Ngân hàng TMCP Bảo Việt BAOVIET Bank là thành viên trẻ nhất của tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm Bảo Việt cũng là một ngân hàng thương mại trẻ trong hệ thống các tổ chức tín dụng tại Việt N
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN HỮU ĐỨC
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY
TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG
TMCP BẢO VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN HỮU ĐỨC
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY
TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG
TMCP BẢO VIỆT
Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ HIỀN
Hà Nội - 2017
Trang 3CAM KẾT
Tôi xin cam kết:
1 Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn trực tiếp của TS.Nguyễn Thị Hiền, Đại học Ngoại Thương
2 Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố
3 Nếu có những sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo hay gian trá, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường và pháp luật./
Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Đức
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy, các cô và sự động viên, giúp đỡ từ gia đình, bạn bè Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế, các thầy giáo, cô giáo trong Tài chính – Ngân hàng đã giúp tôi tích lũy thêm kiến thức trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Đặc biệt tôi xin được cảm ơn chân thành tới TS.Nguyễn Thị Hiền, cô
đã luôn tận tình chỉ bảo, hướng dẫn truyền đạt những kinh nghiệm thực tế quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu Đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin được cảm ơn chân thành tới các đồng chí lãnh đạo và cán bộ Ngân hàng TMCP Bảo Việt đã tạo điều kiện giúp đỡ và cung cấp cho tôi nguồn tài liệu tham khảo quý báu để tôi có thể hoàn thành được luận văn này
Cuối cùng, tôi xin dành sự biết ơn đến những người thân trong gia đình, bạn be ̀ đã luôn khích lệ và động viên tôi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ học tập!
Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Đức
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 5
1.2 Lý luận chung về cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng thương mại 8
1.2.1 Khái niệm cho vay trung và dài hạn 8
1.2.2 Đặc diểm của cho vay trung và dài hạn 9
1.2.3 Các hình thức tín dụng trung và dài hạn 10
1.3 Rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn 12
1.3.1.Khái niệm 12
1.3.2.Phân loại rủi ro tín dụng 14
1.3.3.Nguyên nhân của rủi ro tín dụng 15
1.3.4.Thiệt hại do rủi ro tín dụng 16
1.4 Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn 19
1.4.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn 19
1.4.2 Ý nghĩa và mục đích 19
1.4.3.Nội dung công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn tại các Ngân hàng thương mại 20
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn 34
1.5.1 Nhóm các nhân tố chủ quan 34
1.5.2 Các nhân tố khách quan 37
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
Trang 62.1 Quy trình nghiên cứu 38
2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 39
2.2.1 Phương pháp tìm kiếm tài liệu 39
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn 39
2.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu thứ cấp 40
2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả 41
2.3.2 Phương pháp so sánh 41
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu liên ngành 42
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẢO VIỆT 43
3.1 GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG TMCP BẢO VIỆT 43
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng TMCP Bảo Việt 43
3.1.2 Kết quả kinh doanh của Ngân hàng TMCP Bảo Việt giai đoạn 2013-2016 46 3.1.3 Lợi thế của Ngân hàng Bảo Việt trong hoạt động kinh doanh 53
3.2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẢO VIỆT 54
3.2.1.Chính sách và quy trình tín dụng trong cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng TMCP Bảo Việt 55
3.2.2.Nhận biết rủi ro trong cho vay trung và dài hạn 64
3.2.3 Hệ thống công cụ đo lường rủi ro tín dụng của khách hàng 65
3.2.4 Kiểm soát rủi ro trong cho vay trung và dài hạn 70
3.2.5 Xử lý rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn 72
3.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG công tác quẢn tri RỦI RO tín dung trong CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẢO VIỆT 73
3.3.1 Cơ cấu nợ và trích lập dự phòng rủi ro 73
3.3.2 Kết quả đạt được: 74
3.3.3 Hạn chế và nguyên nhân 76
Trang 7CHƯƠNG 4: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẢO
VIỆT 80
4.1 ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC QUAN TRI RỦI RO TÍN DUNG TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG TMCP BẢO VIỆT (giai đoẠn 2015 – 2020) 80
4.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẢO VIỆT 82
4.2.1 Hoàn thiện chính sách tín dụng 82
4.2.2 Hoàn thiện hệ thống công cụ đo lường rủi ro tín dụng 83
4.2.3 Tăng cường giám sát hoạt động tín dụng 84
4.2.4 Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tín dụng 86
4.2.5 Sử dụng các công cụ phái sinh 87
4.2.6 Áp dụng công nghệ khoa học kỹ thuật vào hệ thống thông tin nội bộ 87
4.2.7 Tăng cường mối quan hệ với các ngân hàng khác và cơ quan hữu quan 90
4.3 KIẾN NGHỊ 89
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 BCTC Báo cáo tài chính
2 NHTM Ngân hàng thương mại
3 TMCP Thương mại cổ phần
4 BVB Ngân hàng Thương mại cổ phần Bảo Việt
5 QHKH Quan hệ khách hàng
Trang 93 Bảng 3.2 Tình hình huy động vốn giai đoạn 2013 – 2016 47
4 Bảng 3.3 Phân loại nguồn vốn theo đối tƣợng huy động giai
đoạn 2013-2016 48
5 Bảng 3.4 Tình hình dƣ nợ trong giai đoạn 2013 – 2016 50
6 Bảng 3.5 Cơ cấu nợ theo kỳ hạn giai đoạn 2013- 2016 50
7 Bảng 3.6 Cơ cấu tín dụng theo ngành nghề của BVB giai
đoạn 2013-2015 51
8 Bảng 3.7 Bảng các nhóm khách hàng 66
9 Bảng 3.8 Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi qua tại BVB giai đoạn
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
1 Sơ đồ 2.1 Quy trình nghiên cứu 38
2 Sơ đồ 3.1 Quá trình hình thành và phát triển của BVB 45
3 Sơ đồ 3.2 Mô hình tổ chức của Ngân hàng TMCP
4 Sơ đồ 3.3 Quy trình chung của tín dụng chung BVB 63
5 Biểu đồ 3.1 Tình hình kết quả hoạt động kinh doanh
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng Thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt trong nền kinh tế - đó là tiền tệ Cũng bởi sự đặc biệt của nó mà loại hình kinh doanh này luôn chứa đựng những rủi ro cao Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất của ngân hàng Cựu chủ tịch của FED P.Volker đã nói: “ Nếu ngân hàng không có những khoản vay tồi thì đó không phải là hoạt động kinh doanh” Rủi ro phát sinh ngay từ khi đưa đồng tiền ra khỏi ngân hàng, hay nói cách khác, rủi ro là một bộ phận hợp thành không thể loại bỏ trong cơ chế kinh doanh của các ngân hàng thương mại Rủi ro đến từ phía khách quan như biến động của thị trường, thay đổi chính sách, do khách hàng…, hay cũng có thể đến từ chính các yếu tố nội bộ trong ngân hàng Trong các hoạt động kinh doanh của mình, thì tín dụng là hoạt động đã
và đang mang lại nguồn lợi lớn nhất trong cơ cấu của hầu hết các NHTM hiện nay Tuy nhiên, song hành cùng đó là rủi ro mà hoạt động này mang tới cũng là khó lường nhất Bởi vậy mà việc hạn chế rủi ro tín dụng luôn là mối quan tâm hàng đầu của các NHTM
Tín dụng trong cho vay trung, dài hạn là một lĩnh vực có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế, và cũng là lĩnh vực mà các Ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các Ngân hàng nước ngoài Tuy nhiên, Hoạt động tín dụng trong cho vay trung và dài hạn của các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay còn chứa đựng rất nhiều rủi ro, nhưng chưa được quan tâm đúng mức Bất kỳ một sự tác động nào ảnh hưởng đến tính khảthi và tính sinh lời của dự
án đều có thể gây thiệt hại cho Ngân hàng, nhẹ thì cũng làm giảm tính cạnh tranh của các Ngân hàng, nặng thì sẽ gây tổn thất cho Ngân hàng cũng như người gửi tiền
và toàn bộ nền kinh tế do bản chất hoạt động của Ngân hàng là đi vay để cho vay
Trang 12Thực tiễn đã cho thấy, trong giai đoạn 3 năm vừa qua 2013-2015, quản trị rủi
ro yếu kém đã dẫn đến việc một số Ngân hàng thương mại Việt Nam có hoạt động ngày càng đi xuống, vì vậy Ngân hàng Nhà nước đã phải thực hiện một số chính sách nhằm cơ cấu lại các Ngân hàng đó như mua bán, sáp nhập để bảo đảm an toàn
hệ thống Ngân hàng Việt Nam Hoạt động trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, môi trường cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt hơn, đặt ra cho các ngân hàng thương mại phải tiến hành cơ cấu lại tổ chức bộ máy, cơ cấu lại hoạt động, cơ cấu lại các chỉ số hoạt động theo các chuẩn mực, thông lệ quốc tế và thực hiện chức năng quản trị rủi ro tín dụng một cách bài bản, hiệu quả thì mới đảm bảo hoạt động của ngân hàng an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững
Ngân hàng TMCP Bảo Việt (BAOVIET Bank) là thành viên trẻ nhất của tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm Bảo Việt cũng là một ngân hàng thương mại trẻ trong hệ thống các tổ chức tín dụng tại Việt Nam, với mục tiêu phát triển bền vững, hiệu quả qua 9 năm hoạt động, BAOVIET Bank đã đạt được những thành tích đáng kể Tuy nhiên từ thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt thời gian qua cho thấy nợ xấu, nợ có khả năng mất vốn vẫn còn cao, chưa được kiểm soát chặt chẽ, công tác quản trị rủi ro hiệu quả chưa tốt Chính vì vậy, yêu cầu cấp bách đặt ra là phải quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn để nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động, tăng uy tín và khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong thời gian tới
Từ những bức thiết đó trong thực tiễn, tác giả đã lựa chọn vấn đề “Quản trị rủi
ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt” làm đề tài nghiên cứu luận văn
- Sự phù hợp của tên đề tài với chuyên ngành đào tạo:
Chương trình đào tạo Ths.Tài chính – Ngân hàng trang bị cho học viên kiến thức chuyên sâu về Tài chính – Ngân hàng ở tầm vĩ mô và vi mô, có khả năng áp dụng những kiến thức về tài chính, ngân hàng trong quá trình thực hiện công tác, quản lý tài chính Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn là vấn đề giảm thiểu các rủi ro có thể ảnh hưởng tới hoạt động của Ngân hàng Vì vậy, đề tài
Trang 13“Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Bảo
Việt” là hoàn toàn phù hợp với chuyên ngành đào tạo
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện nghiên cứu những lý luận chung về cho vay trung và dài hạn, rủi ro
và công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn Luận văn nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay trung và dài hạn và công tác quản trị rủi
ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn tại BAOVIET Bank Từ đó đề xuất một
số khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong cho vay trung và dài hạn tại BAOVIET Bank hiện nay
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để trả lời cho câu hỏi quản lý “Làm thế nào để quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn tại NH Bảo Việt…?”, một loạt những câu hỏi nghiên cứu hình thành như:
(1) Đặc điểm của cho vay trung và dài hạn, rủi ro và công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn?
