1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Văn học dân gian dân tộc thái ở mai châu

153 591 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 4,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là các lễ hội như Xên Bản, xên thời tôi cũng được tiếp xúc với những tác phẩm văn học dân gian của dân tộc Thái qua lời kể, các điệu khắp của các ông mo, các già bản, các chàng trai c

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

VŨ ĐỨC HẠNH

VĂN HỌC DÂN GIAN DÂN TỘC THÁI

Ở MAI CHÂU

LUÂ ̣N VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUÂ ̣N VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HẰNG PHƯƠNG

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài này là do tôi tự tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thiện dưới sự hướng dẫn của Phó giáo sư - Tiến sỹ Nguyễn Hằng Phương Kết quả của luận văn này chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Hòa Bình, ngày 9 tháng 11 năm 2015

Tác giả luận văn

Vũ Đức Hạnh

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình tới PGS TS Nguyễn Hằng Phương, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tác giả xin trân trọng cảm ơn các quý thầy cô trong Ban giám hiệu; Khoa sau đại học; Ban chủ nhiệm; quý thầy cô trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu khoa học

Tác giả xin chân thành cảm ơn các nghệ nhân dân gian, các già làng trưởng bản thuộc huyện Mai Châu - tỉnh Hòa Bình đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp tư liệu trong quá trình sưu tầm tài liệu để hoàn thành luận văn

Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các đồng nghiệp thuộc ngành Giáo dục huyện Mai Châu - tỉnh Hòa Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ, động viên tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Mai Châu, ngày 9 tháng 11 năm 2015

Tác giả

Vũ Đức Hạnh

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Bố cục của luận văn 8

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, LỊCH SỬ, VĂN HÓA DÂN TỘC THÁI Ở MAI CHÂU 9

1.1 Sơ lược về quá trình di cư và lập đất của dân tộc Thái ở Mai Châu 9

1.2 Khái quát về văn hóa của người Thái ở Mai Châu 11

1.2.1 Văn nghê ̣ dân gian 11

1.2.2 Lễ hô ̣i Xên Bản, Xên Mường 12

1.2.3 Mô ̣t số phong tu ̣c tâ ̣p quán khác 13

1.3 Vài nét về văn học dân gian dân tộc Thái ở Mai Châu 14

Chương 2 TRUYỀN THUYẾT, TRUYỆN CỔ TÍCH VÀ TRUYỆN CƯỜI DÂN TỘC THÁI Ở MAI CHÂU 16

2.1 Truyền thuyết 16

2.1.1 Phân loại truyền thuyết của dân tộc Thái ở Mai Châu 17

2.1.2 Nội dung truyền thuyết của dân tộc Thái ở Mai Châu 17

2.1.3 Nghệ thuật của truyền thuyết dân tộc Thái ở Mai Châu 23

2.2 Truyện cổ tích 24

2.2.1 Phân loại truyện cổ tích của dân tộc Thái ở Mai Châu 25

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn iv

2.2.2 Nội dung truyện cổ tích dân tộc Thái ở Mai Châu 27

2.2.3 Nghệ thuật truyện cổ tích dân tộc Thái ở Mai Châu 36

2.3 Truyện cười 39

2.3.1 Phân loại truyện cười của dân tộc Thái ở Mai Châu 40

2.3.2 Nội dung truyện cười dân tộc Thái Mai Châu 40

2.3.3 Nghệ thuật truyện cười dân tộc Thái Mai Châu 45

Chương 3 KHẮP VÀ TỤC NGỮ DÂN TỘC THÁI Ở MAI CHÂU 50

3.1 Khắp 50

3.1.1 Phân loại khắp của dân tộc Thái ở Mai Châu 51

3.1.2 Nội dung khắp của dân tộc Thái ở Mai Châu 52

3.1.3 Phương thức diễn xướng và nghệ thuật khắp của dân tộc Thái ở Mai Châu 75

3.2 Tục ngữ 81

3.2.1 Phân loại tục ngữ của dân tộc Thái ở Mai Châu 82

3.2.2 Nội dung tục ngữ dân tộc Thái ở Mai Châu 82

3.2.3 Nghệ thuật tục ngữ dân tộc Thái ở Mai Châu 86

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một quốc gia bao gồm nhiều dân tộc Bên cạnh dân tộc Kinh còn

có 53 dân tộc thiểu số khác sống rải rác trên mọi miền đất nước Thành phần các dân tộc có khác nhau, nhưng đều chung nguồn gốc Bách Việt Từ buổi đầu dựng nước đến nay, các dân tộc thiểu số đã có sự tham gia tích cực trong việc xây dựng và bảo

vệ đất nước, xây dựng những truyền thống lịch sử, văn hóa của đại gia đình các dân tộc Việt Nam

Văn học dân gian các dân tộc thiểu số có những thành tựu độc đáo với những sắc thái riêng biệt Diện mạo của nền văn học dân gian Việt Nam sẽ được nhìn nhận đầy đủ, chính xác hơn trên mối quan hệ tổng thể văn học dân gian các dân tộc Văn học dân gian dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số có mối quan hệ gắn bó, mật thiết, có sự giao lưu và chuyển hóa lẫn nhau đến mức có những trường hợp không thể tách rời Việc nghiên cứu văn học dân gian các dân tộc thiểu số là rất cần thiết Do đó, văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa

VIII đã nêu rõ: “coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và phát

triển những giá trị mới về văn hóa, văn học nghệ thuật của các dân tộc thiểu số là nhiệm vụ vô cùng cấp bách” [40]

Sinh ra và lớn lên trên quê hương Mai Châu - Hòa Bình, nơi được coi là cửa ngõ lên miền Tây Bắc của đất nước, cũng là một trong những khu vực cư trú tập trung của đồng bào dân tộc Thái ở Việt Nam, tôi đã sớm được tiếp xúc với một nền văn hóa Thái phong phú và rất đậm bản sắc riêng Đó là các lễ hội như Xên Bản, xên

thời tôi cũng được tiếp xúc với những tác phẩm văn học dân gian của dân tộc Thái qua lời kể, các điệu khắp của các ông mo, các già bản, các chàng trai cô gái Thái, tôi nhận thấy rằng dân tộc Thái ở huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình có một kho tàng văn học dân gian khá phong phú về số lượng văn bản và thể loại, khá sâu sắc về nội dung

ý nghĩa Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu để giúp cho việc sưu tầm, nghiên cứu và sử dụng kho tàng ấy một cách hiệu quả Chính vì vậy, hiện tại việc thực hiện nội dung Ngữ văn địa phương ở các trường Trung học cơ sở trong huyện rất khó khăn

do thiếu tư liệu và cơ sở để biên soạn các tiết dạy

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 2

Từ những lí do trên, tôi chọn: "Văn học dân gian dân tộc Thái ở Mai Châu"

làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình Mong rằng qua công trình này, tôi sẽ góp được một phần công sức bé nhỏ vào việc giới thiệu, gìn giữ, bảo tồn và quảng bá cho nền văn học dân gian của dân tộc Thái huyện Mai Châu; đồng thời tạo thêm một

cơ sở, một nguồn tư liệu về văn học dân gian để giúp các giáo viên Ngữ văn ở huyện Mai Châu có thể thực hiện các tiết dạy Ngữ văn địa phương một cách thuận lợi hơn

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa đặc thù riêng, những giá trị văn hóa đậm bản sắc đó đã tạo thành nền văn hóa thống nhất và đa dạng của đại gia đình 54 dân tộc Việt Nam Nghiên cứu văn học dân gian dân tộc Thái ở huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình là nhằm giữ gìn và phát huy các giá tri văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; đồng thời ứng dụng vào các công việc có giá trị thiết thực ở địa phương

Từ trước đến nay, tuy chưa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn học song nền văn hóa dân tộc Thái nói chung và văn học dân tộc Thái ở huyện Mai Châu, Hòa Bình nói riêng đã được một số tác giả đề câ ̣p đến, cụ thể như sau:

Năm 1977, giáo sư Đặng Nghiêm Vạn công bố cuốn "Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái" do Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành Trong công trình này có phần nói về người Thái Mai Châu, Hoà Bình với tư liệu là cuốn gia phả của dòng họ

Hà Công (Xóm Chiềng Hạ, xã Mai Hạ, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình) được các thế

hệ của dòng họ này ghi chép liên tục từ ngày đến mở đất sinh cư (khoảng cuối thế kỷ XIII, đầu thế kỷ XIV) và dừng lại vào Cách mạng tháng 8 năm 1945

Năm 1978, cuốn “Các dân tộc ít người ở Việt Nam” đã giới thiệu khá chi tiết

về đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội của các dân tô ̣c, trong đó có dân tộc Thái ở Việt Nam, đây là cơ sở quan tro ̣ng cho việc tìm hiểu về nguồn gốc và các đặc điểm cơ bản của dân tộc Thái

Cuốn “Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam” (trước Cách mạng tháng 8 năm 1945) của tác giả Phan Đăng Nhật được Nhà xuất bản Văn hóa ấn hành năm 1981 là công trình chủ yếu nghiên cứu về văn học dân gian các dân tộc thiểu số ở nước ta, trong đó có phần quan trọng về văn học dân gian dân tộc Thái

Đặc biệt, trong thời gian gần đây, trước xu thế hội nhập văn hóa giữa các dân tộc, các nhà nghiên cứu trẻ đã có nhiều công trình tìm hiểu chi tiết hơn về nền văn

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 3

hóa Thái nói chung và nền văn học dân tộc Thái nói riêng Như chúng ta đã biết, dân tộc Thái cư trú nhiều ở vùng Tây Bắc và một số tỉnh khác như Thanh Hóa, Nghệ An Mặc dù có địa bàn cư trú rộng nhưng những đặc điểm cơ bản về lối sống, về văn hóa là khá đồng nhất Tác giả Nguyễn Văn Phượng - Giảng viên Khoa Triết & Chủ nghĩa xã hội khoa học có bài viết đăng trên trang web của trường chính trị tỉnh Nghệ

An “Tiếp cận những khía cạnh cơ bản văn hoá dân tộc Thái từ góc độ triết học” Về văn hóa vật chất, ông khẳng định: Không gian cư trú là các bản làng ven các nguồn nước; bản Thái không lấy vườn tược, đồi nương và đường đi lối lại để quy định vị trí

mà lấy thế đất làm điểm trung tâm cho việc khai mở

Về kiến trúc, người Thái chủ yếu là ở trong nhà sàn, loại nhà được kiến thiết bằng những chất liệu từ thiên nhiên, gần gũi với nơi họ sinh sống Về trang phục, người Thái có truyền thống dệt vải lâu đời Giới nam của dân tộc Thái mang trang phục rất đơn giản, ít giữ bản sắc Đặc biệt, ngày nay với sự thâm nhập của người Kinh, thì nam giới Thái đã mang trang phục như miền xuôi Phụ nữ xính trang sức đã làm tăng thêm nét duyên dáng và tươi đẹp của họ Việc mặc váy đã tôn lên được thân hình mảnh dẻ, điệu đà của họ, nhân lên phong cách Á Đông của người phụ nữ Việt Nam

Về lĩnh vực văn hóa tinh thần của dân tộc Thái, tác giả Nguyễn Văn Phượng cho rằng tín ngưỡng dân gian của người Thái là biểu hiện nhận thức, tâm lý, tình cảm của họ về các hiện tượng xung quanh tự nhiên và xã hội Trong quan niệm về vũ trụ, người Thái chia vũ trụ làm ba phần: Thứ nhất là Mường Phạ - mường của các vị Then; thứ hai là Mường Lùm (Mường người); thứ ba là Mường Boọc Đai (Mường trong lòng đất) Với người Thái xưa coi đấng siêu nhiên, toàn năng là "Phi" "Phi" bao gồm linh hồn người sống (Phi vẳn); linh hồn người chết (Phi hương); tổ sư nghề

mo (Phi ôn, Phi một); các loại ma quỷ trong tự nhiên (Phi Pu, Phi Pả) Người Thái có quan niệm duy linh về con người Họ cho rằng, con cái được sinh ra là quà ban thưởng của trời đất cho họ Mỗi đứa trẻ sinh ra được gửi gắm rất nhiều hi vọng

Tác giả Nguyễn Văn Phượng cũng cho rằng đời sống tinh thần của dân tộc Thái là vô cùng phong phú với rất nhiều nghi lễ như lễ hội Xên Mường, lễ hội Xăng Khan, tết cơm mới, nghi lễ tang ma, nghi lễ cưới xin… Đặc biệt Người Thái có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú và đặc sắc, đó là cả kho tàng văn hóa của một tộc người có lịch sử hàng ngàn năm sinh tụ ổn định trên một địa bàn tương đối rộng Đó

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 4

là chưa kể dọc đường hành trình của họ, họ đã từng gặp gỡ tiếp xúc các cư dân Mường, những cư dân Môn- Khơme, cư dân Lào làm cho vốn văn nghệ dân gian Thái mang thêm nhiều màu sắc của nhiều dân tộc

