ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC PHAN THỊ KIM THU BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT GIỮA CÁC CƠ SỞ DẠY NGHỀ VÀ DOANH NGHIỆP TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHAN THỊ KIM THU
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT GIỮA CÁC CƠ SỞ DẠY NGHỀ VÀ DOANH NGHIỆP TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới hội đồng khoa học chuyên ngành Quản lý giáo dục, các thầy giáo, cô giáo, các cán bộ trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ tác giả trong thời gian học tập tại lớp Cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục K11 (2011- 2013) cũng như trong thời gian viết luận văn
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Mạc Văn Tiến - người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn trong quá trình tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Tổng cục Dạy nghề, Lãnh đạo Ban Quản lý các dự án Dạy nghề vốn ODA, các bạn đồng nghiệp, các cán bộ quản lý, lãnh đạo một số cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp tại Hải Phòng, gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng kinh nghiệm thực tế cùng với thời gian nghiên cứu chưa nhiều nên luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế Tác giả mong nhận được những ý kiến góp ý, chỉ bảo của các thầy, cô, các nhà khoa học, bạn bè, đồng nghiệp và những người quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2013
Tác giả
Phan Thị Kim Thu
Trang 4
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mu ̣c bảng biểu vi
Danh mục sơ đồ, biểu đồ vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT GIỮA CƠ SỞ DẠY NGHỀ VÀ DOANH NGHIỆP TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI 6
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Tại Việt Nam 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Nghề 9
1.2.2 Đào tạo 10
1.2.3 Đào tạo nghề 11
1.2.4 Quản lý, quản lý đào tạo nghề 12
1.3 Một số vấn đề lý luận về liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề với doanh nghiệp trong đào tạo nghề 15
1.3.1 Vai trò của việc liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề với doanh nghiệp trong đào tạo nghề 15
1.3.2 Một số nguyên tắc và nội dung liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề với DN trong đào tạo nghề 18
1.3.3 Hình thức liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề và DN trong đào tạo nghề 20
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề với DN 26
1.4 Đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội 29
1.5 Quản lý các hoạt động liên kết đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội 31
Trang 51.5.1 Nội dung quản lý: 31
1.5.2 Quy trình quản lý 31
1.5.3 Tổ chức quản lý 32
1.6 Kinh nghiệm về liên kết và quản lý hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề và DN trong khu vực và trên thế giới 35
1.6.1 Quản lý hoạt động liên kết trong đào tạo nghề ở Châu Âu 35
1.6.2 Quản lý hoạt động hợp tác trong đào tạo nghề ở Châu Á 36
Tiểu kết chương 1 41
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT GIỮA CƠ SỞ DẠY NGHỀ VÀ DOANH NGHIỆP TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ 42
2.1 Khái quát về thực trạng đào ta ̣o và sử du ̣ng lao đô ̣ng ở Việt Nam 42
2.1.1 Thực trạng chính sách 42
2.1.2 Quy mô, cơ cấu nghề đào tạo 43
2.2 Thực trạng liên kết và quản lý hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề và nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp 44
2.2.1 Tiến hành khảo sát 44
2.2.2 Kết quả khảo sát 45
2.2.3 Đánh giá chung về hiệu quả quản lý hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề với DN trong đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội 56
2.2.4 Nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề với DN trong đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội 58
Tiểu kết chương 2 60
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT GIỮA CÁC CƠ SỞ DẠY NGHỀ VÀ DOANH NGHIỆP TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI 61
3.1 Định hướng phát triển dạy nghề 61
3.1.1 Thời cơ và thách thức đối với phát triển đào tạo nghề 61
3.1.2 Nhu cầu nhân lực và nhân lực qua đào tạo nghề 63
Trang 63.1.3 Định hướng phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội (đến năm 2020) 64
3.2 Nguyên tắc xây dựng biện pháp 66
3.3 Các quan điểm được áp dụng khi xây dựng biện pháp 67
3.3.1 Theo quan điểm hệ thống - cấu trúc 67
3.3.2 Theo quan điểm thị trường 67
3.3.3 Tiếp cận theo quan điểm lịch sử - thực tiễn 68
3.4 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề với DN trong đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội 69
3.4.1 Phát triển hệ thống thông tin đào tạo nghề và nhu cầu xã hội 69
3.4.2 Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về liên kết đào tạo nghề giữa cơ sở dạy nghề và DN 73
3.4.3 Hoàn thiện và đổi mới cơ chế quản lý hoạt động liên kết đào tạo và sử dụng lao động 75
3.4.5 Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề phù hợp với thực tiễn sản xuất của DN 78
3.4.6 Tăng cường cơ sở vật chất và thiết bị đào tạo phù hợp với thực tiễn sản xuất ở DN 80
3.5 Khảo nghiệm nhận thức của các khách thể về mức độ cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp được đề xuất 82
3.5.1 Khách thể khảo nghiệm 82
3.5.2 Kết quả khảo nghiệm 83
Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 92
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Nhận thức của khách thể điều tra về ảnh hưởng của hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề với DN đến chất lượng đào tạo nghề (tính theo tỷ lệ %)
46
Bảng 2.2 Nhận thức của cán bộ quản lý, hiệu trưởng cơ sở dạy nghề 47
Bảng 2.3 Đánh giá của cán bộ quản lý, hiệu trưởng cơ sở dạy nghề và chủ DN về hình thức liên kết giữa cơ sở dạy nghề với DN (theo tỷ lệ %) 48
Bảng 2.4 Đánh giá của khách thể điều tra về mức độ liên kết giữa cơ sở dạy nghề với DN (tính theo tỷ lệ %) 48
Bảng 2.5 Đánh giá của khách thể điều tra về kết quả liên kết giữa 50
Bảng 2.6 Đánh giá của khách thể điều tra về về chất lượng đội ngũ 51
Bảng 2.7 Thực trạng về quản lý họạt động liên kết của các cơ sở dạy nghề 52
Bảng 2.8 Đánh giá của khách thể điều tra về các yếu tố ảnh hưởng đến 55
Bảng 2.9 Đánh giá hiệu quả quản lý hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề 56
Bảng 3.1 Thông tin trích ngang về khách thể khảo nghiệm 83 Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm các biện pháp được đề xuất (tính theo tỷ lệ %) 83
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ về khái niệm quản lý 13
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ về các chức năng quản lý 14
Sơ đồ 1.3 Sơ đồ nhà trường nằm ngoài DN 21
Sơ đồ 1.4 Nhà trường nằm trong DN 22
Sơ đồ 1.5 DN sản xuất nằm trong nhà trường 23
Sơ đồ 1.6 Hình thức liên kết đào tạo song hành 24
Sơ đồ 1.7 Hình thức liên kết đào tạo luân phiên 25
Sơ đồ 1.8 Hình thức liên kết đào tạo tuần tự 25
Sơ đồ 1.9 Chu trình quản lý hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề với DN 28
Sơ đồ 1.10 Biện pháp quản lý của cơ sở dạy nghề nhằm 32
Biểu đồ 2.1 Đánh giá hiệu quả quản lý hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề 57
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập là xu thế tất yếu của phát triển xã hội Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới, quá trình này là sự hợp tác trong cạnh tranh quyết liệt với các nước trong khu vực cũng như toàn thế giới Nhận thức được vấn đề này, mấy năm trở lại đây, nước ta xây dựng phát triển mạnh hệ thống các cơ sở dạy nghề, các trường kỹ thuật, mục đích là nhanh chóng đạt chuẩn khu vực và quốc tế để không ngừng tăng cường nguồn nhân lực cho thị trường trong nước và khả năng cạnh tranh ở thị trường nước ngoài
Đào tạo nghề Việt Nam đang đứng trước những thời cơ và thách thức lớn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ, đặc biệt khi đất nước tiến hành công cuộc hiện đại hóa và tăng cường hội nhập quốc tế Trong nền kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa, đào tạo nghề phải có những giải pháp quản lý linh hoạt và phù hợp nhằm giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng số lượng với chất lượng theo nhu cầu xã hội Văn kiện Đại hội Đảng khóa
XI [12] chỉ đạo: “Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển của xã hội; có cơ chế và chính sách thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo” Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 – 2020 [11] yêu cầu:
“phải chuyển nhanh hệ thống đào tạo nhân lực sang hoạt động theo cơ chế đào tạo theo nhu cầu xã hội và thị trường lao động, nhất là các ngành trọng điểm” Nghị quyết Trung ương 8 của Đảng do Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ngày 05/11/2013 có nêu chủ trương: “Phát triển giáo dục và đào ta ̣o p hải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiê ̣p với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng , thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế”
Hiện nay, ở Việt Nam có rất nhiều trường dạy nghề đang thực hiện đào tạo nghề với quy mô tương đối lớn và cơ cấu ngành nghề phong phú Tuy nhiên, chất lượng đào tạo ở hầu hết các trường dạy nghề chưa cao Rất nhiều người sau khi đã tốt nghiệp các trường dạy nghề vẫn không đáp ứng được yêu cầu công việc Một trong những nguyên nhân quan trọng của hiện tượng này là do thiếu sự liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp trong đào tạo nghề Cung đào tạo do các trường dạy
Trang 10nghề đưa ra chủ yếu dựa trên khả năng của mình mà không tính tới đường cầu tương ứng từ các doanh nghiệp Điều này dẫn đến sự mất cân đối cung - cầu đào tạo; lãng phí nguồn ngân sách đào tạo của nhà nước; cơ hội tìm kiếm được việc làm phù hợp với trình độ đã được đào tạo của người lao động thấp; nhiều doanh nghiệp để có nguồn nhân lực theo mong muốn, sau khi tuyển lao động về phải cho đi đào tạo lại, mất nhiều thời gian và tiền bạc
Để khắc phục tình trạng trên, các cơ sở đào tạo nghề hiện nay đã và đang cố gắng tìm ra các biện pháp quản lý đào tạo hiệu quả hơn, hướng vào nhu cầu của thị trường lao động và của doanh nghiệp Để làm tốt công tác này các cơ sở đào tạo nghề đang tìm kiếm các hoạt động phù hợp nhằm giúp cho cơ sở dạy nghề và các đơn vị sử dụng người lao động phối hợp chặt chẽ với nhau trong đào tạo nguồn nhân lực
Nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp, các nhà giáo dục và quản lý nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về nội dung này Tuy nhiên, các nghiên cứu mới đưa ra được thực trạng về đào tạo nghề, nêu ra một số giải pháp về phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội Trong khi, vai trò của quản lý đối với việc tăng cường sự liên kết giữa cơ sở dạy nghề với DN trong xu thế hội nhập hiện nay vẫn còn là khoảng trống, ít được quan tâm nghiên cứu Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả đã chọn vấn
đề: “Biện pháp quản lý hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp
trong đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm tăng cường liên kết giữa cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề, gắn đào tạo với giải quyết việc làm
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý, đào tạo nghề, các nội dung liên kết giữa cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp sử dụng lao động qua đào tạo nghề (sau đây gọi tắt là DN)
3.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề với DN
Trang 113.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm tăng cường liên kết giữa cơ sở dạy nghề với DN trong đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội
4 Khách thể, đối tượng nghiên cứu, khách thể khảo nghiệm
4.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp
trong đào tạo của các cơ sở dạy nghề
4.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động liên kết với DN trong đào tạo của các cơ
sở dạy nghề
4.3 Khách thể khảo nghiệm
Gồm các khách thể đại diện là cán bộ quản lý đào tạo nghề thuộc sở Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Hải Phòng; hiệu trưởng và trưởng phòng đào tạo của một số trường cao đẳng, trung cấp nghề; Giám đốc một số trung tâm dạy nghề; Chủ một
số doanh nghiệp
5 Vấn đề nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu hai vấn đề cơ bản sau:
- Hiện trạng quản lý hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp hiện nay như thế nào?
