Luận văn nghiên cứu cơ sở luận về quá trình liên kết với Doanh nghiệp trong đào tạo nghề; xem xét đến thực trạng liên kết đào tạo nghề Công nghệ dệt với doanh nghiệp tại trường Cao đẳn
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập chuyên ngành Sư phạm kỹ thuật, chuyên sâu Quản lý đào
tạo nghề; được các thầy cô giáo các Vụ, Viện của Bộ Giáo dục- Đào tạo; Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội - Tổng cục Dạy nghề; Viện Sau đại học; Viện Sư phạm kỹ thuật
- Đại học Bách khoa Hà Nội; đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của PGS TS Vũ Thị
Hồng Khanh, học viên đã hoàn thành cơ bản Luận văn
Luận văn nghiên cứu cơ sở luận về quá trình liên kết với Doanh nghiệp trong đào
tạo nghề; xem xét đến thực trạng liên kết đào tạo nghề Công nghệ dệt với doanh nghiệp
tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex; từ đó tìm ra một số giải pháp để
tăng cường mối liên kết với Doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề
Để làm sáng tỏ được nội dung trên, xin trân trọng cảm ơn PGS.TS.Vũ Thị Hồng
Khanh đã trực tiếp hướng dẫn học viên hoàn thành luận văn này Cảm ơn các trang
mạng Tổng cục Dạy nghề, Tập đoàn Dệt – May Việt Nam; Bộ Lao động Thương binh
và Xã hội đã giúp học viên tra cứu các văn bản pháp luật, các tư liệu chuyên ngành làm
cơ sở cho luận văn Cảm ơn các bài báo, sách chuyên ngành - nguồn tài liệu quý giá từ
các thầy cô đã trao giảng trong quá trình học tập Cảm ơn các phòng, khoa chức năng tại
trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex đã giúp học viên điều tra, tìm hiểu,
cập nhật các số liệu làm minh chứng cho luận văn
Quá trình nghiên cứu, luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, kính mong
sự chỉ dẫn và góp ý của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để có thể ứng
dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế đào tạo tại các trường nghề nói chung và đào tạo
nghề dệt tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex nói riêng
Xin trân trọng cảm ơn!
Nam Định, ngày tháng năm 2013
Trần Thị Hương
Formatted
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác, mọi sự giúp đ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một Hội đồng bảo vệ Luận văn Thạc sỹ nào và chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan ở trên đây
Nam Định, ngày tháng năm 2013
Trần Thị Hương
Trang 3Chương 1: Cơ sở lý luận về quá trình liên kết giữa trường và doanh nghiệp trong
đào tạo nghề
10
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đào tạo nghề 18
1.5 Liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề 21
1.5.3 Một số mô hình liên kết giữa trường dạy nghề và doanh nghiệp trên thế giới 30
1.5.4.Tăng cường kiên kết giữa trường và doanh nghiệp để nâng cao chất lượng
đào tạo nghề
31
Chương 2: Phân tích thực trạng quá trình liên kết giữa trường và doanh nghiệp
trong đào tạo nghề dệt
33
2.1.1 Lịch sử phát triển các cơ sở đào tạo nghề tại Việt Nam 33
Formatted Table
Trang 42.1.6 Tài chính cho đào tạo nghề 38 2.2 Thực trạng công tác đào tạo nghề tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex
Chương 3: Các giải pháp liên kết đào tạo nghề dệt giữa trường và doanh nghiệp 66
3.1.1 Hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp là mối quan hệ biện chứng giữa người cung cấp và người sử dụng sản phẩm
66
3.1.3 Quan điểm, mục tiêu và giải pháp phát triển đào tạo nghề đến năm 2015 67 3.2 Các giải pháp liên kết giữa trường với doanh nghiệp 71 3.2.1 Nhóm giải pháp áp dụng cho cấp cơ sở (trường, doanh nghiệp và người học nghề)
3.3.4 Giải pháp liên kết để giới thiệu việc làm cho sinh viên sau khi ra trường 80
3.3.5 Thường xuyên hoàn thiện và đổi mới quy chế nội bộ về hoạt động liên kết với doanh nghiệp trong đào tạo nghề dệt; đề xuất kiến nghị với Tập đoàn Dệt May
để mở rộng tuyển sinh nghề dệt và có cơ chế liên kết thuận lợi
81
Trang 5LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ 6
DANH MỤC CÁC HÌNH………
DANH MỤC CÁC BẢNG 7
MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG I: Cơ sở lý luận về liên kết giữa trường ……….10
và doanh nghiệp trong đào tạo ………
1.1 Đào tạo nghề và các hình thức đào tạo nghề
1.1.1 Đào tạo nghề………
1.1.2 Các hình thức đào tạo nghề………
1.1.2.1 Phân loại………
1.1.2.2 Các hình thức đào tạo nghề phổ biến………
1.2 Đào tạo nghề Công nghệ dệt………
1.2.1 Nghề Công nghệ dệt………
1.2.2 Đào tạo nghề Công nghệ dệt………
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đào tạo nghề
1.3.1.Yếu tố bên trong
1.3.2 Các yếu tố bên ngoài
1.4 Liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề
1.4.1 Các nội dung và hình thức liên kết
1.4.1.1 Liên kết về tổ chức đào tạo
1.4.1.2 Liên kết về tài chính và cơ sở vật chất
1.4.1.3 Liên kết về nhân sự
1.4.1.4 Liên kết về thiết kế và xây dựng chương trình đào tạo
1.4.1.5 Liên kết về thông tin
1.4.2 Thiết lập mối liên kết giữa trường và doanh nghiệp
1.4.2.1 Thiết lập quan hệ về tổ chức
1.4.2.2 Thiết lập mức độ liên kết
1.4.3 Một số mô hình liên kết giữa trường dạy nghề và doanh nghiệp trên thế giới
1.4.3.1 Đào tạo kết hợp theo mô hình “alternation”
1.4.3.2 Đào tạo kết hợp theo mô hình “dual system”
1.4.3.3 Mô hình đào tạo tuần tự
1.4.4 Tăng cường liên kết giữa trường và doanh nghiệp để nâng cao chất lượng đào
tạo nghề
Chương 2: Phân tích thực trạng quá trình liên kết giữa trường và doanh nghiệp
trong đào tạo nghề
2.1 Thực trạng hệ thống đào tạo nghề của Việt Nam
Formatted: Font: Bold
Formatted: Left
Trang 62.1.1 Lịch sử phát triển các cơ sở đào tạo nghề tại Việt Nam
2.1.2 Cơ cấu trình độ đào tạo nghề
2.1.3 Đội ngũ giáo viên dạy nghề
2.1.4 Chương trình, giáo trình dạy nghề
2.1.5 Cơ sở vật chất và thiết bị dạy nghề
2.1.6 Tài chính cho đào tạo nghề
2.2 Thực trạng công tác đào tạo nghề tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật
Vinatex
2.3 Thực trạng quá trình liên kết đào tạo nghề dệt với doanh nghiệp tại trường
Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex
2.3.1 Sơ lược về khoa Dệt - Sợi - Nhuộm
2.3.2 Đánh giá thực trạng hoạt động đào tạo nghề Dệt
2.3.3 Đánh giá theo các chỉ số trong quá trình liên kết đào tạo nghề dệt
2.3.4 Đánh giá chung về hình thức liên kết đào tạo nghề dệt tại trường
2.4 Một số nguyên nhân hạn chế sự liên kết giữa trường với doanh nghiệp
2.4.1 Nhóm nguyên nhân vĩ mô
2.4.2 Nhóm nguyên nhân vi mô
Chương 3: Các giải pháp liên kết đào tạo nghề dệt giữa trường và doanh nghiệp
3.1 Bối cảnh, định hướng phát triển đào tạo nghề
3.1.1 Thị trường lao động nghề dệt
3.1.2 Quan điểm, mục tiêu và giải pháp phát triển đào tạo nghề đến năm 2015
3.2 Các giải pháp liên kết giữa trường với doanh nghiệp
3.2.1 Nhóm giải pháp áp dụng cho cấp cơ sở (trường, doanh nghiệp và người học
nghề)
3.2.1.1 Giải pháp liên kết xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình, đổi mới phương
pháp đào tạo
3.2.1.2 Giải pháp tăng cường nguồn lực cho đào tạo nghề
3.2.1.3 Giải pháp liên kết tổ chức quá trình đào tạo
3.2.1.4 Giải pháp liên kết về thông tin – dịch vụ
3.2.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế, chính sách khuyến khích liên kết giữa trường
Trang 7DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Viết mục tiêu theo cấp độ nhận thức của Bloom 20
Biểu đồ 3.2 Thống kê số lượng các loại hình đào tạo nghề đến năm 2012 34
Biểu đồ 6.2 Thống kê trình độ giáo viên trường Cao đẳng nghề 36
Biểu đồ 7.2 Thống kê trình độ giáo viên trường Trung cấp nghề 36
Biểu đồ 8.2 Thống kê trình độ giáo viên Trung tâm Dạy nghề 36
Biểu đồ 9.2 Thống kê trình độ sư phạm của giáo viên dạy nghề 37
Biểu đồ 10.2 Đánh giá tổng hợp chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực ở
một số nước Châu Á
39
Biểu đồ 11.2 So sánh số lượng HSSV năm 2008 và 2012 40
Biểu đồ 12.2 Thống kê số lượng sinh viên Cao đẳng nghề tại trường 41
Biểu đồ 13.2 Số lượng HSSV Trung cấp nghề hàng năm 42
Biểu đồ 14.2 Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp kép Trung cấp nghề và văn hoá GDTX 42
Biểu đồ 15.2 Số lượng học viên Sơ cấp nghề hàng năm 43
Biểu đồ 16.2 Khảo sát mức độ đáp ứng yêu cầu sản xuất của chương trình
đào tạo nghề Dệt
46
Biểu đồ 17.2 Tổng hợp về học liệu, tài liệu, giáo trình nghề dệt 52
Biểu đồ 18.2 So sánh các nguồn thu tài chính năm 2010 và 2011 54
Biểu đồ 19.2 Tỷ lệ sinh viên nghề dệt có việc làm 57
Hình 1.1 Mô tả quá trình từ xơ tạo vải đến người tiêu dùng 15
Hình 2.1 Máy dệt vải bằng phương pháp thổi khí 16
Hình 3.2 Khuôn viên cơ sở 1 tại số 6 – Hoàng Diệu – TP Nam Định 54
Hình 4.2 Dự án xây dựng cơ sở đào tạo chất lượng cao 55
Hình 6.2 Máy dệt Picanol trong xưởng thực nghiệm dệt 56
Formatted Table
Formatted Table
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Thống kê số trường có đào tạo nghề dệt và loại hình đào tạo 16
Bảng 2.1 Trình tự xây dựng chương trình theo hướng liên kết với doanh
nghiệp
24
Bảng 3.2 Thực trạng trình độ tin học - ngoại ngữ của giáo viên 37
Bảng 4.2 Tổng hợp diện tích mặt bằng phòng học của các trường dạy nghề 38
Bảng 6.2 Tập hợp kết quả khảo sát về chương trình đào tạo nghề công
nghệ dệt
45
Bảng 7.2 Số lượng giáo viên khoa dệt tại trường Vinatex 46
Bảng 8.2 Số lượng giáo viên khoa dệt được đào tạo, bồi dư ng năm 2011 47
Bảng 9.2 Cơ cấu giáo viên phân theo trình độ giảng dạy nghề dệt 48
Bảng 10.2 Trình độ của cán bộ quản lý từ cấp tổ môn tại khoa dệt 49
Bảng 11.2 Tổng hợp về trang bị học liệu, tài liệu, giáo trình trình độ Cao
đẳng nghề công nghệ dệt
50
Bảng 12.2 Thống kê nguồn thu của trường năm 2010 và 2011 53
Bảng 13.2 Thống kê số lượng thiết bị phục vụ đào tạo nghề dệt 55
Bảng 14.2 Tổng hợp việc làm và thu nhập của học sinh tốt nghiệp nghề dệt 57
Bảng 15.2 Đánh giá về mức độ phù hợp giữa chuyên môn nghề dệt và việc
làm theo trình độ đào tạo
59
Bảng 16.2 Đánh giá của doanh nghiệp về mức độ đáp ứng yêu cầu công việc
của người được đào tạo
Bảng 20.3 Kế hoạch tuyển sinh dạy nghề giai đoạn 2009 – 2020 69
Bảng 21.3 Hoạt động liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp 74
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Viết mục tiêu theo cấp độ nhận thức của Bloom
Sơ đồ 2.2 Các yếu tố tác động đến đào tạo nghề
Biểu đồ 3.2 Thống kê số lượng các loại hình đào tạo nghề đến năm
2012
Formatted Table
Trang 9Biểu đồ 4.2 Thống kê lao động đã qua đào tạo
Biểu đồ 5.2 Thống kê cơ cấu cấp trình độ đào tạo
Biểu đồ 6.2 Thống kê trình độ giáo viên trường Cao đẳng nghề
