1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

38 300 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 63,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: Tại sao nói “đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt” ? Trong số những điều kiện vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất và đời sống của con người, đất với lớp phủ thổ nhưỡng và mặt bằng lãnh thổ (bao gồm các tài nguyên trên mặt đất, trong lòng đất và mặt nước) là điều kiện đầu tiên. Nói về tầm quan trọng của đất, Các Mác viết: “Đất là một phòng thí nghiệm vĩđại, là kho tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật chất là vị trí để định cư, là nền tảngcủa tập thể”. Nói về vai trò của đất với sản xuất, Mác khẳng định “Lao động khôngphải là nguồn duy nhất sinh ra của cải vật chất và giá trị tiêu thụ. Lao động chỉ là chacủa của cải vật chất, còn đất là mẹ”. Đất là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện trước con người và tồn tại ngoài ý muốn của con người. Đất được tồn tại như một vật thể lịch sử tự nhiên. Cần nhận thấy rằng, đất đai ở hai thể khác nhau: Nếu đất tách rời sản xuất (tách rời con người) thì đất tồn tại như một vật thể lịch sử tự nhiên (trời sinh ra đất) cứ thế tồn tại và biến đổi. Như vậy, đất không phải là tư liệu sản xuất. Nếu đất gắn liền với sản xuất, nghĩa là gắn với con người, gắn với lao động thì động sống và lao động quá khứ thì đất mới trở thành một tư liệu sản xuất. Không phụ thuộc vào hình thái kinh tế xã hội, để thực hiện quá trình lao động,cần phải có đủ 3 yếu tố: + Hoạt động hữu ích: chính là lao động hay con người có khả năng sản xuất, có kỹ năng lao động và biết sử dụng công cụ, phương tiện lao động để sản xuất ra của cải vật chất. + Đối tượng lao động: là đối tượng để lao động.tác động lên trong quá trình lao động. + Tư liệu lao động: là công cụ hay phương tiện lao động được lao động sử dụng để tác động lên đối tượng lao động. Như vậy, quá trình lao động chỉ có thể bắt đầu và hoàn thiện được khi có con người và điều kiện vật chất (bao gồm cả đối tượng lao động và công cụ lao động hay phương tiện lao động). Đất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động (cho môi trường để tác động, như: xây dựng nhà xưởng, bố trí máy móc, làm đất...) vừa là phương tiện lao động (mặt bằng cho sản xuất, dùng để gieo trồng, nuôi gia súc...), vì vậy đất đai là “Tư liệu sản xuất”. Tuy nhiên, cần lưu ý các tính chất “đặc biệt” của loại tư liệu sản xuất là đất so với các tư liệu sản xuất khác như sau: ) Đặc điểm tạo thành: Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người; là sản phản của tự nhiên, có trước lao động, là điều kiện tự nhiên của laođộng. Chỉ khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội, dưới tác động của lao động đất đai mới trở thành tư liệu sản xuất. ) Tính hạn chế về số lượng: Đất đai là tài nguyên hạn chế về số lượng, diện tích đất (số lượng) bị giới hạn bởi ranh giới đất liền trên mặt địa cầu. Các tư liệu sản xuất khác có thể tăng về số lượng, chế tạo lại tuỳ theo nhu cầu của xã hội. ) Tính không đồng nhất: Đất đai không đồng nhất về chất lượng, hàm lượng chất dinh dưỡng, các tính chất lý, hoá. Các tư liệu sản xuất khác có thể đồng nhất vềchất lượng, quy cách, tiêu chuẩn (mang tính tương đối do quy trình công nghệ quy định). ) Tính không thay thế. Đất không thể thay thế bằng tư liệu sản xuất khác, những thay thế do áp dụng KHCN có tính chất nhân tạo chỉ mang tính tức thời, không ổn như tính vốn có của đất. Các tư liệu sản xuất khác, tuỳ thuộc vào mức độ phát triển của lực lượng sản xuất có thể được thay thế bằng tư liệu sản xuất khác hoàn thiện hơn, có hiệu quả kinh tế hơn. ) Tính cố định vị trí: Đất đai hoàn toàn cố định vị trí trong sử dụng (khi sử dụng không thể di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác). Các tư liệu sản xuất khác được sửdụng ở mọi chỗ, mọi nơi, có thể di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác tuỳ theo sự cần thiết. ) Tính vĩnh cửu: Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu (không phụ thuộc vào tác động của thời gian). Nếu biết sử dụng hợp lý, đặc biệt là trong sản xuất nông – lâm nghiệp, đất sẽ không bị hư hỏng, ngược lại có thể tăng tính chất sản xuất (độ phì nhiêu) cũng như hiệu quả sử dụng đất. Khả năng tăng tính chất sản xuất của đất tùy thuộc vào phương thức sử dụng (tính chất có giá trị đặc biệt), không tư liệu sản xuất nào có được. Các tư liệu sản xuất khác đều bị hư hỏng dần, hiệu ích sử dụng giảm và cuối cùng bị loại khỏi quá trình sản xuất. Có thể nói rằng: Đất không thể là đối tượng của từng cá thể. Đất mà chúng ta đang sử dụng, tự coi là của mình, không chỉ thuộc về chúng ta. Đất là điều kiện vật chất cần thiết để tồn tại và tái sản xuất cho các thế hệ liếp nhau của loài người. Vì vậy, trong sử dụng cần làm cho đất lốt hơn cho các thế hệ sau.

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

Câu 1: Tại sao nói “đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt” ?

Trong số những điều kiện vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất và đời sống của con người, đấtvới lớp phủ thổ nhưỡng và mặt bằng lãnh thổ (bao gồm các tài nguyên trên mặt đất, trong lòng đất và

mặt nước) là điều kiện đầu tiên Nói về tầm quan trọng của đất, Các Mác viết: “Đất là một phòng thí nghiệm vĩđại, là kho tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật chất là vị trí để định cư, là n ền tảngcủa tập thể” Nói về vai trò của đất với sản xuất, Mác khẳng định “Lao động khôngphải là nguồn duy nhất sinh ra của cải vật chất và giá trị tiêu thụ Lao động chỉ là chacủa của cải vật chất, còn đất là mẹ”.

Đất là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện trước con người và tồn tại ngoài ý muốn của con người Đấtđược tồn tại như một vật thể lịch sử tự nhiên Cần nhận thấy rằng, đất đai ở hai thể khác nhau:

- Nếu đất tách rời sản xuất (tách rời con người) thì đất tồn tại như một vật thể lịch sử tự nhiên (trờisinh ra đất) cứ thế tồn tại và biến đổi Như vậy, đất không phải là tư liệu sản xuất

- Nếu đất gắn liền với sản xuất, nghĩa là gắn với con người, gắn với lao động thì động sống và laođộng quá khứ thì đất mới trở thành một tư liệu sản xuất Không phụ thuộc vào hình thái kinh tế - xãhội, để thực hiện quá trình lao động,cần phải có đủ 3 yếu tố:

+ Hoạt động hữu ích: chính là lao động hay con người có khả năng sản xuất, có kỹ năng lao động vàbiết sử dụng công cụ, phương tiện lao động để sản xuất ra của cải vật chất

+ Đối tượng lao động: là đối tượng để lao động.tác động lên trong quá trình lao động

+ Tư liệu lao động: là công cụ hay phương tiện lao động được lao động sử dụng để tác động lên đốitượng lao động

Như vậy, quá trình lao động chỉ có thể bắt đầu và hoàn thiện được khi có con người và điều kiện vậtchất (bao gồm cả đối tượng lao động và công cụ lao động hay phương tiện lao động)

Đất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa

là đối tượng lao động (cho môi trường để tác động, như: xây dựng nhà xưởng, bố trí máy móc, làmđất ) vừa là phương tiện lao động (mặt bằng cho sản xuất, dùng để gieo trồng, nuôi gia súc ), vì vậy

đất đai là “Tư liệu sản xuất”

Tuy nhiên, cần lưu ý các tính chất “đặc biệt” của loại tư liệu sản xuất là đất so với các tư liệu sản

xuất khác như sau:

*) Đặc điểm tạo thành: Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người; là sản phản

của tự nhiên, có trước lao động, là điều kiện tự nhiên của laođộng Chỉ khi tham gia vào hoạt độngsản xuất của xã hội, dưới tác động của lao động đất đai mới trở thành tư liệu sản xuất

*) Tính hạn chế về số lượng: Đất đai là tài nguyên hạn chế về số lượng, diện tích đất (số lượng) bị

giới hạn bởi ranh giới đất liền trên mặt địa cầu Các tư liệu sản xuất khác có thể tăng về số lượng, chếtạo lại tuỳ theo nhu cầu của xã hội

Trang 2

*) Tính không đồng nhất: Đất đai không đồng nhất về chất lượng, hàm lượng chất dinh dưỡng, các

tính chất lý, hoá Các tư liệu sản xuất khác có thể đồng nhất vềchất lượng, quy cách, tiêu chuẩn(mang tính tương đối do quy trình công nghệ quy định)

*) Tính không thay thế Đất không thể thay thế bằng tư liệu sản xuất khác, những thay thế do áp dụng

KHCN có tính chất nhân tạo chỉ mang tính tức thời, không ổn như tính vốn có của đất Các tư liệusản xuất khác, tuỳ thuộc vào mức độ phát triển của lực lượng sản xuất có thể được thay thế bằng tưliệu sản xuất khác hoàn thiện hơn, có hiệu quả kinh tế hơn

*) Tính cố định vị trí: Đất đai hoàn toàn cố định vị trí trong sử dụng (khi sử dụng không thể di chuyển

từ chỗ này sang chỗ khác) Các tư liệu sản xuất khác được sửdụng ở mọi chỗ, mọi nơi, có thể dichuyển từ chỗ này sang chỗ khác tuỳ theo sự cần thiết

*) Tính vĩnh cửu: Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu (không phụ thuộc vào tác động của thời gian).

Nếu biết sử dụng hợp lý, đặc biệt là trong sản xuất nông – lâm nghiệp, đất sẽ không bị hư hỏng,ngược lại có thể tăng tính chất sản xuất (độ phì nhiêu) cũng như hiệu quả sử dụng đất Khả năng tăngtính chất sản xuất của đất tùy thuộc vào phương thức sử dụng (tính chất có giá trị đặc biệt), không tưliệu sản xuất nào có được Các tư liệu sản xuất khác đều bị hư hỏng dần, hiệu ích sử dụng giảm vàcuối cùng bị loại khỏi quá trình sản xuất Có thể nói rằng: Đất không thể là đối tượng của từng cá thể.Đất mà chúng ta đang sử dụng, tự coi là của mình, không chỉ thuộc về chúng ta Đất là điều kiện vậtchất cần thiết để tồn tại và tái sản xuất cho các thế hệ liếp nhau của loài người Vì vậy, trong sử dụngcần làm cho đất lốt hơn cho các thế hệ sau

Câu 2: Hãy cho biết xu thế phát triển của sử dụng đất hiện nay

* Sử dụng đất phát triển theo chiều rộng và tập trung

Cùng với sự phát triển của xã hội, yêu cầu sinh hoạt vật chất và tinh thần của người dân ngày càngcao, các ngành nghề cũng phát triển theo xu hướng phức tạp và đa dạng dần, phạm vi sử dụng đấtcàng mở rộng

Cùng với việc phát triển sử dụng đất theo không gian, trình độ tập trung cũng sâu hơn nhiều Đấtcanh tác cũng như đất sử dụng theo các mục đích khác đều được phát triển theo hướng kinh doanh tậptrung, với diện tích đất ít nhưng hiệu quả sử dụng

Thời kỳ quá độ chuyển từ kinh doanh quảng canh sang kinh doanh thâm canh cao trong sử dụng đất

là một nhiệm vụ chiến lược lâu dài Để nâng cao sức sản xuất và sức tải của một đơn vị diện tích, đòihỏi phải liên tục nâng mức đầu tư về vốn và lao động, thường xuyên cải tiến kỹ thuật và công tácquản lý

* Cơ cấu sử dụng đất phát triển theo hướng phức tạp hoá và chuyên môn hoá

Khoa học kỹ thuật và kinh tế của xã hội phát triển, sử dụng đất đai lừ hình thức quảng canhchuyển sang thâm canh đã kéo theo xu thế từng bước phức tạp hoá và chuyên môn hoá cơ cấu sửdụng đất

Trang 3

Tiến bộ KHKT đã cho phép mở rộng khả năng kiểm soát tự nhiên của con người, áp dụng cácbiện pháp bồi bổ và cải tạo sẽ nâng cao sức sản xuất của đất đai, thoả mãn các nhu cầu của xã hội.Trước đây, việc sử dụng đất rất hạn chế, chủ yếu sử dụng bề mặt của đất đai, nông nghiệp thì độccanh, đất lâm nghiệp, đồng cỏ, mặt nước ít được khai thác, khai thác khoáng sản còn hạn chế, xâydựng chủ yếu là chọn mặt bằng Khi khoa học công nghệ được khai thác triệt để, hình thức sử dụng

đa dạng, ruộng nước phát triển đã làm cho nội dung sử dụng đất ngày một phức tạp hơn theo hướng

sử dụng toàn diện, triệt để các chất dinh dưỡng, sức tải, vật chất cấu thành và sản phẩm của đất đai đểphục vụ con người

Để sử dụng hợp lý đất đai, đạt được sản lượng và hiệu quả kinh tế cao nhất cần có sự phân công

và chuyên môn hoá theo khu vực Cùng với việc đầu tư, trang bị và ứng dụng các công nghệ kỹ thuật,công cụ quản lý hiện đại sẽ yêu cầu nảy sinh phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn

và tập trung, đồng thời cũng hình thành các khu vực chuyên môn hoá sử dụng đất khác nhau về hìnhthức và quy mô

* Sử dụng đất đai phát triển theo xu hướng xã hội hoá và công hữu hoá

Đất đai là cơ sở vật chất và công cụ để con người sinh sống Việc chuyên môn hoá theo yêu cầu

xã hội hoá sản xuất phải đáp ứng yêu cầu của xã hội hướng tới lợi ích cộng đồng và tiến bộ xã hội

Xã hội hoá sử dụng đất là sản phẩm tất yếu và là yêu cầu khách quan của sự phát triển xã hộihoá sản xuất Vì vậy, xã hội hoá sử dụng đất và công hữu hoá là xu thế tất yếu Muốn kinh tế pháttriển và thúc đẩy xã hội hoá sản xuất cao hơn, cần phải thực hiện xã hội hoá và công hữu hoá sử dụngđất

Câu 3: khái niệm và đặc điểm của qhsdd

1.1.1.1 Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất đai

Để hiểu khái niệm quy hoạch sử dụng đất đai, cần tìm hiểu khái niệm về quy hoạch và đất đaidưới góc độ quản lý đất đai Về thuật ngữ có thể hiểu quy hoạch như sau: quy hoạch là việc xác địnhmột trật tự nhất định, bằng những hoạt động như: phân bố, bố trí, sắp xếp, tổ chức

Hiện nay, ở Việt Nam chưa có định nghĩa chuẩn về đất đai Theo cách hiểu thông thường, đấtđai là phần nổi của mặt địa cầu mà trên đó con người và vạn vật đi lại, sinh sống

Tuy nhiên, dựa theo các quy định của pháp luật hiện hành, ta có thể hiểu thuật ngữ “đất đai” nhưsau: Đất đai là tài sản quốc gia vô cùng quí giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọnghàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, vănhoá, xã hội, an ninh và quốc phòng

Đất đai là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ quốc gia, gắn liền với chủ quyền quốc gia(không thể có quốc gia mà không có đất đai)

Trang 4

Đất đai là loại tài sản đặc biệt - bất động sản - tức là loại lài sản không thể di rời được (điều 181

- Bộ luật dân sự)

Đất đai là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoảnh đất, vạc đất, mảnh đất miếng đất ) có

vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, điềukiện địa hình, địa chất, thuỷ văn, chế độ nước, nhiệt độ ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hoátính ) tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo cácmục đích khác nhau

Quy hoạch sử dụng đất là một hiện tượng kinh tế - xã hội có tính chất đặc thù Đây là một hoạtđộng vừa mang tính khoa học, vừa mang tính pháp lý của một hệ thống các biện pháp kỹ thuật, kinh

tế, xã hội được xử lý bằng các phương pháp phân tích tổng hợp về sự phân bố địa lý của các điều kiện

tự nhiên, kinh tế, xã hội, có những đặc trưng của tính phân dị giữa các cấp vùng lãnh thổ theo quanđiểm tiếp cận hệ thống để hình thành các phương án tổ chức lại việc sử dụng đất đai theo pháp luậtcủa Nhà nước Bản thân nó được coi là hệ thống các giải pháp định vị cụ thể của việc tổ chức pháttriển kinh tế, xã hội trên một vùng lãnh thổ nhất định, cụ thể là đáp ứng nhu cầu mặt bằng sử dụng đấthiện tại và tương lai của các ngành, các lĩnh vực cũng như nhu cầu sinh hoạt của mọi thành viên xãhội một cách tiết kiệm, khoa học, hợp lý và có hiệu quả cao

Quy hoạch sử dụng đất là một hoạt động vừa mang tính kỹ thuật, kinh tế vừa mang tính phápchế

- Kỹ thuật (các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật: điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanhđịnh, xử lý số liệu ) Biểu hiện của tính kỹ thuật là ở chỗ, đất đai được đo đạc, vẽ thành bản đồ, tínhtoán và thống kê diện tích, thiết kế phân chia khoảnh thửa để giao cho các mục đích sử dụng khácnhau

- Pháp chế (xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất nhằm đảm bảo sử dụng vàquản lý đất đai theo pháp luật)

Về mặt pháp lý, đất đai được nhà nước giao cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng vàocác mục đích khác nhau Nhà nước ban hành các văn bản pháp quy để điều chỉnh các mối quan hệ đấtđai Các đối tượng sử dụng đất có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương chính sách về đấtđai của Nhà nước

- Kinh tế (bằng hiệu quả sử dụng đất): Khi giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân cầnxác định rõ mục đích của việc sử dụng Đây là biện pháp quan trọng nhất nhằm khai thác triệt để và

có hiệu quả cao tiềm năng đất Ở đây thể hiện rõ tính kinh tế của quy hoạch sử dụng đất Song điều

đó chỉ thực hiện được khi tiến hành đồng bộ cùng với các biện pháp kỹ thuật và pháp chế

Như vậy, có thể định nghĩa: quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp của Nhà nước(thể hiện đồng thời 3 tính chất, kinh tế, kỹ thuật và pháp chê) về tổ chức sử dụng và quản lý đất đầy

đủ (mọi loại đất đều được đưa vào sử dụng theo các mục đích nhất định), hợp lý (đặc điểm tính chất

Trang 5

tự nhiên, vị trí, diện tích phù hợp với yêu cầu và mục đích sử dụng), khoa học (áp dụng thành tựukhoa học - kỹ thuật và các biện pháp tiên tiến) và có hiệu quả cao nhất (đáp ứng đồng bộ cả 3 lợi íchkinh tế - xã hội -môi trường), thông qua việc phân bố quỹ đất đai (phân phối và tái phân phối quỹ đất

cả nước, khoanh định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất,cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điềuhiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường

Theo Luật Đất đai 2013:

- Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng chocác mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổikhí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từngvùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định

- Kế hoạch sử dụng đất là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian để thực hiệntrong kỳ quy hoạch sử dụng đất

- Bản đồ địa chính là bản đồ thể hiện các thửa đất và các yếu tố địa lý có liên quan, lập theo đơn

vị hành chính xã, phường, thị trấn, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận

- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất là bản đồ thể hiện sự phân bố các loại đất tại một thời điểm xácđịnh, được lập theo từng đơn vị hành chính

- Bản đồ quy hoạch sử dụng đất là bản đồ được lập tại thời điểm đầu kỳ quy hoạch, thể hiện sựphân bổ các loại đất tại thời điểm cuối kỳ của quy hoạch đó

Thực chất quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiệnđưa đất đai vào sử dụng bền vững phát huy lợi thế của thổ nhưỡng và lãnh thổ để mang lại lợi íchcao, thực hiện đồng thời 2 chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như

tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất vàmôi trường Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, phương hướng nhiệm vụ và mục tiêu phát triểnkinh tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành nhằm định hướngcho các cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai chi tiết của mình; xáclập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai; làm cơ sở để tiến hành giaocấp đất và đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ các nhu cầu dân sinh,văn hoá - xã hội với hiệu quả cao

Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất đai còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm tổ chức lạiviệc sử dụng đất đai phát huy lợi thế ngành và lãnh thổ, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai,tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm nghiêm trọng quĩ đất nông, lâm nghiệp (đặc biệt

là đất trồng lúa và đất lâm nghiệp có rừng); ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếmhuỷ hoại đất, phá vỡ sự cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm

Trang 6

hãm sản xuất, phát triển kinh tế xã hội và các hậu quả khó lường về tình hình bất ổn định chính trị, anninh quốc phòng của từng địa phương, đặc biệt là trong thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường.

1.2.1.2 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất là một hiện tượng kinh tế, xã hội đặc thù có tính khống chế vĩ mô, tínhchỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch pháttriển xã hội và kinh tế quốc dân Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất được thể hiện cụ thể nhưsau:

a) Tính lịch sử - xã hội: Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử của quy hoạch sử dụng

đất đai Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản xuất của xã hội thể hiện theo haimặt: Lực lượng sản xuất (quan hệ giữa người với sức hoặc vật tự nhiên trong quá trình sản xuất) vàquan hệ sản xuất (quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất) Trong quy hoạch sử dụngđất đai, luôn nảy sinh quan hệ giữa người với đất đai - là sức tự nhiên (như điều tra, đo đạc, khoanhđịnh, thiết kế ), cũng như quan hệ giữa người với người (xác nhận bâng văn bản về sở hữu và quyền

sử dụng đất giữa những người chủ đất - giấy chứng nhận quyền sử dụng đất)

Quy hoạch sử dụng đất thể hiện đồng thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa

là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuấtcủa xã hội

Tuy nhiên, trong xã hội có phân chia giai cấp, quy hoạch sử dụng đất đai mang tính tự phát,hướng tới mục tiêu vì lợi nhuận tối đa và nặng về mặt pháp lý (là phương tiện mở rộng, củng cố, bảo

vệ quyền tư hữu đất đai: phân chia, tập trung đất đai để mua, bán, phát canh thu tô )

Ở nước ta hiện nay, quy hoạch sử dụng đất đai phục vụ nhu cầu của người sử dụng đất và quyềnlợi của toàn xã hội; góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn; nhằm sử dụng, bảo vệđất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, quy hoạch sử dụngđất đai góp phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường nảysinh trong quá trình sử dụng đất, cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau

b Tính tổng hợp: Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất chủ yếu thể hiện ở hai mặt:

- Đối tượng nghiên cứu của quy hoạch sử dụng đất là khai thác, sử dụng, cải tạo và bảo vệ toàn

bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu của nền kinh tế quốc dân Quy hoạch sử dụng đất đề cập đến 2nhóm đất chính là đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp

- Quy hoạch sử dụng đất đề cập đến nhiều lĩnh vực như khoa học tự nhiên, khoa học xã hội,kinh tế, dân số, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, môi trường sinh thái…

Với đặc điểm này, quy hoạch sử dụng đất nhận trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu sử dụngđất, điều hòa các mâu thuẫn về đất đai của các ngành, các lĩnh vực Xác định và điều phối phươnghướng, phương thức phân bố sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế - xã hội, đảm bảo cho nềnkinh tế quốc dân phát triển ổn định, bền vững và đạt tốc độ tăng trưởng cao

Trang 7

c Tính dài hạn.

Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh tế, xã hội quan trọngnhư: sự thay đổi về dân số, tiến bộ kỹ thuật, đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, từ

đó xây dựng các quy hoạch trung và dài hạn về sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng, chính sách

và biện pháp có tính chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàngnăm

Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu về đất để phát triển kinh tế, xã hội lâu dài Cơ cấu vàphương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài cho đến khi đạt được mụctiêu dự kiến Thời hạn (phương hướng, chính sách và biện pháp sử dụng đất để phát triển kinh tế vàhoạt động xã hội) của quy hoạch sử dụng đất từ trên 10 năm đến 20 năm hoặc lâu hơn

d Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô.

Với đặc tính trung và dài hạn, quy hoạch sử dụng đất chỉ dự báo trước được các xu thế thay đổiphương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất một cách đại thể chứ không thể dự kiến đượccác hình thức và nội dung chi tiết, cụ thể của những thay đổi đó Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất làquy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, khái lược về sửdụng đất của các ngành như:

- Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc sử dụng đất trong vùng

- Cân đối tổng quát nhu cầu sử dụng đất của các ngành

- Điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bố đất đai trong vùng

- Phân định ranh giới và các hình thức quản lý việc sử dụng đất trong vùng

- Đề xuất các chính sách, các biện pháp lớn để đạt được mục tiêu của phương hướng sử dụngđất

Do khoảng thời gian dự bảo tương đối dài, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố kinh tế, xã hội khóxác định, nên ở tầm vĩ mô, chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hóa thì quy hoạch càng ổn định

e Tính chính sách: Quy hoạch sử dụng đất thể hiện rất rõ tính chính trị và chính sách xã hội.

Khi xây dựng phương án quy hoạch phải quán triệt các chính sách và các quy định có liên quan đếnđất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triểnnền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội, tuân thủ các quy định, các chỉ tiêukhống chế về dân số, đất đai và môi trường

f Tính khả biến: Do sự tác động của nhiều yếu tố khó dự đoán trước theo nhiều phương diện

khác nhau, quy hoạch sử dụng đất chỉ là một trong những giải pháp nhằm biến đổi hiện trạng sử dụngđất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế trong một giai đoạn nhất định Khi

xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các

dự kiến của quy hoạch sử dụng đất sẽ trở nên không còn phù hợp nữa Việc chỉnh sửa, bổ sung, hoàn

Trang 8

thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết Điều đó thể hiện tính khả biến của quyhoạch - quy hoạch sử dụng đất luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp đi lặp lại theo chu kỳ: “Quyhoạch – Thực hiện – Quy hoạch lại hoặc chỉnh lý – Tiếp tục thực hiện” với chất lượng, mức độ hoànthiện và tính thích hợp ngày càng cao.

Câu 4: Định hướng sử dụng đất của nước ta đến năm 2030

Đến năm 2030, dân số cả nước khoảng 110 - 115 triệu người (55% dân số sống ở khu vực đôthị), khi đó nước ta đã hoàn thành mục tiêu quốc gia về công nghiệp hoá, hiện đại hoá và trở thànhmột nước công nghiệp hiện đại, với một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,đứng vào hàng các nước phát triển và trở thành một nền kinh tế cầu nối trong khu vực Nguồn lực conngười, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng an ninh đượctăng cường, vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao Một xã hội vững chắc bằng nguồnlực phát triển nội sinh, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; liên kết hội nhậpsâu về kinh tế và công nghệ; giao lưu rộng về văn hoá, thông tin với các nước trong khu vực và thếgiới

Để đạt được mục tiêu trên thì bức tranh toàn cảnh về sử dụng đất đến năm 2030 sẽ có khoảng95% diện tích đất tự nhiên được đưa vào khai thác sử dụng cho các mục đích Định hướng sử dụngmột số loại đất chính như sau:

- Đất trồng lúa: Hiện nay diện tích đất trồng lúa cả nước có khoảng 4,1 triệu ha Trong vòng 20năm tới, nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và đột phá trong xây dựng kết cấu hạ tầng,đất trồng lúa sẽ tiếp tục phải chuyển sang mục đích phi nông nghiệp ước khoảng 450 - 500 nghìn ha(nhất là ở vùng đồng bằng) Bên cạnh đó, để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia trước mắt cũngnhư lâu dài, nước ta cần phải duy trì ổn định quỹ đất trồng lúa khoảng 3,8 triệu ha Vì vậy, trong giaiđoạn tới cần phải có các giải pháp đầu tư về thủy lợi để có thể khai thác bổ sung 250 - 300 nghìn hađất trồng cây hàng năm khác, đất chưa sử dụng cho mục đích trồng lúa để bổ sung diện tích đất lúachuyển sang các mục đích phi nông nghiệp; đồng thời đẩy mạnh đầu tư thâm canh chuyển đổi cơ cấugiống lúa để nâng cao hệ số sử dụng đất trồng lúa từ 1,82 lên 1,95 lần và đưa năng suất lúa bình quânđạt 62 tạ/ha Đến năm 2030 sản lượng lương thực của nước ta có thể đạt 46 - 49 triệu tấn, trong đó có

43 - 44 triệu tấn lúa, bảo đảm đủ lương thực cho 110 -115 triệu dân với mức bình quân trên 350kg/người/năm

- Đất lâm nghiệp: Đẩy nhanh việc trồng và khoanh nuôi rừng, phủ xanh và sử dụng đất trống đồinúi trọc gắn liền với định canh định cư, ổn định đời sống của các dân tộc Toàn bộ diện tích đất rừngđều có chủ, kể cả rừng kinh tế, rừng phòng hộ và các khu bảo tồn thiên nhiên Ổn định 3 loại rừngtrên cơ sở định rõ mục đích sử dụng với biện pháp đầu tư và khai thác có hiệu quả Theo điều kiện vềđất đai, diện tích đất để phát triển rừng ở nước ta khoảng trên 17 triệu ha và để tạo môi trường, hệsinh thái bền vững, phấn đấu đến năm 2030 khoanh nuôi, tái sinh phục hồi và trồng mới khoảng 2 -2,5 triệu ha Nếu thực hiện được mục tiêu này thì độ che phủ rừng khoảng trên 51%

Trang 9

- Đất khu, cụm công nghiệp: Để đảm bảo mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một nước côngnghiệp phát triển trên thế giới, diện tích đất khu, cụm công nghiệp sẽ cơ bản ổn định ở mức khoảng

350 - 400 nghìn ha vào năm 2030 Ưu tiên phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghệ sạch, hạnchế các ngành công nghiệp sử dụng nhiều đất và có ảnh hưởng xấu tới môi trường

- Đất ở tại đô thị: Để đảm bảo 55% dân số sống trong đô thị thì cả nước đến năm 2030 cầnkhoảng 230 nghìn ha đất ở tại đô thị trong tổng số đất đô thị khoảng 2 triệu ha

- Đất phát triển hạ tầng: Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi một quỹ đấtkhoảng 1,8 - 2,0 triệu ha để xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện năng; các công trìnhvăn hoá, y tế, thể dục - thể thao, giáo dục - đào tạo

- Đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng: Trong giai đoạn 20 năm tới sẽ cơ bản khai thác tối đa diệntích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng cho các mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp

Câu 5: Trình tự, thủ tục thẩm định, phê duyệt qhsdd cấp huyện

a) Ủy ban nhân dân cấp huyện gửi hồ sơ quy hoạch sử dụng đất đến Sở Tài nguyên và Môitrường để tổ chức thẩm định;

b) Trong thời hạn không quá 05 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tài nguyên và Môitrường có trách nhiệm gửi hồ sơ quy hoạch sử dụng đất đến các thành viên của Hội đồng thẩm địnhquy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để lấy ý kiến;

c) Trường hợp cần thiết, trong thời hạn không quá 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Hộiđồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tổ chức kiểm tra, khảo sát thực địa các khu vực dựkiến chuyển mục đích sử dụng đất, đặc biệt là khu vực chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đấtrừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng;

d) Trong thời hạn không quá 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, các thành viên Hộiđồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gửi ý kiến góp ý bằng văn bản đến Sở Tài nguyên

và Môi trường;

đ) Trong thời hạn không quá 10 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn lấy ý kiến góp ý, Sở Tàinguyên và Môi trường có trách nhiệm tổ chức họp Hội đồng để thẩm định quy hoạch sử dụng đất vàgửi Thông báo kết quả thẩm định quy hoạch sử dụng đất đến Ủy ban nhân dân cấp huyện;

e) Ủy ban nhân dân cấp huyện hoàn chỉnh hồ sơ quy hoạch sử dụng đất; trình Hội đồng nhândân cấp huyện thông qua; gửi hồ sơ quy hoạch sử dụng đất đến Sở Tài nguyên và Môi trường để trìnhphê duyệt;

g) Trong thời hạn không quá 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ Sở Tài nguyên và Môitrường trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch sử dụng đất cấp huyện

Câu 6: Trình tự, thủ tục thẩm định, phê duyệt kế hoạch sdd hang năm cấp huyện

Trang 10

a) Quý III hàng năm, Ủy ban nhân dân cấp huyện gửi hồ sơ kế hoạch sử dụng đất hàng năm củanăm sau đến Sở Tài nguyên và Môi trường để tổ chức thẩm định;

b) Trong thời hạn không quá 05 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tài nguyên và Môitrường có trách nhiệm gửi hồ sơ kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện đến các thành viên củaHội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để lấy ý kiến;

c) Trong thời hạn không quá 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, các thành viên Hộiđồng thẩm định gửi ý kiến góp ý bằng văn bản đến Sở Tài nguyên và Môi trường;

d) Trong thời hạn không quá 05 ngày kể từ ngày kết thúc thời gian lấy ý kiến, Sở Tài nguyên vàMôi trường có trách nhiệm tổ chức họp Hội đồng để thẩm định kế hoạch sử dụng đất; gửi thông báokết quả thẩm định kế hoạch sử dụng đất đến Ủy ban nhân dân cấp huyện để hoàn chỉnh hồ sơ;

đ) Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tổng hợp danh mục dự án cần thu hồi đất quyđịnh tại Khoản 3 Điều 62 của Luật Đất đai để báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhândân cấp tỉnh thông qua đồng thời với quyết định mức vốn ngân sách nhà nước cấp cho việc bồithường, giải phóng mặt bằng tại kỳ họp cuối năm của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh;

e) Căn cứ vào hồ sơ kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện đã được hoàn thiện và nghịquyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

để phê duyệt xong trước ngày 31 tháng 12

Câu 7: Trình tự lập quy hoạch sdd và kế hoạch sdd kỳ đầu

- Điều tra, thu thập thông tin, tài liệu

- Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường tác động đến việc sửdụng đất

- Phân tích, đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất, kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất kỳ trước và tiềm năng đất đai

- Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất

- Lập kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu

- Xây dựng báo cáo thuyết minh tổng hợp và các tài liệu có liên quan

- Thẩm định, phê duyệt và công bố công khai

Câu 8: vị trí, vai trò, sự cần thiết của quy hoạch sdd cấp huyện, tỉnh

3.1.1 Vị trí, vai trò của quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và cấp huyện

Trong điều 36 Luật Đất đai 2013 quy định tiến hành quy hoạch sử dụng đất theo 3 cấp hànhchính: cả nước, tỉnh, huyện Lập quy hoạch tiến hành theo trình tự từ trên xuống và sau đó lại được

bổ sung hoàn chỉnh từ dưới lên

Trang 11

QHSD§ c¶ níc vµ QHSD§ vïng kinh tÕQHSD§ cÊp tØnh QHSD§ cÊp huyÖn QHSD§ cÊp x·

- Đối với quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh:

Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng và cần thiết trong hệ thốngquy hoạch sử dụng đất, nhằm đưa công tác quản lý đất đai có nề nếp, mang lại hiệu quả trên nhiềumặt cho đất nước và xã hội

Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh do UBND tỉnh trực tiếp chỉ đạo công tác xây dựng và đượcChính phủ trực tiếp phê duyệt Trong hệ thống 4 cấp lập quy hoạch sử dụng đất, thì cấp tỉnh có vị trítrung tâm và là khung sườn trung gian giữa vĩ mô và vi mô, giữa tổng thể và cụ thể, giữa Trung ương

và địa phương

Quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh tác động trực tiếp đến việc sử dụng đất của các Bộ, Ngành,các vùng trọng điểm, các huyện và một số dự án quy hoạch sử dụng đất cấp xã mang tính đặc thù,vừa cụ thể hoá thêm, vừa bổ sung hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất cả nước để tăng thêm sự ổn địnhcủa hệ thống quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh còn là một công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý thống nhấttoàn bộ đất đai của tỉnh, thông qua tổ chức pháp quyền cấp tỉnh Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất cấptỉnh sẽ tạo ra những cơ sở có tầm quan trọng đặc biệt trong việc tiếp nhận những cơ hội của các đốitượng từ bên ngoài đầu tư vào phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Vị trí, vai trò của quy hoạch

sử dụng đất cấp tỉnh có thể đưa ra sơ đồ biểu diễn quan hệ trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất hiệnnay

Sơ đồ Quan hệ hệ thống quy hoạch sử dụng đất

Quyhoạch sửdụng đất cấp tỉnh là tài liệu mang tính chất khoa học, vừa mang tính pháp lý, nó là hệ thống các biệnpháp phân tích tổng hợp để hình thành các phương án và thông qua việc so sánh, lựa chọn để thực thitheo pháp luật và pháp lệnh của Nhà nước

Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh được coi là hệ thống các giải pháp phục vụ cho phát triển kinh

tế - xã hội của tỉnh, cụ thể là đáp ứng nhu cầu sử dụng đất hiện tại và trong tương lai của các ngànhtrên địa bàn tỉnh, cũng như nhu cầu sinh hoạt của các đối tượng sử dụng đất trong xã hội một cách tiếtkiệm, khoa học, hợp lý và có hiệu quả

Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh phải tạo ra được những căn cứ mang tính khoa học và pháp lýnhất định để các ngành, các huyện trong tỉnh triển khai quy hoạch sử dụng đất của từng ngành, từnghuyện

Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh phải thực sự làm cơ sở của kế hoạch sử dụng đất 5 năm và hàngnăm của tỉnh, hoặc là trực tiếp, hoặc gián tiếp (thông qua kế hoạch sử dụng đất) quy hoạch sử dụng

Trang 12

đất cấp tỉnh là căn cứ để UBND tỉnh thực hiện thẩm quyền cụ thể của mình về giao đất và thu hồi đất,hoặc chuyển mục đích sử dụng của các loại đất

Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh là các loại đất trong 3 nhóm đất theo Luật đất đainăm 2003 đã quy định Đó là, nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sửdụng

Tuỳ theo đặc thù của từng tỉnh, mỗi loại đất này chiếm tỷ lệ khác nhau trong tổng diện tích tựnhiên của tỉnh và được chia nhỏ ra thành các nhóm đất khác nhau Trong khi tiến hành quy hoạch sửdụng đất, cần cụ thể hoá và chi tiết hoá cho phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn và tính phân địnhcác vùng trong tỉnh

Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh được nghiên cứu xây dựng theo các thời kỳ phù hợp với yêucầu và nhiệm vụ phát triển của đất nước, mà cụ thể là của vùng lãnh thổ rộng lớn hơn Theo đó, tự nó

có tính chất riêng như là một biện pháp để không ngừng phát triển sử dụng quỹ đất đai theo nghĩa tạo

ra giá trị sử dụng mới ngày càng cao của đất

Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh còn có vai trò định hướng sử dụng đất cho cấp huyện và cấp xã.Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh trong một chừng mực nào đó mang tính chất tổng thể vĩ mô, do đócăn cứ vào quy hoạch sẽ cụ thể hoá một bước nữa trên địa bàn Quy hoạch tổng thể sử dụng đất cảnước căn cứ vào nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, kế hoạch dài hạn phát triển xã hội mà xác địnhmục tiêu, nhiệm vụ và phương hướng sử dụng đất cả nước, điều hoà quan hệ sử dụng đất giữa cáctỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; đề xuất các chính sách, biện pháp, bước đi để khai thác, sửdụng bảo vệ và nâng cao tỷ lệ sử dụng đất, điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và thực hiện quy hoạch Quy hoạch tổng thể sử dụng đất cấp tỉnh coi quy hoạch sử dụng đất của toàn quốc, của vùnglàm căn cứ Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh là sự cụ thể hoá quy hoạch toàn quốc trong phạm vi củatỉnh mình Các vấn đề cần giải quyết gồm:

+ Xác định phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu sử dụng đất cho toàn tỉnh;

+ Điều hoà nhu cầu sử dụng đất của các ngành, xử lý mối quan hệ giữa khai thác, sử dụng cảitạo và bảo vệ;

+ Đề xuất cơ cấu, bố cục, phương thức sử dụng đất của tỉnh và các chỉ tiêu sử dụng đất và cácbiện pháp để thực hiện quy hoạch

- Đối với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện :

Như ta đã biết, quy hoạch sử dụng đất là hệ thống quy hoạch nhiều cấp Do sự phát triển của cácvùng kinh tế không đồng đều, hiện nay hệ thống thông tin sử dụng đất chưa hoàn thiện, Nhà nướckhông thể có sự sắp xếp cụ thể cho từng vùng Cùng với lợi ích chung của cả nước, mỗi vùng, mỗiđịa phương còn có những lợi ích, cần phải do địa phương tự quyết định Do vậy, xây dựng và triểnkhai quy hoạch sử dụng đất cần phải phù hợp với các thể chế hành chính hiện hành của Nhà nước

Trang 13

Quy hoạch của cấp trên là cơ sở, là chỗ dựa cho quy hoạch sử dụng đất cấp dưới, quy hoạch cấpdưới là sự kế tiếp và cụ thể hoá quy hoạch cấp trên.

Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện làm cơ sở để quyết định lựa chọn cho việc đầu tư Như vậy,đất đai thực sự sẽ được khai thác sử dụng vào mục đích cụ thể theo hướng ổn định, vững chắc củaquy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh

Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện dưới sự chỉ đạo của UBND huyện căn cứ vào đặc tính củanguồn tài nguyên đất và mục tiêu dài hạn phát triển kinh tế xã hội để giải quyết các vấn đề như:

+ Xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cơ bản sử dụng đất của huyện;+ Xác định quy mô, cơ cấu và phân bố sử dụng đất của các ngành;

+ Xác định cơ cấu, phạm vi và phân bố đất cho các công trình hạ tầng chủ yếu, đất dùng chonông - lâm nghiệp, thủy lợi, giao thông, đô thị, khu dân cư nông thôn, xí nghiệp công nghiệp, du lịch

và nhu cầu đất đai cho các nhiệm vụ đặc biệt như khu bảo vệ - bảo tồn, khu vực an ninh, quốc phòng

Đề xuất chỉ tiêu có tính khống chế sử dụng các loại đất theo từng khu vực cho các xã trong huyện.Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện là nền tảng, thông qua việc khoanh định cụ thể các khu vực

sử dụng với những chức năng khác nhau, trực tiếp khống chế và thực hiện nhu cầu sử dụng đất củacác dự án cụ thể, cũng là điểm mấu chốt thực hiện quy hoạch của cấp tỉnh và cả nước

Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện ở nước ta là một cấp cơ bản trong hệ thống quy hoạch sửdụng đất, là cơ sở để cụ thể hoá quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và cả nước, có tác dụng trực tiếp chỉđạo và khống chế quy hoạch sử dụng đất của nội bộ các ngành, các xí nghiệp, kế thừa quy hoạch cấptrên và gợi ý cho quy hoạch cấp dưới Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện là căn cứ, là định hướng choviệc xây dựng quy hoạch sử dụng đất cấp xã Do đó, phải được tổ chức dưới sự l•nh đạo chủ chốt củacấp huyện, có sự tham gia của nhiều ngành, nhiều nhà khoa học, thực hiện một cách thiết thực, làmcho quy hoạch có tính khoa học, tính tiên tiến, tính thực tế, tính khả thi cao

Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện là quy hoạch có tính dài hạn, có tính khống chế vĩ

mô đối với đất đai trong một vùng hoặc một địa phương Nghĩa là dựa vào đặc tính tự nhiên của đất,

dự báo dài hạn về yêu cầu của kinh tế xã hội với đất đai nhằm xác định tư tưởng chiến lược, mục tiêu,phương hướng sử dụng đất, phân bố và xác định cơ cấu sử dụng đất, đề xuất các chỉ tiêu khống chếquy mô sử dụng đất cho các yêu cầu sử dụng đất của các ngành và phân rõ ranh giới, khu vực sửdụng đất, xác định phương châm, chính sách và biện pháp thực thi quy hoạch Do đó, nó có tính tổnghợp rất mạnh, đề cập đến nhiều ngành, phạm vi khá rộng, tính chính sách cao

Xây dựng phương án quy hoạch cần có lượng tư liệu, thông tin rất lớn Để có phương án quyhoạch phù hợp với thực tế, phù hợp với sự phát triển ngày càng mạnh của xã hội và có tính khả thicao, việc thu thập tư liệu, đánh giá hiện trạng sử dụng đất, phân tích tính thích nghi của đất, đánh giátiềm năng đất, đề xuất tư tưởng chiến lược sử dụng đất, dự báo các yêu cầu sử dụng đất, phân khu sử

Trang 14

dụng đất, thiết kế và tổng hợp phương án quy hoạch phải luôn chú ý bảo đảm tính tổng hợp, sosánh Phải dưới sự lãnh đạo của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, có sự tham gia của cácngành, các cán bộ chuyên môn, kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp truyền thống với kỹ thuật hiệnđại, phương pháp định tính với định lượng và đưa cơ chế phản hồi vào công tác quy hoạch làm choquy hoạch có tính khoa học, thực tế và tính quần chúng.

3.1.2 Sự cần thiết phải lập quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và cấp huyện

3.1.2.1 Sự cần thiết lập quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh

Trong hệ thống chính quyền, cấp tỉnh có đầy đủ quyền lực huy động vốn đầu tư, lao động và đấtđai để xây dựng kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh một cách mạnh mẽ, vững chắc và ổn định lâu dài.Nếu có quy hoạch sử dụg đất đầy đủ và khoa học sẽ tạo ra bước đi phát triển đúng hướng và đạt đượckết quả tốt

Chính quyền cấp tỉnh có đầy đủ thẩm quyền phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trongđịa bàn tỉnh và là cấp trực tiếp được Chính phủ giao quyền quản lý đất đai trên lãnh thổ tỉnh

Luật đất đai và các văn bản sau luật đều quy định cụ thể quyền hạn quản lý, sử dụng đất đai củachính quyền cấp tỉnh, đó là:

- Chính quyền cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo lập quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và trình Chính phủphê duyệt quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh

- Chính quyền cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo lập và phê duyệt quy hoạch sử dụng đất cấp huyện vàmột số dự án quy hoạch sử dụng đất cấp xã, quy hoạch sử dụng đất của vùng trọng điểm

- Chính quyền cấp tỉnh là cấp hành chính được quyền cho chuyển mục đích sử dụng các loại đấttheo phân cấp và đồng thời là cấp trình Chính phủ phê duyệt cho phép chuyển mục đích sử dụng cácloại đất

- Cấp tỉnh là cấp điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sử dụng đất của cấp huyện

Để thực hiện các quyền lực như trên về quản lý sử dụng và thống nhất quản lý đất đai theo quyđịnh nhất thiết phải tiến hành quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh

Quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh là sự định hướng sử dụng đất cho toàn bộ lãnh thổ do tỉnhquản lý, là cầu nối liên kết giữa các ngành sử dụng đất trên địa bàn tỉnh, đồng thời là bước địnhhướng quan trọng tới các quy hoạch cụ thể trên địa bàn huyện, các vùng trọng điểm để xây dựng kếhoạch giao cấp đất, tiếp nhận đầu tư lao động Thiếu quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh sẽ vừa khôngphát huy được vai trò quan trọng của chính quyền trong hệ thống quản lý, quy hoạch sử dụng đất, vừa

có thể gây ra những quyết định sai lầm về sử dụng đất của các ngành và gây thiệt hại cho lợi ích toàn

xã hội

Căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh mang tính khoa học và tính pháp lý, các ngành, cáchuyện trong tỉnh triển khai quy hoạch sử dụng đất cụ thể cho ngành mình, huyện mình

Trang 15

3.1.2.2 Sự cần thiết quy hoạch sử dụng đất cấp huyện

Huyện là đơn vị hành chính được chia thành xã, thị trấn Ngoài ra, cấp huyện bao gồm: quậnthuộc thành phố trực thuộc trung ương, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh Trong công tác quản lý đấtđai theo các điều khoản Luật đất đai năm 2003, nhiệm vụ của cấp huyện thể hiện, đó là:

- UBND cấp huyện tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn quản lý

- Xét duyệt quy hoạch sử dụng đất cấp dưới trực tiếp

- Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân,giao đất đối với cộng đồng dân cư

- Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, ngườiViệt định cư ở nước ngoài mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở

Để thực hiện các nhiệm vụ theo hiến pháp và pháp luật, cần phải xây dựng các phương án quyhoạch sử dụng đất với cơ cấu đất hợp lý, khoa học và đạt hiệu quả cao

Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện làm cơ sở cho việc quyết định đầu tư, như vậy, đất đai sẽ thực

sự được khai thác sử dụng vào những mục đích cụ thể theo hướng ổn định lâu bền Do đó quy hoạch

sử dụng đất cấp huyện sẽ làm tăng tính ổn định, vững chắc của quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh

Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện xác định các đặc điểm lãnh thổ của các tiểu vùng tronghuyện, từ đó định hướng sử dụng đất cụ thể theo hướng chuyên môn hoá đi đôi với phát triển tổnghợp trong việc phát triển kinh tế - xã hội của các xã trong tiểu vùng, đảm bảo mối quan hệ chỉ đạo củaquy hoạch sử dụng đất cấp huyện đối với quy hoạch sử dụng đất cấp xã

Câu 9: Trình bày nội dung công tác điều tra cơ bản trong qhsdd

a Công tác nội nghiệp

Mục đích của công tác này là thu thập các tài liệu và số liệu cần thiết phục vụ công tác quyhoạch sử dụng đất đai Các tư liệu này phải thể hiện được đặc điểm của đối tượng quy hoạch cũngnhư tình hình hiện tại và tương lai phát triển của nó

Số lượng và loại tài liệu thu thập phụ thuộc vào mức độ, yêu cầu của quy hoạch và các điều kiện

tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình sử dụng đất từng địa phương cụ thể

Chuẩn bị hệ thống các biểu mẫu điều tra; thiết kế các biểu mẫu thích hợp, thuận tiện để nhập và

xử lý các thông tin, số liệu phục vụ quy hoạch sử dụng đất đai trong quá trình điều tra

Tùy tình hình và điều kiện cụ thể của từng địa phương sẽ điều tra, thu thập các tài liệu, số liệuliên quan đến các điều kiện tự nhiên, tài nguyên, KTXH, hiện trạng sử dụng đất đai (có tại xã,huyện, tỉnh và khi cần thiết ở cả các Bộ, Ngành TW) phục vụ quy hoạch sử dụng đất đai như:

- Các số liệu về đặc điểm điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên, cảnh quan, môi trường sinhthái trên địa bàn quy hoạch

Trang 16

- Tài liệu về tình hình phát triển KT-XH trong những năm qua.

- Các nghị quyết (của cơ quan Đảng, UBND, HĐND các cấp) liên quan đến các chỉ tiêu kếhoạch phát triển KTXH trong những năm sắp tới

- Số liệu về sử dụng đất đai (theo các mẫu thống kê do TCĐC quy định) trong 5-15 năm qua

- Định mức sử dụng và giá đất hiện hành của địa phương

- Các tài liệu số liệu về chất lượng đất đai: đặc tính đất đai, đánh giá phân hạng đất, mức độ rửatrôi, xoái mòn dất, độ nhiễm mặn, nhiễm phèn, úng ngập, hạn hán

- Các tài liệu số liệu có liên quan tới quy hoạch

- Các tài liệu bản đồ hiện có phục vụ quy hoạch sử dụng đất đai như: bản đồ nền địa hình, bản

đồ đất, bản đồ độ dốc, bản đồ tài nguyên nước, bản đồ hiện trạng sử dụng đất đai, các loại bản đồ quyhoạch đã làm trước đây và các tài liệu bản đồ khác có liên quan

- Các thông tin tư liệu được phân loại và đánh giá; xác định rỏ nguồn gốc đơn vị, phương phápnăm xây dựng tài liệu, chất lượng tài liêu, nội dung và độ tin cậy của thông tin tài liệu Trên cơ sở kếtquả nội nghiệp sẽ xây dựng kế hoạch công tác ngoại nghiệp (xác định cụ thể các vấn đề, địa điểm và

kế hoạch kiểm tra, khảo sát tại thực địa để chỉnh lý bổ sung)

b Công tác ngoại nghiệp

- Khảo sát và thực hiện chỉnh lý bổ sung tài liệu ngoài thực địa (khoanh ước lượng, phươngpháp giao hội, hạ đường vuông góc, đo đường thẳng )

- Chuẩn hoá các thông tin, số liệu và tài liệu bản đồ và viết báo cáo đánh giá về chất lượng, khảnăng khai thác sử dụng các tài liệu thu thập được để giải quyết cụ thể từng nội dung quy hoạch sửdụng đất đai

Nội dung và yêu cầu của công đoạn này phụ thuộc vào kết quả của công tác thu thập tài liệu, sốliệu ở bước trước Công tác này do cán bộ chuyên môn thực hiện với sự tham gia của đại diện các bên

có liên quan và đại diện các ban ngành trong x•

Nội dung điều tra bao gồm:

1 Kiểm tra mức độ phù hợp của các tài liệu pháp chế, thống kê đất, bản đồ so với thực địa Khicần, có thể tổ chức đo vẽ bổ sung những thay đổi về vị trí, hình dạng, kích thước hoặc mục đích sửdụng của các thửa đất

2 Xác định diện tích những khu vực có tranh chấp đất, sử dụng đất không hợp pháp, bất hợp lý

3 Bổ sung, chỉnh lý những thay đổi về đặc điểm thổ nhưỡng, địa hình, thực vật, hiện trạng sửdụng đất, các quá trình xói mòn, ô nhiễm, thoái hoá, khả năng xây dựng các công trình giao thông

4 Dự kiến khu vực phát triển dân cư mới trong tương lai và bố trí công trình xây dựng cơ bảnmới

Trang 17

5 Xác định những chi phí, thiệt hại sản xuất và chi phí đầu tư chưa sử dụng hết trên các khu vực

dự kiến sử dụng vào mục đích khác (cấp đất ở, xây dựng cơ bản, giao thông, thuỷ lợi )

Câu 10: Đánh giá tiềm năng đất đai cho lĩnh vực nông nghiệp

- Xác định, lựa chọn chỉ tiêu đánh giá tiềm năng

- Xác định nội dung đánh giá tiềm năng: đánh giá tính thích nghi, sự phù hợp của hiện trạng sửdụng đất so với tiềm năng đất đai; khả năng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất phù hợp với mục tiêu pháttriển kinh tế nông nghiệp đã được xác định trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội

a Mục tiêu của đánh giá tiềm năng đất nông nghiệp

Hiện nay trên thế giới có nhiều trường phái đánh giá đất khác nhau nhưng có thể tóm tắt thành 3phương pháp chính :

- Đánh giá đất theo định tính, chủ yếu dựa vào mô tả và xét đoán

- Đánh giá đất theo phương pháp thông số

- Đánh giá đất theo định lượng dựa trên mô hình mô phỏng định hướng

Các phương pháp trên có nhiều điểm khác biệt nhau, dẫn đến kết quả đánh giá đất theo cácphương pháp khác nhau có nhiều điểm sai khác

Để khắc phục tình trạng đó, tổ chức FAO đã cho ra đời một quy trình đánh giá đất mới có thể ápdụng được cho các nước trên thế giới Quy trình này đã được áp dụng ở nhiều nước và được thừanhận là phương tiện tốt nhất để đánh giá đất ở Việt nam, phương pháp đánh giá đất theo FAO cũngđang được nghiên cứu ứng dụng và bước đầu đã mang lại những kết quả tốt đẹp

Theo kết quả đánh giá đất, toàn bộ quỹ đất được xếp hạng căn cứ vào mức độ thích hợp đối vớicác mục đích sử dụng khác nhau (chia làm 4 mức : thích hợp cao, thích hợp trung bình, thích hợpthấp và không thích hợp) Mức độ thích hợp được xác định dựa vào đặc tính vốn có của đất và cácyêu cầu sử dụng đất vào các mục đích khác nhau

* Mục tiêu của việc đánh giá này là để trả lời các vấn đề sau:

- Mảnh đất này được sử dụng vào mục đích gì là tốt nhất?

- Mảnh đất này sử dụng vào mục đích nào thì sẽ cho hiệu quả tổng hợp cao nhất?

- Đối với mọi mục đích sử dụng được lựa chọn thì mức độ thích hợp và hiệu quả như thế nào?

- Có những chỉ tiêu, yếu tố hạn chế gì đối với mục đích sử dụng được lựa chọn?

Đánh giá thích hợp đất đai được thực hiện theo trình tự và nội dung sau:

- Xây dựng được các tài liệu bản đồ đơn tính, đặc điểm tính chất các loại đất (thổ nhưỡng), điềukiện khí hậu, thuỷ văn, địa hình, các loại hình sử dụng đất ( kiểu và dạng) sẽ được áp dụng trongtương lai

Trang 18

- Phân cấp hệ thống đánh giá : loại thích hợp, cấp thích hợp, yếu tố hạn chế

- Xác định đơn vị đất đai: các khoanh đất cùng một đơn vị đất thì có hướng sử dụng và các biệnpháp cải tạo cũng giống nhau, khi trồng cùng loại cây trồng sẽ cho sản lượng tương đối bằng nhau.Muốn xác định được đơn vị đất trước hết phải xác định được các chỉ tiêu phân cấp như : loại đất, độphì, địa hình, chế độ nước, thành phần cơ giơí, độ dày tầng đất

- Xác định các yêu cầu sử dụng đất : những yêu cầu về đất, sinh thái của các loại hình sử dụngđất được đưa vào đánh giá

- So sánh giữa yêu cầu sử dụng và đặc tính đơn vị đất để tìm ra mức độ thích hợp nhất hoặc cáccác yếu tố hạn chế cần thay đổi của các mảnh đất đối với loại hình sử dụng đất lựa chọn

Đánh giá tiềm năng đất nông nghiệp là căn cứ quan trọng để lập kế hoạch phân bổ sử dụng đất đai Nội dung của nó bao gồm:

- Xác định khả năng mở rộng diện tích đất nông nghiệp

- Xác định khả năng thâm canh tăng vụ trên đất nông nghiệp hiện có

- Xác định cơ cấu sử dụng đất tối ưu trong sản xuất nông nghiệp

- Xây dựng các biện pháp cải tạo, chuyển loại sử dụng và bảo vệ đất

b Xác định khả năng mở rộng diện tích đất nông nghiệp

Khả năng mở rộng diện tích đất nông nghiệp phụ thuộc vào diện tích đất chưa sử dụng, nhưng

có khả năng áp dụng các biện pháp cải tạo, thuần hoá thích hợp để đưa vào mục đích sử dụng nôngnghiệp

Tuỳ thuộc điều kiện cụ thể của từng vùng, để mở rộng diện tích đất nông nghiệp có thể sử dụngcác nguồn đất sau:

+ Những diện tích đất từ trước đến nay vẫn còn là đất hoang (chưa được sử dụng do một sốnguyên nhân nào đó như chưa có nhu cầu, khả năng có hạn về vốn, vật tư, lao động )

+ Đất nông nghiệp cũ bị bỏ hoang do quá thiếu hoặc quá thừa nước

+ Đất nông nghiệp xấu, sản xuất không ổn định và không có hiệu quả (do ảnh hưởng của điềukiện tự nhiên)

+ Đất rừng không còn ý nghĩa kinh doanh và bảo vệ thiên nhiên có thể chuyển sang sản xuất câyhàng năm, cây lâu năm

+ Đất canh tác nằm xen kẽ trong khu dân cư

+ Đất ở, đất giao thông, đất xây dựng cơ bản đã hết ý nghĩa sử dụng

+ Đất rừng thưa, cây bụi, lầy thụt, bãi bồi, thùng vũng sau khi sử dụng vào mục đích phát triển

hạ tầng (khai thác cao lanh, cát, than bùn )

Trang 19

+ Đất chưa sử dụng bao gồm các loại đất chưa xác định vào mục đích sử dụng nào.

Để xác định khả năng mở rộng diện tích, ta cần đánh giá đất các loại đất trên theo các chỉ tiêusau:

- Đặc tính tự nhiên của đất ( đặc điểm thổ nhưỡng, địa hình, độ dày tầng canh tác, độ dốc, cácloại độc tố )

- Đặc điểm khí hậu, chế độ nước, mối quan hệ sinh thái giữa đất và các yếu tố môi trường khác

- Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng vào mục đích nông nghiệp và các biện pháp áp dụng

Từng khoanh đất sẽ được đánh giá và xếp hạng theo 4 mức thích hợp đối với từng mục đích vàloại hình sử dụng cụ thể :

- Đất trồng lúa

- Đất trồng màu và cây công nghiệp ngắn ngày

- Đất trồng cây lâu năm

+ Đất chỉ thích hợp cho mục đích sử dụng nông nghiệp (đất ngập nước thường xuyên, hoặcngập nước thời gian dài trong năm) để nuôi trồng thuỷ sản

+ Đất thích hợp cho cả nông nghiệp và lâm nghiệp (sản xuất cây hàng năm, cây lâu năm, rừngsản xuất, nuôi trồng thuỷ sản v.v )

+ Đất chỉ thích hợp cho lâm nghiệp (trồng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng có tính đến yêu cầubảo vệ đất và môi sinh)

Hướng sử dụng từng khu vực cụ thể được xác định dựa vào sự kết hợp các yếu tố: chất lượngđất, địa hình, chế độ nước và các tính chất không gian như diện tích, hình dạng, vị trí phân bố

Ví dụ: Có những khoảnh đất tuy chất lượng khá nhưng diện tích nhỏ, vị trí không thuận lợi, hìnhdạng phức tạp, đôi khi sử dụng vào nông nghiệp trồng cây hàng năm, cây lâu năm lại kém hiệu quảhơn là trồng rừng sản xuất do phải đầu tư chi phí quá nhiều cho khâu tổ chức, quản lý và bảo vệ

Ngày đăng: 02/07/2017, 09:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w