượng

a) Điều kiện kinh tế xã hội

Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa nền giáo dục bị chi phối mạnh mẽ bởi quy luật chung trong đó nền kinh tế thị trường cạnh tranh là một quy luật tất yếu, thúc đẩy sự cố gắng của mỗi tổ chức cá nhân phấn đấu nhằm đạt được hiệu quả cao Mặc dù giáo dục chưa bị thương mại hoá nhưng vẫn bị chi phối bởi quy luật cạnh tranh Để có thể tìm được việc làm thích hợp với mức lương như mong muốn, mỗi học sinh sau khi tốt nghiệp ra trường đều phải tự khẳng định mình về đáp ứng được nhu cầu về công việc của xã hội, thích nghi được với cường độ lao động trong công việc

Để có được thu nhập xứng đáng với công sức mình bỏ ra, mỗi người học đều phải chứng minh được khả năng làm việc độc lập thực sự của mình Đó cũng

là một hình thức gián tiếp khẳng định chất lượng đào tạo của nhà trường Những người đáp ứng nhanh nhất, hiệu quả nhất nhu cầu của nơi làm việc thì

sẽ nhanh chóng tìm được việc làm và thu nhập phù hợp Để đáp ứng được nhu cầu đó mỗi người học cần phải không ngừng học tập, bồi dưỡng, rèn luyện để nâng cao kiến thức, năng lực nghề nghiệp cũng như phẩm chất đạo đức, lối sống hoà nhập vào môi trường công tác

Trang 32

- Để đáp ứng được nhu cầu đó mỗi người học cần phải không ngừng học tập, bồi dưỡng rèn luyện để nâng cao kiến thức, năng lực nghề nghiệp cũng như những phẩm chất, đạo đức của mình nhằm đáp ứng được yêu cầu của công việc

b) Sự phát triển của khoa học công nghệ

Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đa dạng và sẽ phát triển không ngừng và sẽ có những bước nhảy vọt trong thế kỷ XXI Thế giới chuyển từ kỷ nguyên năng lượng sang kỷ nguyên thông tin và phát triển nền kinh tế tri thức Sự thay đổi đó tác động tới tất cả các lĩnh vực làm biến đổi nhanh chóng

và sâu sắc tới đời sống vật chất cũng như tinh thần của xã hội Đồng thời cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ là sự ra đời của hàng loạt những kiến thức mới đòi hỏi phải được đưa vào chương trình đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển tri thức và nguồn nhân lực cho xã hội

c) Sự phát triển của khoa học giáo dục

Khoa học giáo dục nghề nghiệp là lĩnhvực khoa học còn mới mẻ nhưng

đã và đang phát triển, xác định những phạm trù, những quy luật xây dựng Những phương pháp nghiên cứu thích hợp để trở thành một ngành khoa học Trong thời kỳ hiện nay, khoa học giáo dục đang có xu hướng đa dạng hoá về mục tiêu và nội dung chương trình đào tạo

Cùng với sự phát triển của các ngành khoa học khác Khoa học giáo dục nghề nghiệp ngày càng phát triển và càng được quan tâm nhiều hơn Khi khối lượng kiến thức của nhân loại ngày càng nhiều vấn đề lựa chọn mục tiêu, nội dung kiến thức và phương pháp giảng dạy là rất quan trọng Ngày nay chúng

ta có rất nhiều phương pháp phương tiện và thiết bị mới giúp cho việc giảng dạy rút ngắn được thời gian hơn nữa vẫn đạt hiệu quả hơn Trong thời gian vài năm trở lại đây, người ta bắt đầu coi trọng công nghệ dạy học Công nghệ đó góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất và hiệu quả lao động của

Trang 33

người dạy và nâng cao được năng lực sáng tạo, ý thức tự lập và hiệu suất học tập của người học

d) Sự hội nhập quốc tế

Nhân loại đang sống trong những năm tháng của thời kỳ bùng nổ thông tin và cuộc cách mạng khoa học công nghệ Những thành tựu mà chúng đem lại cho loài người là những kết quả vô cùng to lớn về kinh tế Sự tiến bộ về khoa học, công nghệ làm cho sự phân hoá ngày càng sâu sắc hơn và buộc các nước trên thế giới phải xích lại gần nhau hơn Các nước muốn cạnh tranh về kinh tế thì bắt buộc phải hội nhập với các nước khác về mọi mặt Kinh tế, văn hoá, pháp luật khoa học kỹ thuật và đặc biệt là giáo dục