(2) Mô hình/phương pháp nào được sử dụng chủ yếu để quản trị rủi ro tín dụng các NHTM hiện nay? Tiêu chí nào đánh giá thành công trong công tác quản trị rủi
ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn?
(3) Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt? (4) Giải pháp nào nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng?
Trả lời những câu hỏi nêu trên cũng chính là đã thực hiện được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, là kết quả cuối cùng mà luận văn cần đạt được
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Trang 14Luận văn nghiên cứu hoạt động cho vay trung và dài hạn và quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt, từ
đó nhằm đề ra các biện pháp khắc phục, hạn chế và phòng ngừa rủi ro tín dụng Luận văn tập trung nghiên cứu về hoạt động cấp tín dụng đối với các doanh nghiệp
và dự án trong lĩnh vực đầu tƣ xây dựng cơ bản và đầu tƣ máy móc thiết bị
Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn hiện tại đang đƣợc thực hiện tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt Đồng thời có sự tham khảo mô hình quản trị rủi ro của các NHTM khác tại Việt Nam, để từ đó có sự phân tích, đánh gia nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và đề xuất biện pháp nâng cao quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt
5 Kết cấu luận văn
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn tại các Ngân hàng thương mại Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn tại BAOVIET Bank
Chương 4: Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay trung
và dài hạn tại BAOVIET Bank
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Quản trị rủi ro tín dụng là một trong những đề tài được nghiên cứu khá nhiều trong các kỳ nghiên cứu khoa học trước đây Ở cấp nghiên cứa khoa học của hệ đào tạo sau đại học tại trường Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội có một số đề tài nghiên cứu tiêu biểu như sau:
Nguyễn Thị Thu Phương, đề tài nghiên cứu “Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Vĩnh Phúc”(2015) Đề tài
đã thực hiện nghiên cứu đánh giá công tác quản lý rủi ro tại một trong những ngân hàng lớn nhất Việt Nam, có cơ chế quản lý rủi ro tương đối tốt và đã đạt được những thành tích đáng kể Tuy nhiên đề tai mới chỉ đề cập đến công tác quản lý rủi
ro tại một chi nhánh địa bàn là Vĩnh Phúc, công tác nghiên cứu thực hiện bao quát toàn bộ các mảng hoạt động kinh doanh của Chi nhánh nên chưa thực sự đi sâu vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể nào
Nguyễn Thị Hoa, đề tài nghiên cứu “Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong” (2014) Ngân hàng Tiên Phong là một trong những ngân hàng
có mô hình quản trị rủi ro tập trung tại Hội sở chính Đề tài đã thực hiện nghiên cứu toàn bộ hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Tiên Phong, đã đưa ra thực trạng cũng như giải pháp quản trị rủi ro Tuy nhiên đề tài cũng chưa thực sự đi sâu vào nghiên cứu công tác quản trị rủi ro tại một lĩnh vực hay mảng kinh doanh cụ thể, mặc dù mỗi lĩnh vực kinh doanh của Ngân hàng lại có những mức độ rủi ro khác nhau
Trần Thị Lan Anh, đề tài nghiên cứu “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Tây Hà Nội” (2014) Ngân hàng TMCP Quân đội cũng là một ngân hàng có mô hình quản trị rủi ro tập trung tại Hội sở chính, tuy
Trang 16nhiên đề tài lại tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý rủi ro tại Chi nhánh Tây Hà Nội, vì vậy đề tài mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một phần công tác quản trị rủi
ro, chứ chưa thực sự nghiên cứu sâu và đánh giá toàn bộ công tác quản trị rủi ro của
cả ngân hàng MB
Đa số các công trình nghiên cứu trên đây phạm vi nghiên cứu đều khá rộng, nghiên cứu toàn bộ công tác quản trị rủi ro tại toàn bộ các mảng hoạt động của Ngân hàng, tuy nhiên với mỗi mảng hoạt động lại có các mức độ rủi ro khác nhau,
vì vậy việc đi sâu vào nghiên cứu một mảng hoạt động của ngân hàng còn khá ít công trình nghiên cứu Riêng tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về quản trị rủi ro tín dụng cũng như quản trị rủi ro trong cho vay trung và dài hạn
Tại Việt Nam, vấn đề quản trị rủi ro tín dụng cũng được các ngân hàng thương mại trong nước rất chú trọng, bởi thực tế đã chứng minh khi một số NHTM yếu kém trong quá trình kiểm soát rủi ro tín dụng dẫn đến phải thực hiện cơ cấu, sáp nhập hoặc bị Ngân hàng nhà nước mua lại Nhưng cũng có những ngân hàng có công tác quản trị rủi ro tốt đảm bảo chất lượng tín dụng và đạt được nhiều kết quả thành công Tại Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (VIB), theo ông Loic Faussier, Phó Tổng giám đốc kiêm Giám đốc Khối Quản trị rủi ro “Trên thực tế, quản lý rủi ro tại Việt Nam thường phải đối mặt với vấn đề có quá ít hoặc quá nhiều
dữ liệu nhưng không phù hợp cho quá trình phân tích đánh giá cơ hội hoặc dự phòng rủi ro Để khắc phục vấn đề này, tại VIB, chúng tôi đã có những phòng ban chuyên trách, mô hình đồng nhất, nhất quán từ các đơn vị kinh doanh đến bộ phận
hỗ trợ Mô hình 3 tầng lớp bảo vệ ( Đợn vị kinh doanh – Đơn vị quản lý – Kiểm toán nội bộ) giúp VIB tăng cường vài trò quản lý và kiểm tra hoạt động của các đơn
vị kinh doanh nói riêng và của toàn hệ thống nói chung, đồng thời phòng ngừa lỗ hổng do các hình thức rủi ro gây ra như: chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố” Còn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank), theo Ông Phạm Huy Hùng – Cựu chủ tịch HĐQT VietinBank “Trong công tác QLRR cần tăng cường giám sát từ xa, có cơ chế cảnh báo sớm, phát hiện, khống chế và xử lý
Trang 17dứt điểm, nghiêm khắc các sai phạm Song song với đó là nâng cao chất lượng cán
bộ cả về đạo đức cũng như năng lực chuyên môn”
Bên cạnh đó, thông qua nghiên cứu các luận văn khác đã được công bố, tác giả nhận thấy hầu hết các công trình nghiên cứu đều đã nêu bật được tính cấp thiết của
đề tài, làm rõ những lý luận về hoạt động tín dụng cũng như quản trị rủi ro tín dụng, phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh và quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thực hiện nghiên cứu, từ đó đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện và hạn chế rủi
ro tín dụng Tuy nhiên, nếu xét trong những bối cảnh kinh tế cụ thể thì một số giải pháp ấy thường mang tính chung chung, việc áp dụng vào thực tế gặp nhiều khó khăn vì thế mà thiếu tính khả thi
Tuy nhiên, với mỗi tác giả và đề tài nghiên cứu của mình đều có những phong cách tiếp cận riêng về nội dung, hình thức thể hiện cũng như định hướng đề tài hoàn toàn khác nhau tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, tính cấp thiết của đề tài với thực tế…Vì thế, mặc dù đề tài khá phổ biến, nhưng trong bài viết này, tác giả thực hiện nghiên cứu đề tài với định hướng cụ thể như sau:
Với đặc điểm của Ngân hàng TMCP Bảo Việt là một trong những ngân hàng trẻ nhất trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam, BAOVIET Bank cũng có những lợi thế và bất lợi riêng trong việc xây dựng hệ thống cũng như quy trình quản trị rủi ro tín dụng của mình, lợi thế đó là có thể kế thừa học hỏi kinh nghiệm quản trị tín dụng của các Ngân hàng TMCP khác, tuy nhiên cũng có bất lợi là việc thiếu kinh nghiệm dẫn đến việc quản trị còn nhiều thiếu sót dẫn đến những thiệt hại không mong muốn