Biểu đồ 7.2 Thống kê trình độ giáo viên trường Trung cấp nghề
Biểu đồ 8.2 Thống kê trình độ giáo viên Trung tâm Dạy nghề
Biểu đồ 9.2 Thống kê trình độ sư phạm của giáo viên dạy nghề
Biểu đồ 10.2 Đánh giá tổng hợp chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực ở
một số nước Châu Á
Biểu đồ 11.2 So sánh số lượng HSSV năm 2008 và 2012
Biểu đồ 12.2 Thống kê số lượng sinh viên Cao đẳng nghề tại trường
Biểu đồ 13.2 Số lượng HSSV Trung cấp nghề hàng năm
Biểu đồ 14.2 Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp kép Trung cấp nghề và văn hoá GDTX
Biểu đồ 15.2 Số lượng học viên Sơ cấp nghề hàng năm
Biểu đồ 16.2 Khảo sát mức độ đáp ứng yêu cầu sản xuất của chương
trình đào tạo nghề Dệt
Biểu đồ 17.2 Tổng hợp về học liệu, tài liệu, giáo trình nghề dệt
Biểu đồ 18.2 So sánh các nguồn thu tài chính năm 2010 và 2011
Biểu đồ 19.2 Tỷ lệ sinh viên nghề dệt có việc làm
Biểu đồ 20.2 Mức lương bình quân ngành dệt
Hình 1.1 Mô tả quá trình từ xơ tạo vải đến người tiêu dùng
Hình 2.1 Máy dệt vải bằng phương pháp thổi khí
Hình 3.2 Khuôn viên cơ sở 1 tại số 6 – Hoàng Diệu – TP Nam Định
Hình 4.2 Dự án đang thực hiện xây dựng cơ sở đào tạo chất lượng
cao tại quốc lộ 10 cách TP Nam Định 04 km
Hình 5.2 Phòng Thí nghiệm Dệt - Sợi - Nhuộm
Hình 6.2 Máy dệt Picanol trong xưởng thực nghiệm dệt
Hình 7.2 Thực tập trên máy xe sợi FADIT - Ý
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Thống kê số trường có đào tạo nghề dệt và loại hình đào tạo
Bảng 2.1 Trình tự xây dựng chương trình theo hướng liên kết với
doanh nghiệp
Bảng 3.2 Thực trạng trình độ tin học - ngoại ngữ của giáo viên
Bảng 4.2 Tổng hợp diện tích mặt bằng phòng học của các trường dạy
nghề
Trang 10Bảng 5.2 Thống kê số lượng HSSV tuyển mới
Bảng 6.2 Tập hợp kết quả khảo sát về chương trình đào tạo nghề công
nghệ dệt
Bảng 7.2 Số lượng giáo viên khoa dệt tại trường Vinatex
Bảng 8.2 Số lượng giáo viên khoa dệt được đào tạo, bồi dư ng năm
2011
Bảng 9.2 Cơ cấu giáo viên phân theo trình độ giảng dạy nghề dệt
Bảng 10.2 Trình độ của cán bộ quản lý từ cấp tổ môn tại khoa dệt
Bảng 11.2 Tổng hợp về trang bị học liệu, tài liệu, giáo trình trình độ
Cao đẳng nghề công nghệ dệt
Bảng 12.2 Thống kê nguồn thu của trường năm 2010 và 2011
Bảng 13.2 Thống kê số lượng thiết bị phục vụ đào tạo nghề dệt
Bảng 14.2 Tổng hợp việc làm và thu nhập của học sinh tốt nghiệp nghề
dệt
Bảng 15.2 Đánh giá về mức độ phù hợp giữa chuyên môn nghề dệt và
việc làm theo trình độ đào tạo
Bảng 16.2 Đánh giá của doanh nghiệp về mức độ đáp ứng yêu cầu công
việc của người được đào tạo
Bảng 17.2 Đánh giá của học sinh về mức độ đáp ứng yêu cầu công việc
sau khi tốt nghiệp
Bảng 18.2 Tổng hợp hình thức và mức độ liên kết của trường với doanh
nghiệp
Bảng 19.2 Dự báo nhu cầu lao động – việc làm của nền Kinh tế quốc
dân giai đoạn 2010 – 2015
Bảng 20.3 Kế hoạch tuyển sinh dạy nghề giai đoạn 2009 – 2020
Bảng 21.3 Hoạt động liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp
Trang 11MỞ ĐẦU:
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Những năm gần đây ngành Dệt May Việt Nam đã có sự tăng trưởng nhanh, xuất khẩu hàng dệt may luôn dẫn đầu trong nhóm các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam chỉ đứng sau dầu thô Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 55/2001/QĐ-
TT xác định: phát triển ngành Dệt, May trở thành một trong những ngành trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp không thể tuyển đủ công nhân để đảm bảo đơn hàng đã nhận dẫn đến tình trạng tranh giành lao động của nhau giữa các doanh nghiệp dệt may Đây là một nguyên nhân cơ bản khiến cho tỷ lệ di chuyển của lao động trong các doanh nghiệp dệt may luôn ở mức quá cao từ 18 ÷ 27 % (so với tổng
số lao động), thậm chí có doanh nghiệp dệt may mức biến động lên đến 30 ÷ 40%, tỷ lệ tuyển mới (so với tổng số lao động) trên mức 35% [ 1623 ]
Bên cạnh đó, hiện nay ở Việt Nam có rất nhiều trường dạy nghề đang thực hiện đào tạo nghề với quy mô tương đối lớn và cơ cấu ngành nghề phong phú Tuy nhiên rất nhiều sinh viên sau khi đã tốt nghiệp các trường dạy nghề vẫn không đáp ứng được yêu cầu công việc Một trong những nguyên nhân quan trọng của vấn đề này là do thiếu sự liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp trong đào tạo nghề
Tại khoản 4 điều 55 của Luật Dạy nghề đã khẳng định rất rõ doanh nghiệp được quyền tham gia một số hoạt động quan trọng trong hoạt động Dạy nghề Để doanh nghiệp có thể tham gia vào quá trình này cần có sự liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp Tuy nhiên, sự bất cập trong việc liên kết giữa doanh nghiệp và cơ sở dạy nghề là do Luật chưa quy định rõ cơ chế, chính sách quy định trách nhiệm giữa doanh nghiệp và cơ sở dạy nghề Do đó cần có các quy định, cơ chế góp phần giải quyết vấn
đề đào tạo theo nhu cầu xã hội, cụ thể là nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp về số lượng
và chất lượng Qua đó, khắc phục được tình trạng thiếu – thừa nhân lực trong đào tạo và
sử dụng; từng bước thu hẹp khoảng cách giữa sản phẩm đào tạo và nhu cầu thực tế; tạo được thế chủ động cho các cơ sở dạy nghề và cho các đơn vị sử dụng lao động
Đối với đào tạo nghề dệt, với số vốn đầu tư khá nhiều khi muốn trang bị các dây chuyền sản xuất hiện đại phục vụ cho quá trình đào tạo tại các trường nghề, vấn đề liên kết với doanh nghiệp trong đào tạo càng trở nên có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi nó sẽ giải quyết rất nhiều vấn đề mang tính khoa học, tính kinh tế, tính xã hội
Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của giảng viên hướng dẫn, với vai trò là một gi áoảng viên giảng dạy nghề dệt tại một trường cao đẳng nghề, học viên xin chọn
đề tài “Nghiên cứu quá trình liên kết với doanh nghiệp trong đào tạo nghề dệt tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex ” làm luận văn thạc sỹ cho mình
2 Mục đích nghiên cứu:
Quá trình nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích:
- Hệ thống một số vấn đề lý luận cơ bản về đào tạo nghề, quá trình liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề Qua đó giới thiệu một số phương pháp đào tạo nghề và mô hình liên kết đào tạo nghề phổ biến ở Việt Nam và một số nước trên thế giới;
Trang 12- Tập trung phân tích thực trạng và đưa ra những đánh giá, kết luận về quá trình liên
kết đào tạo nghề dệt tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex;
- Trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm tăng cường mối liên kết giữa nhà
trường và doanh nghiệp, giải quyết một phần bài toán nhân lực ngành dệt may hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu về lĩnh vực dạy nghề nói chung và dạy nghề dệt nói riêng,
trong đó chú trọng phân tích quá trình liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp
trong đào tạo nghề công nghệ dệt, tạo ra mối quan hệ cung - cầu hợp lý, mang lại hiệu
quả kinh tế và xã hội, làm cho quá trình đào tạo nghề thực sự có ý nghĩa đối với xã hội
Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về Dạy nghề và mối
liên kết với doanh nghiệp trong đào tạo nghề dệt tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ
thuật Vinatex, thuộc Tập đoàn Dệt - May Việt Nam, Bộ Công thương
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu, đánh giá thực trạng trong quá trình liên kết đào
tạo nghề dệt giữa nhà trường và doanh nghiệp trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm
2012, đề ra một số giải pháp cho giai đoạn tiếp theo.
4 Giả thuyết khoa học
Trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex được Tập đoàn Dệt – May giao
nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cung cấp cho nhu cầu sản xuất kinh doanh tại các
doanh nghiệp trong và ngoài Tập đoàn; trong đó ngành quan trọng và truyền thống là
đào tạo nghề dệt Mới chuyển đổi loại hình đào tạo từ trung cấp chuyên nghiệp sang đào
tạo nghề từ năm 2007, do số vốn đầu tư trang bị thiết bị đào tạo nghề dệt quá lớn nên
vấn đề hợp tác giữa trường với các doanh nghiệp dệt trong và ngoài tỉnh Nam Định là
một trong những giải pháp đào tạo mang tính chiến lược Tuy nhiên quá trình liên kết
đào tạo có những hạn chế nhất định như nội dung và hình thức hợp tác còn nghèo nàn,
mức độ hợp tác chưa cao, nhiều doanh nghiệp do bận rộn với công tác sản xuất nên
chưa thực sự “mở lòng” với trường; ngược lại trường cũng chưa xây dựng được một
chiến lược liên kết lâu dài, bài bản với doanh nghiệp Nếu nghiên cứu, đánh giá lại thực
trạng quá trình liên kết này và đề xuất được các biện pháp liên kết đào tạo để tăng
c ưừ ờng hợp tác giữa trường với doanh nghiệp trong đào tạo sẽ khắc phục được những
hạn chế nêu trên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề dệt tại trường Cao đẳng
nghề Kinh tế - Kỹ thuật nói riêng và các trường có đào tạo nghề dệt trong cả nước nói
chung
4.5 Phương pháp nghiên cứu:
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu:
- Sử dụng quan điểm tiếp cận thị trường: Đào tạo phải đáp ứng đựợc yêu cầu của
thực tiễn sản xuất, đào tạo nhân lực phải gắn với nhu cầu lao động của doanh nghiệp
- Sử dụng quan điểm hệ thống - cấu trúc và quan điểm lịch sử - thực tiễn: Vận dụng
trong việc đề ra một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường hợp tác giữa trường dạy
nghề với doanh nghiệp trong quá trình đào tạo nghề
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Formatted: Indent: Left: -0.2", First line: 0",
Numbered + Level: 1 + Numbering Style: 1, 2,
3, … + Start at: 5 + Alignment: Left + Aligned at: -0.38" + Tab after: -0.13" + Indent at: -0.13"
Formatted: Bullets and Numbering Formatted: Space Before: 0 pt, Line spacing:
Multiple 1.15 li
Formatted: Indent: Left: 0", First line: 0",
Right: 0", Line spacing: Multiple 1.15 li
Formatted: Left, No widow/orphan control,
Don't adjust space between Latin and Asian text, Don't adjust space between Asian text and numbers
Trang 13- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: sử dụng các phương pháp phân tích, tổng
hợp, hệ thống, khái quát để xác định các khái niệm cơ bản làm cơ sở lý thuyết cho đề
tài;
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn để đánh giá thực trạng mối liên kết đào tạo
giữa trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật và doanh nghiệp, gồm:
+ Phương pháp điều tra;
+ Phương pháp trao đổi lấy thông tin;
+ Phương pháp quan sát;
+ Phương pháp thống kê toán học.