Việt-Trên trang web “Biên phòng Việt Nam” số ra ngày 24/4/2013 có bài viết

“Những nét văn hóa đặc trưng của dân tộc Thái” có những nhận định tương tự “Dân tộc Thái có trên một triệu người sinh sống tập trung chủ yếu tại các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Yên Bái, Nghệ An, Thanh Hóa và sinh sống rải rác ở một số tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên do di cư Dân tộc Thái còn có những tên gọi khác là Táy và có các nhóm Táy Đăm, Táy Khao, Táy Mười, Táy Thanh, Hàng Tổng, Pu Thay, Thổ Đà Bắc Tiếng Thái thuộc hệ ngôn ngữ Tày - Thái Trải qua các cuộc thiên di trong lịch sử, dân tộc Thái có mặt ở Việt Nam từ hàng trăm năm trước, họ có nhiều kinh nghiệm đắp phai, đào mương, dựng cọn, bắc máng lấy nước làm ruộng Bản mường Thái thường định cư gần nguồn nước, mỗi bản có từ vài chục đến hơn trăm nóc nhà kề bên nhau Người Thái có quan niệm đa thần và giữ tục cúng

tổ tiên Do đời sống gắn liền với sản xuất nông nghiệp nên có tục lấy nước đêm giao thừa, lễ hội đón tiếng sấm năm mới và một số lễ hội cầu mùa khác Đối với người chết, họ quan niệm là tiếp tục “sống” ở thế giới bên kia vì vậy đám ma là lễ tiễn người chết về với “mường trời” Người Thái có nhiều họ, mỗi họ có những qui định kiêng kỵ khác nhau, chẳng hạn: họ Lò kiêng không ăn thịt chim Táng Lò, họ Quàng kiêng con hổ… Về văn học nghệ thuật, do người Thái có chữ viết riêng nên kho tàng văn học dân gian như truyền thuyết, ca dao, truyện thơ, văn học, dân ca… và một số luật lệ còn được lưu giữ và truyền lại khá nguyên vẹn qua các bản ghi chép trên giấy bản hoặc trên lá cây Đồng bào Thái rất thích ca hát, đặc biệt là khắp Khắp là lối ngâm thơ hoặc hát theo lời thơ, có thể đệm đàn và múa Nhiều điệu múa như múa xòe, múa sạp, múa quạt rất độc đáo đã được trình diễn trên sân khấu trong và ngoài nước, hấp dẫn đông đảo khán giả Vào dịp lễ hội, hạn khuống và ném còn là hai trò chơi mang nét đặc trưng văn hóa nổi tiếng của người Thái

Tác giả Nguyễn Văn Hòa có công trình nghiên cứu “Dân ca Thái vùng Tây Bắc Việt Nam” công trình đã được Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin xuất bản năm

2011 Công trình đã sưu tầm, nghiên cứu, tổng hợp và đưa ra nhiều nhận định có giá trị về thể loại dân ca Thái vùng Tây Bắc, trong đó có dân ca Thái Hòa Bình

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 5

Riêng về văn hóa dân gian dân tộc Thái ở huyện Mai Châu - tỉnh Hòa Bình, tác giả Nguyễn Hữu Thức - Hội văn nghệ dân gian Việt Nam - đã có công trình nghiên cứu “Di sản văn hóa phi vật thể của người Thái ở Mai Châu” Công trình này

đã được Nhà xuất bản Lao động ấn hành Trong công trình của mình, tác giả Nguyễn Hữu Thức đã nghiên cứu về quá trình thiên di lập đất của người Thái ở Mai Châu, các phong tục tập quán và sưu tầm một số tác phẩm văn học dân gian của dân tộc Thái ở Mai Châu Ông khẳng định tính trội của văn hóa Thái Mai Châu thể hiện ở một số biểu hiện như văn hóa ăn ở của người Thái gắn liền với nguồn nước Bản mường người Thái Mai Châu bám theo hai bờ dòng chảy các con suối, trong đó có hai suối lớn là suối Mùn và suối Xia Người Thái thành thạo trong làm ruộng nước Đến đất Mai Châu đã hơn sáu thế kỷ, họ đã cải tạo thung lũng thành những thửa ruộng bậc thang, xây dựng hệ thống mương máng, đặt guồng đưa nước vào ruộng để cấy, gặt hai vụ một năm Người Thái có tập quán cư trú mật tập, các nhà sàn liền mái, ngõ đi chung, ý thức cộng đồng được đề cao trong quan hệ xã hội; họ hiếu khách, trân trọng

và luôn dành những tình cảm tốt đẹp cho khách Mọi công việc đều khởi đầu bằng cốc rượu, uống rượu không khích bác nhau mà dành cho nhau nhưng lời nói tốt đẹp nhất tạo sự thân thiện giữa các cá nhân với cộng đồng

Tác giả Nguyễn Hữu Thức nhận định “Dù gian lao, vất vả, chiến tranh, giặc

giã, đói kém, dịch bệnh, mất gì thì mất chứ nhất quyết không để mất chữ Chữ viết người Thái là vốn vô giá của tổ tiên để lại cho con cháu Nhờ vào chữ viết, vốn liếng tri thức được các đời ghi chép và truyền lại cho các thế hệ tiếp thu để chăm lo sản xuất, bảo vệ sức khỏe, đặt ra luật lệ quản lý xã hội, xây dựng bản mường” [35,tr.54]

Về văn học dân gian dân tộc Thái Mai Châu, tác giả Nguyễn Hữu Thức có sưu tầm một số tác phẩm và sơ lược về ba thể loại có số lượng tác phẩm lớn là dân ca, truyền thuyết và truyện cười Ông cũng có những nhận định chính xác về văn học dân

gian Thái như “Dân ca Thái thoát thai từ lao động, không thể tách rời cơ sở kinh tế -

xã hội của thời đại sản sinh ra nó” [35,tr.124]; “ Nạn cát cứ phong kiến tranh đất, tranh mường của nhau đã bao phen binh đao làm thân phận người dân Thái vô cùng điêu đứng Có biết bao truyền thuyết như một bản cáo trạng truyền đời cho con cháu mai sau nói lên thảm họa đó” [35,tr.142]; “Tiếng cười là vũ khí của kẻ mạnh Trước muôn vàn khó khăn người Thái Mai Châu đã biết tìm cho mình vũ khí sắc bén ấy”

[35,tr.160]

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 6

Như vậy, việc sưu tầm trên diện rộng và đi sâu tổng hợp, nghiên cứu để nêu ra những nhận định, đánh giá mang tính chất toàn diện về những đặc điểm cơ bản của văn học dân gian Thái Mai Châu chưa được thực hiện từ trước đến nay Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi sẽ cố gắng để đáp ứng điều đó

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Luận văn nhằm mục đích nghiên cứu, tìm hiểu giá trị cơ bản về nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm văn học dân gian dân tộc Thái huyện Mai Châu - tỉnh Hòa Bình

- Thông qua việc sưu tầm, tìm hiểu, nghiên cứu về văn học dân gian Thái, luận văn nêu ra một số định hướng, biện pháp nhằm bảo tồn, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa nói chung và văn học dân gian Thái nói riêng của cộng đồng dân tộc Thái

ở Mai Châu - Hòa Bình

- Một trong những mục tiêu quan trọng mà luận văn muốn hướng tới là dùng kết quả sưu tầm, nghiên cứu để ứng dụng vào việc giảng dạy nội dung Ngữ văn địa phương ở các đơn vị trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện

Mai Châu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích của đề tài, trước tiên cần tìm hiểu và nắm vững những vấn đề lý luận và thực tế có liên quan đến đề tài làm nền tảng khoa học cho việc nghiên cứu Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến các điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế

- xã hội và đời sống văn hóa của dân tộc Thái ở Mai Châu bởi đó là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển văn học dân gian của dân tộc Thái ở địa phương

Trên cơ sở hệ thống văn bản tác phẩm đã được sưu tầm, chúng tôi khảo sát, phân loại, tìm hiểu, phân tích để từ đó rút ra những giá trị cơ bản về nội dung và nghệ thuật của văn học dân gian dân tộc Thái huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các tác phẩm thuộc thể loại truyền thuyết, thần thoại, cổ tích, khắp (dân ca)

và tục ngữ của dân tộc Thái huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 7

- Một số tác phẩm có nét tương đồng của dân tộc Kinh (trường hợp có tác phẩm tương đồng)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

4.2.1 Phạm vi tư liệu nghiên cứu

Trong giới hạn của luận văn, tôi chỉ tìm hiểu về các thể loại có số lượng tương đối phong phú, bao gồm truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, tục ngữ và phần lời của khắp (dân ca) thuộc văn học dân gian dân tộc Thái huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình Những thể loại khác như thần thoại, sử thi do chưa được sưu tầm một cách thực sự đầy đủ nên xin được trình bày trong một dịp khác

4.2.2 Phạm vi vấn đề nghiên cứu

Luận văn giới hạn chủ yếu ở việc tìm hiểu những đặc điểm nội dung, nghệ thuật cơ bản của một số thể loại văn học dân gian tiêu biểu ở Mai Châu, Hòa Bình

Có thể so sánh với văn học dân gian các dân tộc khác trong trường hợp cần thiết

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Trên cơ sở tìm hiểu những văn bản văn học dân gian Thái ở Mai Châu, chúng tôi có phối hợp với một số phương pháp sử học, dân tộc học để nghiên cứu

- Phương pháp điền dã: Đây là phương pháp chúng tôi đã sử dụng để thu thập

tư liệu về văn học dân gian Thái ở Mai Châu Thường vào những ngày nghỉ cuối tuần, chúng tôi tìm đến các xóm bản để sưu tầm Các tác phẩm đều được sưu tầm trực tiếp từ các nghệ nhân dân gian, các già làng trưởng bản, những người am hiểu về văn hóa và văn học dân gian Thái trên địa bàn huyện Mai Châu - tỉnh Hòa Bình

- Phương pháp khảo sát, phân loại: Sau khi sưu tầm tác phẩm văn học dân gian, chúng tôi đã đọc kỹ nhằm sơ bộ tìm hiểu về các tác phẩm đó Sau đó đối chiếu với kiến thức văn học dân gian mà bản thân đã có để phân loại chúng vào những thể loại cụ thể nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích, tổng hợp

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Từ kết quả phân loại các tác phẩm văn học dân gian Thái theo thể loại, chúng tôi tiến hành phân tích và đưa ra những nhận xét, đánh giá đối với những giá trị cơ bản về nội dung, nghệ thuật của các thể loại đó

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trong quá trình phân tích, tổng hợp, chúng tôi cố gắng so sánh, đối chiếu các tác phẩm văn học dân gian của dân tộc Thái ở Mai

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 8

Châu với các tác phẩm văn học dân gian của các dân tộc anh em khác nhằm làm rõ những nét tương đồng và dị biệt trong những trường hợp cần thiết

6 Đóng góp của luận văn

Từ việc sưu tầm, phân loại, phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh các văn bản văn học dân gian dân tộc Thái Mai Châu - Hòa Bình, luận văn sẽ góp phần xây dựng diện mạo chung của nền văn học dân gian của dân tộc Thái Mai Châu

Luận văn cũng sẽ đề xuất một số biện pháp phát huy giá trị, góp phần bảo tồn nền văn học dân gian dân tộc Thái huyện Mai Châu

Các kết quả nghiên cứu sẽ được tham khảo và ứng dụng vào việc giảng dạy các tiết Ngữ văn địa phương trong các trường Trung học cơ sở thuộc huyện Mai Châu

- tỉnh Hòa Bình

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa dân tộc Thái ở

Mai Châu

Chương 2 Truyền thuyết, cổ tích và truyện cười dân tộc Thái ở Mai Châu Chương 3 Khắp và tục ngữ của dân tộc Thái ở Mai Châu

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 9

NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, LỊCH SỬ, VĂN HÓA

DÂN TỘC THÁI Ở MAI CHÂU

Mai Châu là một huyện vùng cao, nằm ở phía tây bắc tỉnh Hoà Bình, có tọa độ địa lý 20o24’ - 20o45’ vĩ bắc và 104o31’ - 105o16’ kinh đông; phía đông giáp huyện

Đà Bắc và huyện Tân Lạc (Hòa Bình), phía tây và phía nam giáp huyện Quan Hóa (Thanh Hóa), phía bắc giáp huyện Mộc Châu (Sơn La) Toàn huyện có 23 xã và thị trấn với diện tích là 564,54 km², dân số tính đến năm 2014 là 53.944 người; trong đó dân tộc Thái chiếm đa số với 60,2%; dân tộc Mường chiếm 15,1%; dân tộc Kinh chiếm 15,6%; dân tộc Mông chiếm 7,0%; dân tộc Dao chiếm 2,1%, còn lại là đồng bào các dân tộc khác chiếm tỷ lệ rất nhỏ

Mai Châu vốn là một trong năm châu của phủ Chợ Bờ khi thành lập tỉnh Mường, tiền thân của tỉnh Hòa Bình (năm 1886) Đến năm 1892, Mai Châu là một trong năm châu của Hòa Bình Trong kháng chiến chống Pháp, Mai Châu thuộc phần phía nam sông Đà của huyện Mai Đà, thuộc Liên khu Việt Bắc Ngày 21 tháng 9 năm

1956, huyện Mai Đà chia làm hai huyện Đà Bắc và Mai Châu

Mai Châu có địa hình khá phức tạp với hai vùng cơ bản, vùng cao giống như một vành đai bao quanh vùng thấp, có nhiều dãy núi cao và hiểm trở Hệ thống sông, suối khá dày đặc với hai con sông lớn chảy qua là sông Đà và sông Mã cùng nhiều suối lớn là nguồn cung cấp nước phong phú phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Được thiên nhiên ưu đãi, cảnh quan môi trường ở Mai Châu rất đẹp, với núi non hùng vĩ, thảm rừng được bảo vệ luôn giữ màu xanh tươi Mai Châu từ lâu đã nổi tiếng với những di tích, danh thắng là điểm thu hút đông đảo khách du lịch như hang Chiều, hang Khoài, bản Lác (xã Chiềng Châu), bản Bước (xã Xăm Khoè), xóm Hang Kia (xã Hang Kia)

1.1 Sơ lược về quá trình di cư và lập đất của dân tộc Thái ở Mai Châu

Người Thái Việt Nam nằm trong cộng đồng ngôn ngữ dòng Nam Á, bao gồm nhiều ngành, mỗi ngành lại chia thành nhiều nhóm, với những tên gọi khác nhau tuỳ theo từng địa phương Tuy vậy, rõ rệt và quen thuộc hơn cả là cách gọi

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 10

theo sự phân chia của chính người Thái, đó là hai ngành: Thái trắng và Thái đen (Tày Đón và Tày Đăm)

Những ngành Thái ở Việt Nam đều chung một gốc với các nhóm Thái ở nam Trung Hoa, Lào, Thái Lan và Miến Điện Có thể nói rằng tổ tiên người Thái xưa bắt nguồn từ nhóm Thái Bách Việt, trong khối ngôn ngữ tiền Thái, sinh tụ ở miền đông nam Trung Hoa và đông bắc Việt Nam Ở đây, họ đã tiếp thu được việc thuần dưỡng lúa từ tổ tiên người Tạng - Miến, đưa cây lúa thành cây lương thực chính và tạo nên một nền văn minh lúa nước độc đáo trong vùng

Đến thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên, do bị sức ép của các thế lực chính trị người Hán, một bộ phận tổ tiên người Thái cổ tách rời khỏi đồng tộc của mình phía đông, thiên di nhiều đợt theo hướng tây nam và nam, vào miền nam tỉnh Vân Nam và miền tây Đông Dương, dọc theo các con sông lớn và các chi nhánh của nó đổ xuống châu thổ miền Đông Nam Á

Đến những thế kỷ đầu của thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên, người Thái cũng đã lập được một loạt các tiểu quốc ở miền thượng Đông Dương, thượng Lào và Tây Bắc Việt Nam Nhiều nhà nghiên cứu sử, dân tộc học đã khẳng định, từ đời Đường, tổ tiên người Thái ngành phía tây, trong đó có Tây Bắc Việt Nam, đã đến cư trú ở vùng này Điều đó được chứng minh từ chính sử Trung Quốc, từ sự hỗ trợ của các nguồn tài liệu biên niên sử chép tay; các truyền thuyết lưu hành trong nhân dân ở Tây Bắc Việt Nam, Lào, Mianma, Thái Lan

Ở Việt Nam, sau đợt thiên di này, cư dân người Thái chưa nhiều Phải đến những thế kỷ của cuối thiên niên kỷ I hay đầu thiên niên kỷ II sau Công nguyên, các nhóm Thái ở Vân Nam mới lớn mạnh lên và bắt đầu những cuộc thiên di lớn xuống phía nam Chúa đất Thái đen là Lạng Chượng, từ mường Lò (nay thuộc Nghĩa Lộ - Yên Bái), tràn ra đánh chiếm toàn bộ miền Tây Bắc Việt Nam Khi Lạng Chượng đến các vùng đã gặp các tù trưởng Thái Trắng có mặt sớm hơn

Quá trình thiên di và định cư của người Thái ở Mai Châu - Hòa Bình được ghi chép lại trong một cuốn sử biên niên tìm thấy ở Chiềng Hạ (xã Mai Hạ - huyện Mai Châu - tỉnh Hòa Bình) Đây là một cuốn gia phả của dòng họ Hà Công được các thế

hệ ghi chép liên tục từ ngày đến mở đất sinh cư (khoảng cuối thế kỷ XIII, đầu thế kỷ XIV) và dừng lại năm 1945 khi xảy ra Cách mạng tháng tám năm 1945 Cuốn gia phả

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 11

này được giáo sư Đặng Nghiêm Vạn công bố trong cuốn "Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái" do Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm 1977

Kết hợp với những thông tin ít ỏi trong sử liệu Việt Nam, ta thấy được tổ tiên của người Thái ở Mai Châu từ miền đầu nguồn sông Hồng, vùng đất Mường Hước, Pước Khà (bây giờ thuộc huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai) thiên di dọc sông Hồng, đến

huyện Mộc Châu - tỉnh Sơn La), Mường Khoòng (bây giờ thuộc huyện Bá Thước - tỉnh Thanh Hoá) và Mường Mùn (bây giờ thuộc huyện Mai Châu - tỉnh Hoà Bình) từ cách ngày nay ngót 700 năm Cuộc thiên di của người Thái đến Mai Châu và quan hệ giữa ba nhóm Thái Mai Châu, Mộc Châu, Bá Thước còn được truyền thuyết hoá lưu truyền trong dân gian, không những ở vùng Hoà Bình, Thanh Hoá, Sơn La… mà còn phổ biến ở vùng Lào Cai

Theo biên niên sử của dòng họ Hà Công, người Thái đến Mường Mùn phải gian nan vất vả khai khẩn đất đai, một quá trình kéo dài hàng chục đời người mới xây đắp nên ruộng đồng, mường bản để lại cho con cháu cho đến ngày nay Cũng như các

bộ phận Thái khác, các chúa đất Thái ở Mai Châu đến lập nghiệp cho đến tận ngày nay đều thần phục triều đình và đã cùng các tộc người khác tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương Đến đầu thời Lê, mường Mai được triều đình đặt tên

là Châu Mai và là một trung tâm chính tri ̣ trong vùng, người đứng đầu mường được giao cai quản người Thái ở một vùng rộng lớn gồm Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa

Có thể nói rằng: dân tô ̣c Thái Mai Châu đã có những đóng góp quan tro ̣ng trong việc

1.2 Khái quát về văn hóa của người Thái ở Mai Châu

Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của mình, đồng bào Thái ở Mai Châu

- Hòa Bình nói riêng và ở Tây Bắc nói chung đã sáng tạo ra nền văn hoá văn nghệ dân gian đa dạng phong phú đậm đà bản sắc dân tộc, tiêu biểu là các giá trị văn hóa nghệ thuật Chúng ta không thể không nói đến “Xển mo”, “Khắp một lao”, “Khắp sư”, “Khắp báo sao” và các làn điệu múa dân gian “Khắp sư”, “Khắp báo sao” có nghĩa là đọc, là ngâm, là hát những bài hát dân gian của dân tộc Trong sản xuất, đời

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 12

sống sinh hoạt, hát (người Thái gọi là khắp) đối với họ không thể thiếu được Người

ta tự hát một mình hoặc hát cho mọi người nghe một cách say sưa Trước đây đã có những cuộc hát kéo dài hai, ba ngày đêm Qua hát người ta không những thưởng thức thi vị của ý thơ mà còn gửi gắm tâm tư, tình cảm vào những âm thanh trầm bổng của giọng hát Hễ có thơ là người ta có thể hát ngay theo một lối hát cho hợp với thể loại Đó chính là các làn điệu khắp biểu hiện bằng lối hát thơ thích hợp của từng vùng Cũng là truyện thơ, nhưng khi hát làn điệu khác nhau hoàn toàn Không bao giờ hát sử thi “Táy pú xắc” như hát anh hùng ca “Chương Han”; người ta cũng không hát “Phanh mương” (Kể chuyện dựng bản mường) như hát truyện thơ

“Chàng Lú, Nàng Ủa” Lại cũng có thể có hai lối hát cho cùng một tác phẩm thơ Truyện thơ “Sống chụ xon sao” khi nhàn rỗi ngâm nga thì phải theo làn điệu “Khắp sư”, khi hát ở các bữa tiệc cưới thì phải theo làn điệu “Khắp báo sao” Hát có kèm theo nhạc khí, chiêng trống tăng thêm không khí rạo rực, sôi nổi hoặc lâm ly thống thiết Có thể nói, những giá trị văn hoá tinh thần phong phú đa dạng của dân tộc Thái tràn đầy sức sống

Đã từ lâu, các lễ hội Xên Bản, Xên Mường trở thành một hình thức sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng rất quan trọng trong đời sống tinh thần của người Thái Mai Châu

- Hòa Bình

Theo sử sách của người Thái cổ và truyền thuyết còn lưu đến ngày nay, lễ hội Xên Mường là tổ chức cho cả huyện, Xên Bản tổ chức ở làng xã Lễ hội thể hiện tấm lòng tôn kính tri ân của nhân dân tưởng nhớ công lao to lớn của các vị nhân thần tiền bối và cầu cho quốc thái, dân an, bản mường no ấm, quanh năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, gia đình hạnh phúc, đất nước vinh hoa phồn thịnh… Cỗ cúng thường gồm ba mâm nhưng phải đảm bảo có thịt trâu chín, gạo và rượu Ông mo khấn bảy lần, mời các vị thần, tổ tiên về dự lễ và phù hộ cho dân bản được ấm no, sung túc, cuộc sống an vui Trong những ngày lễ hội đồng bào có phong tục kiêng không được giã gạo, làm nhà, xẻ gỗ, vào rừng lấy củi, săn bắt, hái lượm

Ở Mai Châu, lễ hội Xên Mường được tổ chức tại xã Chiềng Châu - nơi được coi là thủ phủ, điểm phát tích của người Thái di cư từ Bắc Hà về vào khoảng thế kỷ

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 13

thứ XIII Trải qua bao biến cố lịch sử, các thế hệ chúa đất người Thái đã có công lao

to lớn trong việc cùng với muôn dân khai khẩn đất đai lập nên bản, nên mường, trở thành mảnh đất trù phú như ngày nay…

Cùng với những tinh hoa văn hoá độc đáo thể hiện đời sống tình cảm đằm thắm thiết tha của cộng đồng dân tộc, đồng bào Thái còn có nhiều phong tục tập quán tốt đẹp như: lễ mừng thọ, lễ mừng cơm mới, mừng nhà mới, hội ném còn, hạn khuống Ngoài ra, đồng bào Thái còn có các tập tục truyền thống lâu đời như: ma chay, cưới xin, cúng bản Mỗi phong tục tập quán có một sắc thái riêng, nhưng tựu trung lại là thể hiện sự phong phú của đời sống tình cảm, nếp tư duy của cộng đồng dân tộc đã phát triển đạt đến trình độ cao

Về cưới xin, người Thái có xu hướng hiện đại hơn nhiều dân tộc khác trong cộng đồng người Việt Mọi người khuyến khích trai gái tự do tìm hiểu, yêu đương Khi tâm đầu ý hợp, họ hẹn hò nhau ở nương rẫy, ở chợ phiên, ở các lễ hội… Sau khi được gia đình nhà gái đồng ý, chàng trai đến ở rể và chung sống với gia đình cô gái Khi nào tình yêu thực sự chín muồi, họ mới làm lễ cưới

Về tang lễ, người Thái coi sự ra đi của mỗi cá nhân trong cộng đồng là một sự kiện lớn Việc tổ chức tang lễ được tiến hành một cách cẩn trọng Mọi người thân trong dòng tộc và cộng đồng trong làng xóm đều tham gia Mỗi người đến viếng đều mang theo gạo, rượu, thịt… tùy theo quan hệ với người đã mất Họ ở lại cùng tổ chức đám ma với rất nhiều nghi lễ cúng bái như lễ tắm xác, lễ nhập quan, lễ dẫn hồn, lễ đưa tang, lễ chôn cất, lễ gọi hồn… Một đám ma thường kéo dài trung bình khoảng ba, bốn ngày và luôn thể hiện tính nhân văn sâu sắc trong đời sống cộng đồng của người Thái

Về lễ tết, trước đây, người Thái không tổ chức Tết nguyên đán Tết lớn nhất trong năm là tết cơm mới được tổ chức hai lần trong năm Sau khi gặt hái xong vụ chiêm hoặc vụ mùa, mỗi gia đình thường làm mâm cơm nấu gạo mới cúng tổ tiên nhằm báo cáo và tỏ lòng biết ơn tổ tiên đã phù hộ trong cả một mùa trồng cấy Trong tết cơm mới nhất thiết phải có cá và người Thái kiêng ăn thịt gà trong ngày này

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 14

Song song với viê ̣c giữ được những nét văn hóa đă ̣c trưng của người Thái cổ, trong quá trình sinh tồn của mình, người Thái Mai Châu đã có sự tiếp xúc liên tu ̣c về văn hóa với các dân tô ̣c phổ biến trong vùng, nhất là văn hóa dân tô ̣c Mường Vì vâ ̣y, văn hóa Thái Mai Châu chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa Mường Điều này thể hiện rõ ở cách thiết kế nhà, trang phu ̣c… có nhiều nét gần với người Mường

Bi (huyện Tân Lạc - tỉnh Hòa Bình)

1.3 Vài nét về văn học dân gian dân tộc Thái ở Mai Châu

Là một huyện nhỏ nằm ở cửa ngõ lên vùng Tây Bắc, dù chỉ có khoảng 54 nghìn dân nhưng huyện Mai Châu lại có tới 7 dân tộc anh em cùng chung sống gồm Thái, Mường, Dao, H’Mông, Tày, Hoa và Kinh; trong đó dân tộc Thái chiếm đa số (trên 60%) Các dân tộc đều có nền văn hóa riêng phong phú, đa sắc màu Thêm nữa,

do đã chung sống từ lâu đời nên còn có hiện tượng giao thoa văn hóa, khiến cho các sinh hoạt văn hóa của mỗi dân tộc càng trở nên đa dạng

Người Thái có lợi thế là đã có chữ viết từ lâu đời, chữ Thái có nguồn gốc từ chữ Phạn Từ nhiều thế kỷ trước, chữ Thái cổ đã được dùng để sáng tác văn học, ghi chép văn học dân gian Chính vì vậy, kho tàng văn học dân gian của dân tộc Thái huyện Mai Châu - tỉnh Hòa Bình khá phong phú, đa dạng và độc đáo với đủ các thể loại: Thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, truyện thơ, sử thi, khắp, tục ngữ, thành ngữ… Tuy nhiên, do chưa có điều kiện để tìm hiểu hết các thể loại nên ở đề tài này chỉ xin đề cập đến một số thể loại có số lượng lớn hơn Đó là truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, khắp và tục ngữ

Trong kho tàng văn học dân gian dân tộc Thái huyện Mai Châu, rất nhiều truyền thuyết có giá trị nội dung khá sâu sắc, đó là những truyền thuyết thể hiện mối quan hệ khăng khít giữa người Kinh và người Thái, truyền thống hiếu học và lòng biết ơn những người đã xây dựng bản mường giàu mạnh của người Thái… Trong khi

đó, truyện cổ tích và truyện cười thể hiện các vấn đề đấu tranh giữa thiện - ác, giàu - nghèo, mạnh - yếu, thông minh - ngu dốt… Đặc biệt, thể loại khắp Thái rất phong phú, được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống lao động và trong các phong tục, tập quán của người Thái

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 15

cả một thời thời kì thăng trầm đầy bi tráng của dân tộc Thái ở Mai Châu Suốt gần bảy trăm năm lịch sử, văn học dân gian Thái là một tư liệu quý báu, giúp chúng ta dựng lại một cách khái quát từng chặng đường lịch sử dân tộc Thái trên đất Mai Châu Vì vậy, vấn đề sưu tầm, nghiên cứu và lưu giữ văn học dân gian Thái Mai Châu là hết sức cần thiết trong thời điểm hiện nay

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 16

Chương 2 TRUYỀN THUYẾT, TRUYỆN CỔ TÍCH VÀ TRUYỆN CƯỜI DÂN TỘC THÁI Ở MAI CHÂU 2.1 Truyền thuyết

Truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian kế tiếp thần thoại, được nhân dân sáng tạo ra từ khi con người có ý thức về lịch sử Bắt nguồn từ cảm hứng tự hào

và ngợi ca những anh hùng kiệt xuất có nhiều công trạng với nhân dân, với đất nước Truyền thuyết là một cách nhận thức và lý giải những sự kiện lịch sử trọng đại của quốc gia, dân tộc theo quan điểm của nhân dân thuộc về hệ tâm lý xã hội trong ý thức dân gian

Không có lịch sử thì không có truyền thuyết, và trên thực tế đã có nhiều truyền thuyết phản ánh lịch sử một cách độc đáo, chẳng những thỏa mãn nhu cầu kể sử truyền đời của quần chúng nhân dân lao động mà trong nhiều trường hợp còn có tác dụng bổ sung vào chính sử Nhưng truyền thuyết không phải là lịch sử, con đường hình thành và phát triển của nó là sự chuyển hóa từ ý tưởng lịch sử hóa huyền thoại

hư cấu đến lịch sử đích thực được hư cấu có tính quy luật theo quan điểm thẩm mỹ dân gian

Theo giáo sư Lê Chí Quế trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam do nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội ấn hành năm 1999 thì “Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử hay di tích cảnh vật địa phương thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kỳ” [30,tr.49]

Sinh thời, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng có ý kiến rất có giá trị về truyền thuyết “Những truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thật lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lý tưởng hóa, gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân

gian làm nên những tác phẩm văn hóa mà đời đời con người ưa thích” (Trích “Nhân

ngày giỗ tổ Hùng Vương” của Phạm Văn Đồng – Báo Nhân dân ngày 24/9/1969)

Về truyền thuyết dân gian của dân tộc Thái ở Mai Châu, do quá trình thiên di đến sinh sống trên địa bàn Mai Châu khá muộn (từ khoảng thế kỳ XIV) nên trong văn học dân gian Thái ở đây không có các truyền thuyết thời sơ khai, thời chuyển từ thần

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 17

thoại sang truyền thuyết; không có các tác phẩm đánh dấu thời kỳ con người chuyển

từ thời kỳ hoang sơ sang thời kỳ văn minh đồ đồng, đồ sắt Truyền thuyết của dân tộc Thái ở Mai Châu chủ yếu có nội dung kể về các nhân vật anh hùng lịch sử - những người đã có công khai phá, giữ gìn và mở mang đất đai - và giải thích cách đặt tên, sự tồn tại của những địa danh trên địa bàn huyện Mai Châu, nơi dân tộc Thái sinh sống

2.1.1 Phân loại truyền thuyết của dân tộc Thái ở Mai Châu

2.1.1.1 Truyền thuyết về nhân vật anh hùng lịch sử

Người Thái thường kể cho nhau nghe truyện về những người anh hùng và những cuộc chiến tranh tìm đất, giữ đất của các tộc trưởng… Họ là những nhân vật anh hùng lịch sử của dân tộc Thái ở Mai Châu, những người đã có công lớn trong việc khai phá, giữ gìn và mở mang đất đai; những người đã có công dẹp yên các mâu thuẫn nội bộ, giúp mang lại sự yên bình cho bản mường hoặc là những người có công giúp vua dẹp loạn, đánh giặc bảo vệ đất nước

Tiêu biểu cho nhóm các truyền thuyết này có các tác phẩm “Truyền thuyết ông

Bá Hộ”, “Truyền thuyết Vua Quán - Hoàng Ngoài”…

2.1.1.2 Truyền thuyết về các địa danh, các miền đất

Đây là nhóm các truyền thuyết kể về các sự kiện liên quan làm nảy sinh các tên gọi của các vùng đất, các miền đất, các thôn xóm… trên địa bàn huyện Mai Châu Có những tên gọi đến nay đã thay đổi, nhưng còn nhiều địa phương đến nay vẫn dùng những tên gọi ban đầu, hoặc chỉ lái đi đôi chút do đặc điểm phiên âm sang tiếng Việt

Tiêu biểu cho nhóm các truyền thuyết này có “Truyền thuyết về thuyền đồng, thuyền da”, “Đền ông Chín Mường”…

2.1.2 Nội dung truyền thuyết của dân tộc Thái ở Mai Châu

2.1.2.1 Ca ngợi công lao của những người anh hùng có công khai phá, giữ gìn và mở mang địa bàn sinh sống

Trước hết, cần phải khẳng định lại một vài đặc điểm rất cơ bản của truyền thuyết, giáo sư Lê Chí Quế trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam có viết

“Truyền thuyết dân gian được xây dựng trên cơ sở một cốt lõi lịch sử và được chắp thêm đôi cánh “thơ và mộng”, nghĩa là sự hư cấu hoang đường” [30,tr.62] Truyền

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 18

thuyết là một thể tài văn học dân gian chứ không phải là một thể tài sử học Trong truyền thuyết có những sự kiện lịch sử nhưng chúng không phải những sự kiện lịch sử đích thực mà chỉ là “những ánh hào quang, những tia khúc xạ” của lịch sử Truyền thuyết không chú ý đến việc đảm bảo tính đầy đủ và tuần tự theo thời gian của các sự kiện lịch sử Không phải bất cứ nhân vật và sự kiện lịch sử nào cũng trở thành trung tâm phản ánh của truyền thuyết Truyền thuyết có thể ghi lại những sự kiện lịch sử của thời khuyết sử hoặc chọn lọc những sự kiện theo quan niệm của nhân dân

Từ đó, chúng ta thấy rằng: Các truyền thuyết của dân tộc Thái ở Mai Châu không phải là lịch sử nhưng trong nó có chứa một phần lõi lịch sử, nó phản ánh quá trình phát triển đẫm máu của những người dân lao động Điều này được thể hiê ̣n rõ qua cuốn “Lai lịch dòng họ Hà Công” mà giáo sư Đă ̣ng Nghiêm Va ̣n đã sưu tầm được: không kể hàng chục lần ta ̣o Ha ̣ và ta ̣o Thượng đem quân đánh nhau, có lần chết đến 63 người, thì còn nhiều lần giă ̣c từ các vùng khác xông vào cướp bóc, giết chóc kinh hoàng Vì thế, người nông dân Thái hiểu rõ cái giá mà ho ̣ phải trả cho na ̣n cát

cứ , tranh chấp, giă ̣c giã… Ho ̣ mong muốn mô ̣t cuô ̣c sống yên lành, yêu thương, đùm

bọc lẫn nhau để cùng chung sống trong hòa bình

Là một trong ít các dân tộc ở Việt Nam có kinh nghiệm làm lúa nước từ lâu đời, dân tộc Thái rất hiểu giá trị của các nguồn nước và những vùng đất đai màu mỡ Chính vì vậy, khi một miền quê vì một lý do nào đó bị trở nên quá khô cằn, không thể trồng lúa được nữa thì đó là lúc người Thái phải ra đi, tìm và khai phá những miền đất mới Truyền thuyết “Thuyền đồng, thuyền da” nói về quá trình thiên di của người Thái từ Mường Hước - Pước Khà (Bắc Hà - Lào Cai) đến Mai Châu Đó là một chuyến đi đầy vất vả, nhọc nhằn nhằm mục đích tìm ra một nơi định cư mới cho dòng

họ Thái Hà Công Người dân Thái nhớ ơn những người đã dũng cảm từ bỏ miền đất toàn cỏ gianh để đến với đất Mai Châu màu mỡ nên đã kể khá chi tiết về hành trình này: từ Mường Hước - Pước Khà họ đã đi thuyền đến ngã ba sông - điểm sông Đà gặp sông Hồng - đoàn người đã đi ngược lên đầu nguồn sông Đà rồi rẽ vào đất Mai Châu Trên đường đi đã có những người phải nằm xuống vì ốm đau, vì đói rét; nhưng

đó mới chỉ là khởi đầu của quá trình mở đất Vì khi đến Mai Châu thì ở đó đã có tộc người Xá ở từ trước, do đó những người dân Thái sau rất nhiều tranh chấp, đổ máu đã

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 19

dùng mẹo bắn tên cắm dính vào vách đá để đẩy người Xá đi khỏi vùng đất Từ đó, họ toàn quyền khai khẩn và canh tác trên đất Mai Châu

Truyền thuyết “Thuyền đồng, thuyền da” đã ca ngợi những thủ lĩnh dũng cảm, thông minh của dân tộc Thái đã có công khai phá vùng đất Mai Châu, những người đã đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người dân Thái Đối với dòng họ

Hà Công nói riêng và các dòng họ Thái ở Mai Châu nói chung, những người như Lăng Bôn, Lăng Bắp… thực sự là những người anh hùng, đáng được lưu danh trong truyền thuyết

Thông qua việc kể lại những câu chuyện gắn liền với các miền đất và con người Mai Châu, các truyền thuyết ca ngợi ý chí, nghị lực và trí tuê ̣; đồng thời thể hiện lòng biết ơn của dân tộc Thái đối với những người đi lập đất, khai khẩn, phát triển địa bàn để xây dựng mô ̣t vùng quê hương rộng lớn, trù phú và thi ̣nh vượng

2.1.2.2 Ca ngợi công lao các anh hùng có công thống nhất các bộ tộc, dẹp giặc ngoại xâm

Dân tộc ta đã trải qua nhiều nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, làm ăn

và đánh giặc, sản xuất và chiến đấu Nhìn vào chính sử sẽ thấy các truyền thuyết dân gian Thái có đề cập đến các thời kỳ, các giai đoạn, các thời điểm cụ thể của lịch sử Tuy nhiên, như chúng ta biết, truyền thuyết không phải là lịch sử Do đó, truyền thuyết về các nhân vật lịch sử của dân tộc Thái ở Mai Châu có nói về thời nhà Mạc (Vua Quán Hoàng Ngoài) hoặc quân Cờ Vàng (Truyền thuyết ông Bá Hộ) nhưng các chi tiết về các nhân vật cụ thể không phải là những ghi chép trong chính sử mà chỉ là những hành động, suy nghĩ… của nhân vật truyền thuyết Hoặc nói một cách khác, đó

là những hình tượng được xây đắp từ haỉ phía: trước hết đó là những nhân vật có nguyên mẫu từ những con người có thật, đã từng lãnh đạo nhân dân chiến đấu và đã lập nên những chiến công hiển hách, góp phần bảo vệ quê hương, đất nước; mặt khác

đó là anh hùng do cộng đồng sáng tạo ra để khắc họa một biểu tượng cao cả, đại diện cho ý chí chiến đấu và chiến thắng các lực lượng thù địch của quân và dân dân tộc Thái ở Mai Châu

Truyền thuyết “Vua Quán Hoàng Ngoài” có những chi tiết dường như rất thật,

đó là mâu thuẫn giữa hai anh em tạo mường Hạ và tạo mường Thượng Mưu kế của

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 20

tạo mường Thượng đã khiến người em là tạo mường Hạ cùng quẫn tự vẫn, dân phải giấu bà vợ đang có mang của tạo vào hang để trốn… Bên cạnh đó cũng có những chi tiết ly kỳ đặc trưng của truyện cổ dân gian như việc Xà Chúm, Xà Chướng mổ bụng người vợ đã chết của tạo mường Hạ để cứu sống đứa trẻ, nuôi nấng nó rồi cho về ăn học ở triều đình… Sau đó đứa trẻ trở về đóng góp nhiều công lao trong việc thống nhất các bộ tộc, các mường Thái, để mọi người cùng chung sức xây dựng vùng đất Mai Châu yên vui, no ấm, hạnh phúc

“Truyền thuyết ông Bá Hộ” kể về một anh hùng trong lĩnh vực chống giặc ngoại xâm Chiến công nổi bật của ông tập trung ở hai trận đánh Có trận đánh các tác giả dân gian Thái kể rằng đó là trận ông Bá Hộ chống giặc Cờ Vàng, nhưng cũng có trận đánh chỉ kể chung chung là ông đánh giặc ở phía tây bắc kéo xuống chứ không nói rõ là giặc gì Tuy nhiên chúng ta cũng khẳng định đây khó có thể là một nhân vật của chính sử Có thể trong hoàn cảnh bị ngoại bang xâm lấn, đáp ứng nguyện vọng của cộng đồng, thực tế đã có một con người bằng xương, bằng thịt, có đức, có tài đã lãnh đạo tập thể đứng lên đánh giặc, mở ra một trang sử với những chiến công oanh liệt của con em nhân dân lao động Và từ đó, người dân Thái đã hoà nhập chân dung người anh hùng văn hóa với chân dung người anh hùng lịch sử

để hoàn thiện một biểu tượng đủ sức đáp ứng nguyện vọng sinh tồn của cộng đồng trước những thử thách thường xuyên do ngoại cảnh đem lại Hoặc cũng có thể nghĩ rằng, ông Bá Hộ là hiện thân cho những con người thật, có nhiều công lao trong việc bảo vệ những quyền lợi của cộng đồng nên đã được các tác giả dân gian truyền thuyết hoá thành người anh hùng, trở thành thiên tráng ca về trí tuệ, sức mạnh và tính cách của người dân Thái

2.1.2.3 Giải thích lịch sử tên gọi của những vùng đất, miền đất trên địa bàn

Truyền thuyết dân gian Thái thể hiện dấu ấn về thời kỳ khai phá và hình ảnh những con người tiên phong trong công cuộc chinh phục, cải tạo những miền đất mới Với mọi dân tộc nói chung và với dân tộc Thái nói riêng thì đất đai có giá trị lớn cả

về mặt vật chất lẫn tinh thần Đối với các di dân thì đất đai càng bội phần quý báu, thiêng liêng Những đoàn người ly hương đi lên vùng cửa ngõ Tây Bắc với một hành trình đầy gian nan, gian khổ nhằm mục đích đi tìm đất mới Với những con người

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 21

cùng khổ, không thể mưu sinh ở mảnh đất quê nhà thì một miền đất mới màu mỡ trở thành một lý tưởng và khát vọng lớn lao, khẩn thiết và cháy bỏng Vì vậy, quá trình

mở đất của họ đã được các truyền thuyết trân trọng kể lại khá chi tiết, nhiều trường

đoạn giống như dã sử, huyền sử hoặc mang dáng dấp của lịch sử: …“Đuổi được

người Xá, Tạo Lang Bôn cùng dân khai phá xuống đến bản Củm, bản Bước, bản Ngõa… Tạo lấy con gái trong Mường sinh được con trai là Lạng Thượng Lạng Thượng lập chiềng ở bản Uống và lấy con gái quan Pưng Mường sinh ra tạo Lang Uôn Tạo Lang Bôn cũng lấy con gái con quan Cuông sinh ra tạo Lang Thanh Lang Thanh lấy nàng Mường Dón Pi sinh ra tạo Lang Tông Lang Tông lấy nàng Mường Khời, sinh ra tạo Khà Bằng Tạo cùng dân khai phá những đất đai bỏ hoang, mở mang đến bản Pùng, bản Pheo, Nà Nóc… Tạo lấy nàng Ngăm sinh ra tạo Lang Sôm Lang Sôm lấy nàng Mường Khến sinh được ba con trai, con cả là Khằm Pông, con thứ là Khằm Piềng, con út là Khằm Pành Ba anh em cùng với dân khai phá đất đai

và chia nhau các vùng đất Ông Khằm Pông ăn đất Mường Hạ, được coi giữ gốc Mường Ông lấy bản Uống, bản Lầu, bản Lốm, bản Nghẹ làm đất Mường Ông Khằm Piềng ăn đất Mường Thượng Còn ông Khằm Pành không có đất nên ba anh em mới sai dân xuống xem xét đất đai ở Mường Khoòng, thấy đất tốt, bằng phẳng, người ta bảo “khừ lâu co” nên mới có tên là bản Lầu Khằm Pành và một số dân được chia xuống bản này Ba anh em mổ một con bò sừng bọc đồng chạm trổ để làm tiệc chia tay Về sau thỉnh thoảng người ta lại lấy chiếc sừng bọc đồng ấy ở bản Nghẹ, nó được làm thành chiếc tù và, người ta gọi đó là “khau ngùa tòng” Sau khi chia đất cho ba con, tạo lang Sôm không ở với người con cả ở Chiềng Uống mà lên ở với người con thứ hai ở Nà Pướt và lập nên Chu Mùn Trước khi chết, ông giao quyền Tạo Chu cho Khằm Piềng ở Nà Pướt”… (Truyền thuyết “Thuyền đồng, thuyền da”)

Trong nhóm truyền thuyết địa danh của dân tộc Thái, những tên gọi địa danh thường gắn với dấu tích về người đầu tiên đặt chân lên vùng đất với ý nghĩa ngợi ca, tôn vinh nhằm nhắc nhở những thế hệ sau nhớ đến công lao của những người có công đầu trong quá trình mở đất Trong truyền thuyết “Thuyền đồng, thuyền da” thì con

suối mà đoàn người đi khai khẩn ngồi nghỉ ăn sáng gọi là suối “Kin Lành” (ăn sáng);

mỏ nước mà người thủ lĩnh đánh rơi mất mũi giáo đồng là “bó cháo tòng” (mỏ “Giáo

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 22

đồng”), sau này khi làng bản phát triển lên ở đây cũng gọi là bản Tòng; vách núi nơi người Thái đã chiến thắng người Xá trong việc giành đất bằng lời thách đấu bắn tên cắm vào vách đá thông qua bí quyết phết sáp ong vào đầu mũi tên được đặt tên là

“Pha khí sút” (vách đá sáp ong)… Tương tự, trong truyện “Vua Quán - Hoàng

Ngoài” có hang Giấu, “pom tền pua” (núi tên vua), mái Đá Bừa… đều là những tên

địa danh liên quan đến các sự kiện, các hành động… của các tiền nhân thời mở đất

Như vậy, chúng ta thấy rằng trong truyền thuyết dân gian Thái hầu như không

có truyện gắn trực tiếp tên nhân vật với tên gọi địa điểm mà chỉ có hình thức giải thích địa danh do liên quan đến hành động, tình tiết, sự kiện mà các nhân vật trong truyện tạo ra Truyện mang đậm yếu tố hiện thực, các yếu tố thần kỳ, hoang đường,

kỳ diệu, huyền ảo nhìn chung không có hoặc khá mờ nhạt Trong các truyện kể, quan

hệ và xung đột được thể hiện chủ yếu là giữa con người với con người, hầu như không có các tình tiết đấu tranh giữa con người với thiên nhiên như đánh đuổi thú dữ, ngăn sông, đắp núi…

Cũng như truyền thuyết dân gian của nhiều dân tộc khác, truyền thuyết Thái có

đề cập đến việc đặt tên địa danh gắn liền với chuỗi sự kiện tiếp theo như lập mộ bia, xây dựng đền miếu Việc này có ý nghĩa ghi ơn, tôn vinh, bất tử hóa công tích của những bậc tiền bối trong công cuộc khai khẩn và đem lại ấm no, hạnh phúc cho cộng đồng Truyện “Đền ông Chín Mường” có kể về việc dân đã lập đền thờ ông Chín Mường ở Sộp Páo để hằng năm cúng lễ tưởng nhớ đến công đức của ông Tương tự, trong “Truyền thuyết ông Bá Hộ”, vì những công lao đánh đuổi giặc giã, đem lại sự yên bình cho nhân dân nên sau khi qua đời, ông Bá Hộ được dân bản lập miếu ở bản Củm quê nhà để thờ cúng, tri ân hàng năm

Về tổng thể, nhóm truyền thuyết địa danh của dân tộc Thái ở Mai Châu đã phản ánh quá trình khai khẩn, thích nghi, hòa hợp, cải tạo thiên nhiên và đấu tranh xã hội của cư dân Thái ở địa phương Đây là sản phẩm tinh thần của nhân dân lao động Thái được kết tinh, chắt lọc từ thực tại trong hành trình mở đất, thực hiện khát vọng của người dân Thái về một miền đất trù phú để có thể sinh tồn lâu dài

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 23

2.1.3 Nghệ thuật của truyền thuyết dân tộc Thái ở Mai Châu

2.1.3.1 Nghệ thuật tạo dựng cốt truyện

Truyền thuyết của dân tộc Thái ở Mai Châu vừa hướng người nghe về cõi thiêng bằng cách tạo ra được niềm tin trong đời sống tâm linh, vừa tỉnh táo đặt ra và

lý giải những vấn đề trọng đại đối với lịch sử phát triển của miền đất, của tộc người

Vì vậy, truyền thuyết của dân tộc Thái ở Mai Châu thường gắn bó rất chặt chẽ với những lễ hội dân gian được tổ chức thường xuyên trên địa bàn huyện, đồng thời có mối liên hệ đặc biệt tự nhiên với tín ngưỡng trong dân gian Dù có thể chỉ là huyền sử nhưng những chi tiết trong truyền thuyết thường được coi là có thật, được sắp xếp trong một thời gian cụ thể và trong một không gian xác định: từ hoàn cảnh ra đời, các đặc điểm khác thường đến những chiến công phi thường của nhân vật, và cuối cùng

là việc nhân vật được tôn xưng thế nào, được thờ tự ra sao

2.1.3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật

Nhân vật trong truyền thuyết của dân tộc Thái ở huyện Mai Châu thường được xây dựng với những nét đời thường bình dị, thế tục; ít yếu tố kỳ ảo, phi thường Các hành động của nhân vật và công trạng của họ trong truyền thuyết có thể có thật, cũng

có thể là do người dân quá yêu mến những nhân vật đó nên kể về họ với những hư cấu lịch sử Trong truyền thuyết dân gian dân tộc Thái, các vị ấy hiện ra với tư cách

là một hình tượng nghệ thuật Do đó, việc phản ánh những vấn đề lịch sử hay sử dụng những chi tiết, sự kiện lịch sử trong truyền thuyết dân gian dân tộc Thái cần được xem là một biện pháp nghệ thuật, được chi phối bởi các quy luật sáng tạo nghệ thuật

Đó là quan niệm nghệ thuật về con người, và mọi cách thức chọn lựa các phương tiện chất liệu để xây dựng hình tượng đều thuộc về quan điểm lịch sử - thẩm mỹ của nhân dân Khác với chính sử, nhân vật lịch sử trong truyền thuyết dân gian dân tộc Thái rất gần gũi với quần chúng nhân dân lao động Vì vậy mà hành động, tính cách của họ giàu tính hiện thực đời thường Các yếu tố kỳ diệu chỉ là kết quả của sự hư cấu kỳ ảo

có chủ tâm được vay mượn trong thế giới của truyện cổ dân gian

Sự lý giải của dân tộc Thái về sức mạnh thể chất, ý chí, trí tuệ… của nhân vật thường là do sức mạnh tự thân mang tính thế tục nhờ nghị lực phi thường của nhân vật Điều này cũng khác so với truyền thuyết của nhiều dân tộc khác là sức mạnh của nhân vật thường do tự thân nhân vật kết hợp với sự góp sức của các yếu tố thần linh

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 24

kỳ ảo Mặc dù là do tự thân nhưng sức mạnh của nhân vật trong truyền thuyết của dân tộc Thái xét cho cùng vẫn có ý nghĩa biểu tượng thấm nhuần tinh thần và bản sắc dân tộc: sức mạnh đó chính là sức mạnh được hun đúc, được tổng hợp từ linh khí của dân tộc, từ sức mạnh đoàn kết của người dân trên địa bàn

Cũng khác với nhiều truyền thuyết của các dân tộc khác là truyền thuyết của dân tộc Thái hầu như không có chi tiết hóa thân, hiển linh… Các nhân vật khi chết đi không bay về trời, không hóa thành thánh thần… nhưng luôn được nhân dân kính trọng, ghi ơn và lập nơi thờ cúng

2.2 Truyện cổ tích

Trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam do giáo sư Đinh Gia Khánh

chủ biên thì “… truyện cổ tích là bộ phận quan trọng nhất trong các thể loại tự sự

dân gian” [12,tr.294], “truyện cổ tích xuất hiện phần lớn khi công xã thị tộc tan rã” [12,tr.296], “truyện cổ tích một mặt phản ánh sự đấu tranh của nhân dân chống giai cấp thống trị nhưng một mặt vẫn chịu ảnh hưởng ý thức hệ chính trị của thời đại” [12,tr.296]

Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả ít khi đưa ra định nghĩa về thể loại cổ tích Ngay cả các giáo sư Đinh Gia Khánh, Lê Chí Quế cũng không đưa ra khái niệm về về thể loại này trong các giáo trình của mình mà chỉ nêu lên những đặc trưng chung để xác định thể loại Có thể tựu trung lại một cách khái quát thì truyện cổ tích là sáng tác dân gian thuộc loại hình tự sự, chủ yếu sử dụng yếu tố nghệ thuật kỳ

ảo để thể hiện cái nhìn hiện thực của nhân dân với đời sống, bộc lộ quan niệm về đạo đức cũng như về công lý xã hội và ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp hơn của nhân dân lao động

Trong khi thần thoại của người Thái ra đời từ thời xa xưa và thường gắn liền với các nghi lễ thì cổ tích ra đời khi xã hội đã phát triển, đã hình thành quan hệ giai cấp Khi đó dân tộc Thái Mai Châu phải đối mặt với chính mình, nhất là đối với những thói hư tật xấu của con người đã mang tính giai cấp Cuộc đấu tranh chống lại cái xấu ngày càng trở nên gay gắt hơn và trực tiếp được phản ánh trong cổ tích của dân tộc Thái Mai Châu Thể loại này ra đời với chức năng chống lại cái xấu, bênh vực cái tốt, giáo dục con người hướng thiện Người Thái Mai Châu xưa đã sử dụng cổ

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 25

tích như một công cụ đấu tranh Trong sáng tác của mình, họ đã sử dụng hư cấu, nhất

là yếu tố kỳ diệu để tạo ra một thế giới cổ tích, khiến cho cổ tích trở thành những sản phẩm nghệ thuật hấp dẫn Các tác giả dân gian Thái Mai Châu đã khéo léo tạo ra một thế giới không có trong thực tại nhưng lại tương đồng với thế giới thực tại, nhằm tạo ra một trục liên tưởng cho người nghe để họ cảm xúc trước những điều xảy ra trong cổ tích; làm cho họ yêu cái tốt, ghét cái xấu và ra sức đấu tranh chống lại cái xấu Cổ tích Thái Mai Châu thật sự là những sáng tạo nghệ thuật và đó là nghệ thuật có chủ tâm

2.2.1 Phân loại truyện cổ tích của dân tộc Thái ở Mai Châu

Về cơ bản thì truyện cổ tích dân tộc Thái ở Mai Châu có hai dòng phát triển song song: truyện kể về loài vật và truyện kể về loài người Càng về sau dòng truyện

kể về vật càng hẹp lại, truyện kể về người càng ngày càng phong phú, song song với

sự phát triển mọi mặt của xã hội con người Truyện cổ tích thần kỳ hình thành và phát triển trong thời kỳ đầu của truyện cổ tích, còn truyện cổ tích sinh hoạt chủ yếu phát triển ở thời kỳ sau

Chúng ta có thể phân loại truyện cổ tích của dân tộc Thái ở Mai Châu thành truyện cổ tích về loài vật, truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích sinh hoạt

2.2.1.1 Truyện cổ tích loài vật

Truyện cổ tích về loài vật là một bộ phận quan trọng của truyện cổ tích dân tộc Thái Mai Châu Chúng có những giao thoa nhất định với truyện ngụ ngôn dựa trên những yếu tố nghệ thuật và nội dung Tuy nhiên những con vật ở truyện cổ tích loài vật là những loài vật của thế giới tự nhiên, truyện có thể có nội dung giáo huấn song

đó không phải là mục đích chủ yếu của tiểu loại này mà điều cốt lõi là mỗi câu chuyện là một sự nhận thức và lý giải đặc điểm của loài vật

Nhân vật chính của truyện cổ tích về loài vật của người Thái ở Mai Châu là thế giới loài vật phong phú và đa dạng, đó là những con khỉ ranh mãnh, con hổ hung bạo nhưng dốt nát, con rùa thông thái, con cóc gan dạ… Các nhân vật chính là thế giới sinh động, ngộ nghĩnh của loài vật trong tự nhiên, nhiều chuyện lý giải những đặc điểm nổi bật của sinh vật trong tự nhiên: tại sao ve sầu không có ruột, tại sao lông hổ lại vằn vện, tại sao có loại ốc suối đít bằng…

Khác với truyện cổ tích về loài vật của dân tộc Kinh, truyện cổ tích về loài vật của người Thái Mai Châu có nhiều nhân vật là các loài thú sống ở trên rừng, điều này cho thấy đặc điểm sinh sống của dân tộc Thái là luôn sống gần gũi, gắn bó với rừng núi

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 26

Tiêu biểu cho các truyện cổ tích về loài vật của dân tộc Thái Mai Châu có

“Khỉ và Cào Cào”, “Án Nhà Khàm Khạc”, “Rùa khóc Then”, “Khỉ và Hổ”, “Mành Khẳm không có ruột”

2.2.1.2.Truyện cổ tích thần kỳ

Truyện cổ tích thần kỳ là một tiểu loại của truyện cổ tích, nó có những đặc điểm riêng về nhiều mặt, phân biệt nó với những tiểu loại truyện cổ tích khác như truyện cổ tích loài vật hay truyện cổ tích sinh hoạt; thể hiện ở cách xây dựng nhân vật, xây dựng cốt truyện, phương pháp phản ánh thực tại… Trong đó tiêu chí cơ bản phân biệt các tiểu loại với nhau là vai trò quan trọng của yếu tố thần kỳ trong việc chi phối quá trình phát triển hệ thống tình tiết của cốt truyện Ở truyện cổ tích thần kỳ, yếu tố thần kỳ ngoài việc đóng vai trò quan trọng trong kết cấu của quá trình dẫn dắt câu chuyện, nó còn là phương tiện hỗ trợ cho hoạt động của con người Đối tượng miêu tả của truyện cổ tích thần kỳ là con người Nhưng con người đôi khi bất lực trước những khó khăn và khi đó lực lượng thần kỳ xuất hiện giúp cho nhân vật vượt qua những khó khăn và xung đột của truyện sẽ được giải quyết, câu chuyện sẽ được phát triển tiếp tục Hầu hết các vấn đề nêu lên trong truyện cổ tích thần kỳ đều được giải quyết trực tiếp hay gián tiếp bằng lực lượng thần kỳ Đó là những truyện cổ tích phản ánh bi kịch gia đình đi từ quần hôn đến hôn nhân một vợ một chồng, từ chế độ mẫu hệ sang phụ quyền, từ chế độ chưa có giai cấp sang chế độ phân chia giai cấp… Kết cấu truyền thống của truyện cổ tích thần kỳ thường là kết thúc có hậu Theo quan điểm của Chu Xuân Diên, ông cho rằng trong truyện cổ tích thần kỳ cũng có nhiều yếu tố cổ xưa có liên quan đến những quan niệm thần thoại và tín ngưỡng của con người thời thị tộc bộ lạc

Truyện cổ tích thần kỳ là bộ phận phong phú nhất của truyện cổ tích dân tộc Thái ở Mai Châu Đó là những truyện cổ tích về đứa trẻ mồ côi, về người con riêng,

về người con út, về những nhân vật bất hạnh… Tiêu biểu cho tiểu loại truyện cổ tích thần kỳ của người Thái ở Mai Châu có các truyện “Chàng Voi nhỏ và ông Xù Xì bốn mắt năm mồm”, “Người hóa khỉ”, “Cô gái chăn vịt”, “Biến thành thuồng luồng”, “Bờ ruộng và trụ cột đá bên bờ”, “Phi Càng Cói”, “Càng Cói xin váy”, “Lấy nhầm chồng sâu”, “Người hóa khỉ”, “Người hóa hổ”, “Nàng Trăng - nàng Sao”, “U Thền”, “Bỏ quên bướu”…

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 27

2.2.1.3 Truyện cổ tích sinh hoạt

Hệ thống những truyện cổ tích sinh hoạt của người Thái ở Mai Châu bao gồm các cốt truyện kể về những sinh hoạt gia đình như quan hệ vợ chồng, bố mẹ, anh em, con cái và các quan hệ xã hội như quan hệ chủ tớ, quan hệ giữa người làm thuê và ông chủ, giữa người nông dân và kẻ trọc phú… Bên cạnh đó là những truyện cổ tích

về những nhân vật thông minh hóm hỉnh cũng như những truyện cổ tích về những chàng ngốc, những chàng rể và những ông bố vợ…

Phần lớn truyện cổ tích sinh hoạt của người Thái ở Mai Châu thể hiện những vấn đề đạo đức, ứng xử, cách sống của người dân Thái trên địa bàn Sức hấp dẫn của tiểu loại này không nằm trong yếu tố kỳ ảo, hoang đường, ly kỳ, phức tạp… mà nằm trong những tình huống sinh hoạt thường ngày Tình huống diễn ra rất sinh động, phong phú và con người không phải lúc nào cũng ứng xử đúng đắn Vì vậy, tiểu loại này là cái nhìn có thiên hướng phê phán của người Thái Mai Châu về những lệch lạc trong quan niệm về đạo đức, về ứng xử trong cuộc sống; vì thế tính giáo huấn của nó rất cao, nó hướng tới những chuẩn mực đạo đức, bảo vệ những giá trị đạo đức trong gia đình và xã hội

Tiêu biểu cho tiểu loại truyện cổ tích sinh hoạt của người Thái Mai Châu có

“Kế của mẹ vợ”, “Kẻ trộm”, “Chàng Thoi mường Trời và chàng Thoi hạ giới”,

“Thành cứt con trăn”, “Ma đười ươi”, “Lổm Luông”, “Sự tích loài ốc đít bằng”,

“Tiếng dơ dớ của người rót rượu cần”, “Chó cắn tai”, “Chỉ bạn bè lúc biết có thịt nai”, “Con ông thợ săn”…

2.2.2 Nội dung truyện cổ tích dân tộc Thái ở Mai Châu

Truyện cổ tích dân tộc Thái Mai Châu là kết quả của sáng tác tập thể nên nó phản ánh tâm lý tập thể, tâm lý phổ biến và nguyện vọng chung của người dân Thái ở miền đất này Chúng ta có thể điểm qua một số nội dung cơ bản như sau