Năm 2008-2009 là thời kỳ diễn ra cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và hậu quả của nó vẫn còn đến tận thời điểm bây giờ, cũng chính trong thời gian đó thì BAOVIET Bank đã được thành lập đối mặt với rất nhiều khó khăn Những biến động về kinh tế xã hội đã tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến hoạt động tín dụng tại ngân hàng, đặc biệt là hoạt động tín dụng doanh nghiệp
Bên cạnh đó trong các năm gần đây, các ngân hàng TMCP trong nước đã và đang nỗ lực rất nhiều để chuẩn hóa hoạt động của mình theo chuẩn Hiệp định Basel
Trang 18I và dần dần tiếp cận để đạt Basel II Tác giả khi thực hiện đề tài sẽ chú trọng xem xét, đánh giá tình hình hoạt động cấp tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng đối với cho vay trung và dài hạn tại BAOVIET Bank, đồng thời có sự tham chiếu với tiêu chuẩn Basel để từ đó tìm ra những điểm còn hạn chế, sau đó đề ra một số biện pháp nhằm ngăn ngừa hạn chế những rủi ro tại BAOVIET Bank
Mục tiêu của tác giả khi xây dựng giải pháp là không tập trung và việc xây dựng những giải pháp mang tính vĩ mô, những kiến nghị mang tính chất bao quát vì
sẽ rất khó cho Ngân hàng nếu muốn áp dụng vào thực tế Tác giả chú ý đến những giải pháp cụ thể, mang tính khả thi cao phù hợp với chi phí, quy mô và định hướng của ngân hàng Trong luận văn nghiên cứu của mình tác giả cũng sẽ tiến hành khảo sát thu thập thông tin thực tế tại ngân hàng để tìm hiểu rõ những nguyên nhân thực
tế dẫn đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng
1.2 Lý luận chung về cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm cho vay trung và dài hạn
Khái niệm tín dụng ngân hàng
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính kinh tế mà hoạt động chủ yếu
và thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay, làm trung gian thanh toán, cung cấp dịch
vụ tài chính và tiến hành các hoạt động khác có liên quan Tại phần lớn các nước, đặc điểm chủ yếu để phân biệt một ngân hàng thương mại với các tổ chức tài chính
là khác ở chỗ: ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính duy nhất được phép nhận tiền gửi không kỳ hạn và cung cấp dịch vụ thanh toán Đối với ngân hàng thương mại hiện nay đang phát triển đa dạng hơn các hoạt động thì hoạt động tín dụng vẫn đóng vai trò quan trọng, mang lại ý nghĩa sống còn với các ngân hàng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa hai chủ thể, trong
đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi theo thời gian đã thỏa thuận Nói một cách đơn giản và dễ hiểu thì hoạt động tín dụng trong ngân hàng chính là hoạt động huy động vốn, nhận tiền gửi và hoạt động cho vay
Trang 19Về các hình thức của tín dụng ngân hàng thì có nhiều tiêu thức khác nhau để phân chia các loại hình tín dụng của ngân hàng Dưới đây là một cách phân chia phổ biến mà Ngân hàng thường sử dụng khi phân tích và đánh giá là phân loại theo thời hạn tín dụng:
- Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng dưới 1 năm và được sử dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp hoặc cho vay theo các mục đích tiêu dùng cá nhân
- Tín dụng trung hạn: là khoản tín dụng có thời hạn từ 1-5 năm Loại hình tín dụng này thường được dùng để cung cấp, mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh
- Tín dụng dài hạn: là khoản tín dụng có thời hạn trên 5 năm Loại hình tín dụng này được sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản như đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất… Nói chung, tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định của khách hàng, mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của doanh nghiệp để từ đó cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm,
mở rộng sản xuất chiếm lĩnh thị trường
1.2.2 Đặc diểm của cho vay trung và dài hạn
Tín dụng trung và dài hạn có những đặc điểm quan trọng sau:
- Tín dụng trung và dài hạn được cấp cho khách hàng nhằm hỗ trợ cho họ trong việc mua sắm, tạo lập tài sản cố định Do đó, đối tuợng cho vay chủ yếu của ngân hàng thương mại trong hình thức tín dụng này là vốn cố định cho các doanh nghiệp
- Do gắn liền với tài sản cố định và vốn vố định của khách hàng, tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại thường gắn liền với các dự án đầu tư Tuy nhiên, với tín dụng trung hạn thường đầu tư theo chiều sâu, trong khi đó tín dụng dài hạn tập trung cho các dự án đầu tư mở rộng
Trang 20- Tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại có thời gian hoàn vốn chậm Nguồn trả tiền vay cho ngân hàng chủ yếu được lấy từ quỹ khấu hao và một phần từ lợi nhuận của chính dự án mang lại Vì thế, khách chỉ có thể hoàn trả khoản vay có quy mô lớn thành nhiều lần khác nhau, thời hạn cho vay kéo dài trong nhiều năm, kế hoạch trả nợ vay được tính toán dựa trên hiệu quả trong từng thời kỳ hoạt động của dự án
- Tín dụng trung và dài hạn thường có thời gian kéo dài, quy mô tín dụng thường lớn, nguy cơ rủi ro cao vì nền kinh tế quốc gia luôn biến động Sự biến động này có thể tích cực hoặc tiêu cực mà chúng ta không thể biết được Do đó mà một khoản vay dài hạn thường đem lại nhiều rủi ro hơn là một khoản vay ngắn hạn vì thời gian càng dài thì xác suất xảy ra những biến động này lớn hơn Mặt khác, lãi suất của cho vay trung và dài hạn thường lớn hơn lãi suất cho vay ngắn hạn Vì độ rủi ro cao hơn, thời gian thu hồi vốn lâu hơn
1.2.3 Các hình thức tín dụng trung và dài hạn
Có một số hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn thường được áp dụng trong thực tế cụ thể như sau:
Cho vay đồng tài trợ ( Syndicate loan):
Là quá trình cho vay của một nhóm tổ chức tín dụng (từ 2 tổ chức tín dụng trở lên) cho một dự án, do một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phối hợp với các bên bên đồng tài trợ để thực hiện, nhằm phân tán rủi ro của các tổ chức tín dụng
Hình thức này được được áp dụng trong các trường hợp: Các dự án đầu tư đòi hỏi một khoản tín dụng lớn mà các ngân hàng riêng lẻ thì không đáp ứng hết được, theo các quy định hiện hành một ngân hàng thường chỉ được phép đầu tư vốn tới một mức độ nhất định so với tổng nguồn vốn của mình và không được đầu tư quá nhiều vốn vào một công ty để đảm bảo an toàn vốn Thậm chí đối với một vài dự án ngân hàng có thể đáp ứng toàn bộ nhưng rủi ro quá lớn ngân hàng không muốn đảm nhận hết Do vậy, cho vay đồng tài trợ là một họat động tín dụng giúp ngân hàng phân tán rủi ro và có thể sử dụng tối đa nguồn vốn của họ cho đầu tư vào các dự án dài hạn
Trang 21 Cho vay trực tiếp theo dự án:
Đây là hình thức tín dụng trung và dài hạn phổ biến trong nền kinh tế thị trường hiện này, ngân hàng thương mại tiến hành mọi hoạt động và tự chịu trách nhiệm với từng dự án đầu tư của khách hàng mà họ đã lựa chọn để tài trợ vốn Chính vì vậy, công việc của ngân hàng không chỉ đơn thuần là cho vay mà còn phải thực hiện hàng loạt các công việc khác có liên quan đến việc kiểm soát tính hiệu quả của dự án như : quy hoạch sản xuất, thiết kế, quy trình công nghệ, tiêu chuẩn thiết bị máy móc, giá cả thị trường, hiệu quả đầu tư Bởi vì việc quy định cấp một khoản tín dụng sẽ dàng buộc ngân hàng với người vay trong một số thời gian, cho nên cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc và xem xét kỹ lưỡng các rủi ro có thể xẩy ra
Cho thuê tài chính (leasing credit)