5.6 Kết cấu luận văn:
- Tên luận văn: “Nghiên cứu quá trình liên kết với doanh nghiệp trong đào tạo nghề dệt
tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex ”
- Kết cấu luận văn:
Ngoài mục lục, lời mở đầu, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, kết luận và
các tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương:
+ Chương 1: Cơ sở lý luận về liên kết giữa trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề
+ Chương 2: Thực trạng quá trình liên kết giữa trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ
thuật Vinatex và doanh nghiệp sản xuất nghề dệt
+ Chương 3: Kết luận và khuyến nghị - Giải pháp liên kết giữa trường và doanh nghiệp
Formatted: Left, Indent: First line: 0", No
widow/orphan control, Don't adjust space between Latin and Asian text, Don't adjust space between Asian text and numbers
Formatted: Indent: Left: 0", First line: 0.38",
Right: 0", Line spacing: Multiple 1.15 li, Widow/Orphan control, Adjust space between Latin and Asian text, Adjust space between Asian text and numbers
Formatted: Font: 13 pt Formatted: Numbered + Level: 1 +
Numbering Style: 1, 2, 3, … + Start at: 6 + Alignment: Left + Aligned at: -0.38" + Tab after: -0.13" + Indent at: -0.13"
Formatted: Bullets and Numbering
Trang 14Chương 1: Cơ sở lý luận về quá trình liên kết giữa trường
và doanh nghiệp trong đào tạo nghề
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Liên kết đào tạo giữa các trường nghề với doanh nghiệp từ lâu đã được nhiều nước
quan tâm nghiên cứu và ứng dụng nhằm làm cho quá trình đào tạo gắn liền với thực tiễn
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Ngay từ giữa thế kỷ XIX (1894), sự phát triển của nền công nghiệp đã làm xuất
hiện ở Pháp nhiều cuốn sách viết về việc đa dạng hoá nghề nghiệp trong xã hội Loài
người đã ý thức được rằng hệ thống nghề trong xã hội rất đa dạng và phức tạp, đặc biệt
sự chuyên môn hóa trong nghề nghiệp được chú trọng Vì vậy, nội dung các cuốn sách
Formatted: Font: Bold
Formatted: Font: 13 pt, Italic
Formatted: Justified, Level 1, Space Before: 0
pt, Line spacing: Multiple 1.15 li, Widow/Orphan control, Adjust space between Latin and Asian text, Adjust space between Asian text and numbers
Trang 15đều khẳng định tính cấp thiết phải hướng nghiệp cho thế hệ trẻ, có nghề nghiệp phù hợp
với năng lực của mình và phù hợp với yêu cầu của xã hội [17]
Hiện nay, các nước phát triển trên thế giới luôn đề cao công tác đào tạo nghề, học
sinh được định hướng nghề nghiệp ngay khi còn học phổ thông C Mác đã chỉ ra
nhiệm vụ cơ bản của giáo dục phổ thông: "một là giáo dục trí tuệ; hai là giáo dục thể
chất; ba là dạy kỹ thuật nhằm giúp học sinh nắm được những nguyên lý cơ bản của tất
cả các quy trình sản xuất, đồng thời biết sử dụng công cụ sản xuất đơn giản nhất" [4]
Với góc nhìn khoa học trên, giáo dục không chỉ phát triển trí tuệ thuần túy mà còn định
hướng cho học sinh về nghề nghiệp phù hợp với năng lực bản thân và trang bị cho học
sinh kỹ năng làm việc để thích ứng với xã hội Theo E.A.Climov [2] thì "trình độ đào
tạo công nhân lành nghề ở các nước xã hội chủ nghĩa phụ thuộc rất nhiều vào sự kết hợp
đúng đắn giữa dạy trong trường với thực tập sản xuất ở xí nghiệp Nếu thiếu nguyên tắc
kết hợp dạy học với lao động sản xuất thì hệ thống dạy nghề không thể đào tạo công
nhân lành nghề được" Vì vậy, ngay từ năm 1969, lần đầu tiên trong lịch sử, trường đại
học Cambridge với 700 năm lịch sử đã triển khai đào tạo theo kiểu "công ty đại học"
Ngày nay, xu thế các trường đại học liên kết với các xí nghiệp ngày càng nhiều ở Mỹ và
một số nước Châu Âu, “Công ty đại học” đang trở thành một xu thế phát triển tất yếu tại
các nước có nền công nghiệp phát triển Ngay tại nước Châu Á sát cạnh Việt Nam là
Trung Quốc thì quan điểm "ba trong một" đang được quán triệt trong đào tạo nghề là:
đào tạo, sản xuất, dịch vụ Theo đó, các trường dạy nghề phải gắn bó chặt chẽ với các
cơ sở sản xuất và dịch vụ, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo
nghề
Trong xu thế toàn cầu và hội nhập hiện nay, việc tổng kết kinh nghiệm liên kết
đào tạo nghề của các nước trên thế giới nhằm vận dụng vào thực tiễn đào tạo nghề ở
Việt Nam là thực sự cần thiết và cấp bách Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy:
"Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng, lý luận mà không
liên hệ với thực tiễn là lý luận suông" [3] Tư tưởng này được cụ thể hóa trong nguyên
lý giáo dục ở Việt Nam trong suốt lịch sử giáo dục của nước nhà Tại Việt Nam thực
trạng liên kết giữa trường với doanh nghiệp trong đào tạo nghề còn nhiều bất cập Một
số công trình nghiên cứu về vấn đề này như: năm 1993, PGS - TS Trần Khánh Đức có
đề tài cấp bộ "Hoàn thiện đào tạo nghề tại xí nghiệp" nghiên cứu về cách thức đào tạo
của các lớp dạy nghề đặt tại đơn vị sản xuất trong lĩnh vực về bưu chính viễn thông và
hóa chất; năm 2004, trường Trung học kỹ thuật xây dựng Hà Nội có đề tài nghiên cứu
khoa học cấp thành phố: "Các giải pháp gắn đào tạo với sử dụng lao động của hệ thống
dạy nghề Hà Nội trong lĩnh vực xây dựng" [18]; năm 2006, Nguyễn Văn Tuấn với luận
văn thạc sĩ "Một số biện pháp tăng cường quản lý đào tạo nghề ở trường Đại học Công
nghiệp Hà Nội" [5] có đi sâu phân tích mối quan hệ giữa quản lý và chất lượng đào tạo
nghề… Tuy nhiên chưa có nghiên cứu về liên kết đào tạo giữa trường với doanh nghiệp
nghề dệt Mặt khác, theo sự phát triển của khoa học công nghệ, lĩnh vực đào tạo nghề tại
Việt Nam cần có những giải pháp cho từng thời kỳ với những bước đi thận trọng, phù
hợp với điều kiện kinh tế, xã hội tại Việt Nam
Trang 161.2 Đào tạo nghề và các hình thức đào tạo nghề
1.2.1 Đào tạo nghề
Thực hiện Nghị quyết của Đảng về định hướng phát triển dạy nghề, chiến lược,
quy hoạch phát triển dạy nghề, quá trình đào tạo nghề tại Việt Nam đã được phục hồi
sau một thời gian dài bị suy giảm, từng bước được đổi mới và phát triển, đáp ứng nhu
cầu nhân lực cung cấp cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
Luật Dạy nghề ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006 định nghĩa: “Dạy nghề (đào tạo
nghề) là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp
cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi
hoàn thành khoá học”[11]
Theo từ điển Tiếng Việt, "nghề là công việc chuyên môn làm theo sự phân công
lao động xã hội" [25, tr.676] Trong xã hội, “nghề là một hoạt động được Pháp luật cho
phép, làm ra những sản phẩm hay loại dịch vụ được xã hội chấp nhận” Vì vậy nghề
nghiệp vừa là “phương tiện chủ yếu để sinh sống vừa là hoạt động cơ bản nhất”[9] của
con người
Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ
“có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm
nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho
người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học
lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất
nước” [11]
Đào tạo nghề là quá trình truyền thụ và lĩnh hội một hệ thống tri thức, kỹ năng, thái
độ nghề nghiệp nhất định đã được khái quát hóa trong nghề đào tạo; là quá trình rèn
luyện các kỹ năng nghề nghiệp, thái độ và năng lực nghề nghiệp ở người học để hình
thành nhân cách nghề nghiệp Quá trình này được thực hiện chủ yếu thông qua việc
giảng dạy theo chuẩn mực của các nghề đào tạo
Với các quy định và mục tiêu trên, nội dung của đào tạo nghề cần trang bị các kiến
thức lý thuyết cho học viên một cách có hệ thống và rèn luyện các kỹ năng thực hành, tác
phong làm việc cho học viên trong phạm vi nghề họ theo học nhằm giúp họ có thể làm một
Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo dưới một năm, chủ yếu áp dụng đối
với phổ cập nghề Loại hình này có ưu điểm là có thể tập hợp được đông đảo lực lượng
lao động ở mọi lứa tuổi, những người không có điều kiện học tập tập trung vẫn có thể
tiếp thu được tri thức ngay tại chỗ với sự hỗ trợ của các cơ quan đoàn thể, địa phương,
nhà nước về mặt giáo trình, giảng viên, thiết bị giảng dạy Mặt khác với loại hình đào
tạo này, điều kiện về kiến thức cơ sở, kiến thức phổ thông của người tham gia học tập
không đòi hỏi cao Quy định về mô hình hệ thống dạy nghề trong Luật Dạy nghề, đào
Formatted: Font color: Auto
Trang 17- Đào tạo dài hạn:
Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo từ một năm trở lên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ, kỹ thuật viên Với đào tạo nghề dài hạn, đòi hỏi người học phải có kiến thức phổ thông cao hơn học các lớp ngắn hạn và quá trình học thường được trang bị kiến thức sâu và rộng hơn đào tạo ngắn hạn Theo quy định của Luật Dạy nghề thì đào tạo dài hạn là đào tạo trình độ Trung cấp nghề và Cao đẳng nghề [11]
* Căn cứ vào tính chất của nghề đào tạo đối với người học:
- Đào tạo mới: là loại hình đào tạo nghề áp dụng cho những người chưa có nghề
(đào tạo mới là để đáp ứng yêu cầu tăng thêm lao động có nghề)
- Đào tạo lại: là quá trình đào tạo nghề áp dụng với những người đã có nghề
song vì lý do nào đó, nghề của họ không còn phù hợp nữa
- Đào tạo nâng cao: là quá trình bồi dư ng nâng cao kiến thức và kinh nghiệm
làm việc để người lao động có thể đảm nhận được những công việc phức tạp hơn
Ba hình thức đào tạo trên được coi là hình thức đào tạo thường xuyên và được thực hiện linh hoạt về thời gian, địa điểm, phương pháp đào tạo để phù hợp với yêu cầu của người học nghề nhằm tạo điều kiện cho người lao động học suốt đời, nâng cao trình độ
kỹ năng nghề thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động, tạo cơ hội tìm việc làm, tự tạo việc làm Vì vậy phương pháp dạy nghề thường xuyên phải phát huy vai trò chủ động, năng lực tự học và kinh nghiệm của người học nghề [11]
1.2.2.2 Các hình thức đào tạo nghề phổ biến
Các hình thức đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên, về cơ bản đào tạo nghề hiện nay thường áp dụng một số hình thức chính sau đây:
* Đào tạo nghề chính quy:
Theo quy định của Luật Dạy nghề, đào tạo nghề chính quy được thực hiện với các chương trình sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề tại các cơ sở dạy nghề theo các khoá học tập trung và liên tục
Đào tạo nghề chính quy là loại hình đào tạo tập trung tại các trung tâm dạy nghề, các trường nghề với quy mô đào tạo tương đối lớn, chủ yếu là đào tạo công nhân kỹ thuật có trình độ lành nghề cao và kỹ thuật viên
Quá trình đào tạo nghề chính quy thường chia làm hai giai đoạn: giai đoạn học tập các môn học, mô đun cơ sở bắt buộc và giai đoạn học các môn học, mô đun chuyên ngành bắt buộc Trong đó thời lượng học lý thuyết và thực hành được quy định: lý thuyết chiếm từ 10 † 30 %, thực hành chiếm từ 70 † 90 % [13], khuyến khích thiết kế các nội dung tích hợp cả lý thuyết và thực hành Trong các môn học, mô đun bắt buộc của một chương trình đào tạo nghề, thường bố trí một số môn học, mô đun đào tạo thực