Sự hội nhập quốc tế trong lĩnh vực giáo dục là vô cùng quan trọng Nó góp phần cho sự hội nhập và phát triển về khoa học kỹ thuật về văn hoá cũng như kinh tế Hội nhập giáo dục là xu thế tất yếu không thể thiếu được trong thời kỳ hiện nay Để có sự hội nhập thành công trong giáo dục, đào tạo chúng

ta cần phải có những bước đột phá trong đào tạo, nâng cao chất lượng dạy học ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới Cụ thể ở Trường Đại học sư phạm kỹ thuật Vinh trong 5 năm lại đây dưới sự hỗ trợ, chỉ đạo của các

bộ, ngàng đã không ngừng phát triển nâng cao mối quan hệ với các nước trong lĩnh vực và trên thế giới Giảng viên trong nhà trường để được cử đi học, đi tham quan, nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục ở các nước như: Hàn Quốc,

Đức, Thái Lan… cùng với việc tham quan học tập kinh nghiệm, khoa học giáo dục là sự tiếp cận, hỗ trợ trang thiết bị dạy học cho nhà trường

* Kết luận chương 1

Chất lượng dạy và học là một vấn đề phức tạp do bản chất khái niệm chất lượng là gì? Những tiêu chí đặt ra cho việc khảo sát chất lượng dạy và học

Đây là mối quan tâm không chỉ riêng tại trường đại học sư phạm kỹ thuật vinh

mà còn ở tất cả các trường đào tạo Vấn đề này đã được đưa ra không chỉ

Trang 34

trong các cuộc họp mà còn tổ chức các buổi toạ đàm, trao đổi kinh nghiệm từ

tổ chức bé nhất đó là tổ môn mà còn tới cả tổ chức cao nhất là bộ và ngành

Mỗi người, mỗi tổ chức đều có cách nhìn nhận khác nhau về chất lượng dạy và học, chất lượng giáo dục, đào tạo do niềm tin, kỳ vọng văn hoá, trình

độ nhận thức nên việc đánh giá thường mang ý muốn chủ quan và dễ chịu ảnh hưởng bởi dư luận Sinh viên ra trường sau khi học xong có việc làm ngay nhờ

có kỹ năng thực hành, năng lực lý thuyết đó chưa phải là điều kiện đủ để kết luận chất lượng dạy và học ở trường tốt Nếu sinh viên đó trong suốt cuộc đời làm việc không có khả năng học tập suốt đời khi công nghệ tại cơ sở làm việc lại thay đổi thì dễ bị đào thải, thất nghiệp trong tương lai, mặt khác có việc làm ngay hay không và hưởng mức lương nào lại còn tuỳ thuộc vào việc làm sẵn có hay không hay nói cách khác là còn phụ thuộc vào nhu cầu thị trường lao động và sự chấp nhận việc trả giá của thị trường lao động

Tóm lại chất lượng dạy và học nói riêng, chất lượng giáo dục nói chung

là vấn đề phụ thuộc rất nhiều vào tiềm lực kinh tế đất nước, ý thức và văn hoá của người học, người dạy và các nhà quản lý, cũng như phụ thuộc vào quan niệm về một triết lý giáo dục cho số đông hay cho một thiểu số, cho những người có điều kiện về kinh tế hay địa vị xã hội và đặc biệt nó còn phụ thuộc vào cả định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Chung quy lại chất lượng được coi là đạt yêu cầu nếu thoả mãn cả 3 đòi hỏi từ xã hội (nguyện vọng học tập của xã hội, giảm thất nghiệp, tăng việc làm, xã hội ổn định văn minh…) doanh nghiệp (ngành nghề trình độ, kỹ năng kiến thức và thái độ) và của người dân

Trang 35

Chương II Thực trạng dạy và học môn học cơ ứng dụng

ở Trường đại học sư phạm kỹ thuật Vinh

2.1 Khái lược về Trường đại học sư phạm kỹ thuật Vinh

Trường đại học sư phạm kỹ thuật Vinh đến nay đã trải qua 45 năm xây dựng và trường thành Từ trường công nhân kỹ thuật của Bộ công nghiệp nặng năm (1960) đến nay (tháng 4 năm 2006) đã được nâng lên thành trường Đại học sư phạm kỹ thuật Vinh, thuộc Bộ lao động thương binh và xã hội Ngành nghề đào tạo chủ yếu trong nhà trường cho tới nay là: Cơ khí chế tạo, cơ khí

động lực, điện, điện tử, tin học phục vụ cho nhu cầu nhân lực chủ yếu cho khu vực miền trung Bao gồm các hệ công nhân, cao đẳng và nay bắt đầu đào tạo

đại học với các ngành cơ bản: cơ khí, chế tạo, điện, điện tử và công nghệ thông tin

2.1.1 Cơ cấu bậc học (khung chương trình giáo dục cao đẳng khối

ngành công nghệ)

Theo quyết định số 4980/QĐ-BGD&ĐT ngày 02 tháng 01 năm 2000 do

Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo ký về chương trình khung cho các ngành

đào tạo trình độ đại học, cao đẳng Khung chương trình, chương trình khung, chương trình đào tạo đã được xây dựng (bảng 2.1; 2.2)

Trường cao đẳng sư phạm kỹ thuật Vinh (nay là Trường đại học sư phạm

kỹ thuật Vinh) đào tạo kỹ thuật viên và giáo viên dạy nghề có trình độ cao

đẳng, có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành về một ngành nghề (có tay nghề tương đương 4/7 - theo tiêu chuẩn cũ) có khả năng giải quyết những vấn đề tương đương, thuộc chuyên ngành được đào tạo, có trình độ sư phạm

kỹ thuật (đối với giáo viên dạy nghề) và có phẩm chất chính trị , đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ

Trang 36

quốc Thời gian đào tạo từ 3 đến 4 năm khối kiến thức trong khung chương trình gồm:

- Trình độ cao đẳng (kỹ thuật viên bậc cao) 150 đơn vị học trình

- Trình độ cao đẳng (giáo viên dạy nghề) 180 đơn vị học trình

Trong đó:

- Khối kiến thức giáo dục đại cương 60 đơn vị học trình

- Khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp: 90 đơn vị học trình

- Khối kiến thức sư phạm (danh cho GVDN) 30 đơn vị học trình

(ĐVHT)

Khối lượng kiến thức đại cương (ĐVHT)

Khối lượng kiến thức sư

phạm (ĐVHT)

Toàn bộ (ĐVHT)

Cơ sở ngành và ngành

Thực tập

Tốt nghiệp

KTV 3 150 60 90 68 27 5 GVDN 3,5 180 60 30 90 68 27 5 Bảng 2.2 Sơ đồ xây dựng khung chương trình, chương trình khung và chương trình đào tạo

Trang 37

Cơ cấu

hệ thống giáo dục

Thực tiễn kinh tế xã hội

Phân công lao

động xã

hội

Yêu cầu chủ động xã hội

Yêu cầu tính liên thông

Khung chương trình

Chương trình

đào tạo

Quá trình

đào tạo

Hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng

Tốt nghiệp

Trang 38

Những bất cập trong đào tạo

Khi áp dụng khung chương trình đào tạo trên đã nảy sinh ra nhiều bất cập bởi vì Trường đại học sư phạm kỹ thuật Vinh, đào tạo kỹ thuật viên và giáo viên dạy nghề có trình độ cao đẳng, có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành về một ngành nghề (có tay nghề tương đương 4/7) và cókiến thức sư phạm kỹ thuật (đối với GVDN) để đào tạo ra CNKT lành nghề Do vậy ngoài kiến thức về lý thuyết GVHN phải có tay nghề nhất định mới đảm đương được công việc ngoài xã hội Song khung chương trình của bộ quy định thời lượng thực tập quá ít (27 ĐVHT) so với mục tiêu đặt ra là đạt tay nghề 4/7.Bên cạnh

đó thời gian đào tạo rút ngắn lại so với trước đây Đứng trước tình hình đó trường đại học sư phạm kỹ thuật Vinh thông qua các hội thảo đã đưa ra và thực thi theo khung chương trình sau:

(ĐVHT)

Khối lượng kiến thức đại cương (ĐVHT)

Khối lượng kiến thức sư

phạm (ĐVHT)

Toàn bộ (ĐVHT)

Cơ sở ngành và ngành

Thực tập

Tốt nghiệp

KTV 3 158 55 103 62 36 5 GVDN 3,5 186 55 28 103 62 36 5 Khung chương trình chưa phải đã giải quyết hết các vấn đề vì mỗi nghề vẫn đang có một đặc thù riêng

2.1.2 Cơ cấu ngành nghề

a) Cơ cấu ngành: (đào tạo đại học và đại học ngắn hạn (cao đẳng))

Trang 39

Theo quyết định số 2301/QĐLB ngày 22 tháng 12 năm 1990 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã ký công bố danh mục các ngành đào tạo đại học trong nước Danh mục ngành

đào tạo được lập bao gồm 127 ngành thuộc 34 nhóm ngành Mỗi ngành đào tạo có một mã số riêng

Trước đây, trong các bản danh mục được công bố ở nước ta cũng như ở một số nước khác, ngành đào tạo còn được chia ra các chuyên ngành, chuyên ngành là sự cụ thể hoá tập hợp kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo được định hướng sử dụng trong một phạm vi hạn chế thuộc khung lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp của ngành đào tạo Sự phân hoá về nội dung đào tạo giữa các chuyên ngành của cùng một ngành trong giới hạn 20% kiến thức, kỹ năng của ngành

Hiện nay đối với xu hướng đào tạo theo diện rộng, chuyên ngành chỉ là

định hưởng bước đầu nhằm tạo điều kiện để người tốt nghiệp sớm phát huy công việc phù hợp với định hướng đó Trong trường hợp người tốt nghiệp đảm nhận một công việc không đúng với chuyên ngành nhưng vẫn thuộc ngành

đào tạo, họ vẫn có khả năng tự thích nghi được mà không phải đào tạo theo chuyên ngành khi nắm bắt được nhu cầu của xã hội về các chuyên ngành đó

- Bộ giáo dục và đào tạo chỉ quản lý nhóm ngành và ngành đào tạo

- Đối với hệ đại học ngắn hạn (cao đẳng) đào tạo cũng theo danh mục trên

- Căn cứ quyết định số 2623/1999/QĐ-BGD-ĐT-ĐH ngày 24 tháng 7 năm 1999 cho phép Trường cao đẳng Sư phạm kỹ thuật Vinh (nay là Đại học sư phạm kỹ thuật Vinh) mở các ngành đào tạo sau:

1 Cơ khí: - Chế tạo máy Mã số: 18.01.11

- Động lực Mã số: 18.02.11

- Cơ điện Mã số: 18.04.21

Trang 40

2 Kỹ thuật điện:

- Điện khí hoá và cung cấp điện Mã số 20.04.11

3 Kỹ thuật điện - điện tử Mã số: 20.06.11

- Danh mục ngành chưa được tiếp thị rộng rãi hoặc chưa thống nhất giữa nhu cầu xã hội, và nơi cung cấp (nhà trường) nên xảy ra tình trạng thiếu vẫn thiếu, thừa vẫn thừa cán bộ kỹ thuật Do đó người học chạy theo học ngành

"thị hiếu" trên thị trường làm cho công tác tuyển sinh hàng năm gặp rất nhiều khó khăn

b) Cơ cấu nghề (đào tạo CNKT, NVKT và nghiệp vụ)

Quyết định số 59/THCN-DN ngày 09 tháng 01 năm 1992 của Bộ trưởng

Bộ giáo dục và đào tạo và Tổng cục trưởng Tổng cục thống kê về việc ban hành danh mục nghề đào tạo công nhân kỹ thuật, nhân viên kỹ thuật và nghiệp

vụ của nước ta có 221 nghề thuộc 56 nhóm nghề Công văn số 796/TH-DN ngày 19 tháng 02năm 1992 của bộ giáo dục và đào tạo hướng dẫn sử dụng danh mục nghề đào tạo

Ngày đăng: 18/07/2017, 20:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đức H−ng (2004), Giáo dục Việt Nam h−ớng tới t−ơng lai và giải pháp, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam h−ớng tới t−ơng lai và giải pháp
Tác giả: Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đức H−ng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
3. Nguyễn Đức Chính (2002), Kiểm định chất l−ợng trong giáo dục Đại học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm định chất l−ợng trong giáo dục Đại học
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
4. Lưu Bản Cố (2001), Lý luận và thực tiễn của đánh giá giáo dục, NXB TriÕt Giang Trung Quèc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thực tiễn của đánh giá giáo dục
Tác giả: Lưu Bản Cố
Nhà XB: NXB TriÕt Giang Trung Quèc
Năm: 2001
5. Đỗ Ngọc Đạt (2002), Tiếp cận hoạt động dạy học hiện đại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận hoạt động dạy học hiện đại
Tác giả: Đỗ Ngọc Đạt
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
6. Trần Khánh Đức (2002), S− phạm kỹ thuật. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: S− phạm kỹ thuật
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
7. Nguyễn Ngọc Bảo - Trần Kiểm (2005), Lý luận dạy học ở tr−ờng trung học cơ sở, NXB Đại học S− phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học ở tr−ờng trung học cơ sở
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo - Trần Kiểm
Nhà XB: NXB Đại học S− phạm
Năm: 2005
8. Trần Thị Tuyết Oanh và tập thể tác giả (2006), Giáo trình giáo dục học, NXB Đại học S− phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giáo dục học
Tác giả: Trần Thị Tuyết Oanh và tập thể tác giả
Nhà XB: NXB Đại học S− phạm
Năm: 2006
9. Phạm Viết V−ợng (2000), Giáo dục học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Tác giả: Phạm Viết V−ợng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
10. Phạm Minh Hạc (14/7/2004), Chất l−ợng giáo dục và giải pháp nâng cao chất l−ợng giáo dục, WWW.edu.vnn.Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất l−ợng giáo dục và giải pháp nâng cao chất l−ợng giáo dục
11. Nguyễn Đức Trí (1995), Nghiên cứu ứng dụng phương pháp đào tạo nghề theo mô đun kỹ năng hành nghề, Viện chiến l−ợc và nghiên cứu ch−ơng trình giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng ph−ơng pháp đào tạo nghề theo mô đun kỹ năng hành nghề
Tác giả: Nguyễn Đức Trí
Năm: 1995
12. Nguyễn Minh Đ−ờng (2000), Đào tạo Giáo viên dạy nghề trong bối cảnh lịch sử mới, Kỹ yếu hội thảo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo Giáo viên dạy nghề trong bối cảnh lịch sử mới
Tác giả: Nguyễn Minh Đ−ờng
Năm: 2000
13. Phạm Minh Hạc (6/2001), Về chiến l−ợc phát triển sự nghiệp dạy và truyền nghề, Tạp chí giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chiến l−ợc phát triển sự nghiệp dạy và truyền nghề
14. Nguyễn Thị Hiền (1998), Bài giảng tổ chức quá trình dạy học, Tr−ờng Cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng tổ chức quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Năm: 1998
15. Hà Thế Ngữ (2001), Giáo dục học - Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học - Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn
Tác giả: Hà Thế Ngữ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
16. Lê Văn Hồng (1998), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học S− phạm, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học S− phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
17. Lê Văn Giang (2001), Những vấn đề lý luận cơ bản của khoa học giáo dục, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận cơ bản của khoa học giáo dục
Tác giả: Lê Văn Giang
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
18. Đảng cộng sản Việt Nam - Văn kiện đại hội Đảng lần thứ IX, NXB chính trị quốc gia - Hà Nội (2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản Việt Nam - Văn kiện đại hội Đảng lần thứ IX
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia - Hà Nội (2001)
19. Phạm Viết V−ơng (1995), Ph−ơng pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, Vụ đại học, Bộ GD & ĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph−ơng pháp nghiên cứu khoa học giáo dục
Tác giả: Phạm Viết V−ơng
Năm: 1995
21. Tô Xuân Giáp (2001) Ph−ơng tiện dạy học - NXB giáo dục - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph−ơng tiện dạy học
Nhà XB: NXB giáo dục - Hà Nội
1. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2000), Nghị định của Chính phủ số 43/2000/NĐ-CP ngày 30/8/2000 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w