- Cần có những biện pháp nào để tăng cường liên kết giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp trong đào tạo nghề?
6 Giả thuyết nghiên cứu
Đào tạo nghề ở nước ta hiện nay còn nhiều bất cập trước yêu cầu phát triển và sử dụng lao động của doanh nghiệp Nếu không có các giải pháp liên kết thì không thu hẹp được khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng lao động Vì vậy, nghiên cứu tìm ra được giải pháp về phương thức liên kết, chính sách dạy nghề cho hoạt động liên kết, mục tiêu và nội dung đào tạo, bồi dưỡng năng lực cho giáo viên và đầu tư cơ sở vật chất phù hợp với nhu cầu doanh nghiệp thì nhất định chất lượng đào tạo nghề sẽ đáp ứng được nhu cầu xã hội
7 Phạm vi nghiên cứu
7.1 Phạm vi nội dung: Mối quan hệ liên kết giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp; quản lý
các hoạt động liên kết ở cấp vi mô và vĩ mô; nhu cầu xã hội có nội hàm rộng, trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chủ yếu nghiên cứu về nhu cầu của DN
7.2 Phạm vi không gian: Khảo sát thực trạng ở một số trường Cao đẳng nghề, Trung
Trang 12cấp nghề, và doanh nghiệp có sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trên địa bàn thành phố Hải Phòng
7.3 Phạm vi thời gian: Thực trạng về sự liên kết trong đào tạo giữa cơ sở dạy nghề với
DN trên địa bàn thành phố Hải Phòng từ năm 2009 đến nay
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
9 Phương pháp nghiên cứu
9.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp và khái quát hóa những vấn đề lý luận liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài dựa trên các tài liệu khoa học, tạp chí, sách báo, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước
9.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra - khảo sát bằng phiếu hỏi,
tổng kết kinh nghiệm, khảo nghiệm
9.3 Phương pháp thống kê
Căn cứ mục đích của đề tài, tác giả tổ chức điều tra, khảo sát thực trạng quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa cơ sở dạy nghề với DN thông qua các phiếu hỏi lấy ý kiến trả lời từ các cán bộ quản lý, hiệu trưởng các cơ sở dạy nghề, chủ doanh nghiệp; tiếp đó sử dụng phương pháp thống kê để xử lý và phân tích số liê ̣u, thông tin thu được
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp trong đào tạo nghề
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp trong đào tạo nghề
Trang 13Chương 3: Một số biện pháp quản lý nhằm tăng cường liên kết giữa các cơ sở
dạy nghề và DN trong đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT
GIỮA CƠ SỞ DẠY NGHỀ VÀ DOANH NGHIỆP TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
Liên kết giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp trong đào tạo nghề từ lâu đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu và ứng dụng nhằm nâng cao chất lượng dạy và học nghề
Vào giữa thế kỷ XIX, do sự phát triển của công nghiệp, ở Pháp xuất hiện nhiều cuốn sách viết về sự phát triển đa dạng của nghề nghiệp, người ta đã ý thức được rằng
hệ thống dạy nghề trong xã hội rất đa dạng và phức tạp, sự chuyên môn hóa được chú trọng Do vậy, nội dung các cuốn sách khẳng định tính cấp thiết phải hướng nghiệp, trang bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất, có nghề nghiệp phù hợp với năng lực của mình và phù hợp với nhu cầu xã hội [28]
Đối với giáo dục phổ thông, C Mac đã chỉ ra nhiệm vụ cơ bản: “Một là giáo dục trí tuệ; Hai là giáo dục thể chất; Ba là dạy kỹ thuật nhằm giúp học sinh nắm được những nguyên lý cơ bản của tất cả quá trình sản xuất, đồng thời biết sử dụng công cụ sản xuất đơn giản nhất” [44]
Các nước phát triển trên thế giới luôn đề cao công tác đào tạo nghề nên học sinh được định hướng nghề nghiệp rất tốt ngay khi còn học phổ thông Ở Nhật, Mỹ, Đức người ta xây dựng nên các bộ công cụ để kiểm tra giúp phân hóa năng lực, hứng thú nghề nghiệp ở trẻ nhằm có sự định hướng nghề nghiệp đúng đắn từ sớm Cho nên, với họ giáo dục không chỉ phát triển trí tuệ thuần túy mà còn chủ ý định hướng cho học sinh về nghề nghiệp phù hợp với năng lực bản thân, đồng thời trang bị cho học sinh kỹ năng làm việc để thích ứng với xã hội
"Trình độ đào tạo công nhân lành nghề ở các nước xã hội chủ nghĩa phụ thuộc rất nhiều vào sự kết hợp đúng đắn giữa dạy trong trường với thực tập sản xuất ở xí nghiệp Nếu thiếu nguyên tắc kết hợp dạy học với lao động sản xuất thì hệ thống dạy nghề không thể đào tạo công nhân lành nghề được" [40] Từ năm 1969, lần đầu tiên trong lịch sử, trường đại học Cambridge với 700 năm lịch sử đã bước vào con đường
"Công ty đại học" Ngày nay, xu thế các trường đại học liên kết với các xí nghiệp
Trang 15ngày càng nhiều ở Mỹ và một số nước Châu âu, Công ty đại học đang trở thành một xu thế phát triển tất yếu, tạo thời cơ phát triển cho trường đại học và xí nghiệp Các công
ty đại học này có một số đặc điểm sau:
- Dùng phương thức thị trường để thu hút sinh viên, mời các học giả nổi tiếng đến giảng dạy
- Việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học trực tiếp hướng về sản xuất, về quản lý kinh doanh, có thể làm gia tăng thu nhập tài chính và nhân đó không ngừng cải thiện điều kiện xây dựng trường, nâng cao địa vị của trường
- Mối quan hệ giữa nhà trường với DN ngày càng mật thiết, trường học và xí nghiệp tương hỗ, tương lợi, bình đẳng về lợi ích trên phương tiện dịch vụ kỹ thuật, do vậy mà tăng cường hợp tác giữa các bên
Do những ưu điểm như vậy mà các "Công ty đại học" mọc lên như nấm, từ nước
Mỹ đến Châu âu, rồi đến toàn thế giới "Công ty đại học" với những hình thức khác nhau và sự ra đời của xí nghiệp hóa trường học, báo trước sự phát triển quan trọng của
sự phát triển giáo dục [18, tr.11]
Jacques Delors, Chủ tịch ủy ban Quốc tế độc lập về giáo dục cho thế kỷ XXI của UNESCO khi phân tích "những trụ cột của giáo dục" đã viết: "Học tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại" Theo ông, vấn đề học nghề của học sinh là không thể thiếu được trong những trụ cột của giáo dục, đồng thời đã tổ chức các hội thảo, nghiên cứu về vấn đề "gắn đào tạo với sử dụng" trong đào tạo nghề [40] Ở Nhật và Mỹ, nhiều trường nghề được thành lập ngay trong các công ty tư nhân để đào tạo nhân lực cho chính công ty đó và có thể đào tạo cho công ty khác theo hợp đồng
Mô hình này có ưu điểm là chất lượng đào tạo cao, người học có năng lực thực hành tốt
và có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp
"Ba trong một" là quan điểm được quán triệt trong đào tạo nghề ở Trung Quốc hiện nay: Đào tạo, sản xuất, dịch vụ Theo đó, các trường dạy nghề phải gắn bó chặt chẽ với các cơ sở sản xuất và dịch vụ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề [40]
Nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho thị trường thương mại tự do ASEAN năm
2003, APEC năm 2020, hệ thống đào tạo nghề ở Inđônêxia từ năm 1993 đã được nghiên cứu và phát triển mạnh Trong đó, kết hợp đào tạo nghề giữa nhà trường với
DN được quan tâm đặc biệt [40]
Trang 16Năm 1999, ở Thái Lan Chính phủ đã nghiên cứu và xây dựng "Hệ thống hợp tác đào tạo nghề" (Cosperative training system) để giải quyết tình trạng bất cập giữa đào tạo nghề và sử dụng lao động và hướng tới phát triển nhân lực kỹ thuật trong tương lai [23]
Trong xu thế toàn cầu và hội nhập hiện nay, việc tổng kết kinh nghiệm quản lý đào tạo nghề của các nước trên thế giới nhằm vận dụng vào thực tiễn đào tạo nghề ở Việt Nam là thực sự cần thiết và cấp bách nhằm đào tạo nguồn nhân lực đủ sức đương đầu với cạnh tranh và liên kết
1.1.2 Tại Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng, lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông" Tư tưởng này đã được cụ thể hóa trong nguyên lý giáo dục ở Việt Nam trong suốt chiều dài lịch
sử giáo dục của nước nhà Tại Đại hội Văn hóa toàn quốc tháng 7 năm 1948, Tổng bí thư Trường Chinh đã khẳng định: "Biết và làm đi đôi; lý luận và hành động phối hợp" [21]
Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm tạo điều kiện để cho nhà trường liên kết với DN trong đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, nhất là trong những năm gần đây đã ban hành cơ chế chính sách thông thoáng giúp cho sự liên kết này được thuận lợi Điều này được cụ thể hóa trong Luật giáo dục năm 2005 Luật dạy nghề năm 2006 và Điều lệ trường CĐ nghề năm 2007, Điều lệ trường TC nghề năm
2007, Điều lệ trường trung cấp chuyên nghiệp năm 2008, Quy chế mẫu của trung tâm dạy nghề năm 2007 v.v Mặc dù có cơ chế, chính sách thuận lợi như vậy song ở nước ta, cho đến hiện nay có thể nói, thực trạng mối quan hệ liên kết giữa nhà trường với DN trong đào tạo nghề còn nhiều yếu và cũng có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này Năm 1993, PGS - TS Trần Khánh Đức có đề tài cấp bộ "Hoàn thiện đào tạo nghề tại xí nghiệp" [14] Đề tài tập trung nghiên cứu các trường, lớp dạy nghề đặt tại đơn vị sản xuất trong lĩnh vực về bưu chính viễn thông và hóa chất
Năm 2007, Nguyễn Anh Tuấn có luận văn tốt nghiệp "Hoàn thiện và đổi mới các biện pháp quản lý đào tạo nghề của trường trung học công nghiệp quốc phòng trong giai đoạn hiện nay (từ năm 2007 đến năm 2015)" [34] đi sâu nghiên cứu về các biện pháp quản lý đào tạo nghề theo quan điểm hệ thống: Quản lý mục tiêu, quản lý nội dung, quản lý phương pháp đào tạo nghề, , quản lý kết quả và chất lượng đào tạo nghề
Trang 17Đề tài “Phối hợp đào tạo giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp trong khu công nghiệp” của Nguyễn Văn Anh [1] đã xây dựng cơ sở lý luận đánh giá thực trạng và đưa
ra giải pháp về phối hợp giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong khu công nghiệp
Đề tài “Phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội” của Phan Minh Hiền [16]
đã đi sâu nghiên cứu về các giải pháp phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội Tuy nhiên, không đi sâu về vấn đề quản lý các hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp
Năm 2012, Nguyễn Thị Phương có luận văn tốt nghiệp “Quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở Trung tâm giáo dục thường xuyên Phố Nối tỉnh Hưng Yên” [22] đi sâu nghiên cứu về các biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở Trung tâm giáo dục thường xuyên Phố Nối tỉnh Hưng Yên
Trên đây là sự khái lược về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề liên kết giữa trường nghề với DN trong đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề Tuy nhiên, vai trò của quản lý đối với việc tăng cường hoạt động liên kết giữa trường nghề với DN trong xu thế hội nhập hiện nay vẫn còn là khoảng trống, ít được quan tâm nghiên cứu Vì vậy, tác giả chọn vấn đề: "Biện pháp quản lý hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp trong đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội" làm đề tài nghiên cứu
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Nghề
Nghề là một loại hình hoạt động mang tính chất riêng, đặc thù của con người, nó được hình thành và phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người Đó là một dạng lao động vừa mang tính xã hội, vừa mang tính cá nhân, trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi thỏa mãn những yêu cầu nhất định của xã hội, của cá nhân
Nghề là một khái niệm phức tạp, vì vậy dưới các góc độ khác nhau người ta quan niệm về nghề khác nhau:
Nhóm thứ nhất cho rằng nghề là một khâu độc lập của sự phân công lao động hoặc là một dạng hoạt động do con người thực hiện nhằm hoàn thành những công việc theo sự phân công lao động
Nhóm thứ hai đưa ra định nghĩa đơn giản hơn, nghề là những năng lực làm ra những đồ dùng cần thiết; nghề là một công việc nào đó mà nhờ đó con người ta có thu nhập để duy
Trang 18trì, phát triển cuộc sống bản thân và gia đình; nghề là biết cách làm một việc nào đó theo sự phân công lao động xã hội
Theo tiếng La tinh "Professio" - nghề có nghĩa là công việc chuyên môn được hình thành một cách chính thống, là dạng lao động đòi hỏi một trình độ học vấn nào đó, là hoạt động cơ bản giúp con người tồn tại
Theo E.A Climôv thì: "Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất và tinh thần con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân công xã hội mà có) Nó tạo cho con người khẳ năng sử dụng lao động của mình để thu lấy phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển" [40]
Theo từ điển Tiếng Việt, "Nghề là công việc chuyên môn làm theo sự phân công lao động xã hội" [31, tr.676]
Từ các cách hiểu trên, tác giả nhận thức được rằng nghề là kết quả của sự phân
công lao động xã hội, xã hội phát triển thì nghành nghề cũng thay đổi theo Nghề là một dạng lao động đòi hỏi con người phải trải qua một quá trình đào tạo chuyên biệt
để có những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nhất định Nhờ quá trình hoạt động nghề nghiệp, con người có thể tạo ra sản phẩm để thỏa mãn những nhu cầu của cá nhân và xã hội Dưới góc độ đào tạo, tác giả hiểu nghề là toàn bộ các kiến thức, kỹ năng, thái độ, kinh nghiệm và các phẩm chất nhân cách khác mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực lao động nhất định
Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích,
có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ…để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân tạo điều kiện cho họ để có thể vào đời hành nghề một cách năng xuất và hiệu quả” [15]
Như vậy, có thể hiểu đào tạo là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, đồng thời giáo dục phẩm chất đạo đức, thái độ cho học sinh và thanh niên để họ có thể trở thành người công dân, người lao động có chuyên môn và nghề nghiệp nhất định,
Trang 19nhằm thỏa mãn nhu cầu tồn tại và nhu cầu phát triển của mỗi cá nhân, đáp ứng nhu cầu nhân lực của xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định
1.2.3 Đào tạo nghề
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 đã định hướng cho sự phát triển nguồn nhân lực Việt Nam với nội dung: “ Nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội; đào tạo ra những con người có năng lực sáng tạo, tư duy độc lập, trách nhiệm công dân, đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp, năng lực ngoại ngữ, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, năng lực tự tạo việc làm và khả năng thích ứng với những biến động của thị trường lao động và một bộ phận có khả năng cạnh tranh trong khu vực và thế giới” [14, tr.22]
Ngày nay khi đề cập tới nguồn lực quyết định nhất đến sự phát triển kinh tế - xã
hội, người ta thường chỉ ra đó là vốn con người, là nguồn nhân lực chứ không phải là
nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, của cải vật chất, tiền bạc
Nguồn nhân lực là chỉ những người đang và sẽ bổ sung vào lực lượng lao động xã
hội đa dạng và phong phú, bao gồm các thế hệ trẻ đang được nuôi dưỡng, học tập ở các cơ
sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và cao đẳng, đại học Nói đến nguồn nhân lực, mới chỉ đề cập đến tiềm lực; còn khi tiến hành đào tạo, sử dụng, phát huy, phát triển nguồn nhân lực, nó mới trở thành lực tác động đến phát triển kinh tế - xã hội
Phát triển nguồn nhân lực được hiểu về cơ bản là làm gia tăng giá trị của con người
về mọi mặt, trí tuệ, thể lực và thẩm mỹ; làm cho con người trở thành những người lao động
có năng lực và phẩm chất mới, cao hơn
Phát triển nguồn nhân lực chịu sự tác động của 5 yếu tố: Giáo dục đào tạo, sức khỏe
và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và giải phóng con người Trong đó, giáo dục là nhân tố cốt lõi, là cơ sở của các nhân tố khác và đồng thời cũng là cơ sở quan trọng nhất cho sự phát triển nền kinh tế - xã hội bền vững
* Đào tạo nghề thực chất là nhằm phát triển nguồn nhân lực Hiện nay, các cơ sở
giáo dục nghề nghiệp đào tạo ra hai loại hình cơ bản: công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ Sản phẩm đào tạo là nhân cách hay nói cách khác là phẩm chất và năng lực của người lao động ở một tiêu chuẩn quy định của nghề đào tạo Nghề đào tạo là những nghề
mà người lao động cần được đào tạo theo một chương trình quy định với những kiến thức,
kỹ năng và thái độ cần thiết theo yêu cầu của thị trường lao động để có thể hành nghề
Như vậy, theo tác giả Đào tạo nghề là quá trình truyền thụ và lĩnh hội một hệ thống tri
Trang 20thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp nhất định đã được khái quát hóa trong nghề đào tạo; là quá trình rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo, thái độ và năng lực nghề nghiệp ở người học để hình thành nhân cách nghề nghiệp Quá trình này được thực hiện chủ yếu thông qua việc giảng dạy theo chuẩn mực của các nghề đào tạo
1.2.4 Quản lý, quản lý đào tạo nghề
1.2.4.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một hoạt động đặc biệt, là yếu tố không thể thiếu được trong đời sống
xã hội, gắn liền với quá trình phát triển, đặc biệt trong xã hội hiện nay thì quản lý có vai trò rất lớn Sự phân công, hợp tác trong lao động giúp đạt năng suất cao trong công việc, điều này đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra tức là phải có người đứng đầu Hoạt động quản lý được nảy sinh từ nhu cầu đó Theo C.Mác, quản lý (QLXH) là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hoá lao động Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý (con người điều khiển con người) Ông coi quản lý là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội, theo ông: "Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng" [43, tr.29-30]
Như vậy, hoạt động quản lý là tất yếu tồn tại ở mọi loại hình tổ chức, mọi xã hội Khái niệm quản lý đã được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau:
Theo Harol Koontz: "Quản lý là hoạt động thiết yếu đảm bảo sự nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức" [41, tr.31]
Theo F.W.Taylor: "Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm
và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" [3, tr.89]
Theo Thomas.J.Robbins - Wayned Morrison: "Quản lý là một nghề nhưng cũng là một nghệ thuật, một khoa học" [45, tr.19]
Theo Aunapu F.F: "Quản lý là khoa học và là một nghệ thuật tác động vào một hệ thống xã hội, chủ yếu là quản lý con người nhằm đạt được những mục tiêu xác định Hệ
Trang 21thống đó vừa động, vừa ổn định bao gồm nhiều thành phần có tác động qua lại lẫn nhau" [39, tr.75]
Ở Việt Nam cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý:
Theo từ điển Tiếng Việt: "Quản lý là tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định" [31, tr.789]
Theo GS Mai Hữu Khuê: "Quản lý là tác động có mục đích tới tập thể những người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục đích đã định trước" [19, tr.19-20]
Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn: "Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện chuyển biến của môi trường" [27, tr.43]
Theo tác giả Nguyễn Văn Bình: "Quản lý là một nghệ thuật đạt được những mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác" [2, tr.176]
Có thể nhận thấy những khái niệm nêu trên tuy nhấn mạnh mặt này hay mặt khác,
dù tiếp cận ở góc độ nào, lĩnh vực nào đi chăng nữa; ở cấp vĩ mô hay vi mô đều có điểm chung thống nhất là coi quản lý là hoạt động có tổ chức, có chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý; giữa chúng có mối quan hệ với nhau thông qua những tác động quản lý Do vậy, tác giả có thể biểu thị sơ đồ khái niệm quản
lý như sau:
Qua sơ đồ khái niệm quản lý, tiếp cận theo quan điểm hệ thống thì "quản lý" là một quá trình bao gồm các thành tố cấu trúc như: chủ thể quản lý, đối trượng quản lý, khách thể quản lý, mục tiêu quản lý v.v Nếu tiếp cận theo quan điểm hoạt động thì
Chủ
thể
QL
Đối tượng
QL
Mục tiêu quản lý
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ về khái niệm quản lý
Trang 22"quản lý" là hoạt động có ý thức của chủ thể quản lý
Từ việc phân tích các khái niệm và quan điểm tiếp cận khác nhau về quản lý, tác
giả hiểu: Quản lý là hoạt động có ý thức của chủ thể quản lý nhằm điều khiển tác động
lên đối tượng, khách thể quản lý để đạt được mục tiêu của quản lý
Toàn bộ hoạt động quản lý đều được thực hiện thông qua các chức năng của nó, như: chức năng lập kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra, đánh giá Nếu không xác định được chức năng quản lý thì chủ thể quản lý không thể điều hành được hệ thống quản lý Chức năng quản lý có thể cụ thể hóa bằng sơ đồ dưới đây:
Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và cả quan hệ giữa con người với chính bản thân mình xuất hiện theo Trải qua tiến trình lịch sử phát triển từ xã hội lạc hậu đến xã hội văn minh, trình độ sản xuất, tổ chức điều hành xã hội cũng phát triển theo, đó là tất yếu lịch sử Ngược lại, khi trình độ tổ chức điều hành xã hội phát triển sẽ thúc đẩy sự phát triển của trình độ sản xuất, của nền văn minh xã hội Như vậy,
1
Lập kế hoạch
Trang 23quản lý trở thành nhân tố của sự phát triển xã hội Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến con người Quản lý có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của xã hội tùy theo trình độ quản lý cao hay thấp
1.2.4.2 Khái niệm quản lý đào tạo nghề:
Dựa trên các khái niệm về quản lý, tác giả cho rằng: Quản lý ĐTN là nghệ thuật sử dụng nguồn lực có mục đích của các cơ quan quản lý nhà nước về ĐTN thông qua các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra và đánh giá nhằm trang bị cho nhân lực được đào tạo những kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp, tính năng động và sáng tạo để họ trở thành những người có năng lực, phẩm chất đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu xã hội
1.3 Một số vấn đề lý luận về liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề với doanh nghiệp trong đào tạo nghề
1.3.1 Vai trò của việc liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề với doanh nghiệp trong đào
tạo nghề
Chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó việc liên kết đào tạo giữa nhà trường với DN có một vai trò rất quan trọng, nhất là trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh khốc liệt Vai trò của sự liên kết này đối với nâng cao chất lượng đào tạo được thể hiện ở các khía cạnh sau:
* Tăng cường các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo
Trang 24Để mục tiêu và nội dung đào tạo phù hợp với yêu cầu sản xuất, cả cơ sở dạy nghề
và doanh nghiệp phải cùng nhau tổ chức biên soạn nội dung, xác định mục tiêu đào tạo nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn sản xuất ở DN Bên cạnh mục tiêu và nội dung đào tạo theo quy định của Nhà nước, cần bổ sung một số yêu cầu về cập nhật kỹ thuật mới,
về tác phong công nghiệp của người lao động trong một nền sản xuất lớn, kỹ năng giao tiếp, năng lực sáng tạo, khả năng thích ứng hòa nhập cộng đồng, kể cả phong tục tập quán ở các nơi người công nhân sẽ làm việc,v.v Tuy nhiên, việc bổ sung mục tiêu, nội dung chương trình phải đảm bảo nguyên tắc không vượt quá 30% chương trình khung được cho phép
- Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý
Trong cơ chế cũ, người giáo viên thường có xu hướng khép mình ở trong khuôn viên nhà trường, kiến thức mà họ có mang nặng tính hàn lâm, hàng năm không nhất thiết phải cập nhật và thay đổi Để quá trình liên kết với DN thực sự đạt hiệu quả cao, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý phải có sự chuyển biến tích cực Muốn vậy, cả cơ sở dạy nghề và DN cần lên kế hoạch để giáo viên có thể đi tham quan, tập huấn thường xuyên tại DN, đi đào tạo chuyên sâu về công nghệ mới theo xu thế của thị trường và yêu cầu của DN Đây sẽ là cơ hội tốt để người giáo viên, cán bộ quản lý có điều kiện tiếp cận những tri thức, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, phương pháp quản lý mới của DN, nhờ
đó tự nâng cao năng lực của bản thân, góp phần quyết định chất lượng giờ giảng và hướng dẫn thực hành cho học sinh
- Tranh thủ cơ sở vật chất, tài chính của DN đầu tư cho đào tạo
Để tăng sức mạnh cạnh tranh, DN luôn cải tiến, đầu tư những công nghệ sản xuất hiện đại, họ có thể cung cấp cho nhà trường các tài liệu về công nghệ, kỹ thuật mới nhất, phù hợp với trình độ kỹ thuật, công nghệ của thực tiễn sản xuất, đây là nguồn tư liệu quý để thày và trò cùng tham khảo và học tập
- Đổi mới về công tác quản lý
Sự liên kết giữa cơ sở dạy nghề với DN sẽ tác động đến việc sắp xếp, hoàn thiện lại tổ chức bộ máy của nhà trường, đòi hỏi phải xuất hiện các bộ phận làm nhiệm vụ tư vấn, điều hành, kiểm tra, duy trì mối quan hệ, đồng thời cũng có các bộ phận bị thu hẹp lại để phù hợp với nhiệm vụ được giao Do có sự liên kết với các DN, cơ chế quản lý cần phải dân chủ hơn, người hiệu trưởng phải thâm nhập thực tế, học hỏi, trao đổi, bàn bạc, suy nghĩ để dẫn dắt nhà trường phát triển Tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên học
Trang 25tập, sáng tạo, phát huy quyền dân chủ của mình để xây dựng nhà trường Đối với học sinh cũng cần được tham gia, góp ý kiến vào những kế hoạch đào tạo, thực tập sản xuất của nhà trường, v.v
- Cải tiến công tác kiểm tra đánh giá chất lượng đào tạo
Công cụ và phương pháp để tổ chức kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo sẽ khách quan và chính xác hơn do DN sẽ quan tâm đến việc kết hợp với nhà trường trong xây dựng mục tiêu, biên soạn nội dung chương trình cũng như nội dung kiểm tra, thi hết môn và thi tốt nghiệp
Nhà trường căn cứ vào kết quả khảo sát, dự báo về nhu cầu của thị trường lao động
và tình hình học sinh tốt nghiệp đang làm việc tại các DN, có định hướng về sự phát triển của các ngành, nghề trong thời gian tới, từ đó quyết định đến số lượng, chủng loại máy móc, thiết bị cần đầu tư, xây dựng mục tiêu giảng dạy, bồi dưỡng giáo viên, chuẩn
bị các điều kiện cho công tác đào tạo những năm sau Như vậy, việc xác lập mối liên kết giữa nhà trường với DN sẽ có tác dụng tích cực, to lớn quyết định đến chất lượng đào tạo đội ngũ người lao động hiện nay theo hướng phù hợp với nhu cầu, yêu cầu của thị trường lao động trong xu thế toàn cầu và hội nhập
* Nâng cao chất lượng đào tạo
- Chất lượng trong của đào tạo:
Nhờ nắm bắt được yêu cầu đào tạo thể hiện ở đơn đặt hàng của các doanh nghiệp
mà nhà trường có kế hoạch chỉ đạo việc mua sắm các thiết bị dạy học, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành phù hợp với mục tiêu và nội dung chương trình đề ra, như vậy đạt hiệu quả về đầu tư kinh phí
Theo phương thức này, tại thời điểm tuyển sinh, nhà trường và DN có thể tổ chức cho người học ký quỹ một số tiền "đặt cọc" nhất định để giữ chỗ làm việc của mình cho đến khi tốt nghiệp Đây là một hình thức góp vốn để đầu tư cho sự đổi mới công nghệ tại DN và cũng góp phần tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ đào tạo
Người học nghề theo hợp đồng đào tạo sẽ yên tâm vì đã xác định được địa chỉ làm việc trong tương lai của mình ở DN nên cố gắng trong học tập, có động cơ, mục đích học tập đúng đắn Kết quả học tập thực chất, đáp ứng được những yêu cầu khách quan của DN
- Chất lượng ngoài của đào tạo
Năng lực sáng tạo, khả năng thích ứng với đời sống xã hội và thị trường lao động,
Trang 26những giá trị sử dụng và đóng góp thực tế cho xã hội của người tốt nghiệp đã được rèn luện qua phương thức hợp tác giữa nhà trường và DN trong đào tạo, do vậy, tỷ lệ học sinh sau khi tốt nghiệp có việc làm sẽ được tăng lên
Khi ký kết hợp đồng đào tạo, DN đã có kế hoạch giao việc cho từng học sinh sau khi tốt nghiệp, nếu DN không còn nhu cầu tuyển dụng một số học sinh nào đó thì với kiến thức, kỹ năng và khả năng thích ứng cao, các em có thể tham gia lao động ở DN khác hoặc tự mình đi tìm kiếm việc làm Như vậy, chất lượng đào tạo ngoài cũng được nâng lên
Người lao động được đào tạo theo phương thức này sau khi tốt nghiệp tuổi đời còn rất trẻ, nắm được công nghệ tiên tiến, có phản xạ nhanh, có sức khỏe, khả năng thích ứng tốt, họ sẽ khẳng định được mình trong công việc, đó là cơ sở để các chủ DN cân nhắc đề bạt Tóm lại, muốn nâng cao chất lượng, đào tạo nghề phải gắn với sản xuất, với nhu cầu và yêu cầu thị trường lao động
1.3.2 Một số nguyên tắc và nội dung liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề với DN trong
đào tạo nghề
1.3.2.1 Về nguyên tắc
Để liên kết đào tạo có hiệu quả cần tuân thủ các nguyên tắc:
Sự liên kết là cộng đồng trách nhiệm, do vậy, các bên liên quan phải thực sự coi đây là trách nhiệm trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho đất nước; đồng thời sự liên kết phải là sự tự nguyện, trên cơ sở tôn trọng tính tự giác cao của các bên liên quan;
Việc xác định nghề đào tạo, trình độ đào tạo phải trên cơ sở nhu cầu thực sự của các doanh nghiệp và thị trường lao động;
Quá trình phân tích nội dung mỗi nghề cần đào tạo để xác định những kỹ năng cần thiết cho người học cần có dự tham gia thực sự, tích cực của doanh nghiệp và các ngành công nghiệp;
Dù là dạy nghề tại doanh nghiệp hoặc tại cơ sở dạy nghề vẫn phải đảm bảo tính giáo dục toàn diện; tính khoa học, hệ thống, phù hợp và ổn định;
Đảm bảo liên thông trong đào tạo, tạo điều kiện cho người học, làm việc và có thể tiếp tục học để có được kiến thức, kỹ năng cao hơn khi cần thiết và khi có điều kiện; Đảm bảo thống nhất các nghề trong nhóm và tính đặc thù của từng nghề, đáp ứng chuẩn dạy nghề quốc gia và hướng tới kỹ năng của khu vực và thế giới
Trang 271.3.2.2 Về trách nhiệm
Đối với doanh nghiệp:
+ Doanh nhiệp phải có chiến lược/kế hoạch phát triển nhân lực phù hợp với chiến lược/kế hoạch sản xuất kinh doanh;
+ Doanh nghiệp có trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ sở dạy nghề về nhu cầu
về lao động; tạo điều kiện cho học sinh các trường nghề thực tập tại doanh nghiệp; tạo điều kiện cho cá giáo viên dạy nghề được đi thực tế sản xuất tại doanh nghiệp, nhất là khi doanh nghiệp đổi mới công nghệ và trang thiết bị;
+ Doanh nghiệp tham gia xây dựng tiêu chuẩn, kỹ năng nghề, thiết kế chương trình
và tham gia giảng dạy, đánh giá kết quả học tập của người học nghề; tham gia đánh giá
kỹ năng nghề cho người lao động qua đào tạo nghề;
+ Tổ chức đào tạo nghề tại doanh nghiệp với nhiều hình thức khác nhau cho những lao động tuyển mới chưa qua đào tạo nghề và nâng cao kỹ năng nghề cho người lao động đã có nghề, phù hợp với điều kiện và công nghệ sản xuất của doanh nghiệp;
+ Doanh nghiệp có trách nhiệm đóng góp tài chính (quỹ hỗ trợ dạy nghề) khi nhận lao động qua đào tạo nghề từ các cơ sở cung ứng nhân lực;
+ Doanh nghiệp có thể được nhận kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề nếu tự tổ chức đào tạo nghề hoặc đào tạo theo “đơn đặt hàng” của Nhà nước;
+ Được miễn/giảm thuế thua nhập doanh nghiệp khi đào tạo nghề tương ứng với chi phí đào tạo;
Đối với cơ sở dạy nghề:
Chủ động xác định số lượng nghề đào tạo, quy mô đào tạo trên cơ sở năng lực của
cơ sở và nhu cầu của doanh nghiệp; chủ động xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu doanh nghiệp Đổi mới phương pháp, quy trình đào tạo, lấy học sinh, người học nghề làm trung tâm và nhu cầu của doanh nghiệp là định hướng đào tạo
Cơ sở dạy nghề phải gắn với doanh nghiệp trong quá trình đào tạo, phải coi doanh nghiệp là thành tố của quá trình đào tạo từ khâu xây dựng danh mục nghề, tiêu chuẩn,
kỹ năng nghề, thiết kế chương trình và tham gia giảng dạy, đánh giá kết quả học tập của người học nghề… Các cơ sở dạy lý thuyết, doanh nghiệp đào tạo kỹ năng nghề, kèm cặp tại doanh nghiệp
- Hình thành bộ phận/đơn vị quan hệ doanh nghiệp trong các cơ sở dạy nghề để nắm bắt nhu cầu của doanh nghiệp và hợp tác với doanh nghiệp trong hoạt động đào tạo
Trang 28Cơ sở dạy nghề phải chủ động điều tra để có được thông tin về nhu cầu của doanh nghiệp (nghề, trình độ, mức độ kỹ năng, ) để tổ chức đào tạo phù hợp
- cầu
Trong thực tế, hoạt động liên kết này có thể diễn ra rất đa dạng, phong phú trên nhiều mặt:
- Sự liên kết giữa cơ sở dạy nghề với DN trong việc triển khai xây dựng mục tiêu
và nội dung đào tạo theo quy chế của Bộ GD - ĐT và Tổng cục Dạy nghề ban hành Mặt khác khi xây dựng mục tiêu, nội dung đào tạo phải xét đến tính đặc thù của DN là nơi sẽ tiếp nhận học sinh sau khi tốt nghiệp;
- Tuyển sinh và tổ chức thi tốt nghiệp cuối khóa cho học sinh;
- Đánh giá chất lượng đào tạo nghề;
- DN đóng góp nguồn lực cho quá trình đào tạo như: Kinh phí, tài liệu, máy móc thiết bị, các chuyên gia, thợ bậc cao, v.v
- Hợp tác trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo và sử dụng lao động qua việc hoạch định chiến lược phát triển của cơ sở dạy nghề với DN để từ đó xác định nhu cầu đào tạo: số lượng, cơ cấu ngành nghề, bậc thợ, hình thức đào tạo (đào tạo mới, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng bậc, v.v.)
1.3.3 Hình thức liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề và DN trong đào tạo nghề
Sự liên kết giữa nhà trường với DN đã được áp dung phổ biến ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam và luôn thu được những kết quả nhất định Có khá nhiều phương thức liên kết giữa nhà trường với DN Dựa trên một số tiêu chí, tác giả phân loại các loại hình liên kết giữa cơ sở dạy nghề với DN ở Việt Nam
* Phân loại trên cơ sở pháp lý
- Phương thức nhà trường nằm ngoài DN
Trang 29Sơ đồ 1.3: Sơ đồ nhà trường nằm ngoài DN
Theo mô hình trên thì trường dạy nghề không nằm trong các công ty, xí nghiệp mà trực thuộc các Bộ, Sở chủ quản, nhà trường và DN là hai đơn vị độc lập nhau Chương trình đào tạo, phần "cứng" theo quy định chương trình khung của Bộ LĐTB&XH chiếm khoảng 70 - 80%; phần "mềm" chiếm tỷ lệ khoảng 20 - 30% dành để nhà trường bổ sung nội dung kiến thức và công nghệ mới; nghề đào tạo theo danh mục do Nhà nước quy định Giáo viên chủ yếu là của nhà trường, trong thời gian thực tập sản xuất có kết hợp với cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề của DN để giảng dạy Địa điểm học lý thuyết và thực hành cơ bản thường ở tại trường, thời gian thực tập sản xuất tại DN
Ưu điểm của phương thức này là nhà trường không bị lệ thuộc vào cơ sở sản xuất của DN, quá trình đào tạo đảm bảo được tiến độ chương trình, học sinh có lý thuyết chuyên môn rộng, đáp ứng linh hoạt hơn với sự chuyển đổi của ngành nghề sau khi tốt nghiệp, cũng như có thể công tác ở nhiều loại hình sản xuất ở các DN khác nhau
Nhược điểm của phương thức này là hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề với các DN khó thiết lập hoặc thiết lập ở mức thấp, đào tạo khó gắn với sử dụng
Hình thức liên kết để tổ chức quá trình đào tạo giữa nhà trường và DN chủ yếu là hình thức đào tạo tuần tự, chỉ có một phần nhỏ tổ chức theo hình thức đào tạo luân phiên Mức độ liên kết của phương thức này thường có giới hạn và rời rạc, tuy nhiên cũng có một số ít trường hợp, hoạt động liên kết giữa nhà trường với DN ở mức độ toàn diện
Học sinh
phổ thông
Học sinh tốt nghiệp
Nhà trường (nơi tổ chức quá trình đào tạo)
Doanh nghiệp
Trang 30- Phương thức nhà trường nằm trong DN
Theo mô hình này, trường dạy nghề nằm trong DN như các tổng công ty, nhà máy, các hãng, tập đoàn sản xuất Hiện nay, mô hình này đã phổ biến trên thế giới, nhất là các nước phát triển Tại Việt Nam, nhiều trường thuộc các DN đã đào tạo nghề cho DN của mình khá tốt như các trường của tập đoàn LILAMA, Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam v.v Theo báo cáo tổng quan về dạy nghề của Bộ LĐTB&XH, đến tháng 5/2008 cả nước có gần 150 cơ sở dạy nghề thuộc các DN
Đặc điểm của mô hình này là đào tạo từ trình độ sơ cấp đến cao đẳng, thời gian đào tạo từ 1 đến 3 năm, tùy theo nghề cụ thể mà đơn vị sản xuất yêu cầu Nghề đào tạo theo chuyên ngành hẹp của DN Mục tiêu, nội dung chương trình cũng theo chương trình chuẩn quốc gia, tuy nhiên tỷ lệ phần "mềm" được mở rộng hơn, chiếm khoảng 30% dành để bổ sung kiến thức và công nghệ mới trong thực tiễn sản xuất Mô hình này cần sự hợp tác giữa giáo viên nhà trường và giáo viên kiêm chức của DN gồm các cán
bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý và công nhân lành nghề tham gia giảng dạy Kinh phí chủ yếu do DN cung cấp, phần còn lại có thể do ngân sách Nhà nước bổ sung, hoặc do học sinh đóng góp
Ưu điểm của phương thức này là gắn đào tạo với sử dụng, đáp ứng nhu cầu nhân lực của chính các cơ sở sản xuất thuộc DN Nội dung chương trình đào tạo thường xuyên được bổ sung, cải tiến nhằm cập nhật những kiến thức mới về công nghệ, thiết bị hiện đại Tận dụng được máy móc, thiết bị của DN phục vụ dạy nghề; huy động đội ngũ
kỹ sư của DN tham gia giảng dạy về chuyên môn, về công nghệ mới, phương pháp hạch
Cơ sở sản xuất
Sơ đồ 1.4: Nhà trường nằm trong DN
Trang 31toán và quản lý của DN Hình thức đào tạo này phù hợp với đặc điểm sản xuất cũng như công nghệ của DN, do vậy tiết kiệm được thời gian đào tạo của người lao động và tiết kiệm chi phí cho DN
Nhược điểm, học sinh của các loại trường này dễ bị động bởi các yêu cầu sản xuất nên các khóa học khó tiến hành được theo trình tự và bài bản, học sinh sau khi tốt nghiệp khi cần chuyển đổi nghề sẽ gặp khó khăn vì họ chỉ được đào tạo theo một chuyên ngành hẹp
Tuy vậy, về lâu dài, khi sản xuất ổn định và phát triển, các DN làm ăn có lãi, đầu
tư dây truyền công nghệ, trang thiết bị hiện đại thì hình thức đào tạo này là phù hợp hơn
cả Trong giai đoạn hiện nay khi mà nền kinh tế trên thế giới đang bị khủng hoảng, Việt Nam chúng ta không thể không bị ảnh hưởng, Nhà nước nên có những giải pháp tình thế
để duy trì đào tạo ở một số trường gặp khó khăn do Tổng công ty làm ăn kém hiệu quả
- Phương thức DN sản xuất nằm trong nhà trường
Đặc điểm của phương thức này là nhà trường vừa quản lý cơ sở đào tạo, vừa quản
lý DN sản xuất Đối với học sinh không chỉ được trang bị kiến thức, kỹ năng chuyên môn cần thiết về nghề mà còn được trang bị kiến thức về DN và kinh doanh giúp họ tự biết cách thành lập doanh nghiệp để có thể trở thành ông chủ, tự giải quyết công việc làm ăn cho mình và tạo công ăn việc làm cho những người lao động khác Theo phương thức hợp tác này những năm 90 trên thế giới, như ở Mỹ có làn sóng thành lập công ty giáo dục kinh doanh, mục đích cuối cùng của nó là thực hiện giảm chi, tăng thành quả, nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng cho học sinh có nhiều năng lực cạnh tranh,
Doanh nghiệp sản xuất
Doanh nghiệp ngoài xã hội
Sơ đồ 1.5: DN sản xuất nằm trong nhà trường
Trang 32mở cơ sở sản xuất thì DN sản xuất của các trường này đã giải thể hoặc chuyển hướng hoạt động sang hình thức tiếp thị, nhận đảm bảo phần nhân công cho các DN Nghị quyết TW2 khóa VIII đã cho phép thành lập lại đơn vị sản xuất ở trong các trường dạy nghề Đến nay, Điều lệ trường CĐ nghề, Điều lệ trường TC nghề, quy chế mẫu của trung tâm dạy nghề do Bộ LĐTB&XH ban hành đã cho phép các trường nghề được thành lập DN hoặc cơ sở sản xuất, dịch vụ
Ưu điểm của mô hình này là nhà trường chuẩn bị hiện trường cho học sinh thực hành cơ bản, thực tập sản xuất, học phương pháp tổ chức và quản lý sản xuất để có thể trở thành chủ nhân của các DN vừa và nhỏ
Nhược điểm là khả năng thành lập và duy trì các DN sản xuất trong nhà trường gặp nhiều khó khăn, yêu cầu năng lực quản lý về lĩnh vực kinh doanh và giáo dục của người lãnh đạo phải toàn diện Trên thế giới phương thức này được áp dụng ở một số nước như Australia, Mỹ, v.v song kết quả đạt được chỉ ở mức độ nhất định Ở Việt Nam, trong giai đoạn hiện nay khi mà trình độ, năng lực điều hành kinh doanh và quản
lý đào tạo nghề của cán bộ còn hạn chế, chúng ta nên thận trọng khi duy trì phương thức đào tạo này
Như vậy, mỗi phương thức liên kết và hình thức tổ chức quá trình đào tạo của các
mô hình trên đều có những ưu điểm và hạn chế khác nhau Dù có khác nhau như thế nào thì ở mỗi mô hình đều đem lại những ảnh hưởng tích cực đến chất lượng đào tạo nghề
và lợi ích cho cả hai bên đối tác nhà trường và DN Hiệu quả và chất lượng cao hay thấp còn phụ thuộc vào năng lực quản lý của mỗi chủ thể khác nhau
* Phân loại theo hình thức liên kết để tổ chức quá trình đào tạo
- Hình thức liên kết đào tạo song hành
Nhà trường
DN
Sơ đồ 1.6 Hình thức liên kết đào tạo song hành
Trang 33Lý thuyết
- Hình thức liên kết đào tạo luân phiên
Nhà trường
DN
Quá trình đào tạo được tổ chức tại nhà trường và ở DN Học lý thuyết, tổ chức tại trường; Thực hành cơ bản và thực hành sản xuất được tổ chức luôn phiên nhau, xen kẽ tại hai địa điểm: nhà trường và DN
- Hình thức liên kết đào tạo tuần tự
Ba hình thức tổ chức quá trình đào tạo trên phản ánh các mức độ liên kết giữa nhà trường và DN trong đào tạo nghề: Hình thức đào tạo song hành là mức độ cao nhất, thấp nhất là hình thức hợp tác đào tạo tuần tự
* Phân loại theo mức độ liên kết
- Mức độ liên kết toàn diện: Cả nhà trường và DN đều có trách nhiệm nhiệm ngang nhau trong quá trình đào tạo người lao động Sự liên kết này thể hiện ở tất cả các khâu:
Sơ đồ 1.7 Hình thức liên kết đào tạo luân phiên
Sơ đồ 1.8 Hình thức liên kết đào tạo tuần tự
Trang 34tuyển sinh, biên soạn nội dung chương trình, tổ chức quá trình đào tạo, đóng góp kinh phí đào tạo, tổ chức thi tốt nghiệp và tiếp nhận học sinh sau khi tốt nghiêp, v.v
- Mức độ liên kết có giới hạn: Cơ sở dạy nghề và DN có sự liên kết ở mức độ thấp hơn so với mức kết hợp toàn diện Sự liên kết này thể hiện ở việc DN có bổ sung nội dung chương trình đào tạo, cho học sinh thực tập sản xuất, hỗ trợ một phần kinh phí đào tạo, tiếp nhận một số học sinh đã thực tập tại DN
- Mức độ liên kết rời rạc: Cơ sở dạy nghề đảm nhiệm quá trình đạo tạo trên tất cả các khâu, nội dung chương trình hầu như không thay đổi, DN chỉ tạo điều kiện về địa điểm cho học sinh thực tập ở giai đoạn cuối trước khi thi tốt nghiệp, không hỗ trợ kinh phí đào tạo và chỉ tiếp nhận số lượng nhỏ học sinh sau khi tốt nghiệp
Có thể nói cơ sở dạy nghề luôn cần được quan tâm đầu tư trọng điểm vì đây chính
là nơi đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Mặc dù vậy, chỉ với nguồn ngân sách của nhà nước thì không thể thỏa mãn được nhu cầu của các cơ sở dạy nghề, cho nên bản thân nhà trường cũng phải tự tạo ra những nguồn lực cho chính mình để tồn tại và phát triển theo cơ chế thị trường Việc nghiên cứu để vận dụng các biện pháp quản lý nhằm tăng cường sự hợp tác với DN là đáp số cho bài toán huy động các nguồn lực phục vụ đào tạo
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề với DN
1.3.4.1 Cơ chế, chính sách của Nhà nước
Cơ chế chính sách của nhà nước ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động liên kết giữa nhà trường với DN, nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm mối quạn hệ này Một trong những yếu tố quyết định tính khả thi của việc liên kết giữa trường dạy nghề và DN không phải
là nhu cầu hay khả năng của các bên mà sự liên kết đó có được luật pháp cho phép hay không Do vậy, khi thiết lập quan hệ liên kết, cả hai bên cần tính đến những giới hạn cho phép trong khuôn khổ của pháp luật Mặt khác, trong quá trình liên kết, cả hai bên cần phải thường xuyên có những đề xuất, kiến nghị phù hợp với thực tiễn của sản xuất đến các cấp quản lý để cơ chế chính sách được nghiên cứu bổ sung hoàn thiện, có lợi cho hoạt động liên kết
1.3.4.2 Môi trường liên kết
Xu thế toàn cầu và hội nhập quốc tế có ảnh hưởng tới tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ở mỗi quốc gia Xu thế này đang ảnh hưởng tích cực đến quan hệ liên kết
Trang 35giữa cơ sở dạy nghề và DN, nó là động lực thúc đẩy nhà trường và DN xích lại gần nhau, cùng chung sức đào tạo ra đội ngũ lao động có chất lượng cao để đương đầu với cạnh tranh và hợp tác, không chỉ ở thị trường lao động trong nước mà cả thị trường khu vực và quốc tế Đối tác liên kết không chỉ giới hạn ở DN, ở cơ sở dạy nghề trong nước
mà có thể hợp tác cả với nước ngoài
1.3.4.3 Các yếu tố bên trong mối quan hệ
- Năng lực của người lãnh đạo cơ sở dạy nghề và DN: Năng lực của người lãnh đạo chính là khả năng, năng lực quản lý V.I.Lênin đã từng nhấn mạnh vai trò của quản
lý một cách hình ảnh như sau: "Liệu một trăm có mạnh hơn một nghìn không? Có chứ! Khi một trăm được tổ chức lại, tổ chức sẽ nhân sức mạnh lên 10 lần" Việc "tổ chức lại" như thế nào đó là nghệ thuật của mỗi người lãnh đạo Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, người lãnh đạo cần phải được đào tạo về chuyên môn quản lý và quản lý được xem là môt khoa học, là nghệ thuật và là một nghề trong xã hội Theo quy tắc Pareto (sự tối ưu) thì 20 - 80% thất bại trong hoạt động của tổ chức là do quản lý Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, trong số những nguyên nhân thất bại, phá sản của các tổ chức,
DN, cơ quan, đơn vị, thì nguyên nhân thuộc về quản lý chiếm 55% Lãnh đạo cơ sở dạy nghề và DN cần phải nhận thức được hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề với
DN là một tất yếu khách quan nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong xu thế toàn cầu
và hội nhập hiện nay
- Thông tin: Thông tin là mạch máu của mọi hệ thống Nếu xem quản lý là một hệ thống thì nhất thiết không được thiếu thông tin trong quá trình quản lý Trong mối quan
hệ liên kết giữa cơ sở dạy nghề với DN nếu hai bên không có những thông tin cần thiết
về nhu cầu và năng lực của nhau thì sẽ gây nhiều khó khăn và trở ngại trong quá trình hợp tác
- Nhu cầu và năng lực của mỗi bên: Năng lực của tổ chức đó là năng lực tài chính, năng lực cơ sở vật chất, trang thiết bị, năng lực con người, và năng lực quản lý Năng lực thì có thể cải thiện dần theo quá trình song không có nhu cầu thì sẽ không có liên kết Nhu cầu nhiều khi nó ở dạng tiềm ẩn, chỉ khi nào chủ thể nhận thức được đối tượng
có khả năng thỏa mãn được nhu cầu thì lúc đó nhu cầu mới xuất hiện và nó trở thành động lực thúc đẩy chủ thể tích cực hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng nhằm thỏa mãn nhu cầu Như vậy, với tư cách là các nhà quản lý, cả lãnh đạo cơ sở dạy nghề và DN cần phải có nghệ thuật khơi dậy nhu cầu đang ở dạng tiềm ẩn cho tổ chức mình cũng như
Trang 36cho đối tác để thúc đẩy liên kết
- Mức độ phù hợp giữa mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo với thực tiễn sản xuất: Năng động, nhạy bén và thích ứng nhanh với nhu cầu và yêu cầu của thị trường là yếu tố sống còn của DN, do vậy họ luôn luôn thay đổi cách thức hoạt động để đáp ứng yêu cầu này Trong khi đó, mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo thường có xu thế thay đổi chậm hơn nên tạo ra khoảng cách giữa "cái nhà trường có" với "cái doanh nghiệp cần" Khoảng cách này càng được rút ngắn thì quan hệ liên kết giữa cơ sở dạy nghề với DN sẽ càng thuận lợi
1.3.4.4 Chu trình quản lý liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề với doanh nghiệp
Quản lý nhằm tăng cường liên kết giữa nhà trường với DN là toàn bộ quá trình xác định nhu cầu, đề ra mục tiêu, nội dung, trách nhiệm, vv và được tác động bởi các biện pháp phù hợp; quá trình cải tiến liên tục mọi khâu trong chu trình hợp tác theo sơ đồ được trình bày dưới đây Mỗi khâu đều cần được nghiên cứu kỹ lưỡng và tác động hợp
lý, việc thực hiện tốt khâu này sẽ là tiền đề để thực hiện các khâu tiếp theo Ngược lại, thực hiện tốt các khâu tiếp theo sẽ là cơ sở để đánh giá mức độ và chất lượng của các khâu tiền đề Giữa các khâu có mối quan hệ ràng buộc và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Cần phải có thông tin chính xác về trực trạng của các khâu để có các biện pháp điều chỉnh, điều khiển hợp lý để tăng cường hợp tác giữa hai bên nhà trường với DN Mối liên kết sẽ đạt được hiệu quả cao nếu như lãnh đạo của cả cơ sở dạy nghề và DN đều ý thức tốt việc quản lý mối quan hệ liên kết cần theo các chu trình bằng các cách thức hợp
lý, nghĩa là họ phải thực hiện đúng chức năng của người lãnh đạo, của nhà quản lý
Xác định nhu cầu liên kết
Phát triển kế hoạch liên kết
Xây dựng nội dung, chương trình liên kết
Triển khai
Đánh giá hoạt động liên kết
Sơ đồ 1.9 Chu trình quản lý hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề với DN
Trang 371.3.4.5 Tính chất của lao động sản xuất ở DN
Đối với một số lĩnh vực sản xuất đòi hỏi sự lưu động về địa bàn như công trình xây dựng thì việc kết hợp giữa kế hoạch thực tập của nhà trường và tiến độ công việc của
DN sẽ khó khăn, điều này phải được chú ý khi ký hợp đồng liên kết
Nền kinh tế thị trường khiến cho cả DN và cơ sở dạy nghề luôn phải chịu áp lực cạnh tranh rất mạnh mẽ, do vậy, không nên quá kỳ vọng có thể liên kết lâu dài với một đơn vị nào đó mà cả nhà trường và DN phải luôn luôn tiếp cận với thị trường lao động
để kịp thời giải quyết các khó khăn nảy sinh, đồng thời sẵn sàng thiết lập các mối quan
hệ liên kết mới
Vấn đề an toàn lao động có liên quan đến tính mạng con người, do vậy trong các hợp đồng liên kết phải phân rõ trách nhiệm cho các bên liên quan: trách nhiệm về giảng dạy, về kiểm tra, giám sát, về thực hiện an toàn cho người và máy móc, trang thiết bị, v.v
Để tăng sức mạnh cạnh tranh, nhiều DN sẽ đầu tư công nghệ hiện đại vào trong sản xuất Do vậy, học sinh cần nắm chắc được nguyên lý vận hành của các công nghệ sản xuất hiện đại ấy trước khi thực tập Giữa hai bên nhà trường và doanh nghiệp cần phải có sự phân định rõ ràng về công tác này
1.4 Đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội
Chiến lược Phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020 nêu quan điểm: “Phát triển dạy nghề là sự nghiệp và trách nhiệm của toàn xã hội; là một nội dung quan trọng của chiến lược, quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia; đòi hỏi phải có sự tham gia của Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương, các cơ sở dạy nghề, cơ sở sử dụng lao động và người lao động để thực hiện đào tạo nghề theo nhu cầu của thị trường lao động”
Như vậy đáp ứng nhu cầu xã hội là định hướng quan trọng của hệ thống đào tạo nghề trong thời gian tới, vì:
Một là: Mỗi quan hệ giữa đào tạo nghề và nhu cầu xã hội là quan hệ “Cung - Cầu” Nếu xét mối quan hệ giữa hệ thống đào tạo nhân lực, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy mối quan hệ đào tạo với nhu cầu xã hội rất chặt chẽ và khăng khít với nhau Nhiệm vụ chủ yếu của đào tạo nghề là cung cấp nhân lực kỹ thuật trực tiếp cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đội ngũ này phải đáp ứng cả về chất, về lượng cũng như cơ cấu ngành nghề và cơ cấu trình độ phù hợp với yêu cầu tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội của đất nước trong từng giai đoạn Kinh tế - xã hội càng phát triển thì nhu cầu về lao động
Trang 38có kỹ năng càng tăng, khi đó đào tạo nhân lực càng có điều kiện phát triển và ngược lại
Do vậy đào tạo nhân lực phải gắn với việc làm Việc làm trong thị trường lao động là thước đo nhu cầu xã hội Nếu đào tạo không gắn với nhu cầu xã hội sẽ ngay lập tức xuất hiện hiện tượng mất cân đối, vừa thừa vừa thiếu nhân lực như hiện nay Tuy nhiên mối quan hệ “cung - cầu” này luôn tồn tại dưới dạng “Cân bằng động” điều đó cho thấy đào tạo nghề phải linh hoạt, thích ứng với nhu cầu xã hội luôn thay đổi
Hai là: Quan hệ giữa nhu cầu xã hội thông qua thị trường lao động đối với đào tạo nghề thực chất là mối quan hệ “Khách hàng” Một câu hỏi được đặt ra là khách hàng là ai? Trong đào tạo nghề, có thể phân loại khách hàng như sau:
- Người học - khách hàng thứ nhất Người học lựa chọn nghề, trình độ đào tạo, chương trình và thời gian đào tạo để có cơ hội tìm kiếm việc làm, hoặc tự tạo việc làm trong thị trường lao động để lập thân, lập nghiệp, hoặc nâng cao trình độ và sở thích của bản thân;
- Các chủ sử dụng lao động - khách hàng thứ hai Chủ sử dụng lao động mua hàng hóa sức lao động trên thị trường để tăng sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa và chất lượng dịch vụ Trong trường hợp này sản phẩm hàng hóa sức lao động phải thỏa mãn nhu cầu đầu tư của chủ sử dụng lao động Để có thể lựa chọn nhân lực phù hợp với nhu cầu của mình, trong quan hệ với các cơ sở dạy nghề, chủ sử dụng lao động phải thực sự như một khách hàng: đặt mua sản phẩm theo nhu cầu - đầu tư, trả kinh phí cho việc mua sản phẩm sức lao động;
- Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương - khách hàng thứ ba Chính phủ, các ngành, các địa phương tùy theo yêu cầu chung hoặc những yêu cầu đặc thù (ví dụ nhu cầu đặc thù đối với những nghề kỹ thuật cao, những nghề nặng nhọc, những nghề thị trường lao động cần ít nhưng ít người đi học, đào tạo cho đối tượng chính sách, người dân tộc thiểu số…)
Để đào tạo nghề thích ứng với nhu cầu xã hội cần xây dựng phương pháp tiếp cận hiệu quả trong đó quan trọng nhất là có sự tham gia của các đối tượng liên quan trong đào tạo bao gồm: cơ sở cung cấp dịch vụ đào tạo nghề (các cơ sở dạy nghề) - cơ sở sử dụng lao động (doanh nghiệp) - sản phẩm qua đào tạo (người tốt nghiệp) Các đối tượng này tạo nên tam giác cân trong mối quan hệ “Cung - cầu” Tiếp cận này cho phép xác định được những khoảng trống, những điểm nghẽn trong cung cầu nhân lực qua đào tạo nghề để có thể đưa ra những nội dung và biện pháp phù hợp cho hoạt động liên kết giữa
Trang 39nhà trường và doanh nghiệp
1.5 Quản lý các hoạt động liên kết đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội
1.5.1 Nội dung quản lý:
Quản lý các hoạt động liên kết đào tạo nghề là việc quản lý chặt chẽ các điều kiện, hồ sơ quy trình thực hiện liên kết đào tạo theo quy định của pháp luật bao gồm: điều kiện thực hiện liên kết đào tạo đối với đơn vị chủ trì đào tạo, đơn vị phối hợp đào tạo, quản lý hồ sơ liên kết đào tạo, quy trình thực hiện liên kết đào tạo, bảo quản và bảo quản, lưu giữ hồ sơ liên kết đào tạo,…
Hoạt động quản lý liên kết đào tạo chủ yếu dựa trên chế độ báo cáo trong hoạt động liên kết đào tạo do đơn vị chủ trì đào tạo thực hiện theo quy định của pháp luật gửi
cơ quan chức năng và khi phát hiện những vướng mắc trong hoạt động liên kết, thủ trưởng hai đơn vị liên kết có trách nhiệm cùng hợp tác với nhau để xử lý Nếu vướng mắc vượt quá khả năng xử lý của hai bên, đơn vị chủ trì đào tạo báo cáo cơ quan có thẩm quyền cho phép liên kết đào tạo để xử lý
1.5.2 Quy trình quản lý
Qua việc tìm hiểu khái niệm "quản lý" tác giả nhận thấy, quá trình quản lý luôn tồn tại bốn thành tố cấu trúc, đó là: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý Dưới sự tác động tự giác của chủ thể quản lý, các thành tố này luôn có
sự tác động qua lại với nhau và nhờ đó chủ thể quản lý thực hiện các nội dung nhiệm vụ quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Để đạt được mục tiêu quản lý, bao giờ chủ thể quản lý cũng phải sử dụng các công cụ, phương tiện, phương pháp, biện pháp để tác động lên đối tượng quản lý Vậy biện pháp quản lý nhằm tăng cường liên kết với trong đào tạo của cơ sở dạy nghề được hiểu như thế nào? Tác giả sẽ căn cứ vào sơ đồ của khái niệm quản lý để luận giải:
Trang 40Sơ đồ 1.10 Biện pháp quản lý của cơ sở dạy nghề nhằm tăng cường quan hệ liên kết với DN trong đào tạo
Theo sơ đồ trên, hiểu một cách khái quát nhất thì:
+ Chủ thể quản lý là hiệu trưởng cơ sở dạy nghề;
+ Đối tượng quản lý là: hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề với DN trong đào tạo;
+ Khách thể quản lý là các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình liên kết giữa cơ sở dạy nghề với DN, có thể là từ hệ thống khác hoặc các ràng buộc của môi trường;
+ Mục tiêu quản lý là tăng cường liên kết với DN trong đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề
Vậy theo tác giả, biện pháp quản lý nhằm tăng cường liên kết với DN trong đào
tạo của trường nghề là cách làm có ý thức của người hiệu trưởng nhằm điều khiển, tác
động lên mối quan hệ liên kết với DN trong đào tạo và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình liên kết đó để đạt được mục tiêu là tăng cường liên kết với DN trong đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề
1.5.3 Tổ chức quản lý
Căn cứ trên cơ sở nghiên cứu lý luận và bước đầu tìm hiểu thực tiễn, luận văn sẽ
đề cập tới một số biện pháp tổ chức quản lý hoạt động liên kết giữa cơ sở dạy nghề với
DN trong đào tạo hiện nay như sau:
1.5.3.1 Phát triển hệ thống thông tin đào tạo nghề và nhu cầu xã hội
Cùng với thực tế công nghệ thông tin và truyền thông phát triển mạnh mẽ như hiện
Biện pháp
Công cụ, phương tiện
Mục tiêu quản lý