Trang 18hành tại các cơ sở sản xuất hoặc xưởng thực nghiệm để trang bị kỹ năng, kỹ xảo cho người học và giúp người học làm quen với môi trường sản xuất kinh doanh Ưu điểm cơ bản của hình thức đào tạo này là học sinh được học một cách có hệ thống từ đơn giản đến phức tạp, kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý thuyết và thực hành, tạo điều kiện cho học sinh tiếp thu kiến thức nhanh chóng và dễ dàng
Với hình thức đào tạo chính quy, sau các khoá đào tạo, học viên có thể chủ động, độc lập giải quyết công việc, có khả năng đảm nhận các công việc tương đối phức tạp, đòi hỏi trình độ lành nghề cao Cùng với sự phát triển của sản xuất và tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hình thức đào tạo này ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên cho các ngành công nghiệp
Tuy nhiên, đào tạo chính quy cũng có hạn chế là thời gian đào tạo tương đối dài; đòi hỏi phải đầu tư nguồn lực lớn để đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất thiết bị phục vụ giảng dạy, đội ngũ giáo viên, các cán bộ quản lý… nên kinh phí đào tạo cho một học viên tương đối nhiều
* Đào tạo nghề tại nơi làm việc (đào tạo trực tiếp công việc):
Đào tạo nghề tại nơi làm việc là hình thức đào tạo trực tiếp, trong đó người học
sẽ được dạy những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực tế thực hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của những người có trình độ cao hơn Hình thức đào tạo này thiên về thực hành ngay trong quá trình sản xuất và thường là do các doanh nghiệp (hoặc các cá nhân sản xuất) tự tổ chức
Chương trình đào tạo áp dụng cho hình thức đào tạo tại nơi làm việc thường chia làm ba giai đoạn: giai đoạn đầu, người hướng dẫn vừa sản xuất vừa truyền nghề cơ bản cho học viên; giai đoạn hai, giao việc làm thử cho học viên sau khi họ đã nắm được các nguyên tắc và phương pháp làm việc; giai đoạn ba, giao việc hoàn toàn cho học viên khi
họ đã có thể tiến hành làm việc một cách độc lập
Hình thức đào tạo tại nơi làm việc có nhiều ưu điểm như: có khả năng đào tạo nhiều người cùng một lúc tại các phân xưởng; thời gian đào tạo ngắn; không đòi hỏi các điều kiện về trường lớp, giáo viên chuyên trách, bộ máy quản lý, thiết bị học tập riêng… nên tiết kiệm chi phí đào tạo; trong quá trình học tập, người học còn được trực tiếp tham gia vào quá trình lao động giúp họ nắm chắc hơn kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp
Hạn chế cơ bản của đào tạo tại nơi làm việc là việc truyền đạt và tiếp thu kiến thức không có tính hệ thống; người dạy không có nghiệp vụ sư phạm nên hạn chế trong quá trình hướng dẫn, việc tổ chức dạy lý thuyết gặp nhiều khó khăn… nên kết quả học tập còn hạn chế; quá trình học, học viên không chỉ học những phương pháp tiên tiến mà còn có thể bắt chước cả những thói quen không tốt của người hướng dẫn Vì vậy, hình thức đào tạo này chỉ phù hợp với những công việc đòi hỏi trình độ không cao
* Tổ chức các lớp học cạnh doanh nghiệp:
Đây là hình thức đào tạo theo chương trình gồm hai phần lý thuyết và thực hành Phần lý thuyết được giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật phụ trách Còn phần thực hành thì được tiến hành ở các xưởng thực tập do các kỹ sư hoặc công nhân lành
Trang 19* Đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp:
Hình thức đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp được áp dụng khá rộng rãi trên thế giới nhưng mới chỉ xuất hiện ở Việt Nam trong những năm gần đây và
có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau Có thể hiểu “đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp là hình thức đào tạo liên kết tại hai địa điểm: trường và doanh nghiệp Sự kết hợp chức năng của hai địa điểm học tập sẽ trang bị cho người học hệ thống kiến thức và kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp hoàn chỉnh
Đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp có thể được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau tuỳ theo từng nghề, điều kiện, quan điểm ở từng vùng, lãnh thổ và khu vực
Hình thức đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp xuất hiện ở Việt Nam chưa nhiều và chưa phổ biến, hoặc mới chỉ thực hiện ở một số khía cạnh của việc kết hợp đào tạo và được biểu hiện ở các hoạt động như:
+ Đào tạo theo đơn đặt hàng (một số doanh nghiệp đặt hàng cho các trường đào tạo);
+ Một số tổng công ty lớn thành lập trường đào tạo riêng;
+ Trong nhà trường có xưởng sản xuất hoặc xưởng thực nghiệm sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nghề cần đào tạo;
+ Một số trường liên kết đưa sinh viên đi thực tập ở các doanh nghiệp
Chương V - Luật Dạy nghề 2006 cũng đã quy định rất rõ về quyền và nghĩa vụ của các Doanh nghiệp trong đào tạo nghề, tuy nhiên việc triển khai thực hiện và sự phối kết hợp của các trường dạy nghề và Doanh nghiệp còn rất nhiều bất cập
1.3 Đào tạo nghề Công nghệ dệt
1.3.1 Nghề Công nghệ Dệt:
Nghề Công nghệ Dệt là nghề thiết kế, gia công để tạo ra vải đạt yêu cầu kỹ thuật
từ các các loại nguyên liệu (xơ hoặc sợi) trên các dây chuyền công nghệ Dệt, đảm bảo năng suất, chất lượng, an toàn cho người và thiết bị Nhân lực phục vụ cho nghề Công nghệ dệt là nhân lực kỹ thuật gồm lao động đơn giản và lao động qua đào tạo với các cấp đào tạo từ sơ - trung - cao cấp
Trang 20Người tiêu dùng
Mặc - Chăm sóc quần áo
Thương mại
Bán lô - bán đơn chiếc
Sản xuất quần áo
May đo - May công nghiệp
Hoàn tất
Nhuộm in - xử lý hoàn tất
Tạo vải Tạo Sợi Tạo Xơ
Từ xơ tới người tiêu dùng
Hình 1.1 Mô tả quá trình từ xơ tạo vải đến người tiêu dùng
Công nghệ Dệt là quá trình tạo vải nhờ hoạt động công nghệ trên các thiết bị được sắp xếp theo dây chuyền sản xuất Vải hình thành tuỳ nhu cầu sử dụng có thể cung cấp cho công nghệ nhuộm hoàn tất hoặc chỉ qua công nghệ hoàn tất rồi cấp cho công nghệ may để hình thành các sản phẩm may mặc phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người Hình (1.1) mô tả quá trình từ xơ tạo vải cho đến khi người tiêu dùng mua và sử dụng
Từ các loại xơ dệt có xuất xứ từ thiên nhiên hay tổng hợp qua quá trình gia công sản xuất để tạo sợi Sợi tiếp tục được gia công trên các máy dệt để hình thành vải Như vậy
có thể thấy công nghệ dệt là một khâu trung gian ảnh hưởng trực tiếp đến các công nghệ phía sau Trong xu thế phát triển của khoa học công nghệ và hội nhập, những năm gần đây nghề công nghệ dệt đã được đầu tư nhiều dây chuyền thiết bị hiện đại Các nguyên
lý đưa sợi ngang trên máy dệt vải dệt thoi liên tục được cải tiến nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm: từ đưa sợi ngang bằng thoi đến đưa sợi ngang bằng kẹp, bằng kiếm cứng, kiếm mềm; rồi đến nghiên cứu đưa sợi ngang bằng nước, bằng khí Mỗi thế hệ máy ngoài việc thay đổi về nguyên lý đưa sợi ngang còn kéo theo một loạt
hệ thống chi tiết phụ trợ hiện đại: từ các photocell kiểm soát hành trình công nghệ các động cơ vô cấp, động cơ SUMO có khả năng điều hành với vận tốc lớn đến sự phụ trợ hoàn hảo của các Computer trong việc điều hành, kiểm soát quá trình công nghệ…Nhìn chung rất nhiều thiết bị điện - điện tử đã tham gia tích cực vào quá trình kiểm soát công nghệ trên các máy dệt Những tiến bộ khoa học kỹ thuật trên đòi hỏi quá trình đào tạo người làm nghề công nghệ dệt cũng phải có những thay đổi phù hợp với sự đầu tư khoa học kỹ thuật tại các doanh nghiệp sản xuất có nghề dệt
Trang 21
Hình 2.1 Máy dệt vải bằng phương pháp thổi khí
1.3.2 Đào tạo nghề Công nghệ dệt
Suy thoái kinh tế và giá nguyên liệu tăng cao đã khiến các doanh nghiệp Dệt - May những năm gần đây gặp nhiều bất lợi, thậm chí rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế Tình trạng trên ảnh hưởng rất lớn đến các trường có đào tạo ngành dệt Theo ông Lê Tiến Trường, Phó chủ tịch Thường trực Tập đoàn Dệt May Việt Nam VINATEX, năm 2012 các trường đại học ở Việt Nam gần như không còn đào tạo kỹ sư ngành dệt may, ngoài số lượng rất nhỏ khoảng dưới 50 sinh viên/khóa tại Đại học Bách khoa Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.[23]
Sau suy thoái kinh tế, một số doanh nghiệp đã quay trở lại hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng thiếu trầm trọng về nguồn nhân lực từ trình độ đại học cho đến đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề Các doanh nghiệp trong ngành đã phải chủ động tạo nguồn nhân lực cho mình bằng nhiều hình thức như tự mở trường, lớp hay liên kết đào tạo tại chỗ để có đủ nhân lực phục vụ cho sản xuất kinh doanh Quá trình đào tạo không chuyên nghiệp, mang tính tự phát đã cho thấy sự bất cập trong chất lượng nguồn nhân lực hiện nay, biểu hiện rất rõ trong việc quản lý kỹ thuật tại các doanh nghiệp Vốn là một ngành công nghiệp không đơn giản như nhiều người nhầm tưởng, lao động ngành dệt may ngoài đòi hỏi cần phải có sức khoẻ để làm việc trong môi trường nóng, bụi và tiếng ồn lớn, còn phải tiếp thu được khoa học kỹ thuật để vận hành được các thiết bị hiện đại Các thế hệ máy dệt, sợi, may hiện nay hầu hết đều gắn thêm hệ thống Computer để điều hành, quản lý mọi hoạt động công nghệ Sự thiếu hiểu biết của người lao động về thiết bị hiện đại này dẫn đến những hỏng hóc đáng tiếc đã xảy ra tại nhiều doanh nghiệp trong ngành, là những bài học đắt giá để người quản lý doanh nghiệp
khẳng định rằng: lao động của ngành cần phải qua quá trình đào tạo
Quy mô đào tạo nghề Công nghệ Dệt – May hiện nay được phân bố ở 03 trường Đại học ở khu vực phí Bắc, 02 trường Cao đẳng theo bảng thống kê dưới đây:
Bảng 1.1 Thống kê số trường có đào tạo nghề dệt và loại hình đào tạo
Đại học:
+ Cử nhân + Kỹ sư Sau đại học Nghiên cứu sinh
353 -Trần Hưng Đạo, Nam Định
Cao đẳng Đại học
3 năm
4 năm
3 Trường Đại học Công Lệ Chi – Gia Lâm Đang hình thành
Trang 22Cơ sở 2: KCN Bàu Xéo, Xã Sông Trầu, Huyện Trảng Bom, Tỉnh Đồng Nai
Liên kết đào tạo ngành Công nghệ dệt với đại học Bách khoa Hà Nội
Năng Tĩnh - TP
Nam Định;
Cơ sở 2: Km - Đường Ninh Bình -
Xã Thành Lợi - Huyện Vụ Bản -
Nghề Công nghệ Dệt:
+ Sơ cấp nghề; Dưới 1 năm + Trung cấp nghề; 18 tháng đến
2 năm + Cao đẳng nghề 3 năm
Nghề Công nghệ Hoá nhuộm:
+ Sơ cấp nghề; Dưới 1 năm + Trung cấp nghề; 18 tháng đến
2 năm + Cao đẳng nghề 3 năm
Liên kết với đại học Bách khoa đào tạo đại học, cao học ngành dệt
Bảng thống kê số liệu trên cho thấy mặc dù giá trị xuất khẩu hàng dệt may những năm qua tương đối cao, chỉ đứng sau xuất khẩu dầu thô, nghề dệt là công nghệ liền kề, cung cấp nguyên liệu cho ngành may song các cơ sở đào tạo chưa nhiều, mới chỉ tập trung tại 02 trường đại học khu vực phía Bắc Một số trường có chiến lược đào tạo nhưng thiếu trang thiết bị và đội ngũ giáo viên nên chưa thể hình thành khoa công nghệ dệt Về đào tạo cơ bản và truyền thống mới chỉ có trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Trang 23đào tạo từ hệ đại học chuyên nghiệp trở lên và trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex đào tạo từ Sơ cấp nghề đến Cao đẳng nghề