2.2.2.1 Giải thích nguồn gốc, đặc điểm, tên gọi của sự việc, sự vật, loài vật

Truyện cổ tích Thái thể hiện nội dung giải thích nguồn gốc, đặc điểm riêng của một số sự vật, sự việc, loài vật… Các câu chuyện cho ta thấy trí tưởng tượng hồn nhiên của tác giả dân gian Thái trong việc cố gắng lý giải những hiện tượng trong cuộc sống

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 28

Trước hết, đó là sự hồn nhiên trong việc giải thích một số đặc điểm của các loài vật Chẳng hạn tại sao lại có loài thuồng luồng cổ hoa (Biến thành thuồng luồng), tại sao “mành khẳm” (ve sầu) lại rỗng ruột (Mành khẳm không có ruột), tại sao lông

hổ lại đen vàng loang lổ (Rùa khóc Then), tại sao lại có loài ốc đít bằng (Sự tích loài

ốc đít bằng)…

Truyện cổ dân gian Thái cũng giải thích nguồn gốc của các sự vật, sự việc liên quan đến con người và địa phương Mai Châu Truyện “Bờ ruộng và trụ cột đá bên bờ” giải thích vì sao lại có một khu ruộng bằng phẳng, rộng lớn với bốn cột đá đứng sừng sững ở góc bên bờ sông Mã; truyện “Lổm luông” giải thích tại sao lại có một vùng sụt lún lớn ở xã Tòng Đậu, đồng thời cũng giải thích tại sao người Thái rất kiêng việc lấy lược chải đầu để chải lông cho chó; truyện “Phần trắng trong mắt người” giải thích sao mắt người lại có lòng trắng, lòng đen

Tất nhiên xét dưới góc độ khoa học thì tất cả những giải thích đã được thống

kê cũng như những giải thích tương tự trong truyện cổ tích Thái đều không chính xác Tuy nhiên, nhưng chi tiết nghệ thuật này thể hiện trí tưởng tượng phong phú, hồn nhiên và ngây thơ của các tác giả dân gian Thái; đồng thời những chi tiết như vậy cũng rất hấp dẫn người nghe - nhất là trẻ em - bởi sự thú vị của chúng

2.2.2.2 Phản ánh cuộc đấu tranh chống lại các thế lực tàn ác và ước mơ về một xã hội công bằng, một cuộc sống ấm no, hạnh phúc

Xuất hiện trong xã hội phân chia giai cấp, xã hội mà trong lòng nó đã chứa đựng những bất công, những điều ngang trái; truyện cổ tích dân gian dân tộc Thái ở Mai Châu đã xây dựng nên một xã hội ước mơ, đó là một xã hội không có cái ác, không có áp bức bóc lột, mọi người được bình đẳng Đọc những câu chuyện phản ánh cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, giữa kẻ giàu và người nghèo, giữa mạnh và yếu chú ng ta bắt gặp những giấc mơ của người dân Thái xưa về một thế giới tươi đẹp,

một thế giới khác hiê ̣n thực Ở đó những kẻ ác đô ̣c luôn bi ̣ trừng phạt, những người hiền lành luôn được che chở và có được cuô ̣c sống ấm no, ha ̣nh phúc Đó là những

trong chân, thiện, mỹ

Trước hết xin đề cập đến loại truyện cổ có tính chất kế tiếp, gần gũi với thần thoại, loại truyện nói về nhân vật đấu tranh chống lại các thế lực khác trong cuộc

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 29

sống Nguyên do làm nảy sinh loại truyện này là vì môi trường sống, vì yêu cầu sinh hoạt xã hội, vì công cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đặt ra một cách cấp bách và thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày của người dân Thái Họ cần chống lũ lụt, chống hạn hán, chống thú dữ… Vì thế ra đời những câu chuyện về những con người phi thường, kỳ tài Tiêu biểu cho dạng này là truyện “Chàng Voi nhỏ và ông Xù Xì bốn mắt năm mồm” Truyện kể về một chàng trai mà ngay từ cách ra đời đã lạ lùng:

bà mẹ thụ thai do uống nước trong một vũng nước voi tắm, bà chửa ba năm ba tháng mới sinh ra chàng trai và đặt tên là Voi con Ngay từ nhỏ Voi con đã có sức khỏe phi thường, chẳng ai dám thử sức với cậu Cậu vật thắng cả người khổng lồ để đem vàng bạc về cho bố mẹ Bố mẹ chàng Voi nhỏ bảo con đi giết quái vật Xù Xì

để trừ hại cho dân Trên đường đi chàng đã chiêu mộ được nhiều bạn bè tài giỏi, đó

là các chàng Lấy trán đóng cọc, chàng Lấy bàn chân cày ruộng, chàng Chèo thuyền giữa rừng, chàng Chạy nhanh như tên… Họ đều tôn Voi nhỏ làm thủ lĩnh, nhiều loài thú cũng xin cùng đi Đoàn quân đã giết quỷ Chí Khè và cuối cùng đã hợp sức giết Xù Xì, đem lại cuộc sống yên lành cho nhân dân

Bằng cách xây dựng một nhóm anh hùng, dũng cảm, có tài năng đặc biệt, đã hợp sức lại để chiến thắng các thế lực tàn ác; truyện “Chàng Voi nhỏ và ông Xù Xì bốn mắt năm mồm” của người Thái Mai Châu đã ca ngợi tập thể những người lao động giỏi, chiến đấu giỏi, dám đấu tranh và chiến thắng các thế lực tự nhiên và xã hội

để mang lại cuộc sống yên lành, hạnh phúc cho nhân dân Truyện thể hiện trí tưởng tượng táo bạo của dân tộc Thái, đồng thời thể hiện sự phát triển tư duy và nhận thức của cộng đồng người Thái về cuộc sống con người Những tập thể anh hùng mang dáng dấp những anh hùng trong thần thoại, truyền thuyết và sử thi, nó thể hiện tư duy nghệ thuật cao của các tác giả dân gian Thái trong cốt truyện chặt chẽ, tình tiết truyện hợp lý, diễn biến truyện hấp dẫn Các nhân vật hợp với nhau trong chỉnh thể không thể chia cắt, nếu thiếu đi một nhân vật thì tập thể không thể chiến thắng

Ý chí chiến đấu và chiến thắng những thế lực tàn ác là điều ta thường gặp trong truyện cổ tích của dân tô ̣c Thái ở Mai Châu Dễ dàng thấy nhân vật chính nằm trong chuyện là những người em, người con riêng, những kẻ làm thuê, những người nghèo khó… Họ bị ngược đãi, bị hắt hủi, bi ̣ bắt làm việc tối ngày, bị bóc lột sức lao động một cách thậm tệ Họ không thể làm gì được khi thân phận người lao động chỉ

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 30

là con sâu cái kiến Vì vậy họ luôn mong ước có những thế lực siêu nhiên như thần, Phật, bụt, tiên để giúp đỡ họ, làm cho họ đổi đời Những thế lực này không xuất hiện

để thuyết minh cho một tôn giáo nào mà đó chính là đại diện cho cái thiện, cho lẽ phải, cho khát vọng của người dân về sự công bằng Sự công bằng ở đây tức là sự chiến thắng của cái thiện trước những thế lực đen tối, độc ác Sự xuất hiện của các thế lực siêu nhiên chứng tỏ rằng người lao động không bao giờ chi ̣u khuất phu ̣c Nhân

vật nàng Hai trong truyê ̣n “Ta ̣o làng Hông và nàng Hai” suốt ngày phải làm nương nhưng chi ̣ dâu chỉ cho ăn khoai, thâ ̣m chí là vỏ khoai Khi phát hiê ̣n nàng Hai được chim thần giúp đỡ, người chi ̣ dâu đã giết chim, nàng Hai gom lông chim đem chôn thì chỗ chôn mọc lên mô ̣t cây rau dền, người chi ̣ dâu la ̣i chă ̣t cây rau dền để nấu ăn rồi

số phâ ̣n run rủi nàng Hai gă ̣p quỷ Dá Bài, suốt ngày bi ̣ nó rình râ ̣p ăn thi ̣t song nàng

đã không chịu khuất phục Bằng mưu trí của mình, nàng Hai đã giết chết Dá Bài, cuối

cù ng là tìm được ta ̣o làng Hông và gia đình ho ̣ có mô ̣t cuô ̣c sống ha ̣nh phúc, no ấm

Bằng những hình tượng nhân vật gần gũi với cuộc đời thực, truyện cổ tích của dân tộc Thái ở Mai Châu trình bày lý tưởng của nhân dân về một xã hội dân chủ, trong đó những người dân lương thiện, nghèo khổ, hiền lành, tốt bụng sẽ được hưởng hạnh phúc xứng đáng với đạo đức và tài năng của họ… Truyện “U Thền” kể về nhân vật U Thền khi còn nhỏ đã có phẩm chất của mô ̣t dũng sỹ, mă ̣c dù sinh ra trong hoàn cảnh hết sức éo le: me ̣ bi ̣ đem bỏ vào trong rừng với đôi mắt mù lòa, song U Thền đã giúp mẹ vượt qua được những khó khăn, nguy hiểm nơi rừng sâu nước đô ̣c; không những thế, chàng còn tìm cách vào tâ ̣n hang ổ của mường quỷ, ho ̣c được phép thuâ ̣t của chúng, lấy được báu vật của chúng Chàng giết hết bo ̣n quỷ đô ̣c ác rồi quay trở về trần gian, tìm giết quỷ Khằm Ca là nguyên nhân gây ra những đau khổ, cực nhục của

mẹ mình và khiến cho cả mường bi ̣ bê ̣nh tâ ̣t Chàng giết Khằm Ca, dùng phép thuâ ̣t

làm cho mắt me ̣ sáng la ̣i và dân mường hết bê ̣nh tâ ̣t

Ở tiểu loa ̣i truyê ̣n cổ tích về loài vâ ̣t có truyê ̣n “Khỉ và Cào Cào” phản ánh cuộc đấu tranh giữa những nhân vâ ̣t bé nhỏ với những kẻ to lớn, hống hách Những con khỉ đã ngang ngược đuổi đàn cào cào đi, không cho chúng kiếm ăn ở nơi chúng sinh sống Những tưởng đàn cào cào yếu ớt sẽ phải nhẫn nhục bỏ đi song không phải như vâ ̣y, cào

cào đã dũng cảm lên tiếng bảo vê ̣ quyền lợi của mình bằng cách sẵn sàng chiến đấu

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 31

Bằng mưu me ̣o của mình, đàn cào cào đã khiến cho cả lũ khỉ to xác nhưng ngu ngốc,

hữu dũng vô mưu chết không còn mô ̣t mống Truyê ̣n đề cao mơ ước có mô ̣t cuô ̣c sống công bằng, phản đối áp bức bất công trong xã hội, đồng thời đưa ra một tuyên bố của những người dân nghèo thấp cổ bé ho ̣ng: có áp bức thì tất sẽ có đấu tranh, và cuô ̣c đấu tranh củ a người Thái sẽ là cuô ̣c đấu tranh quyết liê ̣t, không khoan nhượng

2.2.2.3 Lý giải những xung đột cơ bản trong gia đình và ngoài xã hội

Truyện cổ tích dân gian dân tộc Thái ở Mai Châu phản ánh và lý giải những xung đột, mâu thuẫn trong gia đình Những mâu thuẫn này thường mang tính chất riêng tư nhưng lại phổ biến trong xã hội có giai cấp với những xung đột cơ bản như xung đột giữa anh em trai (Con cầy biết hát), xung đột giữa chị dâu em chồng (Tạo làng Hông và nàng Hai), xung đột giữa dì ghẻ con chồng (U Thền)…

Truyện “Con cầy biết hát” kể về hai anh em mồ côi cha mẹ sớm, người anh tham lam chiếm hết tài sản, chỉ để cho người em một mảnh vườn nhỏ Một hôm hai anh em bắt được hai con cầy, người anh tranh con to để giết thịt, người em đưa con nhỏ về nuôi Con cầy nhỏ của người em biết hát rất hay, nhờ tài đó nó giúp người em

có một gia tài lớn Người anh tham lam biết vậy đến mượn con cầy nhưng do đối xử với nó không tốt nên nó không giúp anh ta Người anh tức giận giết cầy ăn thịt, người

em đến nhặt xương cầy đem về chôn và bộ xương mọc thành hai cây luồng lại giúp anh làm giàu, người anh lại đến đòi mượn và lại gặp tai họa, anh ta lại chặt luồng Sau nhiều lần như vậy, người anh ốm chết

Truyện “Con cầy biết hát” có mô-tip hơi giống truyện cổ tích “Cây khế”: cũng hoàn cảnh hai anh em có bố mẹ mất sớm, người em hiền lành, nhường nhịn; người anh tham lam, tranh giành và kết quả là người anh bị trừng phạt Đồng thời truyện cũng có mô-tip rất gần với truyện Tấm Cám của dân tộc Kinh: qua nhiều lần tranh cướp, người anh bị trừng phạt (chết), người em hưởng cuộc sống giàu có Truyện cho chúng ta thấy rằng quan niệm “ở hiền gặp lành” không phải của riêng dân tộc Kinh

mà là một quan niệm phổ biến chung của người Việt

Ở truyện “Tạo làng Hông và nàng Hai”, những tình huống thể hiện mâu thuẫn giữa chị dâu và em chồng tuy chưa phải là đấu tranh đến cùng mang tính chất một mất một còn nhưng cũng đã rất rõ nét: chị dâu bắt em chồng đi làm nương hàng ngày

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 32

nhưng chỉ cho ăn vỏ khoai, đến khi em chồng được chim thần giúp đỡ thì chị dâu giết chim, em chồng gom lông chim về chôn rồi từ chỗ chôn lông chim mọc lên một cây rau dền thì chị dâu lại chặt trộm cây rau dền để nấu ăn…

Mâu thuẫn dì ghẻ - con chồng là một dạng mâu thuẫn rất phổ biến mà xã hội, dân tộc nào cũng có Trong cổ tích Thái Mai Châu có truyện “U Thền” thể hiện mâu thuẫn này Khi cha là tạo mường lấy dì ghẻ, chính dì ghẻ đã xui tạo mường đẩy bà vợ

cả - khi đó đã bị dì ghẻ làm cho mù mắt - vào rừng sâu Bà mẹ khốn khổ bụng mang

dạ chửa đã một mình sinh ra U Thền và nuôi nấng chú bé trong cảnh mù lòa Nhưng

U Thền bằng sức khỏe và trí tuệ hiếm có của mình đã trở lại mường, rồi đã tương kế tựu kế để được đi học các phép thuật ở mường quỷ Chàng lập mưu giết hết bọn quỷ rồi quay về trừng trị mụ dì ghẻ cũng vốn là một con quỷ Sau khi cho cha mình tận mắt nhận thấy dì ghẻ là một con quỷ trá hình, chàng đã tự tay giết nó Cuối cùng là U Thền dùng phép thuật để làm cho mắt mẹ mình sáng lại, cùng gia đình hưởng hạnh phúc với bản mường

Dù gắn với đề tài gia đình hay đề tài xã hội, ý nghĩa của truyện cổ tích dân gian dân tộc Thái ở Mai Châu cũng rất sâu sắc Nó phản ánh được những xung đột giữa cái thiện và cái ác, xung đột giữa kẻ mạnh và người yếu, xung đột giữa người giàu và người nghèo, xung đột giữa tầng lớp thống trị và người bị trị… trong một xã hội phân chia giai cấp

Truyện “Sự tích chàng trai Cha Long diệt muỗi chúa” kể về chuyện mẹ con chàng dũng sỹ đã không chịu khuất phục trước con muỗi chúa hung bạo và tàn ác Hai người đã bàn mưu dùng khói và lửa giết chết muỗi chúa, trừ họa cho dân lành Truyện có mô-típ tương tự truyện “Thạch Sanh” của dân tộc Kinh, cũng có một quái vật tàn ác chuyên bắt dân lành cống nộp người để ăn thịt, cũng có nhân vật chính không chịu để bị ăn thịt mà đã chiến đấu và chiến thắng quái vật tàn ác, cũng có nhân vật phụ cướp công của dũng sỹ… Tuy nhiên, kết thúc của truyện “Sự tích chàng trai Cha Long diệt muỗi chúa” đơn giản hơn: kẻ cướp công của dũng sỹ không bị trừng phạt, chàng trai vô tình trở thành giàu có khi tìm thấy nhiều vàng bạc trong dạ dày của muỗi chúa

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 33

Là truyện cổ tích về loài vật nhưng ra đời muộn hơn, truyện “Khỉ và Cào Cào”, có sự giao thoa và mang dáng dấp của truyện ngụ ngôn Trong đó những người thấp cổ bé họng, những người bị thống trị đã dùng sức mạnh đoàn kết và sức mạnh trí tuệ, sức mạnh chính nghĩa để chống lại những kẻ mạnh hống hách, hung hăng và bạo ngược Khi lũ Khỉ bắt đàn Cào Cào phải rời bỏ nơi Cào Cào đã sinh sống thì Cào Cào

đã quyết tâm chiến đấu chống lại Khỉ, dù Khỉ mạnh hơn gấp rất nhiều lần Bằng bản lĩnh và mưu mẹo, chính đàn Cào Cào mới là người chiến thắng, khiến lũ Khỉ chết không còn một mống Truyện cho ta thấy rằng: những người dân lao động Thái cũng rất yêu quê hương, họ sẵn sàng chiến đấu chống lại bất kỳ kẻ thù hung bạo nào để bảo

vệ quê hương mình

Truyện “Án nhà Khàm Khạc” thì hầu như giống y như truyện “Cóc kiện trời” của dân tộc Kinh Cũng có nhân vật chính là Cóc, các nhân vật phụ là Cáo, Hổ, Ong… cốt truyện, tình tiết, diễn biến hầu như trùng khớp nhau Điều này cho thấy sự giao thoa văn hóa giữa dân tộc Thái và dân tộc Kinh là hết sức sâu sắc, chứng tỏ sự gắn bó lâu đời về văn hóa giữa hai dân tộc anh em

Trong truyện cổ tích của dân tộc Thái ở Mai Châu, mâu thuẫn trong xã hội phụ quyền được thể hiện qua xung đột giữa nhân vật bề trên và bề dưới, đàn anh và đàn

em Trong thực tế không phải người em, người con nào cũng tốt; người mẹ ghẻ, người anh nào cũng xấu nhưng truyện cổ tích của người Thái Mai Châu có khuynh hướng ca ngợi, bênh vực nhân vật “bề dưới”, “đàn em”; lên án nhân vật “bề trên”,

“đàn anh” Điều này có nghĩa là dân tộc Thái đã thông qua truyện cổ tích để thể hiện quan điểm chống lại cái bất công, vô lý của xã hội phụ quyền Quay trở lại với truyện

“Con cầy biết hát”, chúng ta thấy diễn biến chung của loại chuyện này thường gồm hoàn cảnh hai anh em (mồ côi cha mẹ); hai anh em chia gia tài (người anh chiếm đoạt phần lớn tài sản); người em được lực lượng thần kỳ giúp đỡ; người anh gạ đổi gia tài rồi bắt chước em lặp lại sự việc; người anh tham lam bị trừng phạt; người em được hưởng hạnh phúc Truyện thường đưa ra những tình thế tương phản nhằm khắc họa rõ những nét tính cách đối lập nhằm tạo nên mâu thuẫn dẫn dắt câu chuyện một cách hợp lý: người em nghèo nhưng lại không thiết tha đến của cải, còn người anh giàu có thì lại tham lam vô độ Nhằm biểu hiện những mâu thuẫn và những sự phức tạp của

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 34

cuộc sống, tác giả dân gian thường sử dụng thủ pháp nghệ thuật đắc dụng “nhắc lại”

Sự nhắc lại có tác dụng nêu bật tâm lý của nhân vật này bằng cách đối chiếu tâm lý với nhân vật khác Đặt vào hoàn cảnh như nhau, người anh đã hành động trái ngược hẳn với người em, một đằng thì giả dối tham lam, một đằng thì thực thà trung hậu và cũng từ đó khiến nổi rõ tính cách, phẩm chất, đạo đức của hai nhân vật đối lập, qua

đó làm nổi bật phẩm chất của người em Còn người anh - kẻ đã lợi dụng địa vị trong gia đình phụ quyền để chiếm đoạt tài sản thừa kế của người em - là kẻ tham lam, không cần cù lao động, có lòng tham vô đáy nên bị trừng phạt dẫn đến cái chết

Nói rộng hơn, truyện cổ tích “Con cầy biết hát” của dân tộc Thái ở Mai Châu còn là sự phản ánh tình trạng phân hoá tổ chức gia đình, xã hội; hình thành ý thức sở hữu cá nhân, những xung đột về quyền lợi của thời kỳ đầu phân hoá giai cấp Tình trạng này đã khiến cho các mối quan hệ thân tình giữa những người ruột thịt và những người cùng cộng đồng bị biến dạng, trở nên đối kháng Các tác giả dân gian giải quyết mâu thuẫn đó bằng phương pháp tiên nghiệm: những người nghèo, tốt, hiền lành, lương thiện… sẽ được giàu sang; những kẻ xấu, gian ác, bất lương… sẽ bị trừng trị

2.2.2.4 Đề cao trí tuệ dân gian, ca ngợi cách ứng xử thông minh, khéo léo

Thông qua những việc làm, những hành động, những ứng phó… trước những hoàn cảnh cụ thể trong cuộc sống của các nhân vật, truyện cổ tích của người Thái ở Mai Châu luôn đề cao vai trò của tư duy, của trí khôn, của sự thông minh…

Trước hết là ở loạt truyện cổ tích về loài vật, các tác giả dân gian Thái đã đồ chiếu quan hệ xã hội loài người vào quan hệ của các con vật Đó là những truyện cổ tích ra đời muộn hơn nên thường có xu hướng ngụ ngôn, giao thoa từ truyện cổ tích loài vật sang truyện ngụ ngôn Thông qua những ứng xử, những hành động của người thông minh, rồi đem đối lập với hành động của kẻ khờ dại, các tác giả dân gian đã dựng lên một xã hội loài vật mang tính người Loài vật đã được nhân cách hóa một cách hồn nhiên và dí dỏm khiến cho câu chuyện pha lẫn yếu tố hài Tiếng cười bật ra khi ta chứng kiến sự ngu ngốc, kẻ ngu ngốc, sự thông minh, người thông minh, những mẹo lừa và sự mắc lừa, sự thành công và sự thất bại của hai hạng người mang danh động vật đó Điển hình là truyện “Khỉ và Hổ”, mặc dù bị Khỉ lừa cho hết lần

Ngày đăng: 26/06/2017, 17:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
2. Đỗ Thúy Bình (1994), Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
3. Nguyễn Đổng Chi (1993), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, 5 tập, Viện Văn học xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Năm: 1993
4. Trương Chính - Phong Châu (1987), Tiếng cười dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng cười dân gian Việt Nam
Tác giả: Trương Chính - Phong Châu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1987
5. Trương Chính (1986), Tiếng cười dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng cười dân gian Việt Nam
Tác giả: Trương Chính
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1986
6. Lê Sĩ Giáo (chủ biên), Hoàng Lương, Lâm Bá Nam, Lê Ngọc Thắng (2006), Dân tộc học đại cương, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc học đại cương
Tác giả: Lê Sĩ Giáo (chủ biên), Hoàng Lương, Lâm Bá Nam, Lê Ngọc Thắng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
7. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên (2006), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: chủ biên" (2006), "Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
8. Minh Hạnh, Phan Hồng Sơn (1986), Truyện ngụ ngôn Việt Nam, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngụ ngôn Việt Nam
Tác giả: Minh Hạnh, Phan Hồng Sơn
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1986
9. Nguyễn Văn Hòa (2011), Dân ca Thái vùng Tây Bắc Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Thái vùng Tây Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hòa
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2011
10. Hội văn nghệ dân gian (2012), Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái
Tác giả: Hội văn nghệ dân gian
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2012
11. Đinh Gia Khánh (1989), Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1989
12. Đinh Gia Khánh (chủ biên) - Chu Xuân Diên - Võ Quang Nhơn (2008), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh (chủ biên) - Chu Xuân Diên - Võ Quang Nhơn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
13. Vũ Ngọc Khánh, Trần Thị An (1998), Truyền thuyết Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thuyết Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh, Trần Thị An
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 1998
14. Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo (1997), Kho tàng diễn xướng dân gian Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng diễn xướng dân gian Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1997
15. Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo... (1995), Kho tàng thần thoại Việt Nam, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng thần thoại Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 1995
16. Nguyễn Xuân Kính (2006), Thi pháp ca dao, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2006
18. Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn (1968), Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam
Tác giả: Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1968
19. Đặng Văn Lung (1997), Nghiên cứu văn hóa dân gian những lĩnh vực nghiên cứu, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn hóa dân gian những lĩnh vực nghiên cứu
Tác giả: Đặng Văn Lung
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1997
20. Đặng Văn Lung, Trần Thị An (1995), Hợp tuyển văn học dân gian các dân tộc, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tuyển văn học dân gian các dân tộc
Tác giả: Đặng Văn Lung, Trần Thị An
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1995
21. Vi Hồng Nhân (2004), Văn hóa các dân tộc thiểu số từ một góc nhìn, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc thiểu số từ một góc nhìn
Tác giả: Vi Hồng Nhân
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w