Thuê mua là hình thức cho vay tài sản thông qua một hợp đồng tín dụng thuê mua qua đó người cho thuê chuyển giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người đi thuê sử dụng và ngưòi thuê có trách nhiệm thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê và có thể đựoc quyền sở hữu tài sản thuê, được quyền mua tài sản thuê hoặc được quyền thuê tiếp theo các điều kiện đã được hai bên thoả thuận
* Tài sản thuê bao gồm cả động sản và bất động sản :
- Động sản chủ yếu gồm máy móc thiết bị, ô tô dây chuyền công nghệ…
- Bất động sản chủ yếu là cửa hàng, văn phòng làm việc, cơ sở sản xuất…
Về mặt pháp lý, tài sản thuê thuộc quyền sở hữu của người cho thuê, còn đi thuê chỉ được quyền sử dụng Vì vậy, người đi thuê không đựơc bán chuyển nhượng cho người khác Song họ được hưởng những lợi ích do việc sử dụng tài sản đó đem lại, đồng thời chịu phần vốn rủi ro có liên quan đến tài sản Tín dụng thuê mua có một số hình thức như : thuê mua có tham gia của ba bên, thuê mua có sự tham gia của hai bên, tái thuê mua (sale – base back), thuê mua hợp tác (levereged lease, thuê mua giáp lưng (under lease)…
* Xét về lợi ích thì cả ngân hàng và khách hàng đều có lợi
Trang 22- Đối với ngân hàng (bên cho thuê): đây là hình thức tài trợ bổ sung cho các hình thức tài trợ khác đang tồn tại ở ngân hàng, nó giúp ngân hàng mở rộng dịch vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm mức độ rủi ro, đảm bảo nguyên tắc vốn vay được sử dụng đúng mục đích
- Đối với các doanh nghiệp : hình thức này có thể giúp các doanh nghiệp có thể sử dụng vốn vay dưới dạng các máy móc, thiết bị mà không phải bỏ vốn lớn, không ảnh hưởng tới bảng tổng kết tài sản và hạn mức tín dụng của doanh nghiệp việc cấp tín dụng thuê mua thường nhanh chóng, từ đó cho phép đầu tư khẩn cấp, đáp ứng được thời cơ sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, mặt khác phương thức thanh toán tiền thuê linh hoạt thích ứng với hoàn cảnh và điều kiện sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp và mỗi cá nhân
- Đối với các công ty nhỏ hoặc công ty không có uy tín : ngân hàng có thể không chấp nhận cho vay dài hạn nhưng có thể cho hưởng tín dụng thuê mua Có thể nói, mô hình tín dụng thuê mua rất có ý nghĩa đối với nền kinh tế thị trường, nhất là đối với nền kinh tế nhiều thành phần như ở Việt Nam hiện nay
1.3 Rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn
1.3.1.Khái niệm
Phần lớn các nguồn tiền của ngân hàng thương mại (NHTM) là các khoản tiền gửi phải trả khi có yêu cầu Cùng với quá trình phát triển của công nghệ thông tin trong hệ thống ngân hàng, xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa thị trường tài chính, các NHTM đang cạnh tranh ngày càng gay gắt trong công tác huy động vốn,
và nguồn tiền gửi của NHTM cũng đang thay đổi mạnh mẽ theo hướng đa dạng hóa Tiền gửi của cá nhân và doanh nghiệp trở nên dễ dàng di chuyển hơn, nhạy cảm với lãi suất hơn, giúp cho mỗi ngân hàng linh hoạt hơn trong việc tìm kiếm nguồn tiền, song lại vấp phải khó khăn về sự kém ổn định trong toàn hệ thống
Các tài sản của NHTM chủ yếu là tài sản tài chính như các khoản cho vay khách hàng, các loại chứng khoán, giấy tờ có giá… với tính rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng rất cao, do tính biến động lớn trên thị trường thế giới và khu vực, do sai lệch thông tin,… Vậy rủi ro là gì?
Trang 23Có thể hiểu đơn giản nhất, rủi ro là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự
kiến mà ngân hàng phải gánh chịu Và theo đó, thì rủi ro tín dụng là khả năng xảy
ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc trả không đầy đủ vốn và lãi
Theo thông tư số 02/2013/TT-NHNN của thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro
và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, ngân
hàng ngân hàng nước ngoài có ghi rõ: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng
là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, ngân hàng ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.”
Vậy, tóm lại, rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn là khả năng người vay hoặc đối tác của ngân hàng không đáp ứng nghĩa vụ nợ theo các điều khoản đã được thỏa thuận Rủi ro tín dụng gây ra tổn thất về tài chính cho NHTM, đó là làm giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn Trong trường hợp nghiêm trọng, có thể dẫn đến thua lỗ hoặc cao hơn là phá sản
Bản chất của rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng gắn với hoạt động quan trọng
nhất và có quy mô lớn nhất với mỗi NHTM, đó là hoạt động tín dụng Trước khi quyết định một hợp đồng tín dụng cụ thể, NHTM phải phân tích kỹ lưỡng các yếu
tố của khách hàng cũng như tình hình hiện tại của ngân hàng, sao cho độ an toàn là cao nhất Và nhìn chung, các ngân hàng sẽ chỉ quyết định cho vay khi thấy rằng rủi
ro tín dụng sẽ không xảy ra Tuy nhiên, không có bất kỳ một nhà quản lý ngân hàng nào có thể dự đoán chính xác điều gì sẽ xảy ra, khả năng trả nợ của khách hàng có thể thay đổi bất ngờ do những nguyên nhân khách quan không thể lường trước được; hoặc xảy ra sai sót trong quá trình phân tích của cán bộ tín dụng Do đó, trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, rủi ro tín dụng là tất yếu khách quan và không thể tránh khỏi Chúng ta có thể xem nó như người bạn đường trong kinh doanh ngân hàng, có thể đề phòng, hạn chế, chứ không thể loại trừ được
Trang 241.3.2.Phân loại rủi ro tín dụng
Người ta có thể dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại rủi ro tín dụng, phụ thuộc vào mục đích của việc phân loại Có thể tìm hiểu một số cách phân loại như sau:
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, rủi ro tín dụng bao gồm:
- Rủi ro giao dịch: đây là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân
phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch với khách hàng và xét duyệt
hồ sơ vay vốn Loại rủi ro này mang tính chủ quan từ phía ngân hàng, phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực của ngân hàng Rủi ro giao dịch có ba hình thức biểu hiện chính là rủi ro lựa chọn (việc phân tích, đánh giá phương án sản xuất kinh doanh thiếu chặt chẽ, còn nhiều sơ hở), rủi ro nghiệp vụ (công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, xử lý khoản vay có vấn đề còn nhiều yếu kém, thiếu sót), rủi ro đảm bảo (liên quan tới các tài sản đảm bảo của khách hàng như danh mục tài sản đảm bảo không cụ thể rõ ràng, hình thức kém đa dạng, phương pháp xử lý chưa phù hợp,…)
- Rủi ro danh mục: đây là loại hình rủi ro tín dụng phát sinh trong việc quản lý
danh mục các khoản vay của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung + Rủi ro nội tại xuất phát từ các đặc điểm riêng của mỗi chủ thể đi vay, hoặc đặc trưng của ngành, lĩnh vực kinh tế
+ Rủi ro tập trung phát sinh từ việc ngân hàng quá tập trung vào cho vay với một số khách hàng, hoặc chỉ cho vay với một số ngành kinh doanh nào đó, mà quên mất cần phải đa dạng hóa danh mục
Căn cứ vào thời hạn tín dụng, rủi ro tín dụng được chia thành:
- Rủi ro ngắn hạn: xảy ra với các khoản tín dụng ngắn hạn, khi cán bộ tín dụng
mắc sai lầm trong việc tính toán hiệu quả đầu tư dự án và sai sót trong công tác thẩm định hồ sơ
- Rủi ro trung dài hạn: xảy ra với các khoản tín dụng trung và dài hạn, khi có
các diễn biến bất lợi trong quá trình sản xuất kinh doanh, thực hiện đầu tư
Trang 25Căn cứ vào khả năng thu hồi vốn: rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro đọng vốn và
rủi ro mất vốn
- Rủi ro đọng vốn: xảy ra khi khách hàng chậm trễ trong việc thực hiện các nghĩa