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đào tạo nghề
Quá trình đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bao gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan Có thể phân loại các yếu tố chủ yếu thành các nhóm để xem xét như sau:
1.4.1.Yếu tố bên trong:
Đào tạo nghề chịu ảnh hưởng trước tiên là của các nhân tố bên trong của chính quá trình đào tạo bao gồm: hệ thống cơ sở dạy nghề; cơ sở vật chất, tài chính cho dạy nghề; đội ngũ giáo viên, học viên học nghề; chương trình, giáo trình đào tạo; hệ thống mục tiêu; tuyển sinh, việc làm; kiểm tra đánh giá, cấp văn bằng chứng chỉ…, những yếu
tố này được coi là những yếu tố đảm bảo cho quá trình đào tạo nghề thực hiện đúng quy trình và chất lượng Trong giới hạn của một luận văn, xin được xét một số yếu tố chính ảnh hưởng đến quá trình đào tạo nghề như sau:
* Cơ sở vật chất, tài chính:
Cơ sở vật chất bao gồm: phòng học chuyên môn hoá, xưởng thực hành cơ bản và thực tập sản xuất, thư viện – học liệu, trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học tập… đây là yếu tố hết sức quan trọng tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo nghề Trang thiết bị giảng dạy không thể thiếu trong quá trình đào tạo nghề, nó giúp cho học viên có điều kiện thực hành để hoàn thiện kỹ năng Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề càng tốt, càng hiện đại, theo sát với công nghệ sản xuất thực tế bao nhiêu thì học viên càng có điều kiện thích ứng, vận dụng nhanh chóng trong công việc bấy nhiêu Do vậy, cơ sở vật chất trang thiết bị cho đào tạo nghề đòi hỏi phải theo kịp với tốc độ đổi mới của thiết bị, công nghệ sản xuất
Tài chính cho đào tạo nghề cũng là một trong những yếu tố cơ bản cho quá trình đào tạo, nó tác động gián tiếp tới chất lượng đào tạo nghề thông qua khả năng trang bị
về cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị giảng dạy, khả năng đào tạo, bồi dư ng cán bộ quản lý, giáo viên, … Tài chính đầu tư cho đào tạo nghề càng dồi dào thì càng có điều kiện tăng cường chất lượng đào tạo nghề Các nguồn tài chính chủ yếu cho đào tạo nghề bao gồm: các nguồn lực từ ngân sách nhà nước, đóng góp của bên hợp tác (doanh nghiệp), các nguồn hỗ trợ khác Luật Dạy nghề 2006 cũng đã chỉ rõ cần phải “huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực để phát triển dạy nghề” và “nguồn tài chính của Quỹ
hỗ trợ học nghề bao gồm đóng góp tự nguyện của doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân; hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và các nguồn hợp pháp khác Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đóng góp cho Quỹ hỗ trợ học nghề” để phát triển các loại hình đào tạo nghề (Điều 83, 86 - Luật dạy nghề) [11]
* Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý:
Giáo viên dạy nghề là người giữ vai trò truyền đạt kiến thức lý thuyết cũng như các
kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm của mình cho các học viên trên cơ sở trang thiết bị dạy
Trang 24học hiện có Vì vậy, năng lực giáo viên dạy nghề tác động trực tiếp đến chất lượng quá
trình đào tạo nghề
Đào tạo nghề có những nét khác biệt so với các cấp học khác trong nền giáo dục
quốc dân - đó là ngành nghề đào tạo rất đa dạng và học viên học nghề cũng có trình độ
văn hóa rất khác nhau Bên cạnh đó, cấp trình độ đào tạo ở các cơ sở đào tạo nghề cũng
rất khác nhau (sơ cấp nghề; trung cấp nghề; cao đẳng nghề; bồi dư ng, nâng bậc thợ)
Sự khác biệt này dẫn đến đội ngũ giáo viên dạy nghề cũng rất đa dạng với nhiều cấp
trình độ khác nhau
Theo quy định, giáo viên dạy nghề phải có đủ cả về số lượng và chất lượng đảm bảo
giảng dạy và truyền đạt cho các học viên học nghề một cách hiệu quả Thông tư số
30/2010/TT-BLĐTBXH ngày 29 tháng 9 năm 2010 [15] và Luật Dạy nghề [11] quy
định người giáo viên dạy nghề cần phải có phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, lối
sống; năng lực chuyên môn; năng lực sư phạm dạy nghề; năng lực phát triển nghề
nghiệp và nghiên cứu khoa học đảm bảo theo tiêu chuẩn quy định nhằm đáp ứng mục
tiêu dạy nghề
* Học viên học nghề:
Học viên học nghề là nhân tố quan trọng, có tính chất quyết định và ảnh hưởng
toàn diện tới công tác đào tạo nghề Trình độ văn hoá, sự hiểu biết, tâm lý, cá tính, khả
năng tài chính, quỹ thời gian… của bản thân học viên đều có ảnh hưởng sâu sắc tới quá
trình đào tạo nghề Trình độ văn hoá cũng như khả năng tư duy của học viên càng cao
thì khả năng tiếp thu các kiến thức trong quá trình học nghề càng tốt, khi ấy chất lượng
đào tạo nghề càng cao và ngược lại Người học nghề có các nhiệm vụ và quyền quy
định tại Điều 85 và Điều 86 của Luật giáo dục [10] và một số quyền lợi, nghĩa vụ, chính
sách theo Luật Dạy nghề [11]
* Mục tiêu đào tạo:
Hệ thống mục tiêu đào tạo là một hệ thống kiến thức logic diễn tả từng cấp độ
cần nhận thức của học viên trong quá trình đào tạo nghề Các mục tiêu thường được
định hình ngay từ khi bắt đầu hình thành một chương trình đào tạo, bao gồm: các mục
tiêu ngành, quốc gia; mục tiêu trường (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn); mục tiêu đáp ứng
yêu cầu thực tiễn của thị trường, doanh nghiệp Trên cơ sở đó hệ thống mục tiêu được
cụ thể hoá thành các mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ trong chương trình khung,
chương trình đào tạo của nhà trường; mục tiêu trong các chương trình mô đun, môn học
đào tạo nghề và cụ thể hơn nữa là mục tiêu trong các bài, chương của từng mô đun, môn
học đào tạo nghề Mục tiêu đào tạo thường được thể hiện bắt đầu bằng các động từ có
thể đo lường được mức độ với 06 cấp độ nhận thức của BLOOM [19]: Formatted: Font: Not Bold
Trang 25Sơ đồ 1.1 Viết mục tiêu theo cấp độ nhận thức của Bloom
Các mục tiêu của chương trình đào tạo phải mang tính bao quát, có thể đo lường được, tránh các cụm từ như „nắm được, hiểu được‟ Mục tiêu phải được tuyên bố công khai cùng với chương trình học vào đầu các khoá học cho học viên và qua mục tiêu thấy được kiến thức, kỹ năng và thái độ của học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp
*Chương trình, giáo trình đào tạo:
Chương trình đào tạo là cơ sở pháp lý để triển khai hoạt động của các cơ sở đào tạo nghề Một chương trình đào tạo phù hợp, được các cấp có thẩm quyền phê duyệt là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng quá trình đào tạo Không có chương trình đào tạo sẽ không có các căn cứ để xem xét, đánh giá bậc đào tạo của các đối tượng tham gia đào tạo và việc đào tạo sẽ diễn ra tự phát không theo một tiêu chuẩn thống nhất [8]
Trong lĩnh vực dạy nghề, chương trình đào tạo gắn với nghề đào tạo Không có chương trình đào tạo chung cho các nghề mà mỗi loại nghề đều có chương trình riêng
Do vậy, một cơ sở dạy nghề có thể có nhiều chương trình đào tạo nếu như cơ sở đó đào tạo nhiều nghề Danh mục các nghề đào tạo được quy định tại Thông tư số 17/2010/TT- BLĐTBXH ngày 4 tháng 6 năm 2010 có đến 301 nghề đào tạo ở trình độ Cao đẳng, 385
nghề đào tạo ở trình độ Trung cấp Ở mỗi nghề đào tạo, chương trình đào tạo bao gồm
phần lý thuyết và phần thực hành, tương ứng với mỗi nghề thì tỷ lệ đào tạo lý thuyết và thực hành khác nhau về lượng nội dung cũng như thời gian học Tỷ lệ lý thuyết và thực hành trong chương trình đào tạo nghề được quy định: lý thuyết từ 10 † 30 %, thực hành
từ 70 † 90% [13]
Giáo trình là những quy định cụ thể hơn của chương trình về nội dung từng môn học, mô đun đào tạo Nội dung giáo trình phải lý giải đầy đủ, dễ hiểu các kiến thức chuyên môn của nghề, phải thường xuyên được cập nhật sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sát với thực tiễn tại các doanh nghiệp để tăng hiệu quả đào tạo nghề Để biên soạn giáo trình có hiệu quả cần xác định vị trí, ý nghĩa, vai trò, mục tiêu cụ thể của các bài /chương của mô đun/môn học; từ đó xác định các kiến thức, kỹ năng cần học tập để biên soạn cụ thể.[1]
Việc nghiên cứu, xây dựng các chương trình, giáo trình sao cho hợp lý với nhu cầu đào tạo để học viên có thể nắm vững được nghề sau khi tốt nghiệp là vấn đề rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng của quá trình đào tạo
1.4.2 Các yếu tố bên ngoài:
Trang 26Hệ thống đào tạo nghề vận hành trong môi trường văn hoá, chính trị, xã hội … nhất định và cũng chịu sự tác động qua lại của điều kiện môi trường bên ngoài
Yếu tố bên ngoài bao gồm các điều kiện môi trường của hệ thống đào tạo nghề Các yếu tố này ảnh hưởng tới quá trình đào tạo nghề với tính chất là điều kiện, hỗ trợ cho hệ thống, hợp với các yếu tố bên trong thành hệ các yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo nghề
Các yếu tố bên ngoài tác động đến quá trình đào tạo nghề thuộc nhiều
lĩnh vực khác nhau như: chính trị, kinh tế – xã hội, khoa học – công nghệ, địa lý, truyền thống – văn hoá, … tuy nhiên cần quan tâm hơn đến một số yếu tố cơ bản như: hội nhập kinh tế và xu hướng toàn cầu hoá; sự phát triển của khoa học kỹ thuật; thể chế chính trị; sự phát triển kinh tế – xã hội; cơ chế - chính sách; qui mô - cơ cấu lao động;
nhận thức xã hội về đào tạo nghề [6]
Các yếu tố trong và ngoài ảnh hưởng đến đào tạo nghề có thể khái quát theo sơ đồ sau:
Thông tin phản hồi
Sơ đồ 2.1 Các yếu tố tác động đến đào tạo nghề
1.5 Liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề
1.5.1 Các nội dung và hình thức liên kết
Liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề đang được hiểu với nhiều ý nghĩa, khía cạnh khác nhau với những mức độ khác nhau Trong phạm vi luận văn, khái niệm “liên kết” được hiểu là mọi quan hệ tương tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, hợp thành một hệ thống đào tạo nghề thống nhất và phù hợp, trong đó “chức năng của hệ thống được tích hợp từ hai bộ phận tạo thành là nhà trường và doanh nghiệp nhằm thực hiện quá trình đào tạo nghề”[24]
1.5.1.1 Liên kết về tổ chức đào tạo
Nội dung liên kết chủ yếu giữa các cơ sở dạy nghề và các doanh nghiệp hiện nay
là liên kết trong việc tổ chức đào tạo Khi đó quá trình đào tạo (dạy nghề) cho học viên
sẽ được thực hiện bởi cả hai chủ thể là nhà trường và doanh nghiệp Nội dung, thời gian
Quá trình đào tạo
Chất lượng đào tạo
- Mục tiêu đào tạo
- Chương trình, giáo trình
- Giáo viên, học viên, cán
Trang 27đào tạo mà mỗi chủ thể phải thực hiện tuỳ thuộc vào sự thoả thuận, phân công ban đầu Chương trình đào tạo của từng nghề, nguồn lực về tài chính, nhân sự, cơ sở vật chất… của từng chủ thể là căn cứ để phân chia công việc mà nhà trường hay doanh nghiệp phải thực hiện trong toàn khoá đào tạo Thông thường, tiến độ giảng dạy lý thuyết và thực hành sẽ do nhà trường thực hiện chính, phía doanh nghiệp sẽ hợp tác chặt chẽ trong quá trình dạy thực hành Tuy nhiên, tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi bên trong quá trình liên kết, việc tổ chức đào tạo sẽ có những quy định, thoả thuận khác nhau hay nói cách khác là hình thức đào tạo sẽ khác nhau
