Ngôn từ nghệ thuật trong thơ Trần Hùng

Một phần của tài liệu Thế giới nghệ thuật thơ Trần Hùng (Trang 104 - 119)

Chương 3. CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG THƠ TRẦN HÙNG

3.2.2. Ngôn từ nghệ thuật trong thơ Trần Hùng

Ngôn từ trong thơ Trần Hùng là ngôn từ đời thường giản dị mà đầy sáng tạo.

Nhiều bài thơ ngôn từ đậm chất đời thường rất quen thuộc ,gần gũi trong sinh hoạt hằng ngày:

Trong đêm tôi nghĩ về các bạn Các bạn bé bỏng của tôi

Các bạn hồng mịn của tôi Các bạn nhăn nheo của tôi […]

Dù đôi lúc tôi là tấm bánh đa sũng nước[…]

(Ba giờ sáng) Tuổi bảy mươi

Tự tin nhƣ trẻ lên ba, bồng bột nhƣ một ông già, Buồn buồn nhƣ con gái[…]

(Như không)

Cũng với những ngôn từ đơn giản ấy Trần Hùng đã rất khéo léo, tỉ mỉ trong việc lựa chọn và kết hợp từ tạo nghĩa mới. Từ một từ chính như (Trăng, vườn, lá, xuân) thi sĩ kết hợp với nhiều từ ngữ khác tạo nên cho thơ nhiều sắc diện khác nhau ở mỗi không gian và thời gian khác nhau cùng là một sự vật

“Trăng” nhưng lúc này mang nghĩa hiện thực “ánh trăng”, “đêm trăng”,

trăng lên”,… khi lại mang nghĩa hư ảo: “ngón trăng”,“đồng trăng”, “Rừng trăng”, “Hồ trăng” ,“hồn trăng”, “Rớm trăng”, “Cá trăng”…

Sinh ra từ một từ “trăng”, được tác giả chọn lựa và kết hợp, tạo ra nghĩa của từ mới, có tác dụng làm giàu tính biểu tượng, tính tượng trưng và giàu chất cảm xúc. Hay như (Vườn yêu xưa, vườn khuya, vườn không cài then…), ( lá đắng, lá ngọt, lá đêm, lá suối, lá im, lá lay nỗi buồn…), (chồi xuân, gai xuân, giọt xuân, đồng hồ xuân…), chính vì ngôn từ đa nghĩa như vậy làm cho thơ Trần Hùng đa dạng màu sắc và cảm xúc lẫn hình ảnh.Trần Hùng luôn khai thác triệt để khả năng biểu hiện của vốn ngôn từ quen thuộc rồi từ đó khai thác, tìm kiếm sáng tạo trong những kết hợp mới lạ, độc đáo. Với cách đổi mới ngôn ngữ theo hướng này nhà thơ đã tạo cho người đọc cảm giác vừa quen vừa lạ. Các từ ngữ nếu đứng ra độc lập sẽ chẳng gây nên cảm xúc gì mới mẻ, thậm chí các chữ đều quá cũ mòn. Nhưng đột nhiên chúng trở nên mới lạ, sống động đầy sức gợi khi đứng bên nhau trong những kết hợp đầy sáng tạo:

lƣng hoa bóng đòng, niêm phong tình em, ngón trăng từng giọt,hồn trăng thinh khiết, màu anh, đêm xanh, mái tóc thon sổ tung báo động, thiên đường vầng trán thanh khiết, sợi tóc loạn nhịp, loa kèn bờ nước, gót sương tinh khiết, cây da mồi nảy lộc, hương khói bến xuân, máu dịu dàng, đồng hồ hồng cầu, dệt dấu môi, dệt hơi thở, xăm ánh mắt, mạch máu cát, làn da nghẹt thở, mùa không tên, hạt thời gian anh, lá lay nỗi buồn, lá im nỗi buồn, mùa vân tay, bông xuân nụ nhung cuống tuyết, đường ốc lê la dưới trong veo, mơ