vụ trả nợ theo cam kết, ảnh hưởng xấu tới tình hình tài chính ngắn hạn của ngân hàng, ngân hàng gặp khó khăn trong việc chi trả cho những khách hàng gửi tiền
- Rủi ro mất vốn: xảy ra khi khách hàng không thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho
ngân hàng nữa Khi đó, chi phí của ngân hàng tăng lên do phát sinh các khoản nợ khó đòi, nợ quá hạn, chi phí theo dõi, quản lý các khoản nợ này,… Cũng theo đó, dòng tiền của ngân hàng mất cân đối, làm giảm khả năng sinh lời của ngân hàng
1.3.3.Nguyên nhân của rủi ro tín dụng
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng, mà nhà quản lý cần xác định được những nguyên nhân cụ thể, cách thức gây ra rủi ro để tìm ra biện pháp hạn chế Có thể chia ra làm ba nhóm nguyên nhân chủ yếu như sau:
Những nguyên nhân bất khả kháng: những nguyên nhân này tác động tới
người vay làm họ bị mất khả năng thanh toán cho ngân hàng Ví dụ như thiên tai, chiến tranh, hoặc những thay đổi trong chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ (chính sách thuế, chính sách lãi suất, …) vượt quá tầm kiểm soát của cả người vay lẫn người cho vay Những thay đổi này thường xuyên xảy ra, tác động liên tục tới tình hình tài chính của người vay, tạo thuận lợi hoặc khó khăn cho họ Nhiều khách hàng vay vốn, với bản lĩnh của mình có khả năng dự báo, thích ứng hoặc khắc phục những khó khăn do các yếu tố trên gây ra, song số này là không nhiều Và khi những tác động bất khả kháng là nặng nề thì khả năng trả nợ của họ cũng bị suy giảm nghiêm trọng
Những nguyên nhân thuộc về chủ quan người vay(khách hàng): các khách
hàng của ngân hàng có thể là cá nhân vay vốn kinh doanh, hoặc các doanh nghiệp vay vốn đầu tư, mở rộng sản xuất… Trình độ yếu kém của họ trong việc dự đoán các vấn đề kinh doanh, yếu kém trong công tác quản lý, hoặc có ý định lừa đảo cán
bộ ngân hàng, cố tình chây ì trong việc trả nợ,… là những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng Rất nhiều người vay sẵn sàng mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận
Trang 26cao Để đạt được mục đích của mình, họ sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn để có bộ hồ sơ xin vay vốn đẹp với các thông tin giả mạo, sai sự thật, hoặc có hành vi mua chuộc cán bộ tín dụng, nhằm mục đích có vốn Nhiều khách hàng đã không tính toán kỹ lưỡng hoặc không có khả năng tính toán những bất trắc có thể xảy ra, không có khả năng thích ứng
và kịp thời ứng phó với khó khăn trong kinh doanh, dẫn tới không đủ khả năng trả nợ ngân hàng Một số khác hoạt động kinh doanh vẫn có lãi, nhưng lại có thái độ chây ì với hi vọng có thể xóa nợ, hoặc kéo dài thời gian sử dụng vốn càng lâu càng tốt Những điều đó khiến cho các ngân hàng phải đối mặt với rủi ro tín dụng
Những nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng: Trong nhóm nguyên nhân
này có thể kể đến chất lượng cán bộ kém, không đủ trình độ và kinh nghiệm để đánh giá khách hàng, hay thẩm định phương án kinh doanh, dự án của khách hàng, dẫn tới rủi ro tín dụng Hoạt động tín dụng phải tiếp cận với nhiều lĩnh vực kinh doanh, ngành nghề khác nhau, nhiều vùng miền khác nhau, do đó đòi hỏi các cán bộ tín dụng phải am hiểu về khách hàng, về lĩnh vực kinh doanh của khách hàng, về môi trường sống của khách hàng… Ngoài ra, họ còn cần có khả năng dự báo các vấn đề liên quan đến người vay trong tương lai, ít nhất là trong thời hạn vay vốn Như vậy, cán bộ ngân hàng cần phải được tuyển chọn kỹ càng, đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ kịp thời và liên tục, toàn diện Một khi cán bộ tín dụng chưa đủ khả năng hiểu về đối tượng cho vay, thì rủi ro luôn luôn rình rập
Xét trên một khía cạnh khác, thì các ngân hàng cần chú ý về ý thức làm việc của nhân viên Có những người sống trong môi trường tiền bạc đã không tránh khỏi cám dỗ của đồng tiền, phát sinh lòng tham, tiếp tay cho khách hàng để rút ruột ngân hàng Nói tóm lại, trình độ và đạo đức nghề nghiệp của nhân viên không đảm bảo là nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
1.3.4.Thiệt hại do rủi ro tín dụng
Để hiểu rõ hơn vì sao cần phải hạn chế rủi ro tín dụng trong các NHTM, cần phải xem xét tác động của rủi ro tín dụng tới các đối tượng, các mối quan hệ phát sinh trong hoạt động ngân hàng
Trang 271.3.4.1.Tác động của rủi ro tín dụng tới ngân hàng:
Rủi ro tín dụng sẽ gây ra hai tác động quan trọng nhất với ngân hàng là giảm lợi nhuận và giảm khả năng thanh toán
Rủi ro tín dụng xảy ra làm cho ngân hàng có những khoản nợ khó thu hồi Ảnh hưởng trước mắt là sự ứ đọng vốn, làm cho vòng quay vốn của ngân hàng bị giảm đi Mặt khác, quá nhiều các khoản nợ như thế sẽ làm phát sinh thêm các khoản chi phí như chi phí quản lý, chi phí giám sát, thu nợ, … Các chi phí này có thể còn cao hơn cả thu nhập từ lãi của các khoản nợ quá hạn, bởi đây là những khoản thu nhập ảo của ngân hàng, thực tế ngân hàng rất khó có thể thu hồi lại được Hơn thế nữa, ngân hàng vẫn phải trả lãi cho các khoản tiền huy động được trong khi một bộ phận tài sản của ngân hàng không thu được lãi cũng như không chuyển được thành tiền mặt để tiếp tục cho vay Doanh thu giảm, chi phí lại tăng lên, kết quả là ngân hàng bị sụt giảm lợi nhuận
Thứ hai là vấn đề giảm khả năng thanh toán Mỗi khi huy động được một nguồn vốn nào đó, hay cho vay một khách hàng nào đó, ngân hàng đều tiến hành lập kế hoạch cân đối dòng tiền ra (trả lãi và trả gốc các khoản tiền gửi, cho vay, đầu tư…) và dòng tiền vào (nhận tiền gửi, thu nợ gốc và lãi, …) tại các thời điểm nhất định trong tương lai Khi các khoản vay không được trả theo đúng thời hạn cam kết ban đầu, sẽ dẫn tới hiện tượng mất cân đối giữa dòng ra và dòng vào Với các khoản tiền gửi của khách hàng, ngân hàng vẫn phải tiến hành trả cho họ theo đúng thỏa thuận ban đầu, trong khi các món vay lại không được trả đúng hạn Nếu ngân hàng không đi vay hoặc bán tài sản để có tiền thì khả năng chi trả của ngân hàng sẽ bị hạn chế nhiều, hay nói cách khác là khả năng thanh toán hiện thời của ngân hàng gặp khó khăn
Tác động nữa của rủi ro tín dụng với các NHTM là làm giảm uy tín của ngân hàng Các khoản nợ quá hạn tăng cao, tình trạng mất khả năng chi trả tái diễn nhiều lần, hay việc rò rỉ thông tin tín dụng ra ngoài, đều làm cho uy tín của ngân hàng giảm sút Và khi đó, ngân hàng bị mất lòng tin trong công chúng, sẽ khó huy động vốn, cũng như khó khăn khi đi vay các tổ chức tín dụng khác
Trang 28Và ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đó là ngân hàng bị phá sản Nếu các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước vay NHTM với khoản vay lớn, bị khó khăn trong việc trả nợ, thì có thể gây ra sự khủng hoảng trong toàn bộ hoạt động của ngân hàng Nếu không có sự chuẩn bị đề phòng từ trước, hoặc không có khả năng xoay sở nhanh chóng thì ngân hàng sẽ không thể đủ tiền để đáp ứng nhu cầu rút tiền ồ ạt của khách hàng, do đó sẽ nhanh chóng mất khả năng thanh toán, và dẫn tới sự sụp đổ của ngân hàng, nếu như Ngân hàng Nhà nước không can thiệp kịp thời hoặc không thể can thiệp
1.3.4.2.Tác động của rủi ro tín dụng tới khách hàng
Với các khách hàng đi vay vốn ngân hàng, lãi vay sẽ được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh Khi hoạt động kinh doanh gặp khó khăn, khách hàng không trả được nợ đúng hạn Sau một thời gian nào đó, ngân hàng quyết định áp dụng mức lãi phạt (thường bằng 150% lãi suất vay vốn ban đầu) thì khó khăn của khách hàng sẽ tăng gấp bội khi doanh thu thấp đi cùng với chi phí tăng vọt Nguy
cơ không thể trả nợ cho ngân hàng là điều không thể tránh khỏi Khách hàng buộc phải tiếp tục đi vay các ngân hàng khác, hoặc phát mại tài sản thế chấp, và nhiều khả năng khách hàng bị phá sản
1.3.4.3.Tác động của rủi ro tín dụng tới toàn bộ nền kinh tế
Các ngân hàng gặp khó khăn trong thu hồi vốn, dẫn tới thiếu nguồn vốn cung cấp cho các doanh nghiệp, hoạt động sản xuất trong nền kinh tế bị ngừng trệ Do một khoản tiền lớn bị đọng trong các món vay không thu hồi được, nên ngân hàng không còn vốn để đầu tư hay cho vay các dự án tiềm năng, có hiệu quả để phát triển kinh tế đất nước Trong khi đó, một lượng lớn tiền ngân hàng cho vay đang bị sử dụng kém hiệu quả mà ngân hàng lại không kiểm soát được, khiến cho sản xuất đình đốn, kinh tế kém phát triển, hàng hóa tồn đọng không lưu thông được, xã hội
có thể bị rối loạn
Như vậy, dù xảy ra với mức độ nghiêm trọng hay không, thì rủi ro tín dụng vẫn có những tác động không tích cực với sự phát triển của bản thân ngân hàng nói riêng và sự phát triển của cả nền kinh tế quốc gia nói chung Vì vậy, hạn chế rủi ro
Trang 29tín dụng là cần thiết hơn bao giờ hết, và phải tiến hành thường xuyên, liên tục trong hoạt động của ngân hàng, nhằm tối thiểu hóa những nguy cơ xấu trong ngân hàng
1.4 Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn
1.4.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn
Quản trị rủi ro tín dụng là trung tâm của hoạt động quản trị điều hành của mỗi NHTM Hiểu một cách đơn giản thì quản trị rủi ro chính là quá trình các NHTM áp dụng các nguyên lý, các phương pháp và kinh nghiệm quản trị ngân hàng vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng mình để giám sát phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng, đầu tư và các hoạt động kinh doanh khác, đồng thời không ngừng nâng cao sức mạnh và uy tín của ngân hàng trên thương trường Quản trị rủi ro là bộ phận quan trọng trong chiến lược kinh doanh của mỗi NHTM, đồng thời với mỗi loại rủi ro cụ thể lại áp dụng các phương pháp quản trị riêng
Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn là quá trình xây dựng
và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững Đồng thời, phải tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, từ đó tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM
- Giúp vận hành, luân chuyển luồng vốn trong nền kinh tế và hệ thống tài chính một cách hiệu quả
Trang 30- Khách hàng vay vốn có kế hoạch sử dụng vốn hiệu quả, kịp thời điều chỉnh
kế hoạch sản xuất kinh doanh cho phù hợp với những biến động có thể xảy ra
1.4.3.Nội dung công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn tại các Ngân hàng thương mại
1.4.3.1 Mô hình tổ chức quản trị rủi ro tín dụng
Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng không phải là tránh rủi ro mà là xử lý chúng và tối thiểu hóa ảnh hưởng của chúng thông qua việc thực thi những phương
án thích hợp Trong công tác quản trị rủi ro thì một trong những vấn đề cần quan tâm đầu tiên đó là công tác tổ chức mô hình quản trị rủi ro Hiện nay, mỗi ngân hàng thương mại lại có những cách tiếp cận quản trị rủi ro khác nhau, tuy nhiên nhìn chung thì có hai mô hình tổ chức chính đang phổ biến tại Việt Nam là Quản trị rủi ro tín dụng phân tán, và Quản trị rủi ro tín dụng tập trung
Với mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung thì có sự tách biệt một cách độc lập giữa ba chức năng: quản lý rủi ro, kinh doanh và tác nghiệp Sự tách bạch này nhằm mục tiêu hàng đầu là giảm thiểu rủi ro ở mức độ thấp nhất đồng thời phát huy được tối đa kỹ năng chuyên môn của từng vị trí cán bộ trong ngân hàng Điểm mạnh của mô hình này là quản lý rủi ro một cách có hệ thống trên quy mô toàn ngân hàng, đảm bảo tính cạnh tranh lâu dài, thiết lập và duy trì môi trường quản lý rủi ro đồng bộ, nâng cao năng lực giám sát rủi ro, thích hợp với ngân hàng có quy mô lớn Tuy nhiên, mô hình cũng tồn tại một số điểm yếu như việc đầu tư mô hình đòi hỏi nhiều công sức và thời gian, đội ngũ cán bộ phải có kiến thức chắc chắn, nắm vững thực tiễn
Với mô hình quản trị rủi ro tín dụng phân tán thì chưa có sự tách biệt giữa
ba chức năng là: quản lý rủi ro, kinh doanh và tác nghiệp Trong đó, phòng tín dụng của ngân hàng thực hiện đầy đủ ba chức năng trên và chịu trách nhiệm với mọi khâu khi cấp tín dụng Điểm mạnh của mô hình là sự gọn nhẹ trong cơ cấu tổ chức ngân hàng, tiết kiệm chi phí hoạt động, thích hợp với ngân hàng có quy mô nhỏ Điểm
Trang 31yếu là công việc tập trung hết tại một nơi, thiếu sự chuyên sâu, việc quản lý chủ yếu được thực hiện từ xa dựa trên số liệu được các đơn vị phía dưới báo cáo lên
Với mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung kết hợp phân tán thì có sự đan xen giữa cả hai mô hình trên, tại các đơn vị thì phòng tín dụng vẫn thực hiện cả ba chức năng, tuy nhiên vẫn có sự kiểm soát lại của Hội sở chính Mô hình này giúp tận dụng điểm mạnh đồng thời khắc phục những điểm còn thiếu sót của hai mô hình trên
Nhóm dấu hiệu từ phía khách hàng:
- Ngân hàng cần theo dõi một số các số liệu mà khách hàng đã hạch toán và cung cấp cho ngân hàng thông qua tài khoản, từ đó phát hiện ra các dấu hiệu quan trọng như phát hành séc quá bảo chứng hoặc bị từ chối; có khó khăn trong việc trả lương cho nhân viên, sự giảm sút về số dư tiền gửi bất thường liên tục,…
- Các hoạt động vay vốn của khách hàng: khách hàng xin vay thêm vốn, mức
độ thường xuyên của các khoản vay tăng lên, xin gia hạn nợ hoặc yêu cầu ngân hàng cho đáo hạn, …
- Các hoạt động tài chính: khách hàng dùng nguồn ngắn hạn để tài trợ cho các
dự án phát triển dài hạn, sẵn sàng sử dụng vốn với chi phí cao, có biểu hiện giảm vốn điều lệ, các chỉ tiêu tài chính biến động theo chiều hướng xấu đi
Nhóm các dấu hiệu từ phía ngân hàng:
Chủ yếu là các dấu hiệu về phương pháp quản lý hoạt động ngân hàng như:
- Cơ cấu hội đồng quản trị, ban điều hành,… thay đổi
- Mâu thuẫn trong nội bộ giữa ban quản trị và ban điều hành, thiếu nhất quán trong mục tiêu hoạt động; hoặc có sự thiếu tin tưởng nhau trong quá trình quản lý
Trang 32- Sự bất hợp lý trong cân đối chi phí kinh doanh và tài chính cá nhân, ví dụ như tập trung quá nhiều chi phí để đầu tư, trang trí văn phòng hiện đại và đẳng cấp, phương tiện giao thông sử dụng cho việc công quá đắt tiền, hoặc cuộc sống xa hoa của các vị lãnh đạo cấp cao trong ngân hàng
Nhóm dấu hiệu từ các dấu hiệu trong kinh doanh:
Chủ yếu là dấu hiệu từ phía khách hàng doanh nghiệp Ví dụ như:
- Doanh nghiệp bị thu hút vào một khách hàng lớn, có tên tuổi trên thị trường,
và điều này có thể dẫn tới sự lệ thuộc của doanh nghiệp vào khách hàng này, gây ra
sự khó khăn trong độc lập tài chính để trả nợ; hoặc do khách hàng lớn đó mà lãnh đạo doanh nghiệp quyết định cắt giảm lợi nhuận để đạt được hợp đồng lớn cho mình
- Doanh nghiệp bị hấp dẫn bởi những sản phẩm đẹp, lạ mắt nên dồn toàn bộ vốn vào đầu tư cho sản phẩm mà không tính đến các yếu tố khác (chi phí cao, khó tiêu thụ, thị trường bị hạn chế,…)
- Doanh nghiệp bị áp lực trong nội bộ dẫn tới tung ra thị trường sản phẩm của mình quá sớm, làm cho các hạn mức thời gian kinh doanh đưa ra trở nên phi thực
tế, không đúng thời cơ, dẫn tới sản phẩm không được đón nhận như mong đợi
Nhóm các dấu hiệu thuộc về thị trường:
- Biến động về tỷ giá, lãi suất, thị hiếu người tiêu dùng; xuất hiện thêm đối thủ cạnh tranh mới, hay bị mất nhà cung ứng truyền thống…
- Sản phẩm của khách hàng vay vốn có tính thời vụ, thay đổi theo từng giai đoạn trong năm
Nhóm các dấu hiệu về xử lý hạch toán kế toán, số liệu tài chính:
- Nộp muộn báo cáo tài chính, hoặc báo cáo tài chính không đầy đủ số liệu
- Phân tích tài chính cho thấy những dấu hiệu bất ổn như: tỷ lệ nợ không cân đối với tài sản, tiền mặt giảm, doanh số tăng nhưng lợi nhuận giảm,…
- Các dấu hiệu phi tài chính khác như đạo đức kinh doanh suy giảm, hàng tồn kho tăng cao, chất lượng hàng hóa lưu trữ xuống cấp,…
1.4.3.3 Đo lường rủi ro tín dụng
Trang 33Với hệ thống đo lường theo Basel 2, có nhiều phương pháp đo lường rủi ro tín dụng như: Phương pháp chuẩn hóa, phương pháp dựa trên hệ thống đánh giá nội bộ
cơ bản, phương pháp dựa trên hệ thống đánh giá nội bộ tiên tiến Tuy nhiên tại Việt Nam hiện nay chủ yếu áp dụng phương pháp chuẩn hóa trong đo lường rủi ro tín dụng, phương pháp này phụ thuộc vào đánh giá xếp hạng tín dụng
- Mô hình chấm điểm theo chỉ tiêu: là một mô hình khá phổ biến trong các
NHTM hiện nay, do ưu điểm là rõ ràng và tương đối dễ thực hiện Theo đó, mô hình có một hệ thống các chỉ tiêu liên quan tới các khách hàng, gồm cả chỉ tiêu tài chính và phi tài chính Để thực hiện việc đánh giá, các NHTM hiện nay áp dụng một số bước chung sau:
Bước 1: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá
Việc xếp hạng tín dụng các khách hàng vay vốn phải dựa trên cơ sở phân tích các chỉ tiêu liên quan nhằm mục tiêu đề ra là đánh giá chính xác khả năng và thiện chí trả nợ ngân hàng của khách hàng Số lượng và nội dung các chỉ tiêu, tiêu chí phải phù hợp, hợp lý, đảm bảo phán ánh chính xác tình hình thực tế của khách hàng Theo kinh nghiệm các tổ chức chuyên xếp hạng trên thế giới thì hệ thống chỉ tiêu phân tích gồm các chỉ tiêu định lượng và chỉ tiêu định tính
Bước 2: Thu thập thông tin về khách hàng vay vốn
Trước hết cần thu thập thông tin về tình hình tài chính của khách hàng, mục đích vay vốn, khả năng nguồn thu nhập trả nợ, tài sản tích lũy, và các dòng tiền, tài sản khác Bên cạnh đó cần thu thập thêm từ nhiều nguồn thông tin khác nhau như: thông tin thu thập từ thực tế, cơ quan kiểm toán, cơ quan quản lý nhà nước…các thông tin này có độ chính xác và tin cậy cao; hay từ các nguồn thông tin không chính thức như từ đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, đại lý tiêu thụ…Tuy nhiên dù thông tin từ nguồn nào thì cũng cần có sự chọn lọc, đánh giá, phân tích kỹ trước khi đưa vào hệ thống xếp hạng tín dụng
Bước 3: Phân tích và tính điểm hệ thống chỉ tiêu
Việc phân tích và tính điểm hệ thống chỉ tiêu xếp hạng tín dụng có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau như: phương pháp so sánh, đồ thị, thay thế,…Trong
Trang 34phân tích và xếp hạng tín dụng , phương pháp được áp dụng chủ yếu là so sánh các chỉ tiêu, đối tượng kinh tế đã được lượng hóa và có cùng nội dung, tính chất
Bước 4: Tổng hợp, xếp hạng và xác định mức độ rủi ro tín dụng
Trên cơ sở cho điểm chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu và trọng số của từng chỉ tiêu, Ngân hàng sẽ xác định được điểm số của khách hàng Tương ứng với điểm số, xác định thứ hạng của khách hàng cũng như mức độ rủi ro tín dụng Việc xếp hạng các khách hàng được phân loại theo bảng sau:
Bảng 1.1: Bảng xếp hạng khách hàng
AAA Là mức xếp hạng tốt nhất, khách hàng có khả năng hoàn trả khoản vay đặc
biệt tốt
AA Năng lực trả nợ của khách hàng không kém nhiều so với hạng AAA, khả
năng hoàn trả khoản nợ rất tốt
A Khách hàng có thể có nhiều khả năng chịu tác động tiêu cực của các yếu tố bên ngoài và các điều kiện kinh tế hơn các khách hàng được xếp hạng cao hơn Khả năng trả nợ được đánh giá là tốt
BBB Các chỉ số của loại này cho thấy khách hàng hoàn toàn có khả năng hoàn
trả đầy đủ các khoản nợ Tuy nhiên khách hàng có thể bị suy giảm khả năng trả nợ bởi các điều kiện kinh tế bất lợi và sự thay đổi các yếu tố bên ngoài
BB Khách hàng loại này ít có nguy cơ mất khả năng trả nợ hơn các nhóm từ B
đến D Tuy nhiên, họ đang phải đối mặt với nhiều rủi ro tiềm ẩn hoặc các ảnh hưởng từ các điều kiện kinh doanh, tài chính, kinh tế bất lợi Các ảnh hưởng này dễ dẫn đến sự suy giảm khả năng trả nợ của khách hàng
B Khách hàng có nhiều nguy cơ mất khả năng trả nợ hơn loại BB Tuy nhiên hiện thời khách hàng vẫn có khả năng hoàn trả nợ vay Các điều kiện kinh doanh, tài chính, kinh tế sẽ có ảnh hưởng nhiều đến khả năng hoặc thiện chí trả nợ của khách hàng
Trang 35CCC Khách hàng hiện thời đang bị suy giảm khả năng trả nợ khả năng trả nợ
của khách hàng phụ thuộc vào mức độ thuận lợi của các điều kiện kinh doanh, tài chính, kinh tế trong trường hợp có các yếu tố bất lợi xảy ra, khách hàng có nhiều khả năng không trả được nợ
CC Khách hàng hiện thời đang bị suy giảm nhiều khả năng trả nợ
C Khách hàng xếp hạng C trong trường hợp đã thực hiện các thủ tục xin phá sản hoặc có các động thái tương tự nhưng việc trả nợ vấn được duy trì
D Khách hàng đã mất khả năng trả nợ, các tổn thất đã thực sự xảy ra, không xếp hạng D cho các khách hàng mà việc mất khả năng trả nợ mới chỉ là khả năng, dự kiến
Ngoài phương pháp chuẩn hóa là đánh giá xếp hạng tín dụng nội bộ được đa
số các ngân hàng thương mại ở Việt Nam áp dụng như trên, thì trên thế giới hiện nay có áp dụng theo tiêu chuẩn Basel là Phương pháp dựa trên hệ thống đánh giá nội bộ như sau:
- Phương pháp dựa trên hệ thống đánh giá nội bộ: Đây là phương pháp tiên
tiến được áp dụng theo tiêu chuẩn Basel II để xác định đo lường rủi ro Ngân hàng
áp dụng công thức trong Basel II để tính tổn thất dự kiến:
EL = PD x EAD x LGD
Với: + EL là tổn thất dự tính
+ PD là xác suất khách hàng không trả được nợ + EAD là tổng dư nợ của khách hàng tính đến thời điểm khách hàng không trả được nợ
+ LGD là tỷ trọng tổn thất ước tính
Sau khi hoàn thành cơ sở dữ liệu về khách hàng: tập hợp đầy đủ từ các thông tin tài chính đến phi tài chính như lịch sử vay trả nợ, năng lực điều hành…các ngân hàng sẽ xây dựng, thử nghiệm và lựa chọn ra các mô hình thống kê hoặc phi thống
kê tốt nhất để tính toán ba cấu phần cơ bản: PD, LGD và EAD Sau khi tính toán được chỉ số tổn thất dự tính EL, Ngân hàng sẽ dựa vào đó để ra quyết định có chấp nhận được mức độ rủi ro đó hay không
Trang 36Ngoài ra một số NHTM tại Việt Nam cũng áp dụng kết hợp thêm một số mô hình đo lường rủi ro khác để đưa ra quyết định tín dụng đối với khách hàng như:
- Mô hình định tính: hiện nay, các NHTM sử dụng chuẩn 5C để xây dựng mô
hình định tính để đo lường rủi ro cho ngân hàng mình Tiêu chuẩn 5C bao gồm: + Character (Tư cách người vay): thể hiện tinh thần trách nhiệm, tính trung thực, mục đích rõ ràng và thiện chí trả nợ của người vay
+ Capacity (Năng lực của người vay): cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người xin vay vốn có đầy đủ năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng Hoặc, phải đảm bảo rằng người đại diện cho doanh nghiệp vay vốn có thẩm quyền hợp pháp và được doanh nghiệp ủy quyền
+ Cash (Thu nhập của người vay): tiêu chuẩn này tập trung vào câu hỏi: người vay có khả năng tạo ra đủ tiền để trả nợ hay không (có dòng tiền vào từ doanh thu bán hàng không? Có thu nhập từ phát hành chứng khoán không? Có thể bán tài sản
để trả nợ ngân hàng không? )
+ Collateral (Tài sản đảm bảo): khi có tài sản đảm bảo bằng tài sản cầm cố hay thế chấp, thì mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng được gắn chặt trách nhiệm hơn Nếu rủi ro có xảy ra, người đi vay không trả được nợ thì tài sản cầm cố, thế chấp sẽ là nguồn trả nợ thứ hai của khách hàng
+ Conditions (Các điều kiện): để đánh giá xu hướng ngành và điều kiện kinh
tế có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động kinh doanh của khách hàng, cán bộ tín dụng cần hiểu về thực trạng ngành nghề, công việc kinh doanh của khách hàng, cũng như những tác động từ bên ngoài tới khách hàng
- Mô hình điểm số Z: là mô hình do E.I.Altman xây dựng để đo lường rủi ro tín
dụng Z được dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng với người vay Chỉ số này phụ thuộc vào chỉ số tài chính của người vay, tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ trong quá khứ Điểm Z càng cao thì xác suất vỡ nợ càng thấp; nếu Z thấp hoặc là một số âm, thì đó là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao
+ Z < 1,81: khách hàng có khả năng rủi ro cao
Trang 37+ 1,81< Z < 2,99: khách hàng không có vấn đề trong ngắn hạn, tuy nhiên cần xem xét cẩn trọng
+ Z >2,99:khách hàng không có khả năng vỡ nợ
- Xếp hạng của Moody’s và Standard&Poor’s: Mô hình này bao gồm cả phân
tích định tính và định lượng, mô hình tập trung nhiều vào phân tích dòng tiền và khả năng thanh khoản trong quá khứ Trong quy trình xếp hạng, mô hình không phân loại theo tính chất dữ liệu mà phân loại theo rủi ro là rủi ro kinh doanh và rủi ro tài
chính
Rủi ro kinh doanh bao gồm rủi ro ngành, khả năng cạnh tranh, vị thế doanh nghiệp trong ngành, lợi thế kinh tế, khả năng sinh lời trong sự so sánh với các doanh nghiệp khác trong nhóm tương đồng và nhấn mạnh nhân tố chính ảnh hưởng
là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Rủi ro tài chính gồm phân tích chính sách tài chính, chính sách và thông tin kế toán, khả năng đáp ứng của dòng tiền, cấu trúc vốn và khả năng thanh toán ngắn hạn
Tuy rủi ro tín dụng là khách quan, song các ngân hàng cần phải hạn chế đến mức thấp nhất các tổn thất có thể xảy ra Từ những nguyên nhân nảy sinh rủi ro tín dụng, ngân hàng tiến hành cụ thể hóa thành những dấu hiệu chính phát sinh trong hoạt động tín dụng, để phản ánh rủi ro tín dụng
Các chỉ tiêu nói trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và phản ánh các mức
độ rủi ro tín dụng khác nhau Với các chính sách tín dụng khác nhau, quan điểm khác nhau, cách tính toán khác nhau, quy định khác nhau về kỳ hạn nợ và cách tính
nợ quá hạn, sẽ làm cho các chỉ tiêu này bị biến dạng
+ Kỳ hạn nợ không đúng: Cán bộ ngân hàng khi cho vay không tìm hiểu kỹ về chu kỳ kinh doanh của khách hàng, hoặc do ngân hàng chỉ có nguồn ngắn hạn, nên
đã đặt kỳ hạn ngắn để hạn chế rủi ro Sự không phù hợp về kỳ hạn vay với chu kỳ thu nhập của khách hàng sẽ dẫn tới xảy ra rủi ro
+ Hiện tượng đảo nợ hoặc giãn nợ: người vay khi không có khả năng hoàn trả khoản vay đúng hạn đã tiến hành đảo nợ để làm giảm tỷ lệ nợ quá hạn so với thực
Trang 38tế Để che giấu với ngân hàng cấp trên, hoặc để không phải chịu lãi suất phạt, họ thỏa thuận với nhân viên tín dụng để được vay khoản vay mới, lấy đó để trả cho khoản nợ cũ
+ Do chính sách cho vay: Nhiều khoản vay khó đòi không thể thu hồi bằng việc bán tài sản đảm bảo (đối với doanh nghiệp nhà nước, hộ nghèo, tài sản không
rõ ràng…) Những khoản vay này hầu hết đều được cho vay theo chỉ thị của Nhà nước Khi Nhà nước chưa có biện pháp cụ thể để giải quyết, thì chúng vẫn nằm trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng, và trở thành tài sản ảo của ngân hàng
Tình hình tài chính và phương án của người vay (các yếu tố của người vay), môi trường hoạt động của người vay: nếu tình hình tài chính của người vay tốt, phương án có hiệu quả cao và môi trường kinh doanh thuận lợi thì rủi ro tín dụng sẽ thấp Những yếu tố này xấu đi sẽ là nguyên nhân cấu thành các khoản nợ có vấn đề
Đảm bảo tiền vay: Trong nhiều trường hợp, khi quyết định cho vay, ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có tài sản đảm bảo (thường là khi uy tín của người vay không cao hoặc hoạt động đầu tư tiềm ẩn nhiều rủi ro) Như vậy, tài sản đảm bảo càng cao trên tổng dư nợ cho thấy ngân hàng đang cấp tín dụng cho phần lớn các khách hàng có rủi ro cao Tuy nhiên, tải sản đảm bảo sẽ góp phần quan trọng trong việc giảm tổn thất cho ngân hàng khi khách hàng không trả được nợ Vì vậy, khi xem xét tỷ lệ này, cần chú ý tới từng trường hợp cụ thể
Tính đa dạng hóa trong tài sản của ngân hàng: Bên cạnh nợ quá hạn, nhà quản lý ngân hàng còn sử dụng các hình thức đo lường rủi ro tín dụng khác, gắn liền với chiến lược đa dạng hóa tài sản, lập hồ sơ khách hàng, trích lập dự phòng, đặt giá đối với các khoản cho vay,…
Mất ổn định vĩ mô: chính sách thường xuyên thay đổi, lạm phát cao, tình hình chính trị kém ổn định, vùng gặp thiên tai, dịch bệnh… đều tạo nên sự mất ổn định vĩ mô, ảnh hưởng không nhỏ tới người vay
Tính kém đa dạng của tín dụng: đa dạng hóa là một biện pháp hạn chế rủi ro Ngân hàng nếu chỉ tập trung tài trợ cho một nhóm khách hàng ở một lĩnh vực nào
Trang 39đó, hoặc trong phạm vi hẹp, sẽ gặp rủi ro hơn nhiều so với đa dạng hóa danh mục sản phẩm, đối tượng vay…
Nhiều ngân hàng còn sử dụng kết hợp giữa phận loại nợ và giá trị tài sản đảm bảo để phản ánh rủi ro tín dụng
1.4.3.4.Kiểm soát rủi ro tín dụng
Để hiểu rõ về công tác kiểm soát rủi ro tín dụng, cần tìm hiểu về một số các khái niệm có liên quan về phân loại nợ được quy định trong Thông tư 02/2013/TT-NHNN
“Nợ” là toàn bộ những khoản cho vay, ứng trước, thấu chi và cho thuê tài chính; các khoản chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá; các khoản bao thanh toán và các hình thức tín dụng khác Các tổ chức tín dụng sẽ tiến hành phân loại nợ theo quy định như sau:
- Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
+ Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn;
+ Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn;
- Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
+ Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
+ Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu;
- Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
+ Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
+ Nợ gia hạn nợ lần đầu;
+ Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
+ Nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng
mà tổ chức tín dụng, ngân hàng ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;
Trang 40 Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận vốn góp;
Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, ngân hàng ngân hàng nước ngoài khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;
Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ lệ giới hạn theo quy định của pháp luật;
Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật;
Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối
và các tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, ngân hàng ngân hàng nước ngoài;
Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, ngân hàng ngân hàng nước ngoài
Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra;
- Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
+ Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
+ Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả
nợ được cơ cấu lại lần đầu;
+ Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
+ Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;
- Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
+ Nợ quá hạn trên 360 ngày;