1.5.1.2 Liên kết về tài chính và cơ sở vật chất
Liên kết về tài chính là phía doanh sẽ hỗ trợ trực tiếp (hoặc gián tiếp) cho nhà trường một phần (hoặc toàn bộ) kinh phí đào tạo nghề cho học viên
Trên thế giới hiện nay, việc doanh nghiệp đóng góp kinh phí cho đào tạo nghề rất phổ biến, thậm chí là bắt buộc ở một số nước nếu doanh nghiệp muốn sử dụng lao động
đã qua đào tạo nghề Mức độ liên kết về tài chính giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề tuỳ thuộc quy định của từng quốc gia và khả năng tài chính cũng như nhu cầu về nhân lực của doanh nghiệp Thực tế có nhiều kiểu liên kết tài chính, tiêu biểu
là các kiểu liên kết như sau:
- Doanh nghiệp tới các trường để tuyển lao động, sau khi tuyển dụng xong họ trả lại tiền đào tạo cho nhà nước Căn cứ vào số lượng lao động mà doanh nghiệp tuyển dụng, nhà nước lại chuyển số tiền mà doanh nghiệp đã nộp vào cho nhà trường (mô hình liên kết tại Hàn Quốc [24] )
- Căn cứ nhu cầu sử dụng lao động của mình, doanh nghiệp đặt hàng với nhà trường và chi trả toàn bộ kinh phí đào tạo cho nhà trường Người lao động sau khi được đào tạo sẽ làm việc cho doanh nghiệp Việc tuyển sinh có thể do nhà trường thực hiện hoặc do doanh nghiệp tuyển người và gửi đến trường để học
- Hàng năm, doanh nghiệp cấp một lượng học bổng nhất định cho các học viên học chương trình nghề của mình trong trường Nhà trường sẽ có những ưu tiên trong việc giới thiệu học viên sau khi tốt nghiệp tới làm việc tại doanh nghiệp
- Khi sử dụng học viên đã tốt nghiệp, doanh nghiệp phải nộp cho trường nghề hoặc cho nhà nước một khoản thuế (thuế học nghề) bằng 0,5% quỹ lương của doanh nghiệp, trong đó: 0,2% cho trường và 0,3% cho cán bộ doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề (mô hình đào tạo kết hợp điển hình tại Pháp[24])
- Trường hợp học viên đến thực tập tại doanh nghiệp và làm ra sản phẩm, doanh nghiệp sẽ trích một phần doanh thu đó trả cho nhà trường để đầu tư trở lại cho đào tạo
- Doanh nghiệp đầu tư thiết bị, phương tiện thực hành cho nhà trường đối với những nghề mà doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động
- Doanh nghiệp cho nhà trường tận dụng máy móc, thiết bị, nhà xưởng của chính doanh nghiệp để tổ chức đào tạo thực hành (bao gồm cả thực hành cơ bản và thực tập sản xuất)
1.5.1.3 Liên kết về nhân sự
Trang 28Liên kết về nhân sự bao gồm có liên kết về giáo viên giảng dạy và cán bộ quản lý đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp
Đội ngũ giáo viên là yếu tố cơ bản có tính chất quyết định sự đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo Thông thường, khi liên kết đào tạo giáo viên giữa nhà trường và doanh nghiệp thì sự kết hợp đó được biểu hiện dưới các hình thức như sau:
- Trường đào tạo nghề sẽ cung cấp đội ngũ giáo viên giảng dạy lý thuyết và chịu trách nhiệm tổ chức đào tạo các nội dung lý thuyết của khoá học Căn cứ vào kế hoạch giảng dạy đã được hai bên thống nhất, doanh nghiệp tổ chức đào tạo phần thực hành với đội ngũ giáo viên dạy thực hành là các cán bộ kỹ thuật của doanh nghiệp
- Nhà trường tổ chức đào tạo cả lý thuyết và thực hành cơ bản Cuối khoá học, khi học viên bước vào giai đoạn thực tập sản xuất trước khi tốt nghiệp, doanh nghiệp sẽ
cử những công nhân lành nghề hoặc kỹ sư hướng dẫn trực tiếp học viên làm quen với các mặt hàng sản xuất tại các phân xưởng sản xuất của doanh nghiệp
- Doanh nghiệp mời giáo viên tại các cơ sở đào tạo tới giảng dạy trực tiếp tại các lớp học do doanh nghiệp tự tổ chức Hình thức này thường áp dụng cho các lớp học ngắn hạn nhằm đào tạo lại hoặc đào tạo bồi dư ng, nâng cao kiến thức cho người lao động của doanh nghiệp
- Nhà trường mời cán bộ của doanh nghiệp tham dự các buổi thảo luận, trao đổi trực tiếp với học viên về những công nghệ sản xuất mới của doanh nghiệp để giúp học viên cập nhật kiến thức mới và tích luỹ kinh nghiệm
- Cán bộ quản lý của nhà trường liên kết chặt chẽ với cán bộ quản lý của các doanh nghiệp trong quá trình đào tạo nhằm tổ chức và quản lý việc đào tạo có hiệu quả hơn
1.5.1.4 Liên kết về thiết kế và xây dựng chương trình đào tạo
Thiết kế, xây dựng chương trình đào tạo nghề phải đảm bảo sự quản lý, điều phối
và sử dụng của nhà nước, đảm bảo yêu cầu thực tiễn của sản xuất và thị trường lao động Căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế, cơ cấu ngành nghề mà nhà nước quyết định xây dựng chương trình khung trọng điểm để phát triển và hoàn thiện nền kinh tế Việc xây dựng chương trình đào tạo sát với yêu cầu thực tiễn của nền sản xuất hiện đại làm cho quá trình đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề mang lại lợi ích kinh tế, xã hội cao hơn Muốn như vậy, nhà trường cần phối hợp chặt chẽ với nhiều doanh nghiệp có nghề mình đang đào tạo trong quá trình xây dựng chương trình đào tạo Mỗi chương trình đào tạo phải được xây dựng với sự tham gia của các chuyên gia phát triển chương trình, cán bộ nghiệp vụ chuyên môn của nghề, giáo viên có trình độ, kinh nghiệm giảng dạy trong lĩnh vực của nghề và nhiều chuyên gia đang làm việc tại doanh nghiệp Hình thức xây dựng chương trình đào tạo liên kết với doanh nghiệp được quy định theo trình
Đơn vị thực hiện chính
Trang 29Cơ sở dạy nghề Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
Tại cơ sở dạy nghề
- Chuyên gia (quản lý, kỹ thuật) trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh của nghề;
- Chuyên gia trong lĩnh vực đào tạo tại các cơ sở dạy nghề
Nhóm cán bộ, giáo viên dạy nghề được phân công nhiệm vụ biên soạn chương trình khung đã tham gia hội thảo (tiểu ban xây dựng chương trình khung)
- Biên soạn dự thảo Phân tích nghề, phân tích công việc
Tại cơ sở dạy nghề
Tiểu ban xây dựng chương trình
ý kiến
Tại các cơ
sở sản xuất kinh doanh
và cơ sở dạy nghề
Ban chủ nhiệm chương trình
6 Phát triển
chương trình
Lựa chọn các công việc phù hợp với trình
độ đào tạo cần thiết kế chương trình
Tại cơ sở dạy nghề
Tiểu ban xây dựng
7 Hội thảo xây
dựng khung
chương trình
- Chuyển các công việc thành nội dung đào tạo, sắp xếp theo logic khoa học để định hình mục tiêu của chương trình cần xây
Tại cơ cở dạy nghề
- Chuyên gia (quản lý và
kỹ thuật) hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh;
- Chuyên gia đào tạo trong lĩnh vực của nghề;
Trang 30dựng;
- Lựa chọn các môn học, mô đun cơ sở của nghề; thời gian và phân bổ thời gian;
- Lựa chọn các môn học, mô đun chuyên môn nghề; thời gian
và phân bổ thời gian;
- Lựa chọn các môn học, mô đun tự chọn;
thời gian và phân bổ thời gian;
- Sắp xếp vị trí môn học, mô đun theo logic từ đơn giản đến phức tạp;
- Xem xét các điều kiện để thực hiện chương trình môn học,
mô đun: cơ sở vật chất, thiết bị, tài liệu tham khảo và các nguồn lực khác;
- Ấn định nội dung và phương pháp kiểm tra đánh giá cho từng chương trình chi tiết của môn học, mô đun
- Ban chủ nhiệm và tiểu ban xây dựng chương trình
- Viết mục tiêu chương trình, sắp xếp theo logic khoa học về nhận thức;
- Thiết kế tên chương trình môn học, mô đun; thời lượng và phân bổ thời gian học
Tại cơ sở dạy nghề
Ban chủ nhiệm Tiểu ban xây dựng chương trình
Trang 319 Xin ý kiến
chuyên gia
Mang bản dự thảo đến các chuyên gia để xin
ý kiến
Tại các cơ
sở sản xuất kinh doanh
và cơ sở dạy nghề
Ban chủ nhiệm chương trình
- Làm báo cáo và trình bày tại hội nghị nghiệm thu;
- Giải trình thắc mắc, tiếp thu và chỉnh sửa hoàn thiện
Tại Hội nghị nghiệm thu
- Chuyên gia (quản lý và
kỹ thuật) hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh;
- Chuyên gia đào tạo trong lĩnh vực của nghề;
- Đại diện cơ quan quản lý của nhà nước (các vụ, viện, tổng cục )
- Ban chủ nhiệm và tiểu ban xây dựng chương trình
Căn cứ vào khung chương trình vừa xây dựng đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá đạt, trường biên soạn chương trình đào tạo cho lĩnh vực nghề cần đào tạo, trong đó các chương trình môn học, mô đun lựa chọn được cụ thể hoá vào trong chương trình để đảm bảo thời gian giảng dạy (tuỳ theo cấp độ đào tạo là sơ cấp, trung cấp hay cao đẳng nghề ) Việc lựa chọn, xây dựng các mô đun, môn học tự chọn đưa vào chương trình đào tạo chính thức của nhà trường còn phải phù hợp với đặc điểm kinh tế vùng, miền của nơi tiến hành đào tạo nghề và yêu cầu của doanh nghiệp (nếu có) Liên kết xây dựng chương trình đào tạo giữa nhà trường, doanh nghiệp và cơ quan quản lý của nhà nước sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đảm bảo mục tiêu “đào tạo những cái xã hội cần chứ không phải đào tạo những cái mà mình có”[6]
1.5.1.5 Liên kết về thông tin
Liên kết về thông tin tức là phải thiết lập các kênh thông tin giữa nhà trường và doanh nghiệp Các thông tin về nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp về số lượng, chất lượng lao động cũng như ngành nghề đào tạo là một trong những căn cứ để các trường xác định qui mô, cơ cấu đào tạo, nội dung đào tạo Đồng thời, các trường cũng dựa vào các thông tin phản hồi của doanh nghiệp khi sử dụng lao động được đào tạo bởi nhà trường để có những điều chỉnh phù hợp chương trình đào tạo
Trang 32Liên kết về mặt thông tin giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp Tiêu biểu như sau:
- Doanh nghiệp báo cáo định kỳ về nhu cầu sử dụng lao động tới cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc hiệp hội nghề nghiệp Các trường có thể thu thập thông tin từ các tổ chức này để tổng hợp và xác định qui mô, cơ cấu ngành nghề đào tạo, xu hướng đổi mới ngành nghề, công nghệ sản xuất mới để có những điều chỉnh và đầu tư kịp thời về nội dung, chương trình đào tạo cũng như phương tiện, thiết bị giảng dạy và giáo viên
- Hằng năm, nhà trường tiến hành điều tra, khảo sát trực tiếp về nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp, thu thập thông tin phản hồi từ phía doanh nghiệp khi sử dụng lao động được đào tạo…
- Tổ chức các buổi giao lưu, trao đổi kinh nghiệm hoặc tổ chức hội thảo, phổ biến
về các công nghệ sản xuất mới… giữa nhà trường và doanh nghiệp
1.5.2 Thiết lập mối liên kết giữa trường và doanh nghiệp
1.5.2.1 Thiết lập quan hệ về tổ chức
Mối quan hệ về mặt tổ chức giữa trường nghề và doanh nghiệp chi phối rất nhiều tới mức độ, hình thức cũng như hiệu quả liên kết giữa hai đối tượng này trong lĩnh vực đào tạo nghề Tại Việt nam, Luật dạy nghề 2006 đã quy định Doanh nghiệp “ được liên doanh, liên kết với cơ sở dạy nghề để tổ chức dạy nghề cho người lao động; tổ chức nghiên cứu, sản xuất, ứng dụng, chuyển giao công nghệ theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan”.Tuy nhiên trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay đang tồn tại nhiều kiểu quan hệ giữa trường nghề và doanh nghiệp song có thể gộp lại thành ba nhóm quan hệ chủ yếu như sau:
* Tổ chức trường nằm trong doanh nghiệp:
Trường nghề nằm trong (thuộc) doanh nghiệp tức là nhà trường được coi như một phân xưởng đào tạo của doanh nghiệp, chịu sự quản lý trực tiếp của doanh nghiệp
và do doanh nghiệp cấp kinh phí hoạt động Kiểu tổ chức này thường chỉ có ở một số tập đoàn, doanh nghiệp lớn được cơ quan quản lý nhà nước về đào tạo cho phép mở các trường đào tạo nghề trực thuộc doanh nghiệp của họ Mục 1- Điều 55, Luật Dạy nghề
2006 có quy định Doanh nghiệp “được thành lập trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề để đào tạo nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và cho xã hội”.[11]
Với kiểu tổ chức này, quá trình đào tạo nghề mang một số đặc điểm như sau:
- Giáo viên hầu hết là kỹ sư, công nhân giỏi của doanh nghiệp được cử làm chuyên trách về đào tạo;
- Tuyển sinh chủ yếu theo yêu cầu phát triển nhân lực của doanh nghiệp và một phần là đào tạo theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp khác (nếu đủ điều kiện) Vì vậy, hầu hết học sinh tốt nghiệp đều được doanh nghiệp bố trí sử dụng ngay;
- Chương trình đào tạo theo chương trình quốc gia có gắn với yêu cầu riêng biệt của doanh nghiệp Những khoá đào tạo theo chương trình quốc gia được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và sau khi tốt nghiệp, học sinh được cấp bằng tốt nghiệp
Trang 33theo hệ thống văn bằng quốc gia Đối với những khoá đào tạo nội bộ trong doanh nghiệp sẽ được cấp giấy chứng nhận có giá trị trong phạm vi doanh nghiệp và làm căn
cứ để thăng tiến trong việc phân công lao động của doanh nghiệp
Với quá trình liên kết này, doanh nghiệp là chủ thể của quá trình liên kết đào tạo
và mọi hoạt động đào tạo của nhà trường đều phụ thuộc vào sự điều hành của doanh nghiệp
Việc liên kết ở đây có ưu điểm là thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, đào tạo gắn với sử dụng và quy luật cung cầu của cơ chế thị trường trong đào tạo; chất lượng đào tạo được nâng cao do học sinh được thực hành thường xuyên trong điều kiện sản xuất thực tế với đầy đủ các phương tiện sản xuất hiện đại, điều mà các trường nghề độc lập thường không có được
Nhược điểm của loại hình tổ chức liên kết này là giáo viên thường giỏi về kỹ năng chuyên môn nhưng lại chưa được đào tạo hoặc bồi dư ng về sư phạm nên thường chỉ quan tâm đến rèn luyện kỹ năng nghề mà ít quan tâm đến rèn luyện năng lực sáng tạo cho người học Bên cạnh đó, nội dung và kế hoạch đào tạo thường bị chi phối bởi công việc và kế hoạch của doanh nghiệp nên ít nhiều có ảnh hưởng đến kế hoạch đào tạo
Ngoài ra, để tổ chức liên kết đào tạo theo mô hình này cũng cần phải có những điều kiện nhất định mà ít doanh nghiệp có thể đáp ứng Ví dụ như doanh nghiệp phải có
đủ nguồn lực, có tiềm năng và nhu cầu phát triển nhân lực trong tương lai thì mới có đủ điều kiện mở trường dạy nghề thuộc xí nghiệp Ở Việt Nam cũng có chủ trương đưa trường dạy nghề về trực thuộc các tổng công ty, tuy nhiên có một số trường như trường của bộ công nghiệp sau đó lại phải đưa về trực thuộc các bộ ngành
* Tổ chức doanh nghiệp nằm trong trường:
Để phát huy ưu điểm của việc học tập kết hợp với lao động sản xuất, ở nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam, các trường dạy nghề được phép thành lập các doanh nghiệp (thường là dưới hình thức các đơn vị sản xuất) trong trường Doanh nghiệp này chịu sự quản lý trực tiếp của trường, do nhà trường đầu tư kinh phí hoạt động Trong mô hình tổ chức này, trường là chủ thể của việc liên kết giữa Gđào tạo và sản xuất, doanh nghiệp (đơn vị sản xuất) được coi như xưởng thực hành của trường Như vậy, doanh nghiệp trong trường phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ là vừa đào tạo vừa sản xuất ra sản phẩm để tiêu thụ như các doanh nghiệp khác
Với kiểu liên kết này, chất lượng đào tạo cũng được nâng cao do học sinh được tiếp xúc trực tiếp với sản xuất Tuy nhiên, hạn chế của kiểu tổ chức này là các trường nghề thường không có đủ kinh nghiệm trong sản xuất và ít có điều kiện để đầu tư được các trang thiết bị hiện đại như các doanh nghiệp khác Hơn nữa, các xưởng sản xuất do yếu tố làm đơn lẻ với những đơn hàng nhỏ nên thường chỉ sản xuất một vài mặt hàng truyền thống không thích hợp với việc triển khai đa dạng mặt hàng để học viên có thể học tập
* Trường dạy nghề và doanh nghiệp là những đơn vị độc lập:
Trang 34Với loại hình tổ chức này, trường nghề và doanh nghiệp là những đơn vị hoàn toàn độc lập với nhau, có mục tiêu và chức năng riêng Việc liên kết đào tạo ở đây được thực hiện qua các văn bản ký kết trên cơ sở tự nguyện, hai bên cùng có lợi
Liên kết đào tạo nghề giữa trường nghề và các doanh nghiệp độc lập này có tính linh hoạt cao, mỗi trường có thể thiết lập mối quan hệ liên kết với nhiều doanh nghiệp khác nhau và ngược lại, mỗi doanh nghiệp cũng có thể liên kết với nhiều trường nghề khác nhau tuỳ theo yêu cầu nhân lực của mình Ưu điểm của nó là tận dụng được thế mạnh của mỗi bên, thậm chí là của từng doanh nghiệp khác nhau để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nhằm phục vụ lợi ích của các bên mà không làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ và kế hoạch của bản thân họ Tuy nhiên, khó khăn trong việc thực hiện liên kết đào tạo đối với mô hình này trước hết là do nhiều đầu mối nên sẽ phức tạp trong việc quản lý cũng như tổ chức thực hiện Mặt khác, do trình độ công nghệ sản xuất của các cơ sở khác nhau với các chuẩn chất lượng khác nhau sẽ tạo ra những khó khăn cho nhà trường trong việc xác định chuẩn đào tạo
1.5.2.2 Thiết lập mức độ liên kết
Thực tế mối liên kết đào tạo giữa trường nghề và các doanh nghiệp được thực hiện ở nhiều mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào yêu cầu và khả năng của mỗi bên Về cơ bản, có thể chia sự liên kết này thành các mức độ như sau:
- Liên kết toàn diện: là sự liên kết trong đó có sự tham gia phối hợp của phía doanh nghiệp cùng với nhà trường trong mọi lĩnh vực, mọi khâu của quá trình đào tạo nghề Đối với cấp độ liên kết này, phía doanh nghiệp sẽ góp phần đầu tư trang thiết bị cho nhà trường hoặc tổ chức các phân xưởng sản xuất kết hợp với đào tạo để nhà trường
và doanh nghiệp cùng sử dụng, cử kỹ sư và các công nhân lành nghề cùng tham gia vào việc giảng dạy, tham gia với nhà trường từ khâu hướng nghiệp học sinh phổ thông chọn nghề phù hợp để học, xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, tham gia đào tạo đánh giá kết quả học tập của học sinh, tham gia giới thiệu việc làm cho học sinh… Liên kết toàn diện thường chỉ có ở các mô hình tổ chức doanh nghiệp nằm trong trường hoặc trường nằm trong doanh nghiệp Đối với các mô hình tổ chức độc lập giữa trường và doanh nghiệp thì khó đạt được mức độ liên kết toàn diện song trên thực tế vẫn
có một số trường thiết lập được hợp đồng liên kết toàn diện và thường xuyên
- Liên kết từng phần (có giới hạn): là sự liên kết chỉ được thực hiện trong một số lĩnh vực hoặc một số khâu của quá trình đào tạo nghề Ví dụ, doanh nghiệp hàng năm nhận học sinh của trường vào thực tập sản xuất, thực tập tốt nghiệp…
Mức độ liên kết từng phần, có thể chia ra làm hai loại là liên kết thường xuyên và liên kết rời rạc Liên kết thường xuyên là hai bên duy trì sự liên kết một cách liên tục, đều đặn trong thời gian dài ở một số nội dung nhất định Liên kết rời rạc là sự liên kết không đều đặn, mang tính thời điểm và chỉ thực hiện khi các bên có nhu cầu và điều kiện
Như vậy, sự liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề rất đa dạng,
có thể thực hiện dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau tuỳ theo yêu cầu và điều kiện
Trang 35- Chương trình đào tạo: đào tạo chính quy cấp bằng nghề hoặc bồi dư ng nâng cao
tay nghề Về đào tạo chính quy, trường hoàn toàn tuân thủ theo quy chuẩn quốc gia, không được tự do về nội dung chương trình giảng dạy Về bồi dư ng nâng cao trình độ, không bắt buộc phải cấp văn bằng, chứng chỉ nghề và doanh nghiệp tham gia vào xây dựng các chương trình đào tạo;
- Phương pháp tổ chức đào tạo: các môn cơ bản - đại cương, các môn lý thuyết
chuyên môn, thực hành cơ bản được đào tạo tại trường, do giáo viên của trường thực hiện Thực tập sản xuất được tiến hành tại doanh nghiệp với sự tham gia của cán bộ, nhân viên của doanh nghiệp;
- Tài chính: doanh nghiệp khi sử dụng học viên đã tốt nghiệp phải nộp cho trường
đào tạo nghề hoặc cho nhà nước một khoản thuế (thuế học nghề) bằng 0,5% quỹ lương của doanh nghiệp, trong đó: 0,2% cho trường và 0,3% cho cán bộ doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề;
- Đánh giá kết quả đào tạo: việc thi, kiểm tra, tốt nghiệp được thực hiện tại
trường Kiểm tra tay nghề (thi thực hành) được tiến hành tại doanh nghiệp với hội đồng kiểm tra bao gồm giáo viên của trường và cán bộ của doanh nghiệp
1.5.3.2 Đào tạo kết hợp theo mô hình “dual system”
Trong các tài liệu về đào tạo nghề tại Việt Nam, “dual system” được gọi bằng nhiều cách như “song tuyến”, “song hành”, “kép”… tuy nhiên, dù được gọi bằng cách nào thì về bản chất nội dung và hình thức của nó vẫn là “kết hợp đào tạo tại trường và doanh nghiệp”
Đào tạo kết hợp theo hình thức song tuyến là hình thức đào tạo nghề cơ bản của Đức và chủ yếu là đào tạo để phục vụ cho doanh nghiệp Đặc điểm cơ bản của đào tạo song tuyến là:
- Xây dựng mục tiêu và nội dung chương trình đào tạo: căn cứ theo chương trình
khung thống nhất của nhà nước, khối cơ quan quản lý nhà nước về đào tạo nghề xây dựng chương trình đào tạo lý thuyết và các hiệp hội nghề nghiệp, phòng công nghiệp sẽ xây dựng chương trình đào tạo thực hành có định hướng theo yêu cầu phát triển công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp;
- Cơ sở vật chất sư phạm – trang thiết bị thực hành: đào tạo được tiến hành cả ở
trường và doanh nghiệp nên cơ sở vật chất trang thiết bị đào tạo gồm cả của trường và doanh nghiệp;
- Cán bộ giáo viên: gồm cả giáo viên của trường và doanh nghiệp, trong đó giáo
viên của các trường sẽ dạy các môn lý thuyết;
Trang 36- Tài chính: do cả phía trường và doanh nghiệp đóng góp.Tài chính của nhà trường
lấy từ ngân sách nhà nước và các khoản thu hợp lệ khác để đầu tư cho công tác đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn và sư phạm cho đội ngũ giáo viên Về phía doanh nghiệp
sẽ đầu tư tài chính cho quá trình đào tạo bằng các hoạt động như cấp học bổng cho học sinh, chi phí cho cán bộ hướng dẫn thực hành tại doanh nghiệp, đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị giảng dạy cho nhà trường
- Đánh giá tốt nghiệp: kết quả thi thực hành quyết định việc tốt nghiệp của học
