1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

TỔN THƯƠNG NIÊM mạc MIỆNG DO VIRUS

7 412 6

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở vùng hàm mặt, virus thường đến cư trú ở hạch thần kinh sinh ba Nhiễm virus tái phát recurrent infection: xuất hiện do sự tái hoạt của virus, lúc này có sự xuất hiện những tổn thương ở

Trang 1

TỔN THƯƠNG NIÊM MẠC MIỆNG DO VIRUS

ThS.BS NGUYỄN VĂN MINH

1.Viêm niêm mạc miệng do herpes

Herpes simplex virus (HSV) là DNA virus và là thành viên của gia đình human herpes virus (HHV) có tên gọi chính thức là Herpetoviridae Có hai type là type 1 (HSV-1 hay HHV-1) và type 2 (HSV-2 hay HHV-2) Những thành viên khác của gia đình HHV bao gồm varicella zoster virus (VZV hay HHV-3), Epstein-Barr virus (EBV hay HHV-4), cytomegalovirus (CMV hay HHV-5) HHV-8 đóng vai trò trong bệnh sinh Kaposi’s sarcoma (KS) ở bệnh nhân nhiễm HIV

HSV-1 lây truyền qua đường nước bọt và những tổn thương đang hoạt động Chúng gây bệnh chủ yếu ở niêm mạc miệng, lợi, mắt, hầu họng

HSV-2 lây truyền và gây bệnh chủ yếu ở vùng sinh dục

Về mặt lâm sàng, chia nhiễm HSV-1 làm hai thể:

Nhiễm virus nguyên phát (primary infection): xuất hiện lần đầu khi chưa có kháng thể kháng lại virus Thường chúng ta nhiễm virus mà không có triệu chứng

gì, sau đó virus đi theo các sợi thần kinh cảm giác đến ẩn náu ở hạch thần kinh cảm giác hay tự chủ Ở vùng hàm mặt, virus thường đến cư trú ở hạch thần kinh sinh ba

Nhiễm virus tái phát (recurrent infection): xuất hiện do sự tái hoạt của virus, lúc này có sự xuất hiện những tổn thương ở niêm mạc nơi dây thần kinh cảm giác

có sự cư trú của virus chi phối

Một số điều kiện tái hoạt virus:

Tuổi già

Chịu tác động của tia cực tím

Stress tình cảm

Chấn thương

Trang 2

Dị ứng

Mang thai

Bệnh toàn thân

Lâm sàng:

Viêm niêm mạc miệng- nướu do herpes cấp (acute herpetic gingivostomatitis): Đây

là thể hay gặp nhất của nhiễm VR nguyên phát có triệu chứng

Bệnh thường gặp ở lứa tuổi từ 6 tháng đến 6 tuổi, trong đó lứa tuổi hay gặp nhất là từ 2-3 tuổi

Bệnh xuất hiện đột ngột, trẻ sốt 38 đến 39 độ, ớn lạnh, đau đầu

Toàn trạng biểu hiện sự mệt mỏi

Xuất hiện phản ứng hạch vùng một hoặc hai bên

Tổn thương có thể xuất hiện ở niêm mạc miệng, nướu, vòm miệng, lưỡi Tổn thương ở niêm mạc môi ít gặp hơn, tuy nhiên khi tổn thương xuất hiện ở môi thì ít khi tổn thương vượt quá ranh giới môi ướt

Tổn thương cơ bản xuất hiện ở niêm mạc miệng là các bọng nước (vesicule) Chúng nhanh chóng bị vỡ hình thành nên các ổ loét nông (shallow ulceration), được bao phủ bằng một màng sợi fibrin màu vàng Bờ viền xung quanh đỏ

Các ổ loét ở gần nhau kết hợp với nhau để tạo thành những ổ loét lớn hơn Các tổn thương phát triển cho đến ngày thứ 3 hoặc thứ 5 thì dừng lại

Các ổ loét gây đau nhức, ảnh hưởng đến ăn uống của trẻ

Những trường hợp nhẹ có thể tự lành sau 5 - 7 ngày Những trường hợp nặng có thể kéo dài đến hai tuần

Trang 3

Tái phát viêm niêm mạc miệng - nướu do herpes

Nhiễm virus tái phát có thể xuất hiện ở ngay trên vị trí tổn thương nguyên phát hoặc những vị trí bên cạnh Trong đó vị trí hay gặp nhất của nhiễm virus tái phát là làn môi đỏ và da môi xung quanh Còn được gọi tên là viêm môi do herpes (herpes labialis)

Bệnh nhân có thể có các triệu chứng như đau, cảm giác nóng bỏng niêm mạc hay ngứa Các triệu chứng này thường xuất hiện từ 6 đến 24 giờ trước khi xuất hiện những tổn thương đầu tiên

Tổn thương cơ bản là bọng nước xuất hiện thành từng chùm, chúng nhanh chóng bị vỡ và được bao phủ bởi một màng cứng Sự lành thường sau khoảng 7 đến 10 ngày

Trang 4

Tái phát có thể xuất hiện tổn thương ở một số vị trí khác ở trên niêm mạc miệng, trong đó hay gặp ở vị trí là nướu dính và vòm miệng cứng

Triệu chứng thường không có gì đặc biệt Những bọng nước có đường kính

từ 1-3mm xuất hiện sau đó nhanh chóng vỡ ra tạo thành những đám hồng ban

Tổn thương mất lớp biểu mô tạo thành những ổ loét nông được bao phủ bởi một lớp mô sợi vàng Những tổn thương này thường tự lành sau 7-10 ngày

Chẩn đoán: Dựa vào các dấu hiệu lâm sàng

Cận lâm sàng: phân lập virus dựa vào nuôi cấy dịch chứa trong bọng nước của tổn thương

Chẩn đoán phân biệt:

Viêm niêm mạc miệng aphtous

Bệnh tay chân miệng

Bệnh viêm loét miệng

Viêm nướu hoại tử lở loét cấp tính

Hồng ban đa dạng

Điều trị:

Trang 5

Trước đây, điều trị viêm miệng do herpes chỉ là điều trị triệu chứng Tuy nhiên, nếu được phát hiện và chẩn đoán sớm thì việc điều trị bằng thuốc kháng virus có ý nghĩa (bôi tại chỗ hay dùng bằng đường toàn thân)

2.Tổn thương niêm mạc miệng-mặt do Herpes Zoster

Sau khi mắc thủy đậu với Varicella Zoster Virus (VZV), virus theo các dây thần kinh cảm giác đến cư trú tại các hạch gai sống Bệnh xuất hiện khi có sự tái hoạt của virus theo sự phân bố của dây thần kinh cảm giác

Các yếu tố làm tái hoạt virus:

Tuổi già

Suy giảm miễn dịch

Điều trị với thuốc ức chế miễn dịch

Tia xạ

Nghiện rượu

Bệnh ác tính

Can thiệp nha khoa

Biểu hiện lâm sàng:

Trải qua 3 giai đoạn: tiền triệu, cấp tính và mạn tính

Giai đoạn tiền triệu:

Xuất hiện khoảng 4 ngày trước khi xuất hiện những tổn thương ở da hoặc niêm mạc

Đau: có thể như là ê buốt ở răng, đau tai, đau đầu, nhức đầu, đau nhói ở tim tùy thuộc vào vùng da bị tổn thương

Giai đoạn cấp:

Trên vùng da tổn thương xuất hiện những đám bọng nước, 3 - 4 ngày sau tạo thành các mụn mủ sau đó vở ra tạo thành các ổ loét nông

Trang 6

Những tổn thương nay chỉ ở một bên và ít khi lan qua đường giữa

Những tổn thương ở niêm mạc miệng bao gồm niêm mạc di động và niêm mạc phủ trên xương

Liệt mặt có thể xảy ra do herpes zoster ở mặt hay ống tai ngoài

Giai đoạn mạn (đau thần kinh hậu herpes: postherpetic neuralgia):

Khi bệnh nhân có đau thần kinh kéo dài hơn 3 tháng từ khi xuất hiện những tổn thương cấp tính đầu tiên

Có khoảng 15% bệnh nhân chuyển sang giai đoạn mạn tính, trong đó có 50% trên 60 tuổi

Biểu hiện của cơn đau có thể là cảm giác nóng bỏng (burning), đau nhói (throbbing), châm chích, ngứa (itching), dao đâm (stabbing)

Đa số những triệu chứng này sẽ biến mất trong vòng một năm

Trang 7

Chẩn đoán:

Dựa vào thăm hỏi bệnh sử và thăm khám lâm sàng

Điều trị:

Điều trị herpes zoster thường thiên về điều trị hỗ trợ và điều trị triệu chứng Những vùng da bị tổn thương nên giữ sạch để tránh nhiễm trùng thứ phát Điều trị sớm với các thuốc kháng virus như acyclovir (200mg),

valacyclovir giúp tăng khả năng lành thương, giảm triệu chứng đau kéo dài ở giai đoạn cấp và giai đoạn mạn

Ngày đăng: 17/07/2017, 12:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w