mòng những giọt sương cánh gai, long bong bước hài đồng, tiếng chim cánh vỡ, em long lanh cánh vỡ, cơn mƣa đêm tung vó, hạt mƣa vỡ sáng, ngọn phồn linh, sắc màu kêu gào, thời gian dã man, lối đi trần, tấm lƣng nức nở, niềm khát vọng nhói đau, hạt mầm thức dậy, bạc đầu thinh không, đăm đăm xanh, mòn mỏi xanh, giọt thời gian trong suốt, niềm trinh tĩnh vỡ òa, sợi máu, kiếp cỏ, cánh đồng thân thể, mùa màng kiến thức, cỏ đau lƣng trần, mây bông nắng sã, lời giẻ rách…Trần Hùng đã dẫn dắt người đọc khám phá bản biến tấu từ ngữ tinh tế, có hồn khiến cho những lời thơ của ông trở nên hấp dẫn sống động hơn bao giờ hết.

Về mặt từ loại, Trần Hùng sử dụng rất hiệu quả và thành công từ láy, mật độ từ láy trong các sáng của ông dày đặc. Trần Hùng sử dụng từ láy rất tài hoa nhất là các từ láy tượng hình như: thăm thẳm, sừng sững, chênh vênh, ngun ngút, trùng trùng, tầng tầng, hun hút, nghiêng nghiêng…hay những từ láy diễn tả trạng thái, cảm giác như: ong ong, thon thót, thảm thiết, quằn quại, run rẩy, buồn buồn, rƣng rƣng, thoi thóp…Cách kết hợp từ láy của Trần Hùng cũng rất đặc biệt, một số từ láy có tính chất động như: “Thiêm thiếp”,

“quằn quại” …thường được kết hợp với danh từ chỉ người, hoặc động vật nhưng ở đây nó bổ nghĩa cho từ chỉ vật như: “ngó sen thiêm thiếp”, “rong rêu san hô thiêm thiếp”, “Lối về thiêm thiếp”; “sớm mai quằn quại”, “cao nguyên rƣng rƣng”; “đọt măng ngồng ngơ ngác”…Với cách sử dụng từ ngữ như vậy Trần Hùng đãtạo cho bức tranh thiên nhiên trở nên sống động. Nhiều cặp từ láy được đặt trong cùng một câu thơ như: “Máu máu mắt mắt/Nụ cười bay bay”, “râm ran mưa mưa nước trong lưa thưa”làm cho câu thơ trở nên sinh động tạo vần nhịp với nhau. Sự phong phú của từ láy trong thơ ông khiến câu thơ mềm mại, giàu nhạc tính, thuần Việt,đặc biệt với những từ tượng hình góp phần làm cho bức tranh thiên nhiên và tâm trạng có chiều sâu cuốn hút người đọc vào khám phá thế giới ấy.

Trần Hùng hay sử dụng những từ nghĩa mờ nhòe trừu tượng tạo cảm giác mơ hồ, phù hợp với việc mô tả thế giới ẩn khuất trong miền hoài niệm và khơi gợi cảm xúc, cảm giác:

- Ngàn hoa long lanh những giọt sương/ em long lanh cánh vỡ

- Nơi gương mặt người thấm đẫm ánh trăng/nơi gương mặt lá thấm đẫmbóng tối(Hạ huyền)

- Cay cay hương khói bến xuân

(Sương hương bay) - Trăng rơi /đầm đìa đồng cỏ

(Hai ba bốn câu) - Bạc trắng thời gian

(Cơn mơ) - Hoa rơm rớm nở

Một mình hoa

thơm lặng lẽ lên trời

(hoa đen) - và thảm đêm trùng xuống Triền miên trên ngực người

Và còn lại mỏng manh hương khói Tro tàn dục vọng cuộc đời

(khát vọng) v.v…

Trần Hùng cũng tận dụng nhữngquán ngữ và từ ngữ đặc tả tính chất hư ảo như: mơ, ai, người ơi, ừ nhỉ, không phải, đâu…

- Xƣa ai áo trắng nhƣ em ai cầm hoa cúc xanh nhƣ em

(Cúc xanh) - ai còn nhớ không

tiếng gầu sòng đong qua đồng trăng

(trên cánh đồng) - người ơi về đi

ta đang mơ giấc mơ lá suối

(gọi nguồn) - ừ nhỉ, không phải con trâu của ta Không phải bó lạt của ta

Không phải lưới hái của ta […]

Tiếng dạ đề ta đâu Sách đèn ta đâu

(mơ quê) - thành hai giọt sương thành hai viên sỏi trắng

(trong cơn đau) - Hoa cải vàng bay bay trên sông Dòng sông im mơ mơ cánh đồng

(sương hương bay)

Vì vậy, ngôn ngữ thơ Trần Hùng tự nhiên, súc tích, khả năng gợi cảm lớn.

Trong một số bài thơ Trần Hùng còn sử dụng kết hợp các yếu tố phi ngôn ngữ giữa các câu thơ, các từ trong một câu có xen kẽ các dâu câu như dấu gạch ngang, dấu chấm lửng:

- Nhẹ - nhàng - như - cánh - bướm Tìm về giấc thụy miên vĩnh viễn

(thảm thắc)

Với cách chêm xen các dấu gạch ngang giữa các từ trong một câu thơ như vậy tạo ra một sự chuyển động nhẹ nhàng, chậm chạp giống như một hành trình số phận con người.

Rất nhiều bài thơ của Trần Hùng có sử dụng dấu ba chấm chêm xen vào giữa các câu thơ, đoạn thơ hay trước hoặc sau các câu thơ:

- Có phải trăng cũng chỉ là đất đá thôi không?

Trăng cười…

(Hỏi trăng) -

Từng ngày từng ngày hạc mây xếp gối Mùa thu đi hay thu đi

Người là ai

Mà không gọi con về Cứ lặng nhìn hoa cải

Đêm đèn vàng Gối trắng

Mơ thấy những sợi tóc

(hai ba bốn câu)

Có bài thơ Trần Hùng sử dụng kết hợp với các ngôn từ là tiếng nước ngoài:

- giá nhƣ có thể đặt cho tim em một password Để mình anh đƣợc mở mình anh đƣợc biết Mình anh lạc vào cõi em

(nhắn tin cho diễm xanh)

- Alo

Có ai xích lô cát ai taxi cát không Một chuyến cùng về gangnam style

(trong cơn đau)

Với cách sử dụng ngôn từ như vậy làm cho câu thơ trở nên sinh động hấp dẫn mang hơi thở của thời đại công nghệ thông tin toàn cầu.

Như vậy có thể thấy hệ thống ngôn từ sử dụng trong thơ Trần Hùng bên cạnh thứ ngôn ngữ đậm chất đời thường là loại ngôn ngữ mờ nhòe, đậm chất tượng trưng siêu thực cùng với cách kết hợp một cách nhuần nhuyễn các từ ngữ và dấu câu làm cho ngôn từ trong thơ trở nên đa dạng, mới mẻ hấp dẫn với bạn đọc. Với những sáng tạo của mình Trần Hùng đã góp phần vào việc đổi mới cách tân ngôn ngữ thơ đương đại.

3.3. Một số biểu tƣợng tiêu biểu

Biểu tượng “là hình ảnh cảm tính cụ thể về những hiện tƣợng của thế giới bên ngoài. Biểu tƣợng cùng với cảm giác và tri giác tạo nên nhận thức cảm tính” [30]

Biểu tượng là phương tiện tạo hình và biểu đạt có tính đa nghĩa trong văn học. Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, mỗi nhà văn đồng thời là một nhà tư tưởng bằng sức mạnh của ngôn từ. Nhà văn giữ vai trò là người mã hóa ngôn từ tạo ra một hình thức lạ hóa nhằm tổ chức một thế giới nghệ thuật in đậm dấu ấn của chủ thể sáng tạo và những hình tượng nghệ thuật ra đời, có sức sống sẽ vượt lên ý nghĩa biểu đạt và làm thành các hình tượng nghệ thuật độc đáo, đa nghĩa.

Biểu tượng là một trong những phương thức quan trọng xây dựng thế giới nghệ thuật trong thơ. Trần Hùng là người có khả năng ghi nhận một cách độc đáo và ấn tượng những hình tượng trong thực tế xã hội và trong đời sống tinh thần của con người. Đó là những hình tượng rất đỗi quen thuộc trong đời

sống thường nhật nhưng qua nhãn quan của nhà thơ lại trở nên độc đáo, riêng biệt.

Qua khảo sát hai tập thơ “Vườn khuya” “Thảm thắc”chúng tôi có bảng thống kê về những biểu tượng thường xuất hiện trong thơ Trần Hùng.

Bảng 3.2. Thống kê tần số xuất hiện của các biểu tƣợng

STT Biểu tượng Số lần xuất hiện

1 Cánh đồng 14

2 Vườn 15

3 Lá 29

4 Hoa 26

5 Cát bụi 3

Trong phạm vi khảo sát của mình, chúng tôi nhận thấy có 5 biểu tượng tiêu biểu trong thơ Trần Hùng, đó là: cánh đồng, vườn, lá, hoa, cát bụi

Thứ nhất đó là biểu tƣợngcánh đồng

Cánh đồng là biểu tượng gắn liền với nền nông nghiệp và truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc. Trần Hùng sinh ra và lớn lên ở làng quê vùng đồng bằng sông Hồng, cánh đồng luôn gắn bó với cả tuổi thơ của ông vì thế biểu tượng cánh đồng luôn trở đi trở lại trong các bài thơ của ông: trên cánh đồng, nhớ hoa, mơ quê, ban mai…

Với Trần Hùng, cánh đồng mang hơi thở của sự sống tinh khôi, tươi non mơn mởn. Cánh đồng làng mở ra cả thế giới tuổi thơ của thi sĩ với những hình ảnh chân thực nhất trở về từ trong kí ức:

- Giờ chim đã xa, mây đã xa, nước im

Cánh đồng chiều lúa vàng không người lượm […]

Bước chân đầu tiên xuống cánh đồng này

ai còn nhớ không những vũng cá đòng đong xanh vàng

ai còn nhớ không

tiếng gầu sòng đong qua đồng trăng…”

(Trên cánh đồng) - Cánh đồng của ta rạ rơm làm mật

Đống dấm của ta ủ nồi cá kho thơm mùi rƣợu lức…

(mơ quê) - Chim nâu bay rồi

Cánh đồng ban mai đã vỡ- mùa xuân.

(Ban mai) - hoa cải vàng bay bay trên sông Dòng sông im mơ mơ cánh đồng Cánh đồng thơm nhƣ tóc

Nồng nàn nhƣ tóc

(sương hương bay)

Cánh đồng gắn với thế giới của làng quê khôi nguyên, tươi mới ngát hương xuân, cánh đồng chính là biểu tượng thích hợp để nhà thơ truyền tải nội dung, tư tưởng qua đó thể hiện tình yêu quê hương, đất nước sâu nặng của mình.

Thứ hai đó là biểu tượngvườn

Vườn chính là một biểu tượng cho không gian sinh thái trong thơ mới, thể hiện mối quan hệ giữa con người với nơi chốn, nó mang một ý niệm tinh thần độc đáo. “Vườn bao giờ cũng gắn liền với văn hóa làng với tư cách là không gian tinh thần và là nơi quy tụ của những mối liên kết giữa cá nhân và cộng đồng của thôn dân. Nó hoàn toàn khác với văn hóa đường phố là nơi cư ngụ (và lưu lạc ) của những cá thể thị dân. Bởi thế đặc tính của làng là bình

yên trong trẻo, là nơi có khả năng chữa lành mọi vết thương tinh thần của những kẻ tha hương” [19]

Trong thơ Trần Hùng, vườn chính là không gian tinh thần để ông gửi gắm mọi tâm tư sâu kín trong lòng mình, vườn xuất hiện trong nhiều bài thơ của ông: vườn xưa, hạ huyền, lời đêm, phương hạc bay, gọi nguồn…

Vườn - vườn yêu - vườn khuya- thiên đường tình yêu cháy bỏng:

Em xa rồi phải không

Mình tôi trong khu vườn lặng lẽ Vườn yêu xƣa giờ nắng lá

Phủ những dấu chân phủ những lối mòn (Vườn xưa) Phút chốc muốn băng vườn khuya tìm đến Nơi gương mặt người thấm đẫm ánh trăng Nơi gương mặt lá thẫm đẫm bóng tối

(Hạ huyền) Mong giữa người đông một khu vườn trống

Mong cuối đường mưa một căn nhà vắng Cho em lạc về tôi

(lời đêm) Vườn - thiên đường tuổi thơ :

Vườn khuya mơ mải bàn chuyền

Trăng mười lăm nở đầy thuyền chiêm bao

(ru cát bụi)

Vườn- thiên đường của sự sinh sôi nảy nở, sự phồn sinh bất tận:

Trăng vàng ƣơm khu vườn hoa thơm trễ nải Long bong bước hài đồng đêm hoa tường vi nở

(gọi nguồn)

Vườn - vẻ đẹp của nguồn cội, thôn quê dân dã với hoa, cỏ lung linh sắc màu:

Trước thềm ló một chùm ngâu Sau vườn hé một nụ cau trắng ngà

(ru cát bụi) Thôi chào nhé những bờ vườn hoe nắng Hoa rau rền gai, hoa rau sam tím

(thảm thắc)

Như vậy, vườn trong thơ Trần Hùng vừa mang ý nghĩa hư ảo vừa mang ý nghĩa thực của cuộc sống trần thế.

Thứ ba là biểu tƣợng :

Lá xuất hiện trong thơ Trần Hùng với mật độ khá dày đặc, lá là một bộ phận của cây biểu tượng của sự sống là nơi thi sĩ thả hồn mình vào sắc xanh của thiên nhiên đất trời.

Lá mang đến cho con người cảm giác của sự xanh tươi, tràn đầy năng lượng sống. Lá trong thơ Trần Hùng xuất hiện với nhiều biến thể khác nhau đầy ấn tượng:

Nắng bay mây bay cây vẫn reo mới

Tiếng chẻ củi sớm mai, trong veo tiếng sương cánh hoa

(thế rồi một ngày) Ngày đi thon thót đòng

Ngày đi xanh lênh láng

(ngày về) đêm qua còn khép, giờ đã cành xanh Lá lá đi con đường riêng

(ru im) Sênh sáo cuối mùa, tay cầm tay trắng

Em che trăng một tấm yếm sồi Em che trăng ngực trần nóng

(cúc xanh)

Lá không còn là những vật vô tri vô giác của thiên nhiên mà nó mang trong mình những tâm tư, suy nghĩ của con người:

lay nỗi buồn im nỗi buồn

Có phải cây chết nỗi buồn sẽ theo đi

(hai ba bốn câu)

Lá còn là biểu tượng cho sự mỏng manh của chính cuộc đời mỗi con người:

Dâng trổ cúc quỳ vàng Vút lên những ngọn rừng Vút lên lời yêu buốt ngực Người về

Lá vỡ

(quỳ vàng dâng trổ) Lẫm chẫm đầm sen lá rách

Viên kẹo đầu tiên của ai Lời cay đắng đầu tiên của ai

(thế rồi một ngày) Thứ tƣ là biểu tƣợng hoa

Hoa là một biểu tượng cho cái đẹp là kết tinh của vẻ đẹp thiên nhiên trong vẻ đẹp ấy có cả sắc và hương. Vì thế hoa mang sự tinh khiết tượng trưng cho cái tuyệt mĩ, có rất nhiều loài hoa sinh sắc hương trong thơ Trần Hùngđó là các loài hoa dân dã thôn quê như: Hoa cải, hoa cau, hoa sen, hoa dền gai, hoa rau sam, hoa chanh, …Có những loài hoa vô danh như: Hoa

đồng, hoa đen,…

Hoa là biểu tượng của người tình:

Bông hoa nở vườn nhà người Bàn tay trong bàn tay người

(lời đêm) Này quần lụa chanh này áo hoa chanh Này ru bánh xe nan hoa lách tách

(sương hương bay) Hoa là biểu tượng của cảm xúc, của sự đam mê:

Tôi nhớ hoa đồng bé nhỏ Bông hoa thoảng hơi bùn […]

Em cởi cúc nhìn ngực tôi thong thả Em gài cúc nhìn mây trắng bay

(nhớ hoa) Hoa biểu tượng của một quốc gia:

Ơi mũi tên nâu Hãy bay đi bay đi Bay về nơi thênh sáng

Nơi có loài hoa tử kinh chƣa thức

(mũi tên nâu) Hoa biểu tượng cho tâm hồn trong trắng, trinh khiết:

Xƣa ai áo trắng nhƣ em ai cầm hoa cúc xanh nhƣ em

(cúc xanh) Long bong bước hài đồng đêm hoa tường vi nở

(gọi nguồn)

Một phần của tài liệu Thế giới nghệ thuật thơ Trần Hùng (Trang 104 - 119)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(128 trang)