viên, kết quả thi lý thuyết chỉ có giá trị tham khảo Đề thi thực hành do các phòng công nghiệp ra
1.5.3.3 Mô hình đào tạo tuần tự
Kết hợp theo mô hình đào tạo tuần tự tức là quá trình đào tạo được chia làm hai giai đoạn và tiến hành ở hai địa điểm là trường và doanh nghiệp: giai đoạn một đào tạo
lý thuyết và thực hành cơ bản tất cả các công việc của nghề tại trường; giai đoạn hai là thực hành sản xuất theo từng công việc và thực hành tốt nghiệp tại cơ sở sản xuất trong một thời gian dài
Ưu điểm của mô hình này là đơn giản trong việc tổ chức quá trình đào tạo kết hợp và tận dụng được ưu thế của mỗi bên trong việc kết hợp Tuy nhiên, nhược điểm của nó là học lý thuyết và thực hành cũng như thực hành cơ bản và thực hành sản xuất được tiến hành ở những khoảng thời gian cách xa nhau nên học sinh dễ bị quên những điều đã học
1.5.4 Tăng cường kiên kết giữa trường và doanh nghiệp để nâng cao chất lượng đào tạo nghề
Như đã phân tích, chất lượng đào tạo nghề được đảm bảo bởi một hệ thống các yếu tố, trong đó cơ bản là các yếu tố như: mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo; tổ chức và quản lý đào tạo; đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý; cơ sở vật chất, trang thiết
bị phục vụ đào tạo; tài chính… nếu chất lượng của các yếu tố này được nâng cao thì chất lượng đào tạo nghề sẽ được nâng cao
Liên kết đào tạo giữa trường và doanh nghiệp sẽ tác động cơ bản, toàn diện tới chất lượng của tất cả các yếu nói trên Cụ thể là:
- Khi có sự liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp thì mục tiêu, nội dung chương trình được xây dựng sát hơn với yêu cầu thực tiễn của những người sử dụng lao động
- Đa số đội ngũ giáo viên ở các cơ sở đào tạo nghề được đào tạo cơ bản, đạt chuẩn của nhà nước đề ra, song kinh nghiệm sản xuất trực tiếp và việc làm thì chưa thành thục bằng những người thợ cả tại các cơ sở sản xuất Khi nhà trường và doanh nghiệp kết hợp đào tạo sẽ tận dụng được thế mạnh của cả phía nhà trường và doanh nghiệp, đội ngũ giáo viên cho đào tạo nghề được tăng lên cả về qui mô và chất lượng, đặc biệt là đội ngũ giáo viên thực hành, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo
- Đội ngũ cán bộ quản lý đào tạo tại các cơ sở đào tạo chủ yếu được chọn ra từ đội ngũ giáo viên Khi liên kết với các doanh nghiệp, đội ngũ cán bộ quản lý được bổ sung từ phía doanh nghiệp Điều này rất có lợi cho việc tổ chức, quản lý quá trình đào
Trang 37- Tài chính phục vụ đào tạo nghề gồm các nguồn từ ngân sách, học phí, các nguồn thu và hỗ trợ khác Hiện nay, ngân sách nhà nước cấp rất hạn chế và ở mức thấp
so với quốc tế Khi có sự liên kết về mặt tài chính, doanh nghiệp sẽ đầu tư và đóng góp một phần kinh phí cho đào tạo học viên (mà họ sẽ sử dụng) để phát triển nguồn nhân lực
- Giới thiệu và tìm việc làm sau khi tốt nghiệp là một dịch vụ quan trọng dành cho học sinh học nghề Nếu có sự liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp sẽ góp phần khắc phục tình trạng thất nghiệp của những học viên học nghề Học viên được đào tạo sẽ có địa chỉ sử dụng hoặc tối thiểu là được đào tạo theo “cầu” của thị trường lao động Từ đó giúp người học an tâm học tập, nâng cao chất lượng đào tạo và giảm lãng phí cho xã hội
Tóm lại, thiết lập sự liên kết giữa trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề sẽ cải thiện các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo nghề Mối liên kết giữa các cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp dựa trên cơ sở triết lý nhân quả; dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh về phương châm nhà trường xã hội chủ nghĩa: “Học đi với lao động – Lý luận đi với thực hành - Cần cù đi với tiết kiệm”; và tuân thủ quy luật cung - cầu trong kinh tế thị trường
Trang 38Chương 2:
Phân tích thực trạng quá trình liên kết giữa trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề dệt 2.1 Thực trạng hệ thống đào tạo nghề của Việt Nam
2.1.1 Lịch sử phát triển các cơ sở đào tạo nghề tại Việt Nam
Đào tạo nghề ở Việt Nam có lịch sử khá lâu đời, gắn liền với sự phát triển các làng nghề của sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, đào tạo nghề có tính hệ thống và gắn với sản xuất công nghiệp chỉ thực sự bắt đầu, kể từ khi hình thành Tổng cục Đào tạo Công nhân
kỹ thuật năm 1969 Từ đó đến nay, trải qua nhiều thăng trầm, nhưng đào tạo nghề đã khẳng định được vai trò của mình trong việc tạo ra một đội ngũ lao động kỹ thuật cho các ngành kinh tế quốc dân và để lại một số dấu ấn trong quá trình phát triển của lĩnh vực này
Giai đoạn từ năm 1969 đến 1975, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra quyết sách tập trung đẩy mạnh công tác đào tạo nghề Việc thành lập Tổng cục Đào tạo Công nhân Kỹ thuật trực thuộc Bộ Lao động theo Nghị định số 2000/CP của Chính phủ ngày 9 tháng 10 năm
1969 là sự thể hiện rõ quyết sách này và có thể nói đây là mốc lịch sử quan trọng trong
sự nghiệp phát triển ngành dạy nghề Chủ trương lớn nhất trong giai đoạn này được thể hiện trong Nghị định 42/CP ngày 10/3/1970 của Chính phủ khi khẳng định: “đào tạo bồi
dư ng đội ngũ CNKT là một nhiệm vụ cách mạng cực kỳ trọng yếu” Giai đoạn từ năm
1975 đến 1986 ngay khi đất nước thống nhất, Tổng cục Đào tạo CNKT đã tiếp quản và đưa 28 trường trung học kỹ thuật và 10 trung tâm huấn nghệ ở phía Nam vào hoạt động,
mở thêm trường Sư phạm Kỹ thuật tại Vĩnh Long và trường Cán bộ Quản lý tại Tp Hồ Chí Minh[13] Theo Nghị định số 109/CP ngày 12/3/1981, Tổng cục Dạy nghề có nhiệm vụ thống nhất quản lý công tác dạy nghề trên phạm vi toàn quốc và hình thành Ban Giáo dục Chuyên nghiệp ở một số địa phương Trong giai đoạn này, đào tạo nghề
đã có những bước tiến đáng kể:
- Hình thành hệ thống các trường sư phạm kỹ thuật (gồm một trường cao đẳng sư phạm kỹ thuật và 3 trường sư phạm kỹ thuật)
- Từ năm 1981 bắt đầu hình thành hệ thống Trung tâm dạy nghề ở quận, huyện, thị
xã để đào tạo nghề ngắn hạn cho người lao động theo phương châm “Nhà nước, tập thể
và người dân cùng chăm lo sự nghiệp dạy nghề” Có thể nói, ngay từ giai đoạn này, dạy nghề đã là một trong những ngành đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân thực hiện
xã hội hóa, nhằm tăng cường nguồn lực cho công tác này;
- Quan hệ quốc tế được tiếp tục mở rộng: Liên Xô đã giúp đào tạo 16.600 công nhân
kỹ thuật, viện trợ nâng cấp 4 trường Sư phạm kỹ thuật và 12 trường dạy nghề; CHDC Đức đào tạo hơn 10.000 công nhân kỹ thuật và nâng cấp 3 trường dạy nghề; Tiệp Khắc
đã đào tạo và tuyển ở lại lao động 27.000 công nhân kỹ thuật Đồng thời, chúng ta cũng gửi 28.000 học sinh học nghề và thực tập sinh sản xuất sang Trung Quốc, Triều Tiên, Hunggari, Rumani, Ba Lan và Bungari[21]
Hiện nay, hoạt động dạy nghề đã có những bước chuyển biến và đem lại hiệu quả cho toàn xã hội Kết quả sau 5 năm thi hành Luật Dạy nghề, mạng lưới cơ sở dạy nghề
Trang 39được phát triển rộng khắp ở 63 tỉnh, thành phố và trên 600 huyện, quận, thị xã, các khu
vực công nghiệp, khu chế xuất, làng nghề Mạng lưới cơ sở dạy nghề mở rộng, phân bố
tương đối hợp lý ở các ngành kinh tế, địa phương, vùng miền Tính đến cuối năm 2011,
cả nước có 136 trường cao đẳng nghề, 307 trường Trung cấp nghề, 849 trung tâm dạy
nghề và hơn 1.000 cơ sở khác tham gia dạy nghề, tăng 1,5 lần so với năm 2006 [24]
Thống kê các loại hình đào tạo nghề đến 2012
Cao đẳng nghề Trung cấp nghề Trung tâm dạy nghề
Cơ sở dạy nghề
Biểu đồ 3.2 Thống kê số lượng các loại hình đào tạo nghề đến năm 2012
Quy mô, cơ cấu nghề đào tạo cũng được mở rộng theo các trình độ đào tạo và điều
chỉnh cơ cấu nghề đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động, của xã hội Trong 5
năm, các cơ sở dạy nghề đã tuyển mới được gần 1,35 triệu người học cao đẳng nghề,
trung cấp nghề và hơn 6,85 triệu người học sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên
(dưới 3 tháng), nâng tỷ lệ lao động qua dạy nghề năm 2011 đạt 30% Đặc biệt, các nghề
đào tạo cũng được mở dần theo nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp, từng bước phù
hợp với sự phát triển các ngành nghề trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Danh mục
nghề đào tạo đã được xây dựng dựa trên nhu cầu của thị trường lao động Đến tháng 5
năm 2012 đã có danh mục nghề của 386 nghề đào tạo ở trình độ Cao đẳng, 462 nghề
đào tạo ở trình độ Trung cấp [1]
2.1.2 Cơ cấu trình độ đào tạo nghề
Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước đã chú trọng quan tâm đến đào tạo
nghề cho người lao động Tuy nhiên thực tế cho thấy lao động đã qua đào tạo còn nhiều
vấn đề bất cập so với thị trường đặc biệt là cơ cấu ngành nghề Nước ta thiếu trầm trọng
lao động kĩ thuật trong các khu công nghiệp dịch vụ, nhất là các doanh nghiệp ở khu
vực nông thôn
Tỉ lệ lao động đã qua đào tạo trong lực lượng lao động của cả nước là 24.5%, trong
đó đã qua đào tạo sơ cấp - đào tạo nghề là 15.3%, tốt nghiệp THCN: 5.4%, tốt nghiệp
cao đẳng đại học trở lên là 5.8%.Trong 8 vùng lãnh thổ, vùng có tỉ lệ lực lượng lao động
đã qua đào tạo nói chung cao nhất là đồng bằng Sông Hồng: 31.9%, tiếp đến là duyên
hải Nam Trung Bộ:31.8%, và thấp nhất là Tây Bắc:11.3%, các vùng còn lại tỉ lệ 15%
[24]
Formatted: Font: Not Bold
Trang 40Thống kê lao động qua đào tạo tại các vùng, miền
T ây Bắc Vùng, miền khác
Biểu đồ 4.2 Thống kê lao động đã qua đào tạo
Trong 3 vùng kinh tế trọng điểm, lực lượng lao động ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ tỉ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo nói chung cao nhất:33.7%, tiếp đến là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam: 32.02%, thấp nhất là vùng kinh tế trọng điểm miền Trung: 5.9%
Cơ cấu cấp trình độ đào tạo giữa cao đẳng, đại học/trung học chuyên nghiệp/công nhân kĩ thuật còn bất hợp lí Năm 2000 tỉ lệ này là 1.0/1.31/4.8 Năm 2010 là 1.0/0.91/2.75 Cơ cấu ngành nghề này biểu hiện trên thị trường lao động thiếu nghiêm trọng công nhân kỹ thuật có trình độ lành nghề, trình độ lành nghề cao và kĩ thuật viên
Thống kê cơ cấu cấp trình độ đào tạo
1
0.91 2.75
Lao động có trình độ cao đẳng, đại học Lao động có trình độ trung cấp chuyên nghiệp Lao động có trình độ công nhân kỹ thuật
Biểu đồ 5.2 Thống kê cơ cấu cấp trình độ đào tạo
2.1.3 Đội ngũ giáo viên dạy nghề
Theo thống kê của Tổng cục Dạy nghề (Bộ LĐ-TB&XH) 2004 có 20.342 giáo viên dạy nghề Đến năm 2010 cả nước hiện có 21.630 giáo viên dạy nghề tại các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề và trung tâm dạy nghề Ngoài ra, cả nước cũng có gần 16.000 giáo viên thuộc các cơ sở khác có tham gia dạy nghề như giáo viên, giảng viên tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và các nghệ nhân, công nhân bậc cao
Tại các trường cao đẳng nghề, tỷ lệ giáo viên có trình độ đại học trở lên chiếm 69,30%, cao đẳng là 16,53% và công nhân kỹ thuật, nghệ nhân là 14,18%: