1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại (NCKH)

134 522 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 6,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại (NCKH)Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại (NCKH)Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại (NCKH)Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại (NCKH)Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại (NCKH)Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại (NCKH)Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại (NCKH)Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại (NCKH)Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại (NCKH)Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại (NCKH)Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại (NCKH)Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại (NCKH)Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại (NCKH)Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại (NCKH)Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại (NCKH)

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC

LOẠI HÌNH TỰ SỰ TRONG VĂN HỌC DÂN TỘC THÁI

THỜI KÌ HIỆN ĐẠI

Mã số: ĐH2015-TN07-01

Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Thị Hải Anh

Thái Nguyên, tháng 3 năm 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC

LOẠI HÌNH TỰ SỰ TRONG VĂN HỌC DÂN TỘC THÁI

THỜI KÌ HIỆN ĐẠI

Trang 3

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ

THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

DANH SÁCH THÀNH VIÊN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH

TT Tên đơn vị

trong và ngoài nước

Nội dung phối hợp nghiên cứu

Họ và tên người đại diện đơn vị Ghi chú

1 Khoa Ngữ văn - Trường

TT Họ và tên Đơn vị công tác và

lĩnh vực chuyên môn

Nội dung nghiên cứu cụ thể được giao

Chuyên môn: Ngữ văn

Chủ nhiệm đề tài, thực hiện các nội dung nghiên cứu liên quan đến đề tài

2 ThS Vương Thị

Yến

Đơn vị công tác: Phòng KH-CN&HTQT, trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông

Chuyên môn: Toán

Thư ký hành chính

đề tài

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC I DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT IV

MỞ ĐẦU 1

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài 1

1.1 Thể loại truyện (truyện ngắn, truyện vừa) 1

1.2 Thể loại truyện thơ, tiểu thuyết và trường ca 3

2 Tính cấp thiết 4

3 Mục tiêu nghiên cứu 5

4 Cách tiếp cận 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

7 Nội dung nghiên cứu 6

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7

1.1 Môi trường địa - văn hóa của dân tộc Thái ở Việt Nam 7

1.1.1 Đặc điểm địa lí tự nhiên và nguồn gốc lịch sử dân tộc 7

1.1.2 Đặc trưng văn hóa dân tộc 8

1.2 Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái 11

1.2.1 Một số vấn đề lí thuyết về loại hình tự sự 11

1.2.2 Khái quát về loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại 15

Chương 2 CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG LOẠI HÌNH TỰ SỰ VĂN HỌC DÂN TỘC THÁI THỜI KÌ HIỆN ĐẠI 19

2.1 Cảm hứng sử thi 19

2.1.1 Đề tài gắn với những sự kiện lớn lao có ý nghĩa đối với toàn cộng đồng 19

2.1.2 Con người “hoàn tất” trong cảm hứng sử thi 22

2.1.3 Sự rạn nứt trong quan niệm về hiện thực chiến tranh 24

2.2 Cảm hứng thế sự 27

2.2.1 Trạng thái xã hội với những khiếm khuyết, băng hoại về nhân cách và lối sống 27

2.2.2 Những “khoảng tối” nơi công quyền 29

2.2.3 Nỗi trăn trở sinh thái thời hiện đại 32

Chương 3 CỐT TRUYỆN, NHÂN VẬT VÀ LỜI VĂN NGHỆ THUẬT TRONG LOẠI HÌNH TỰ SỰ VĂN HỌC DÂN TỘC THÁI THỜI KÌ HIỆN ĐẠI 36

3.1 Cốt truyện trong loại hình tự sự văn học dân tộc Thái 36

3.1.1 Cốt truyện tuyến tính 36

3.1.2 Cốt truyện khung 40

Trang 5

3.1.3 Cốt truyện gấp khúc 43

3.1.4 Cốt truyện tâm lí 47

3.2 Nhân vật trong loại hình tự sự văn học dân tộc Thái 50

3.2.1 Thế giới nhân vật trong loại hình tự sự văn học dân tộc Thái 50

3.2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong loại hình tự sự văn học dân tộc Thái 53

3.3 Đặc điểm lời văn nghệ thuật trong loại hình tự sự văn học dân tộc Thái 62

3.3.1 Lời văn đậm chất trữ tình, giàu giá trị biểu cảm 62

3.3.2 Lời văn mộc mạc, tự nhiên 66

3.3.3 Lời văn mang tính trào lộng, châm biếm 69

KẾT LUẬN 73

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC 82

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐTNT : Độc thoại nội tâm DTTS : Dân tộc thiểu số LHTS : Loại hình tự sự LLVH : Lí luận văn học NVCN : Nhân vật chức năng NVLH : Nhân vật loại hình

VHDG : Văn học dân gian VHHĐ : Văn học hiện đại

Trang 7

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ

THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Thông tin chung

- Tên đề tài: Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại

- Mã số: ĐH2015-TN07-01

- Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Hải Anh

- Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông

- Thời gian thực hiện:2015 – 2016

2 Mục tiêu

Qua việc nghiên cứu về loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại,

đề tài nhằm làm rõ những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật, tính kế thừa, phát huy và phát triển các giá trị truyền thống của loại hình tự sự văn học dân tộc Thái; phác họa diện mạo của loại hình tự sự trong nền văn học Thái; đồng thời, góp phần khẳng định, tôn vinh giá trị của loại hình tự sự văn học dân tộc Thái trong nền văn học các dân tộc thiểu số nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung

3 Tính mới và sáng tạo

- Lần đầu tiên, đề tài đã đem đến cho người đọc một cái nhìn hệ thống, một bức tranh khái quát và cụ thể về loại hình tự sự văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại, chỉ ra cho người đọc thấy được bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, văn học dẫn tới sự ra đời của

bộ phận văn học này

- Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về môi trường địa – văn hóa, đề tài đã nhận diện và chỉ ra được sự ảnh hưởng, tác động của yếu tố này tới sự hình thành nhân cách, bản lĩnh sáng tạo nghệ thuật cũng như truyền thống văn hóa, văn học của dân tộc Thái ở Việt Nam

- Bên cạnh việc chỉ ra những đặc điểm chung của loại hình, đề tài cũng đã thể hiện được những đặc trưng riêng của từng thể loại trong loại hình

- Đề tài đã chỉ ra được tính kế thừa trong việc phát huy bản sắc dân tộc của văn học Thái hiện đại - một yếu tố rất quan trọng làm nên giá trị, bản sắc của nền văn học mỗi dân tộc

Trang 8

4 Kết quả nghiên cứu

- Đề tài đã chỉ ra được diện mạo của loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái, qua đó, góp một cái nhìn tổng quan, hệ thống về loại hình văn học này trong văn học dân tộc Thái;

- Đề tài đã chỉ ra được tính kế thừa trong việc phát huy bản sắc dân tộc của văn học Thái hiện đại - một yếu tố rất quan trọng làm nên giá trị, bản sắc của nền văn học mỗi dân tộc Trên cơ sở lựa chọn và phân tích những vấn đề cơ bản về cảm hứng nghệ thuật, cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ, đề tài đã chỉ ra những yếu tố bảo lưu bền vững, tính kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa, văn học cổ truyền của loại hình tự sự hiện đại;

- Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về môi trường địa – văn hóa, đề tài đã nhận diện và chỉ ra được sự ảnh hưởng, tác động của yếu tố này tới sự hình thành nhân cách, bản lĩnh sáng tạo nghệ thuật cũng như truyền thống văn hóa, văn học của dân tộc Thái ở Việt Nam;

- Bên cạnh việc chỉ ra những đặc điểm chung của loại hình, đề tài cũng đã thể hiện được những đặc trưng riêng của từng thể loại trong loại hình

5 Sản phẩm

Ba bài báo đăng trên tạp chí trong nước:

[1] Nguyễn Thị Hải Anh (2015), “Văn xuôi hiện đại dân tộc Thái trên hành trình phát

triển và hội nhập”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, Số 11 (525), tr 91-98

[2] Nguyễn Thị Hải Anh (2016), ”Một khía cạnh cuộc sống và con người miền núi qua

văn xuôi hiện đại dân tộc Thái”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, Số 7 (533), tr.90-96

[3] Nguyễn Thị Hải Anh (2016), ”Hình tượng người anh hùng trong loại hình tự sự văn học

dân tộc Thái”, Tạp chí Văn hóa dân gian, Số 6 (168), tr.35-41

6 Phương thức chuyển giao, địa chỉ ứng dụng, tác động và lợi ích mang lại của kết quả nghiên cứu

- Phương thức chuyển giao: thông qua các bài báo trên tạp chí chuyên ngành (02 bài trên tạp chí Nghiên cứu văn học; 01 bài trên tạp chí Văn hóa dân gian)

Trang 9

+ Cung cấp một cái nhìn hệ thống, chỉnh thể về loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái; + Cơ sở cho việc khẳng định, tôn vinh và khuyến khích sự phát triển của nền văn học dân tộc Thái;

+ Góp phần vào việc bảo tồn và phát huy vốn văn hoá văn học của các dân tộc thiểu số

Trang 10

INFORMATION ON RESEARCH RESULTS

1 General information

Project title: Narrative forms in Thai ethnic group’s literature in modern era

Code number: ĐH2015-TN07-01

Coordinator: Nguyen Thi Hai Anh

Implementing institution: College of Information and Communication Technology, Thai Nguyen University

Duration: from 2015 to 2016

2 Objective(s)

By studying the narrative forms in the Thai ethnic group’s literature in modern era, the project aims to clarify the characteristics of the content and art, inheritance, promotion and development of traditional values of the narrative forms in Thai ethnic group’s literature; to sketch the its face in Thai’s literature; meanwhile, to contribute to affirm, to honor the value of narrative forms in Thai ethnic’s literature in ethnic minorities’ literature in particular and in Vietnam literature in general

3 The Novelty and creativeness

- It’s the first time that the project has given readers a systematic insight into as

well as a generalized and specific picture of narrative forms in Thai ethnic group’s literature in modern era; and the project also has shown the reader the historical, social, cultural, literary setting leading to the birth of this form of literature

- By clarifying the basic issues about geographic-cultural environment, the desertation has pointed out the effects and the impacts of this factor to the formation of the personality, artistic creativity capacity as well as cultural and literary tradition of Thai ethnic group in Vietnam

- Besides pointing out the common characteristics of its kind, the dissertation has figured out the distinctive characteristics of each category in this kind

The dessertation has pointed out the inheritance in promoting the national cachet of modern Thai literature - a crucially important factor making up the value, the cachet of each ethnic group’s literature

4 Research results

- The project has figured out its face in Thai ethnic group’s literature, thereby, contributed a systematic overview of this type of literature in the Thai literature;

Trang 11

- The project has figured out the inheritance in promoting the national cachet of modern Thai literature - a very important factor making up the value and the cachet of each ethnic group’s literature On the basis of selection and analysis of the basics of artistic inspiration, plot, character and language, the project has pointed out sustainable maintaining factors, inheritance and promotion of cultural values, traditional literature of modern narrative forms;

- On the basis of clarifying the fundamental issues about the geographic-culture environment, the project has identified and pointed out its effects and the impacts to the formation of personality, creative skill and spirit for arts as well as cultural and literature tradition of Thai ethnic group in Vietnam;

- In addition to pointing out the common characteristics of this form, the project has also demonstrated its own features of each genre in this form

5 Products

Three scientific papers have been published in domestic journals

[1] Nguyen Thi Hai Anh (2015), “Thai ethnic group’s Modern Prose on the journey to

development and integration”, Journal of Literary Studies, No 11 (525), pp 91-98

[2] Nguyen Thi Hai Anh (2016), “An aspect of human life and the mountainous people through

Thai ethnic group’s Modern Prose”, Journal of Literary Studies, No 7 (533), pp 90- 96

[3] Nguyen Thi Hai Anh (2016), “The image of heroes in narrative forms in Thai ethnic

group’s literature”, Journal of Folklore, No 6 (168), pp 35-41

6 Mode of transfer, applicable addresses, effects and benefits of the research results

- Mode of transfer: The research results can be transferred via the published papers on specialized journals (02 papers in Journal of Literary Studies; 01 paper in Journal of Folklore Culture)

- The effects and benefits:

+ To provide a holistic and systematic insight into narrative forms in the Thai ethnic group’s literature;

Trang 12

+ To be the basis to assert, honor and encourage the development of the Thai ethnic group’s literature;

+ To contribute to the preservation and promotion of the ethnic minorities’ culture and literature

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài

1.1 Thể loại truyện (truyện ngắn, truyện vừa)

Cho đến nay, truyện (bao gồm cả truyện ngắn và truyện vừa) là thể loại có nhiều thành tựu và nhận được nhiều sự quan tâm chú ý của các nhà nghiên cứu hơn cả Trong

đó, chủ yếu là các bài viết bàn về một tác giả, tác phẩm cụ thể

Trong số các nhà văn hiện đại dân tộc Thái, La Quán Miên là tác giả nhận được nhiều

sự quan tâm của các nhà phê bình, nghiên cứu hơn cả Điều này được thể hiện qua một loạt

các bài viết của các tác giả như: Độc đáo La Quán Miên của tác giả Bùi Việt Thắng đăng trong phụ trương Văn nghệ Dân tộc và Miền núi, Báo Văn nghệ, số 3, năm 1997; cũng năm 1997, tác giả Lò Ngân Sủn có bài viết Những làn gió nhẹ thoang thoảng hương rừng đăng trên Tạp chí Văn hóa các dân tộc, số 9; năm 1999, tác giả Nguyên An có bài viết Một

số ghi nhận về cách viết của La Quán Miên đăng trên Tạp chí Văn hóa các dân tộc; cũng năm 1999, Phạm Đình Ân có bài viết Trời đỏ (tên một tập truyện kí của La Quán Miên -

N.T.H.A), in trong Phụ trương Văn nghệ Dân tộc và miền núi, Báo Văn nghệ…

Theo nhận xét chung của các nhà nghiên cứu, cuộc sống, con người và thiên nhiên miền núi nói chung, vùng Tây Bắc nói riêng là những mảng đề tài được các nhà văn dân tộc Thái đặc biệt quan tâm và có nhiều thành công hơn cả Phạm Đình Ân nhận thấy:

“những trang văn La Quán Miên viết về rẻo cao, về DTTS rất hoạt, mềm mại, rất có không khí” [5, tr 5] Nhà văn Phạm Duy Nghĩa nhận định: “Truyện của La Quán Miên đặt ra vấn đề nhân quả, báo ứng từ sự phá vỡ cân bằng trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, phát hiện cái bí ẩn thuộc về đời sống tâm linh ở miền núi.”[57, tr 64] Còn theo nhà nghiên cứu Trần Đại Tạo thì: “Từ truyện, kí đến kịch của anh (Sa

Phong Ba - N.T.H.A) đều đặc quánh nhựa sống của văn hoá các dân tộc Tây Bắc, nhất

là văn hoá Thái, Mường, Dao.” [69, tr 28] Cũng theo nhà nghiên cứu, nhờ “biết gắn bó với đời sống” và sự “tỉnh táo nhạy cảm” của nhà văn, truyện ngắn của Sa Phong Ba đã “soi lật và lẩy ra được vấn đề thu hút sự quan tâm của người đọc” Đó là vấn đề con người

“cần biết giữ lấy sự trọn vẹn và cái đẹp của nhân cách” [59, tr 25]…

Tìm hiểu về nghệ thuật xây dựng CTr và cách kể chuyện của La Quán Miên,

Nguyên An nhận thấy tuy các truyện và kí của ông thường không dài nhưng “ở mỗi truyện hoặc kí đều có cấu trúc rất chặt”, “diễn biến của truyện nói chung là nhanh, hoạt, rất dễ theo dõi” [1, tr 23] Cách kể chuyện của nhà văn Kha Thị Thường cũng được đánh giá là “đơn giản nhưng nhờ cảm xúc mạnh và giàu dữ liệu cuộc sống nên đã

Trang 14

lôi cuốn người đọc từ đầu đến cuối” [79, tr 4-5] Cách dẫn chuyện của Sa Phong Ba trong một số tác phẩm được Nguyễn Ngọc Thiện nhận xét là “tinh tế, tự nhiên” cùng giọng kể “linh hoạt, gần gũi với người đọc” [59, tr 15]

Cách kết thúc truyện của nhiều nhà văn được đánh giá là “linh hoạt, biến hóa” [1, tr 23] và “hợp lí”, “gọn, bất ngờ” [59, tr 15] Đánh giá về cách kết truyện của Kha Thị Thường, tác giả Dương Thuấn viết: “Trong các câu chuyện, Kha Thị Thường đã kết thúc không để cho có hậu mà mở ra như cuộc sống vẫn còn tiếp tục” Nhờ đó mà người đọc có thể “hình dung về hiện thực của miền núi đúng thực tế hơn.” [79, tr 4-5]

Về ngôn ngữ, cây bút văn xuôi La Quán Miên được đánh giá là có “một ngôn ngữ rất Thái - cổ xưa nhưng không hề cũ kĩ” và “lối hành văn mộc mạc, giàu hình ảnh” [32]

Bên cạnh những thành công trên, lối viết của những cây bút truyện ngắn dân tộc Thái cũng bộc lộ những hạn chế Bàn về vấn đề này, Lò Ngân Sủn chỉ rõ: nhiều truyện và kí của

La Quán Miên chưa thành truyện “vì còn quá đơn giản, sơ sài, mới chỉ là kể việc, thống kê việc, ít tình tiết, tình huống truyện”, “nhân vật trong truyện chưa nổi bật lên được, còn mờ nhạt, chưa đạt tới độ sâu sắc, ít chất văn” [63, tr 20] Còn Bùi Hồng thì nhận thấy: “thói quen giải thích, cắt nghĩa” “nhiều khi hơi quá tỉ mẩn” của La Quán Miên trong Bản nhỏ tuổi thơ khiến cho câu chuyện của ông nhiều lúc “trở nên rườm rà, lan man” [32, tr 15] Theo Trần Đại Tạo, điều khiến Sa Phong Ba chưa thuyết phục được độc giả là “phê phán cái xấu còn quá lộ ý đồ tác giả, nghe như có sự bực bội, cá nhân; chưa để cho tự thân nhân vật thể hiện ý đồ tác giả; người đọc cứ cảm tưởng rằng ở đâu cũng đầy rẫy tiêu cực, bế tắc; niềm tin vào một cái mới đang lên còn mờ nhạt; đôi lúc quá lạm dụng ngôn ngữ báo chí” [69, tr 35] Một số truyện ngắn của nhà văn Cầm Hùng cũng bị đánh giá là “có kết cấu chưa hợp lí”,

“tính hệ thống chưa chặt chẽ”, ngôn ngữ có “hiệu quả nghệ thuật chưa cao” [55, tr 40]

Những kết quả nghiên cứu về truyện dân tộc Thái chứng tỏ thể loại này đã nhận được sự quan tâm, chú ý của các nhà nghiên cứu Các công trình trên đã chỉ ra được một số mạch nguồn cảm hứng chính của thể loại truyện dân tộc Thái như: cảm hứng trân trọng, ngợi ca cuộc sống và con người miền núi với những phẩm chất tốt đẹp.; cảm hứng chiêm nghiệm triết

lí Về nghệ thuật, một số đặc điểm cơ bản về nghệ thuật xây dựng nhân vật, CTr, ngôn ngữ tuy đã được làm rõ, nhưng chủ yếu mới dừng lại ở từng tác phẩm hoặc từng nhà văn riêng lẻ Mặt khác, những công trình nói trên chủ yếu được triển khai trong khuôn khổ của những bài viết, lời giới thiệu về một, hai tác phẩm cụ thể, thể hiện những nhận định chưa đầy đủ về một nhà văn Cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về truyện và kí dân tộc Thái trong cái nhìn toàn cảnh về thể loại

Trang 15

1.2 Thể loại truyện thơ, tiểu thuyết và trường ca

Đây là ba thể loại ít được bàn đến Bởi vậy, tư liệu mà chúng tôi tập hợp được còn rất mỏng Đặc biệt, chúng tôi chưa ghi nhận được một bài nghiên cứu nào về trường ca Đây cũng chính là lí do mà chúng tôi đưa các thể loại này vào cùng một mục để tìm hiểu

về tình hình nghiên cứu

Năm 1967, nhân dịp sự ra mắt của truyện thơ Ing Éng, Hà Văn Thư có bài viết Giới thiệu truyện thơ Ing Éng của Vương Trung đăng trên Tạp chí Văn học, số 10 Bài viết này sau được tác giả đưa vào nội dung tập phê bình tiểu luận Về văn hóa văn nghệ các dân tộc thiểu

số xuất bản năm 1996 Đánh giá về chủ đề và nội dung tư tưởng của truyện thơ, tác giả viết:

“Cùng với việc giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội”, truyện thơ “đã lên án một tập tục hiện còn hạn chế bước tiến của thanh niên, tục gả bán ép uổng và ở rể bắt buộc trong dân tộc Thái” [79, tr 193], và “khuyến khích việc đấu tranh cải tạo cái cũ cái lạc hậu” Về nghệ thuật, ông nhận định: “Vương Trung dùng lối kể chuyện giản dị, mạch lạc và khá hấp dẫn Nó phảng phất mạch điệu của Xống chụ son sao… Nhiều đoạn tả cảnh khá đậm nét Tác giả khéo chọn lọc hình ảnh ngôn ngữ để biểu hiện sự việc, tâm tư con người, với nhiều sắc thái dân tộc” [79, tr 204]

Năm 1999, ghi nhận những thành công của nhà văn Vương Trung trong cuốn tiểu

thuyết đầu tay Mối tình Mường Sinh, Lò Ngân Sủn cho rằng, thành công của tác phẩm nằm

ở “lối kể chân thật”, “gần với lối kể dân gian dân tộc, mà vẫn hiện đại, cuốn hút người đọc” Hạn chế của tác phẩm, theo ông nằm ở chỗ “cốt truyện có vẻ hơi cũ, mảng phong tục tập quán hơi nhiều, hơi tham Nhân vật anh giáo nông thôn miền núi hoạt động còn ít, chưa nổi bật lên…” [64, tr 105]

Năm 2008, Cầm Hùng có bài viết “Cảm nhận khi đọc“Đất bản quê cha” của Vương Trung” đăng trên Tạp chí Suối reo, số 6 Bàn về ngôn ngữ của tác phẩm, nhà văn viết: “Về

ngôn ngữ và đối thoại, anh (Vương Trung - N.T.H.A) vận dụng rất điêu luyện đồng thời

cũng là thế mạnh giàu vốn sống về cách nói, cách đối thoại nhẹ nhàng, với lối ví von đầy hình ảnh, dễ vào lòng người của dân tộc Thái” [39, tr 86]

Như vậy, so với các thể loại tự sự dân gian, các thể loại tự sự của VHHĐ nhận được ít sự quan tâm hơn của các nhà nghiên cứu Bên cạnh đó, số lượng các công trình nghiên cứu thường chỉ tập trung vào một thể loại hoặc cụ thể Điều này có thể được giải thích bởi hai nguyên nhân: thứ nhất, các nhà nghiên cứu chưa thật sự quan tâm đối với các thể loại; thứ hai, trên thực tế, thành tựu của chính thể loại còn rất khiêm tốn

Tóm lại, trên cơ sở điểm lại tình hình nghiên cứu về LHTS trong văn học dân tộc Thái

thời kì hiện đại, chúng tôi nhận thấy, cho đến thời điểm này, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tổng quan, khái quát, hệ thống về các phương diện nội dung và nghệ

Trang 16

thuật của loại hình trong văn học dân tộc Thái Trong khi trên thực tế, đây lại là một trong những loại hình văn học có những thành tựu đặc biệt quan trọng, góp phần tạo nên một diện mạo hoàn chỉnh, đa dạng, giàu bản sắc của văn học dân tộc Thái Nhận thức về “khoảng trống”

còn bỏ ngỏ này, chúng tôi đã chọn vấn đề Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì

hiện đại làm đề tài nghiên cứu của đề tài

2 Tính cấp thiết

2.1 Đất nước ta đang trong thời kì đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại

hoá, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế Đây là thời cơ, vận hội lớn nhưng đồng thời cũng là những thách thức không nhỏ đối với nền văn học, nghệ thuật dân tộc Để thực hiện được mục tiêu xây dựng một “nền văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, một trong những chủ trương và giải pháp được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm đề ra trong Nghị quyết 23 NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 16/06/2008 về Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kì mới là “có chính sách đặc biệt hỗ trợ sự phát triển của ngôn ngữ, chữ viết và văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số” Do vậy, nghiên cứu về văn học dân tộc thiểu số (DTTS) là một việc làm phù hợp và thiết thực nhằm góp phần thực hiện thành công chủ trương của Đảng và Nhà nước trong xây dựng, phát triển văn học nghệ thuật nói chung cũng như văn học, nghệ thuật các DTTS nói riêng

Là một bộ phận cấu thành của nền văn học Việt Nam, văn học các DTTS trong suốt quá trình tồn tại, vận động đã có những đóng góp quan trọng, tạo nên một nền văn học dân tộc giàu bản sắc, đa dạng và thống nhất Bởi vậy, nghiên cứu văn học Việt Nam không thể không nghiên cứu văn học các DTTS

2.2 Trong nền văn học dân tộc Thái, tự sự là một trong những loại hình văn học kết

tinh được nhiều thành tựu Trong số không nhiều các DTTS (19 trên tổng số 53 DTTS anh em) có văn học viết, dân tộc Thái trong hơn nửa thế kỉ phát triển văn học viết của mình đã xây dựng được một nền văn học khá toàn diện với đầy đủ các thể loại văn xuôi, thơ, kịch

và một lực lượng sáng tác tương đối đông đảo (14 tác giả, chỉ đứng sau dân tộc Tày) Những thành tựu này có vai trò quan trọng góp phần tạo nên diện mạo hoàn chỉnh của nền văn học Thái cũng như góp phần khẳng định vai trò, vị trí của loại hình tự sự (LHTS) văn học Thái nói riêng và của nền văn học Thái nói chung trong nền văn học các DTTS cũng như nền văn học cả nước

Mặc dù đã có những công trình nghiên cứu về LHTS trong văn học dân tộc Thái, nhưng do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, những công trình này mới chỉ dừng lại ở việc tiếp cận trên những góc độ riêng lẻ Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về LHTS trong nền văn học Thái

Trang 17

2.3 Từ những lí do trình bày ở trên, chúng tôi thấy, việc nghiên cứu LHTS trong

văn học dân tộc Thái theo hướng tiếp cận hệ thống và mang tính chỉnh thể là hướng tiếp cận cần thiết trong việc tìm hiểu về văn học Thái Với cách tiếp cận này, chúng ta sẽ có được một cái nhìn khá toàn cảnh về LHTS trong văn học dân tộc Thái, về sự ảnh hưởng của LHTS VHDG truyền thống đến LHTS trong văn học hiện đại (VHHĐ) cũng như thấy được những thành tựu, đóng góp và vai trò, vị trí của LHTS trong văn học Thái nói riêng, văn học dân tộc Thái nói chung trong nền văn học Việt Nam Đồng thời, qua đó, cũng sẽ góp phần khẳng định, tôn vinh một nền văn học, một dân tộc đã có nhiều công lao, đóng góp cho sự nghiệp phát triển văn hoá, văn nghệ các DTTS nói riêng và đất

nước nói chung Vì vậy, chúng tôi lựa chọn vấn đề Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại làm đề tài nghiên cứu của đề tài

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Đề tài đi sâu làm rõ những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật, tính kế thừa, phát huy và phát triển các giá trị truyền thống của LHTS văn học dân tộc Thái; phác họa diện mạo của LHTS trong nền văn học Thái

- Góp phần khẳng định, tôn vinh giá trị của văn học dân tộc Thái trong nền văn học các DTTS nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung

4 Cách tiếp cận

Đề tài tiếp cận các vấn đề nghiên cứu trên quan điểm hệ thống, quan điểm lịch sử

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: được sử dụng trong quá trình thu thập

và xử lí tư liệu nhằm đưa ra được những con số, bảng biểu thống kê, phân loại cụ thể, xác thực và đáng tin cậy phục vụ quá trình nghiên cứu

- Phương pháp chuyên gia: được sử dụng trong quá trình thu thập tư liệu, gặp gỡ, phỏng vấn sâu với các nhà văn Thái hiện đại

- Phương pháp so sánh: được dùng để khảo sát những mối liên hệ giữa các thể loại thuộc LHTS văn học dân tộc Thái với nhau, trong mối tương quan với nền văn học của các DTTS khác và với nền văn học dân tộc Kinh Qua đó, chỉ ra những ảnh hưởng cơ bản

và mối quan hệ giữa chúng với nhau, đồng thời cũng dùng để chỉ ra những ảnh hưởng của LHTS dân gian đối với LHTS hiện đại trong văn học dân tộc Thái

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Mỗi một hiện tượng, tác phẩm, thể loại văn học đều nằm trong mối quan hệ quy chiếu đa chiều với các ngành khoa học khác như dân tộc học, văn hóa học, lịch sử học,… Sử dụng phương pháp này, tác giả có thể tìm hiểu, cắt nghĩa, phân tích, lí giải các hiện tượng, tác phẩm, thể loại văn học đó trong tính phức hợp, đa chiều vốn có

Trang 18

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được áp dụng để phân tích các tác phẩm, tác giả cụ thể, qua đó rút ra những kết luận, nhận định khái quát chứng minh cho các luận điểm khoa học của đề tài

- Phương pháp hệ thống hóa: LHTS bản thân nó đã là một hệ thống bao gồm nhiều thể loại khác nhau Trong mỗi thể loại lại bao gồm hệ thống các tác phẩm được biểu hiện qua các phương diện nội dung, hình thức nghệ thuật… Phương pháp hệ thống hóa

sẽ giúp tác giả đề tài nhận thức một cách toàn diện, rõ ràng, theo hệ thống những vấn đề nghiên cứu đã đặt ra

6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

6.1 Đối tượng nghiên cứu

Để thực hiện đề tài Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại, chúng tôi hướng đến đối tượng nghiên cứu là các tác phẩm thuộc LHTS VHHĐ

dân tộc Thái

6.2 Phạm vi nghiên cứu

6.2.1.Phạm vi tư liệu nghiên cứu

- Các tác phẩm thuộc LHTS trong VHHĐ dân tộc Thái, bao gồm các tổng tập, tuyển tập, hợp tuyển, truyện cổ đã xuất bản

- Các bài viết, công trình nghiên cứu về LHTS trong văn học viết dân tộc Thái nói riêng và của văn học các DTTS nói chung

- Một số tác phẩm, tác giả tiêu biểu của các dân tộc khác làm cơ sở cho việc đối chiếu, so sánh làm nổi bật những đặc điểm tiêu biểu của LHTS trong văn học dân tộc Thái

6.2.2 Phạm vi vấn đề nghiên cứu

- Chúng tôi giới hạn phạm vi vấn đề nghiên cứu qua 4 thể loại: truyện (truyện ngắn

và truyện vừa), tiểu thuyết, trường ca và truyện thơ Cho đến nay, đây là 4 thể loại kết tinh được nhiều thành tựu hơn cả Ở các thể loại này, chúng tôi chủ yếu lựa chọn, khảo sát những tác phẩm, tác giả tiêu biểu đã được xuất bản thành sách và một số tác phẩm được in trên các tạp chí địa phương

7 Nội dung nghiên cứu

Phần Nội dung của đề tài được triển khai thành ba chương Cụ thể như sau:

Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài Chương 2 Cảm hứng nghệ thuật trong loại hình tự sự văn học dân tộc Thái Chương 3 Cốt truyện, nhân vật và lời văn nghệ thuật trong loại hình tự sự văn học dân tộc Thái

Trang 19

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Môi trường địa - văn hóa của dân tộc Thái ở Việt Nam

1.1.1 Đặc điểm địa lí tự nhiên và nguồn gốc lịch sử dân tộc

1.1.1.1 Đặc điểm địa lí tự nhiên

Dân tộc Thái ở Việt Nam cư trú chủ yếu ở vùng Tây Bắc Về mặt địa giới hành

chính, vùng văn hóa Tây Bắc “bao gồm các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, một phần của Hòa Bình, Lào Cai, Yên Bái và miền núi các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An” [53,

tr 47] Đây là vùng rừng núi điệp trùng hiểm trở với những ngọn núi cao nhất nước (như Phanxipăng, Yam Phình ) Xen giữa những dãy núi trùng điệp là các cao nguyên rộng lớn (Mộc Châu, Tả Phình,…) và những cánh đồng lòng chảo nổi tiếng từng đi vào

câu tục ngữ: “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Tấc, tứ Than” Hệ thống sông suối của Tây Bắc

khá dày đặc Do ảnh hưởng của địa hình nên dòng chảy của các sông suối ở Tây Bắc thường đột ngột và dữ dội, đặc biệt là vào mùa mưa

Khí hậu nơi đây là khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt Một năm có thể chia ra hai mùa chính: mùa nóng và mưa, mùa rét và hanh khô Vào mùa rét, nhiệt độ có khi hạ xuống đến mức dưới 00C (nhiệt độ âm) gây ra hiện tượng băng tuyết Vào mùa nóng, nhiệt độ

có thể lên tới 390C và mỗi tiểu vùng lại có những kiểu khí hậu khác nhau Khí hậu khắc nghiệt cùng với địa hình núi non hiểm trở khiến vùng Tây Bắc xưa từng bị coi là vùng

“rừng thiêng nước độc” Người xưa có câu “Nước Sơn La, ma Hòa Bình” nhằm nói về

cái dữ dội của thiên nhiên nơi đây

Tuy có địa hình phức tạp song về tổng thể, có thể ví vùng Tây Bắc rộng lớn như

“một ngôi nhà lớn có hai tầng: tầng 1 (vùng thấp), tầng 2 (vùng cao) Vùng thấp là vùng cư trú chính của các dân tộc Thái, Mường, Lào, Lự, nhưng gương mặt văn hóa vùng thấp Tây Bắc là văn hóa Thái” [53, tr 48] Vùng cao là nơi cư trú của các dân tộc

Mông, Dao, Hà Nhì, Si La, Khơ Mú Gương mặt văn hóa vùng cao là văn hóa Mông Sống trong một vùng địa lí tự nhiên khắc nghiệt, hiểm trở nhưng cũng rất thơ mộng, trữ tình, đồng bào các DTTS Tây Bắc, trong đó có người Thái, đã sớm biết cách chung sống hài hòa với tự nhiên, khai thác các nguồn lợi từ nó để phục vụ cho cuộc sống Ở chiều ngược lại, những đặc điểm riêng về địa lí tự nhiên của vùng cũng để lại những dấu ấn đậm nét và ảnh hưởng lớn đến tập quán cư trú, canh tác, lối sống và văn hóa tộc người

Trang 20

Ở Việt Nam, người Thái phân chia thành hai ngành: Thái Đen [Tay (Thay) Đăm] và Thái Trắng [Tay (Thay) Khao hay Đón]

Từ rất lâu, nhóm Thái Đen đã theo nếp cũ coi mình thuộc dòng tộc mẹ, mang biểu tượng rồng ở nước kết hợp với dòng tộc cha mang biểu tượng chim én ở cạn (núi) Người Thái Trắng coi mình thuộc dòng dõi mẹ - chim - cạn (núi) kết hợp với cha - rồng - nước [62, tr 15] Dân số của cộng đồng người Thái là 1.550.423 người [11, tr 14]

1.1.2 Đặc trưng văn hóa dân tộc

1.1.2.1 Văn hóa vật chất

Là chủ nhân của vùng thấp Tây Bắc, cuộc sống của người Thái gắn liền với núi rừng, với những dòng sông, con suối Chính địa bàn cư trú này đã tạo ảnh hướng lớn và

để lại những dấu ấn đậm nét trong văn hóa dân tộc Trải qua hàng ngàn năm khai thác tự

nhiên Tây Bắc, người Thái đã tạo được hệ sinh thái nhân văn thường được gọi là “văn hóa thung lũng”

Người Thái ở Việt Nam là cư dân nông nghiệp, sống bằng nghề làm ruộng nước là chính Kĩ thuật trồng lúa của người Thái đạt đến trình độ cao so với nhiều DTTS anh em khác Bên cạnh việc trồng cấy lúa nước, người Thái còn có tập quán làm nương rẫy Ngoài làm ruộng và nương, người Thái còn chăn nuôi (trâu, bò, lợn,

gà, cá ruộng,…), săn bắn (muông thú), hái lượm (lâm thổ sản, rau, măng,…) và đánh

cá (ở các sông, suối)

Để tự cung tự cấp, các gia đình Thái trước đây đều làm nghề thủ công Hầu hết đàn ông đều biết đan lát, làm đồ dùng cho nông nghiệp, đánh cá Theo tập quán, người con gái Thái, khi lấy chồng phải mang theo của hồi môn bắt buộc là chăn, đệm, gối cho gia

Trang 21

đình nhà chồng Vì vậy, con gái Thái học dệt từ rất sớm Phụ nữ Thái nổi tiếng trong việc dệt vải thổ cẩm và thêu thùa với những mặt hàng tinh xảo mang đậm bản sắc dân tộc Đối với người Thái, gạo nếp là lương thực chính Hiện nay, người Thái đã bắt đầu có

thói quen ăn gạo tẻ Mặc dù vậy, đối với họ, “nếp vẫn là thứ lương thực lí tưởng, đồng thời vẫn là vật đặc trưng cho văn hóa tộc người” [86, tr 169]

Người Thái ưa dùng đồ nướng Trong các món ăn của người Thái, cá có một vị trí quan trọng Ngoài ra, khi nói tới phong tục ẩm thực của người Thái không thể không nhắc tới rượu Rượu là thức uống trong các dịp vui buồn và là vật tượng trưng của các nghi thức Do đó, trong cuộc sống, với ý nghĩa nào đó, dân tộc này đã xem nó như một thức uống cần thiết hàng đầu, dùng quanh năm, ngang tầm với cơm (lảu khảu), trong đó nổi tiếng nhất là rượu cần (lảu xá) Theo người Thái, cuộc sống sung túc lí tưởng là đạt

tới mức như câu tục ngữ đã tổng kết: “Đi, ăn cá; về, uống rượu; đêm đến đắp chăn nằm đệm” (pay, kin pa; ma, kin lảu; tảu, non xứa hốm ha)

Theo truyền thống xưa thì người Thái ở nhà sàn Điều đặc biệt của kiến trúc nhà sàn

cổ của người Thái là không phải dùng đến một mẩu sắt nhỏ nào trong thiết kế Thay vào

đó là cả một hệ thống dây chằng, buộc, thắt khá công phu và tinh xảo bằng lạt tre, giang

và mây hoặc vỏ những cây chuyên dùng được gọi là hu, xa, năng, xiều Nhìn vào cấu trúc

mái, ta có thể phân biệt kiểu nhà sàn của từng nhóm địa phương khác nhau Nhà sàn của

người Thái Đen và Thái Trắng ở Mộc Châu, Sơn La thì có mái “vòm khum mai rùa” (tụp môn, côm, xlăng táu) và thường đặt ở hai đầu hồi hình biểu tượng tạc bằng gỗ quét vôi trắng hai thanh tre, tựa như hai đôi sừng gọi là khau cút Nhà sàn của người Thái Trắng ở

Mường Lay, Mường Tè, Phong Thổ (Lai Châu) do có mặt phẳng cắt hình chữ nhật gần

vuông nên có 4 mái thẳng và gấp góc (tụp lặt) Nhà sàn của người Thái ở vùng Thanh

Hóa, Nghệ An có mái thấp, lòng nhà hẹp, có dáng gần với nhà sàn của người Mường Đối với người Thái, nếp nhà sàn không chỉ là một đơn vị không gian chứa đựng một tế bào của xã hội (nên người Thái mới gọi là “cộng đồng nhà” (chua hươn)) hay

mang ý niệm là “nơi chứa đựng cộng đồng những người thuộc dòng máu cha” [86, tr

124] (nên có tên “nhà tông - nhà cúng” (hươn đẳm - hươn pang) mà còn là không gian chứa đựng văn hóa tâm linh

So với nam giới, trang phục nữ của người Thái được cho là độc đáo vì đã làm tăng

vẻ đẹp trời ban của người con gái Phụ nữ của hai ngành Thái là Đen và Trắng đều mặc váy đen, áo ngắn (xửa cỏm) Áo cỏm được may khéo léo ôm bó sát người làm tôn vẻ đẹp khỏe mạnh, tự nhiên và vóc dáng “thắt đáy lưng ong” của cơ thể Dọc hai đường viền vạt

áo có khuy cài bằng bạc hình bướm hoặc ve Điểm khác biệt trong chiếc áo của phụ nữ

Trang 22

hai ngành Đen và Trắng là chi tiết cổ áo Trang phục nữ Thái Đen còn có khăn piêu mầu đen, hai đầu có thêu những hoa văn kỉ hà bằng chỉ nhiều màu sắc

Kiểu để tóc của phụ nữ Thái phân biệt khá rõ hai ngành Đen và Trắng Khi chưa chồng, nữ Thái Đen búi tóc đằng sau gáy (khót phôm), khi có chồng búi tóc ngược lên đỉnh đầu để hơi nghiêng về bên trái (tẳng cảu) Chồng chết, trong thời gian để tang thì búi

ở lưng chừng giữa đỉnh đầu với gáy gọi là “búi tóc kiêng” (khót phôm me mải), hết tang lại tiếp tục búi tóc ngược như khi chồng còn sống

Người Thái có ngôn ngữ và văn tự riêng Ngôn ngữ của dân tộc này thuộc hệ ngôn ngữ Thái - Ka đai (tức hệ ngôn ngữ Nam - Thái), bắt nguồn từ hệ chữ Sanscrit (Ấn Độ) Do

có chung một cội nguồn, ngôn ngữ Thái có tỉ lệ thống nhất cao Việc có văn tự và chữ viết riêng chứng tỏ trình độ phát triển văn minh cao của người Thái

1.1.2.2 Về văn hóa tinh thần

Khác với nhiều dân tộc khác trên dải đất hình chữ S này, người Thái không chịu ảnh hưởng của Phật giáo hay các tôn giáo ngoại lai khác Bên cạnh trạng thái tôn giáo

nguyên thủy “vạn vật hữu linh”, xưa nay, “dân tộc này vẫn tin và thờ một lực lượng siêu nhiên mà thuật ngữ Thái gọi là “phi”” [86, tr 403] Người Thái quan niệm, mỗi một cá thể người có “30 hồn ở phía trước và 50 hồn ở phía sau” (xam xíp khuôn mang nả; hả xíp khuôn mang lăng)

Khi giải thích về sự tồn tại của linh hồn, người Thái cũng tin rằng: người có linh hồn của người; bản, mường có linh hồn của bản mường và cõi trời cũng có nơi chứa

đựng “những linh hồn bất biến” [62, tr 139] Khi con người còn sống, linh hồn tồn tại

trong thể xác, gọi là phi khoăn Khi con người chết đi, một phần hóa thành ma ác và một phần (hồn chủ) thì trở thành ma nhà, tức tổ tiên (phi hươn) Tương tự như vậy, người Thái có Phi bản, Phi mương (Thần bản, Thần mường) và Phi phạ, Phi Then (Cõi trời),

Quan niệm và niềm tin trên về các loại phi (linh hồn) của người Thái đã dẫn đến sự

ra đời của các nghi thức và nghi lễ liên quan như: lễ “sửa hồn” (peng khuôn), lễ “gọi hồn lạc” (hiệck khuôn lông) và lễ “cúng hồn” (xên khuôn), lễ “cúng nhà” (xên hươn), nghi lễ

và nghi thức liên quan đến việc cúng linh hồn bản, mường gọi là xên bản, xên mường

Ngày nay, việc cúng bản, cúng mường và cúng then đã không còn được tổ chức trong

cộng đồng người Thái Tuy nhiên, với quan điểm gìn giữ bản sắc dân tộc, các loại lễ xên bản, xên mường đang được Nhà nước khuyến khích phục dựng

Ngoài các nghi thức, nghi lễ liên quan đến linh hồn mang đặc trưng văn hóa tộc người, đồng bào Thái còn có những lễ hội nổi tiếng khác như lễ hội Xăng khan, hay còn gọi là lễ hội Kin chiêng boóc mạy hoặc hội Chá chiêng; lễ hội Hoa ban,…

Trang 23

Nguyên tắc cơ bản trong hôn nhân của người Thái là ngoại hôn dòng họ Việc kết hôn lại tuân theo nguyên tắc hôn nhân thuận chiều trên cơ sở ba mối quan hệ cơ bản trong dòng họ của người Thái là Ải noọng - Lung ta và Nhinh xao Hôn nhân của người

Thái mang “tính phụ quyền và tính mua bán, thể hiện rõ ở vai trò quyết định của cha

mẹ, tiền thách cưới” [55, tr 135]

Theo phong tục truyền thống, người Thái có tục ở rể Thời gian ở rể có thể kéo dài

từ 8 đến 12 năm Ngày nay, do sự mai một của truyền thống, lễ cưới của người Thái cũng giản tiện đi nhiều và thời gian ở rể cũng được rút ngắn, nhiều nơi không quá 3 năm VHDG cổ truyền của đồng bào Thái được lưu giữ lại nhờ phương thức truyền miệng và ghi chép thành văn Cho đến nay, dân tộc này còn giữ được cả một kho tàng VHDG phong phú và độc đáo, bao gồm gần như đầy đủ tất cả các thể loại như thần thoại, truyền thuyết, sử thi, truyện cổ tích, truyện thơ, tục ngữ, câu đố, truyện cười,… trong đó, có nhiều tác phẩm lớn đã được giới thiệu rộng rãi và được nhiều bạn đọc trên

cả nước yêu mến đón nhận như Xống chụ xon xao, Quam tô mương,… Cùng với những

thành tố văn hóa khác, đây được coi là những thành tựu nổi trội của một dân tộc sớm có chữ viết, có năng lực tư duy và khiếu thẩm mĩ được đánh giá cao trong cộng đồng các dân tộc anh em Việt Nam

Tóm lại, nền văn hóa của người Thái thể hiện rõ sự thích nghi, thích ứng của đồng bào đối với địa bàn cư trú và những đặc điểm riêng trong lịch sử phát triển tộc người Trải qua quá trình xây dựng và phát triển lâu dài, chúng tạo thành “gen” văn hóa, thành bản sắc văn hóa dân tộc Chất “gen” ấy không chỉ ảnh hưởng và để lại dấu ấn đậm nét trong trong lối sống, trong cách cảm, cách nghĩ, trong thói quen tư duy nghệ thuật của riêng người Thái mà còn tạo ảnh hưởng lớn đến cả một vùng văn hóa Tây Bắc

1.2 Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái

1.2.1 Một số vấn đề lí thuyết về loại hình tự sự

1.2.1.1 Vấn đề phân loại trong văn học và khái niệm “loại hình tự sự”

Việc phân loại văn học luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Lí luận văn học (LLVH) xưa nay đã biết đến nhiều cách phân loại khác nhau Trong

đó, cổ xưa và phổ biến nhất là cách chia tác phẩm văn học ra làm ba loại là tự sự, trữ tình

và kịch Người đầu tiên đề xuất sự phân chia này là Aristote trong công trình Nghệ thuật thi ca của ông Bàn về ba “phương thức mô phỏng” của thơ ca (tức nghệ thuật ngôn từ), ông cho rằng: “Có thể mô phỏng bằng cùng một phương tiện và cùng một đối tượng bằng cách kể về một sự kiện như về một cái gì tách biệt với mình như Homère đã làm, hoặc là người mô phỏng tự nói về mình mà không thay đổi ngôi nhân xưng, hoặc trình bày tất cả các nhân vật được mô phỏng bằng động tác và hoạt động của chúng” [3, tr 23] Các

Trang 24

“phương thức mô phỏng” mà Aristote vạch ra về sau được gọi là loại văn học “Khái niệm

đó bao hàm các đặc điểm của các thuộc tính cả nội dung lẫn hình thức của tác phẩm văn học nghệ thuật” [19, tr 8] Cách chia ba của Aristote được nhiều học giả sau này như

Hegel, Belinski,… tiếp tục kế thừa và phát triển vỞ Việt Nam, cách “chia ba” cũng được

áp dụng phổ biến trong các giáo trình về VHDG hay LLVH

Các tác giả cuốn Lí luận văn học (GS.TSKH Phương Lựu chủ biên) áp dụng cách

chia ba, nhưng chọn trình bày bốn thể loại tiêu biểu: thơ trữ tình, kịch, tiểu thuyết và kí [44, tr 350] Đây đồng thời cũng là cách chia của GS.TS Trần Đình Sử trong các sách giáo khoa về văn viết cho Trung học phổ thông, các năm 1991, 1992 GS.TSKH Lê Ngọc Trà gọi tên ba loại là: truyện, thơ và kịch Theo đó, LHTS bao gồm các thể loại cơ bản như: khúc ca anh hùng (anh hùng ca), trường ca, truyện (tiểu thuyết đoản thiên), tiểu thuyết, truyện ngắn, ngụ ngôn,… [44, tr 380]

Về cơ bản, cách “chia ba” được dựa trên những tiêu chuẩn phân loại tương đối nhất quán Đó là phân chia dựa vào các quy luật xây dựng hình tượng, phương thức phản ánh đời sống của tác phẩm văn học Trong đề tài, chúng tôi chọn phân loại này để tiếp cận LHTS trong văn học dân tộc Thái Bởi qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu về nền văn học dân tộc Thái nói chung, LHTS văn học dân tộc Thái nói riêng, chúng tôi nhận thấy, đây là cách tiếp cận phù hợp và hiệu quả

Về mặt thuật ngữ, “tự sự” là khái niệm được bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ, espos

có nghĩa là lời nói, lời kể Dựa vào kết quả phân loại văn học như trên đã trình bày, tự

sự được hiểu là một trong những “phương thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai phương thức khác là trữ tình và kịch được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học” [23,

tr 385] Về phương diện thể loại văn học, trên cơ sở phương thức phản ánh tự sự đã hình thành LHTS [23, tr 386]

Theo quan điểm này, trong đề tài, khái niệm “loại hình” được dùng tương đương với khái niệm “loại”, mang ý nghĩa là cấp độ lớn nhất trong phân chia văn học, gồm nhiều thể

loại Thuật ngữ “loại hình” là cách dùng của tác giả các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,

Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học [23, tr 385,406], Thuật ngữ “loại” là cách dùng của các tác giả trong sách Lí luận văn học (Phương Lựu (chủ biên) [44, tr 348],…

Như vậy, về mặt thuật ngữ, trong đề tài, thuật ngữ “loại hình tự sự” được chúng tôi sử dụng có ý nghĩa tương đương với thuật ngữ “loại tự sự”, mang ý nghĩa là một loại hình văn học, bên cạnh hai loại hình còn lại là trữ tình và kịch

Nằm trong loại hình văn học, tác phẩm tự sự mang những đặc điểm riêng so với các tác phẩm thuộc hai loại hình trữ tình và kịch

Trang 25

Nếu như tác phẩm tự sự phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó thông qua các sự kiện thì tác phẩm trữ tình phản ánh hiện thực trong sự cảm nhận chủ quan về nó Thế giới của TPTS là thế giới tồn tại bên ngoài người trần thuật, không phụ thuộc vào ý muốn và tình cảm của họ Tất cả những sự việc của đời sống được nhà văn kể lại như một

đối tượng khách quan ở bên ngoài mình Bàn về điều này, Belinski viết: “Thơ tự sự chủ yếu là thơ khách quan, bề ngoài cả trong quan hệ với chính nó, với nhà thơ và với cả người đọc… Ở đây không thấy nhà thơ; thế giới được xác định một cách lập thể, tự nó phát triển, và nhà thơ dường như chỉ là người trần thuật giản đơn những gì đã tự nó xảy ra” (Dẫn theo [44, tr 375]) Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm rằng, tính khách quan ở

đây chỉ mang nội dung tương đối Về bản chất, đời sống khách quan được tái hiện lại thông qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ, tức thông qua sự nhận thức, khái quát, đánh giá, thể hiện mang tính chủ quan của nhà văn Trong TPTS, nhà văn cũng thể hiện

tư tưởng và tình cảm của mình Bởi vậy, tác phẩm văn học là sự thống nhất biện chứng giữa tính chủ quan và tính khách quan Nhấn mạnh tính khách quan của TPTS là trên cơ

sở đối sánh bản chất so với tác phẩm trữ tình, đồng thời được hiểu với nghĩa là nội dung được phản ánh trong tác phẩm mang tính khách quan so với NKC Tính khách quan chính là nguyên tắc tái hiện đời sống của TPTS

1.2.1.2 Các yếu tố cơ bản của cấu trúc tác phẩm tự sự

Ðể có cái nhìn khách quan, TPTS tập trung phản ánh đời sống qua các sự kiện, hệ

thống sự kiện Sự kiện “là những sự việc xảy ra trong đời sống, là những hành động,

việc làm, những sự gặp gỡ có khả năng làm bộc lộ bản chất nhân vật, thay đổi mối quan hệ người và người, làm thay đổi cảm xúc, tình cảm, nhận thức, thậm chí số phận nhân vật” [61, tr 160] Đó có thể là những biến cố, sự kiện bên ngoài, tức là phần tồn tại

vật chất với các việc làm, hành động cụ thể có thể thấy được, cũng có thể là những biến

cố, sự kiện bên trong bao gồm tâm trạng, cảm xúc, ý nghĩ Những biến cố, sự kiện bên trong thường không được biểu hiện trực tiếp mà được xem như một đối tượng để đem ra phân tích, nhận biết Nhờ việc miêu tả cuộc sống qua các sự kiện, hệ thống sự kiện mà TPTS mở ra một phạm vi hết sức rộng lớn trong việc miêu tả hiện thực khách quan

Cốt truyện (plot) là "hệ thống sự kiện cụ thể, được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và

nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của các tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch" [23, tr.99]

Về mặt cấu trúc, CTr thường có các thành phần cơ bản như: trình bày, thắt nút, phát triển, cao trào, mở nút Trật tự CTr thường được kể theo trật tự tuyến tính, theo dòng lịch

sử Trong truyện tự sự hiện đại, năm thành phần cơ bản này có thế thiếu vắng một thành

Trang 26

phần và việc kể chuyện có thể không theo trật tự trước sau của câu chuyện, mà có sự đảo ngược, xen lẫn các thành phần

Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại CTr như tiêu chí sự kiện, tiêu chí thời gian, tiêu chí nhân vật,… Căn cứ theo thời gian, CTr được phân thành CTr tuyến tính, CTr khung và CTr gấp khúc Theo tiêu chí nhân vật, có CTr đơn tuyến, CTr đa tuyến, CTr hành động, Ctr tâm lí và CTr dòng ý thức [66, tr.185-186] Trong đề tài, chúng tôi căn cứ vào hai tiêu chí trên để nghiên cứu về mô hình CTr trong LHTS văn học dân tộc Thái Kết quả cho thấy, CTr tuyến tính, CTr khung, CTr gấp khúc và CTr tâm lí là những mô hình CTr tiêu biểu trong LHTS văn học dân tộc Thái

Nhân vật là “phương tiện tất yếu quan trọng nhất để thể hiện tư tưởng trong

TPTS và kịch - nó là phương diện có tính thứ nhất trong hình thức của các tác phẩm

ấy, quyết định phần lớn vừa CTr vừa lựa chọn chi tiết vừa phương diện ngôn ngữ và thậm chí cả kết cấu nữa” [19, tr 15] Trong tác phẩm văn học, nhân vật là phương

tiện khái quát tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng So với nhân vật trữ tình và nhân vật kịch, nhân vật tự sự được tập trung khắc hoạ đầy đặn, tương đối cụ thể ở nhiều phương diện: ngoại hình, hành động, ngôn ngữ, nội tâm và đặc biệt

là trong mối quan hệ với các nhân vật khác Chỉ có trong mối quan hệ với các nhân vật khác, nhân vật mới bộc lộ hết bản chất của mình, những biến đổi trong cuộc đời nhân vật cũng tùy thuộc mối quan hệ này Sự phân loại nhân vật trong tác phẩm có thể dựa vào vai trò của nhân vật trong kết cấu tác phẩm, sự phục vụ của nhân vật cho việc thể hiện lí tưởng xã hội của nhà văn, hình thức cấu trúc nhân vật,… Với mỗi tiêu chí, nhân vật lại được phân loại khác nhau Theo hình thức cấu trúc, nhân vật được chia

thành hai loại nhân vật dẹt và nhân vật tròn Nhân vật dẹt “là loại nhân vật không được khắc họa đầy đặn các mặt ít “giống thực” nhất theo đánh giá của một kiểu tri giác đơn giản về nghệ thuật” [67, tr 90] Loại nhân vật này lại được chia thành hai

loại là nhân vật chức năng (NVCN) và nhân vật loại hình (NVLH) Về bản chất, nhân

vật tròn chính là loại nhân vật tính cách Đây là “loại nhân vật được khắc họa, nhìn ngắm trên nhiều phương diện, đưa tới độc giả cảm tưởng “thực”” [67, tr 92] Từ hai loại cơ bản trên, các tác giả trong giáo trình Lí luận văn học, tập II (phần Tác phẩm và

thể loại văn học), còn nói tới hai loại nhân vật khác là nhân vật tâm lí và nhân vật tư tưởng Cách phân loại nhân vật này được chúng tôi áp dụng trong đề tài để tìm hiểu về

hệ thống nhân vật trong LHTS văn học dân tộc Thái

Ngoài cốt truyện và nhân vật, người kể chuyện cũng là yếu tố quan trọng trong

các TPTS Tuy nhiên, trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi lựa chọn các vấn đề nhân vật, cốt truyện để tìm hiểu và làm nổi rõ những đặc điểm cơ bản của LHTS văn học dân tộc Thái Yếu tố sự kiện được chúng tôi trình bày trong phần cốt truyện Ngoài ra,

Trang 27

chúng tôi cũng tìm hiểu một số đặc điểm về lời văn nghệ thuật để làm rõ hơn những đặc điểm cơ bản của LHTS văn học dân tộc Thái; qua đó, dựng nên một diện mạo chung của loại hình trong nền văn học dân tộc Thái, đồng thời cũng luôn nhìn nó trong sự vận động, biến đổi trong lịch sử phát triển.yện

1.2.2 Khái quát về loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại

Chính thức ra đời từ những năm đầu thập kỷ sáu mươi của thế kỷ trước, cho đến nay, sau chặng đường năm mươi năm vận động và phát triển, loại hình tự sự trong văn học hiện đại dân tộc Thái đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Những thành tựu này được thể hiện khá rõ nét trên nhiều phương diện khác nhau như: sự lớn mạnh về đội ngũ sáng tác, sự phát triển phong phú về thể loại, sự mở rộng phạm vi phản ánh và nâng cao dần về chất lượng nghệ thuật của các tác phẩm văn học Với những thành tựu đó, loại hình văn học này đã từng bước khẳng định được vị trí quan trọng của mình trong nền văn học các DTTS nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung

Lần đầu tiên xuất hiện, tự sự hiện đại dân tộc Thái góp mặt trên văn đàn dân tộc với hai gương mặt là Vương Trung và Lò Văn Sỹ Từ số lượng ban đầu ít ỏi đó, sau hành trình nửa thế kỷ, đến nay, loại hình văn học này đã tập hợp được một lực lượng sáng tác khá đông đảo gồm hàng chục tác giả như Sa Phong Ba, La Quán Miên, Cầm Hùng, Vi Hợi, Kha Thị Thường,… Trong số đó, không ít nhà văn có trình độ, đa tài, vừa sáng tác thơ, vừa viết văn xuôi, vừa nghiên cứu sưu tầm, giới thiệu VHDG như Vương Trung, La Quán Miên, Cầm Hùng, Trên cơ sở bám chắc vào cội nguồn văn hoá, VHDG truyền thống, các nhà văn dân tộc Thái cũng đã có ý thức trong việc tìm hiểu, tiếp thu, khai thác những ảnh hưởng của các dòng văn học khác như dòng văn học cách mạng, văn học hiện thực phê phán của người Kinh và của cả văn học nước ngoài vào trong sáng tác Bởi vậy

mà các tác phẩm văn xuôi dân tộc Thái ngày càng phong phú về nội dung và nâng cao dần về chất lượng nghệ thuật Nhiều tác phẩm và nhà văn Thái cũng đã giành được giải thưởng cao, được giới nghiên cứu, phê bình và bạn đọc yêu mến, khẳng định

Xuất hiện vào những năm đầu của thập niên 60 với những truyện ngắn Hoa trong

men của Vương Trung, Người bán hàng trên Cờ Mạ của Lò Văn Sỹ [12] nhưng phải đến

tận năm 1982, tập truyện ngắn đầu tiên của dân tộc Thái mới chính thức được ra mắt Đó là

tập truyện Những bông ban tím của tác giả Sa Phong Ba Từ đó cho đến hết thập kỉ 80,

không có thêm một tập truyện nào được xuất bản Thể loại truyện (truyện ngắn, truyện vừa) của dân tộc Thái chỉ thật sự nở rộ vào thập niên 90 và những năm 2000 với hàng loạt

tập truyện ngắn được xuất bản của các tác giả như: La Quán Miên với Hai người trở về bản (truyện và kí, 1996), Vùng đất hoa Cờ Mạ (1997), Trời đỏ (truyện và kí, 1998), Bản nhỏ tuổi thơ (2000), Năm học đã qua (2003); Cầm Hùng với Con thuyền lá (1995), Cửa

Trang 28

hàng dược trong nghĩa trang (1998); Sa Phong Ba có Vùng đồi gió quẩn (1995), Chuyện ở chân núi Hồng Ngài (2005), Nhà ấy có ma xó (2010); Kha Thị Thường có Đêm canh ba (tập truyện ngắn in chung, 2000), Lũ núi (2002), Mùa hoa lù cù (2008), Cho đến nay,

truyện ngắn là thể loại gặt hái được nhiều thành công nhất của văn xuôi dân tộc Thái

Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của văn học Thái là tác phẩm Mối tình Mường Sinh của

tác giả Vương Trung xuất bản năm 1994 Mười ba năm sau, tác giả Vương Trung mới

cho ra đời cuốn tiểu thuyết thứ hai của ông và cũng là của văn học Thái là Đất bản quê cha (2007) Hai năm sau đó (2009) đánh dấu sự ra đời của cuốn tiểu thuyết thứ ba - Cơn lốc đen của tác giả Cầm Hùng Năm 2014, nhà văn Thái Tâm cho ra mắt cuốn tiểu thuyết tiếp theo là Tiếng thét Tồng Lôi

Thể loại truyện thơ, cho đến nay, mới ghi nhận một trường hợp duy nhất là Ing Éng

(1967) của Vương Trung Các tác giả Cầm Hùng và Vương Trung đóng góp cho thể loại

trường ca hai tác phẩm là Sóng Nặm Rốm (1979) và Những người con của bản (2000)

Có thể nói, với sự có mặt đầy đủ các thể loại, LHTS hiện đại dân tộc Thái đã phát triển khá phong phú Đây đồng thời cũng là một động lực thúc đẩy loại hình văn học này tiến gần hơn, nhanh hơn, hội nhập sâu hơn vào dòng chảy văn xuôi đương đại Việt Nam Cùng với sự phát triển phong phú, đa dạng về diện, lượng và bước đầu khẳng định về chất, nội dung phản ánh của văn xuôi dân tộc Thái thời kỳ hiện đại cũng ngày càng được mở rộng

Bám sát những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể, văn xuôi của các tác giả dân tộc Thái, một mặt, đã tập trung phản ánh được những thay đổi lớn lao trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội và cả trong đời sống tinh thần của người dân tộc Thái nói riêng và của đồng bào các DTTS miền Bắc nói chung như làm thuỷ lợi, trồng rừng, xây dựng quê hương mới, cuộc sống định canh, định

cư, chống mê tín, dị đoan, chống lạc hậu, bảo thủ,…; mặt khác, nội dung của các tác phẩm cũng đi sâu khai thác và phản ánh các phong tục, tập quán truyền thống, những nét văn hoá đặc sắc của người dân miền núi như cách tỏ tình, phong tục cưới xin, ma chay, tục cúng ma trừ tà, lễ hội,…

Bên cạnh xu hướng tiếp cận hiện thực cuộc sống một cách đơn giản, xuôi chiều, các tác giả Thái cũng đã kịp thời phản ánh những ảnh hưởng và tác động tiêu cực của cuộc sống hiện đại, của kinh tế, của quyền lực, của đồng tiền đối với nhân cách con người

Điều này được phản ánh khá rõ nét trong các truyện ngắn Cú điện thoại bỏ ngỏ, Gói quà

bí mật, Một hội bí mật của những người giàu, Chuyện ông Póm tếu ở Nà Cút của Sa Phong Ba; Hai người trở về bản, Chuyện về ông Phí Hà của La Quán Miên; Hoa nở trái

mùa, Người trong họ của Kha Thị Thường; tiểu thuyết Cơn lốc đen của Cầm Hùng;…

Trang 29

Bên cạnh những nội dung trên, trong văn xuôi dân tộc Thái còn có những trang

viết trong trẻo dành cho thiếu nhi trong các tập truyện Bản nhỏ tuổi thơ và Mùa hoa lù

cù của các tác giả La Quán Miên, Kha Thị Thường; những dòng viết chân thực, xúc động về Hồ Chủ tịch trong Câu chuyện đêm bản Pha, Năm học đã qua của La Quán

Miên,…; những trang viết đầy tâm huyết và cảm động của Cầm Hùng về những người

lính trong Con thuyền lá, Má con bé Lai, Biên Hoà trong anh, “Tù binh” của mẹ, Ăn mừng ngày chiến thắng 30-4,…

Như vậy, có thể thấy, các nhà văn dân tộc Thái đã đem đến cho người đọc một bức tranh khá hoàn chỉnh với đủ các gam màu tối sáng về cuộc sống của đồng bào các DTTS nói chung và của dân tộc Thái nói riêng Đồng thời, cũng qua những trang văn, người đọc có dịp cảm nhận, hiểu sâu hơn và thêm trân trọng những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của các DTTS anh em Viết được như vậy, các nhà văn dân tộc Thái, một mặt, đã chứng tỏ được tâm huyết, tài năng và bản lĩnh sáng tạo nghệ thuật của mình, mặt khác, đã giúp văn học dân tộc Thái nói chung và văn xuôi dân tộc Thái nói riêng bắt nhịp được với sự phát triển của văn học và văn xuôi dân tộc, đưa văn học Thái đến gần hơn với độc giả cả nước

Về mặt nghệ thuật, bên cạnh những đặc điểm như: sự ảnh hưởng đậm nét của VHDG, sự ngắn gọn và sự linh hoạt trong cách kể, cách tả và dựng truyện, các nhà văn dân tộc Thái cũng đã có sự tìm tòi, thử nghiệm, đổi mới trong sáng tác và bước đầu đã đạt được những thành công nhất định

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công kể trên, các thể loại thuộc LHTS hiện đại dân tộc Thái vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế

Mặc dù luôn có ý thức phản ánh và khai thác tính đa diện, đa sắc và đa thanh của hiện thực cuộc sống song nhìn chung, tính phê phán trong các tác phẩm vẫn còn chưa sắc, chưa sâu, thậm chí, ở một số truyện ngắn của Cầm Hùng, La Quán Miên còn mang nặng tính thuyết lý khô khan, thiếu tính khái quát, thiếu khả năng hư cấu và tính sáng tạo

Sự ảnh hưởng của VHDG, một mặt, đã tạo nên sức hấp dẫn, gần gũi và bản sắc riêng của

tự sự hiện đại dân tộc Thái, song mặt khác, sự vận dụng nhiều khi quá đậm của các nhà văn trong sáng tác lại là nguyên nhân cản trở sức sáng tạo nghệ thuật Bên cạnh đó, không hiếm tác giả, tác phẩm, trong những trường hợp cụ thể, đã xa rời bản sắc dân tộc,

hoặc thể hiện nó một cách xơ cứng như một số truyện ngắn: Một hội bí mật của những người giàu, Chuyện một người nuôi thú bị thất nghiệp của Sa Phong Ba, Ngựa ôm, Từ một pô ảnh của Cầm Hùng hay một số tác phẩm khác của La Quán Miên,…

Tất nhiên, những tồn tại và hạn chế trên không phải của riêng tự sự dân tộc Thái mà là tồn tại và hạn chế chung trong nền văn xuôi còn non trẻ của nhiều DTTS anh em

Trang 30

Tóm lại, mặc dù còn tồn tại những hạn chế nhất định song về cơ bản, trải qua hành trình nửa thế kỷ, LHTS hiện đại dân tộc Thái đã đạt được những bước tiến dài, quan trọng trong quá trình hội nhập vào nền văn học Việt Nam hiện đại Điều đáng quý ở đây là, song song với những nỗ lực tìm tòi, đổi mới trong sáng tạo nghệ thuật, các nhà văn dân tộc Thái vẫn luôn có ý thức bám rễ sâu vào vốn văn hoá, VHDG truyền thống Đây chính là điều quan trọng giúp văn xuôi dân tộc Thái vừa hội nhập thành công vừa giữ được bản sắc và sức hấp dẫn riêng

Tiểu kết

Ở Việt Nam, Thái là một trong những dân tộc có lịch sử định cư và phát triển lâu đời Cư trú trên một địa bàn rộng, trọng yếu, với số dân đông thứ hai trong số các DTTS anh em, có đời sống kinh tế xã hội khá phát triển, dân tộc Thái luôn giữ một vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng của đất nước Trải qua lịch sử hàng ngàn năm, người Thái cũng đã sớm định hình và xây dựng được một nền văn hóa phong phú với nhiều nét đặc trưng riêng So với nhiều DTTS anh em khác, người Thái có quyền tự hào về một nền văn học, bao gồm cả dân gian và hiện đại, với diện mạo phong phú và đa dạng, đặc biệt là LHTS LHTS trong VHHĐ dân tộc Thái đã

có sự phát triển khá đồng đều về lượng và chất Sau hơn nửa thế kỉ phát triển, loại hình văn học này đã có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển chung của nền văn học Việt Nam Với những thành tựu và đóng góp đó, LHTS của văn học Thái thời kì hiện đại đã bước đầu nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Tuy nhiên, mức độ và diện nghiên cứu chưa sâu, chưa đồng đều giữ các thể loại

Trang 31

Chương 2 CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG LOẠI HÌNH TỰ SỰ VĂN HỌC DÂN TỘC THÁI THỜI KÌ HIỆN ĐẠI 2.1 Cảm hứng sử thi

Cảm hứng sử thi được hiểu là những tình cảm, cảm xúc tự hào, ngợi ca của tác giả

về những vấn đề lớn lao liên quan đến vận mệnh chung của cả cộng đồng

Trong LHTS của văn học dân tộc Thái, cảm hứng sử thi là một trong những mạch nguồn cảm hứng nổi bật, xuyên suốt và chi phối sự phát triển thể loại của loại hình Trong VHDG, cảm hứng này được kết tinh chủ yếu ở thể loại sử thi Trong LHTS hiện đại, mạch nguồn đó được tiếp nối và thể hiện rõ nét qua thể loại trường ca và một số tiểu

thuyết, truyện ngắn cùng đề tài

Xét về mặt đề tài, chủ đề và tư tưởng, các tác phẩm mang cảm hứng sử thi thường

đề cập đến các vấn đề lớn lao, có ý nghĩa quyết định vận mệnh chung của cả cộng đồng Trong LHTS của VHDG dân tộc Thái, những sự kiện đó là: những cuộc chiến tranh tìm đất, tìm mường, phát triển, mở rộng địa bàn cư trú và những cuộc chiến tranh bảo vệ bờ cõi, bảo vệ cộng đồng Trong LHTS của văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại, đó là vấn

đề xây dựng, củng cố chính quyền và vấn đề phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống ấm

no cho dân tộc Trong mạch nguồn cảm hứng chung mang tính thời đại đó, số phận của

cá nhân luôn được gắn với số phận của cả cộng đồng Bởi vậy, hình tượng nhân vật trong các tác phẩm thường là những anh hùng kết tinh phẩm chất lí tưởng chung của cả dân tộc, những con người hiện thân cho khát vọng, lí tưởng và tầm vóc lớn lao Các tác phẩm mang cảm hứng sử thi thường có giọng điệu lạc quan, tin tưởng với xu hướng khẳng

định, ngợi ca, tự hào Trong thực tế, cảm hứng sử thi thường gắn với cảm hứng lãng mạn

2.1.1 Đề tài gắn với những sự kiện lớn lao có ý nghĩa đối với toàn cộng đồng

Nếu như trong quá khứ, các cuộc chiến tranh của người Thái được tiến hành chủ yếu là nhằm giải quyết vấn đề giành đất định cư, phát triển và mở rộng địa bàn cư trú thì trong thế kỉ XX, những cuộc chiến tranh của họ lại được tiến hành với mục đích là bảo vệ đất nước, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân Đó là cuộc

chiến tranh vệ quốc vĩ đại Điều này được tập trung phản ánh rõ nét ở thể loại trường ca

Trong giới nghiên cứu văn học, các vấn đề liên quan đến thể loại trường ca như vấn đề tên gọi, vấn đề xác định đặc trưng thể loại hay phân loại nó vẫn còn tồn tại nhiều

ý kiến trái chiều Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi chọn cách phân loại của các tác

giả trong sách Lí luận văn học do Phương Lựu chủ biên Trong sách này, trường ca

Trang 32

được xếp vào LHTS Nó được hiểu “là loại tác phẩm mà yếu tố CTr và yếu tố trữ tình

kết hợp hài hòa” [44, tr 384]

Theo khảo sát, cho đến nay, văn học dân tộc Thái đã có ba tác phẩm trường ca được

xuất bản Đó là các trường ca: Sóng Nặm Rốm (1979) của Vương Trung, Những người con của bản (2000) của Cầm Hùng và Tiếng hót chim Nồng Đia (2000) của Vi Văn Thứa (Do điều kiện sưu tầm, chúng tôi đã không tập hợp được trường ca Tiếng hót chim Nồng Đia của nhà văn Vi Văn Thứa) Trên cơ sở tìm hiểu tác phẩm, chúng tôi nhận thấy, chất

sử thi hoành tráng và âm hưởng ngợi ca là những đặc trưng cơ bản Kế thừa truyền thống

và mang ảnh hưởng từ thể loại sử thi dân gian, những vấn đề được đề cập đến trong trường ca hiện đại dân tộc Thái là những vấn đề lớn của lịch sử, dân tộc và thời đại, những vấn đề liên quan đến số phận của cả cộng đồng Đó là những trang viết tràn đầy niềm tự hào về lịch sử hào hùng, về truyền thống cha ông, những trang viết ngợi ca chiến công chống giặc, đánh giặc, thắng giặc và xây dựng, kiến thiết lại bản mường sau chiến tranh của dân tộc Thái anh hùng nói riêng, cả đất nước Việt Nam nói chung

Trong các trường ca, những đoạn tâm huyết nhất, sôi nổi, hùng tráng và đẹp đẽ nhất

là những đoạn viết về cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của cả đất nước nói chung và của

người Thái nói riêng Cả dân tộc Việt Nam vào trận với khí thế hừng hực: “Người nườm nượp cười nói hò reo/ Xe đi như nước chảy/ Vang rừng suốt đêm ngày” [93, tr 136]

Những bản làng người Thái sống những đêm không ngủ, sục sôi chuẩn bị kháng chiến,

dồn toàn tâm toàn lực cho cuộc chiến tranh vệ quốc: “Cả bản chặt tre luồng/ Vót nhọn những mũi tên/… Mang súng kíp súng săn ra trận/ Cả bản rèn dao/ Rèn kiếm/ Cả bản khoan nòng súng/ Đúc đạn chì/ Cả bản gánh gạo nuôi quân/ Những tay nỏ của bản/ Tẩm mũi tên/ Bằng nhựa độc cây rừng” [38, tr 32] Đồng bào sẵn sàng “Vét bồ thóc/ Dỡ những bắp ngô trên gác bếp” để góp phần tiếp tế nuôi quân trong khi chính “Dân các bản quê tôi còn đói” Đối với họ, mối thù đối với những kẻ xâm lăng tàn bạo là mối thù

“Không thể chung bầu trời/ Không thể chung mặt đất” [38, tr 56] Đứng trước mối thù lớn, họ biết nén chặt nỗi đau riêng “Bơi qua những mất mát của mình” để “Bơi vào cuộc chiến tranh vệ quốc” vĩ đại của cả dân tộc, cả đất nước Họ đi vào chiến tranh với tư thế của những người nông dân miền núi đi lên “Từ luống cày vỡ trên mặt ruộng/ Từ nhạt cào cỏ/ Lỗ cọ chọc gieo hạt trên nương” và bằng những vũ khí được trang bị hết sức thô

sơ như gậy guộc, thuổng, giáo, mác, súng kíp, súng săn, nỏ,… Nhưng vượt lên trên tất cả,

những người con dân tộc Thái đã chiến đấu bằng tinh thần thép “Vững như cây lim/ Nhẹ nhàng thanh thản như chim vỗ cánh”, bằng quyết tâm cao độ “Mường còn giặc, họ đi giết giặc” [38, tr 34-36] và sẵn sàng hi sinh không tiếc máu xương: “Chết giữ bản/

Không tiếc thịt xương/ Chết giữ mường/ Không tiếc máu chảy” [38, tr 56]

Trang 33

Trên những cung đường chiến dịch, vất vả gian lao luôn chờ sẵn Nhưng chính trong gian lao thử thách, sức mạnh của con người, sức mạnh của tinh thần đoàn kết càng được khẳng định Vượt lên trên những khó khăn, tầm vóc của con người là tầm vóc mang

tầm vũ trụ: “Vực thẳm nép dưới chân/ Núi cao quỳ dưới gối” Đối với họ, chiến dịch giải

phóng Điện Biên không còn là chốn bom rơi đạn nổ đầy chết chóc nữa Nó đã thực sự trở thành ngày hội của những con người đang khao khát tự do Nhà văn Vương Trung đã

thành công khi tái hiện được không khí sôi nổi ấy: “Người cuốc, người đầm đường/ Nhộn nhịp ong xây tổ/ Người khúc đường này gọi khúc đường kia/ Hẹn một lòng gắng sức”

[93, tr 137-139] Lời kêu gọi kháng chiến của Bác, của Đảng có sức lay động mạnh mẽ đến từng người dân và trở thành nguồn cổ vũ động viên tinh thần lớn lao đối với những người chiến sĩ trên mọi chiến tuyến Quân và dân ta đã tiến công vào tận sào huyệt của kẻ

thù với khí thế mạnh mẽ và áp đảo: “Đạn pháo ta đổ ào/ Hất xe tăng lật ngửa/ Cao xạ phun lửa thiêu cháy máy bay/ Rầm rập quân đi rung chuyển mặt đất” [93, tr 140-142]

Diễn biến của các trận đánh: trận Mường Pồn với tinh thần quả cảm của Bế Văn Đàn, trận diệt đồn Hin Đăm với tấm gương của anh hùng Phan Đình Giót, trận diệt đồn Bản Kéo, trận lấy đồi Độc Lập, trận đồi Lạng Chượng (đồi A1)… được tái hiện rất sống động Cùng với đó là các địa danh, bản làng của người Thái liên tục được xướng tên trong bản

đồ giải phóng như Mường - Trai, Mường - Bú, Ít Ong, Tông - Panh, Phiêng - Ngùa, Có Thé,… Cuối cùng, chiến thắng đã đến với dân tộc anh hùng Cả đất nước hân hoan ca khúc ca khải hoàn trong niềm vui tràn ngập Mọi người cùng nắm tay nhau say sưa trong điệu múa xòe cùng những cô gái Thái duyên dáng Hình ảnh những đoàn quân đi với khí thế bừng bừng trong lễ duyệt binh được ví như hình ảnh của những con sóng Nặm Rốm

đang dâng trào mạnh mẽ: “Như Nặm Rốm dâng trào sóng lớn/ Sóng tiếp sóng mặt sông cuồn cuộn/ Nước qua ghềnh qua thác băng băng” [93, tr 150] Đó là một hình ảnh đẹp

về dòng sông, về sức mạnh quật khởi của dân tộc

Khi chiến tranh đã lùi về quá khứ, đồng bào Thái lại sát cánh cùng nhân dân cả nước khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng cuộc sống mới Những người con của bản như Tam Pong, Phan Tứn,… từng anh dũng trong chiến đấu nay lại là những người anh hùng trong lao động Họ làm việc hăng say quên ăn, quên ngủ, đêm ngày suy nghĩ tìm cách nâng cao năng suất lao động, “lay đất dậy” để khai thác hết tiềm năng của đất Những công việc khó khăn, gian khổ như khuân đá, đắp đập ngăn dòng, đào núi, khai mương không còn là thách thức Niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước, của chính mình, niềm vui được cống hiến, được góp sức mình dựng xây tổ quốc đã khiến bà con quên hết mệt nhọc Khung cảnh hăng say lao động được các nhà văn Thái tái hiện hết sức

sinh động: “Tiếng hát ngân dài thi đắp đập to/ Vang tiếng cười đùa người khuân sỏi đá/ Rộn tiếng vui đào núi bạt mương” [93, tr 154] Bàn tay lao động của con người đã đem

Trang 34

đến cho mảnh đất từng một thời chìm trong khói lửa đau thương luồng sinh khí mới Bằng quyết tâm, con người đã chinh phục và chiến thắng được thiên nhiên Dòng sông Nặm Rốm hùng vĩ, hung dữ đã phải tuân theo ý chí và sức mạnh của con người, rẽ dòng

đem nguồn nước đến cho những cánh đồng: “Nặm Rốm nay rẽ dòng/Vào Huổi Phạ mênh mông hồ lớn/… Rốm trèo vượt vai núi/ Tung nước như đổ bông xuống đồng” [93, tr 154] Các công trình thủy điện sông Đà, Mường La được xây dựng thành công Những người con của bản đã góp phần cùng toàn thể dân tộc hoàn thành ước mơ, khát vọng

muôn đời của con người: chế ngự và chinh phục thiên nhiên hùng vĩ, đem lại nguồn lợi lớn lao cho tổ quốc Ánh sáng lưới điện quốc gia từ những hi sinh thầm lặng và một phần công sức của bà con vùng cao trên những công trình thủy điện đã đến mọi miền đất nước, đến những bản làng dân tộc xa xôi, hẻo lánh, tới được “mọi miền tăm tối” Cuộc sống

đang từng ngày thay da đổi thịt nhờ sức lao động của con người

Có thể nói, tiếp nối nguồn cảm hứng sử thi dân gian, các trường ca trong VHHĐ dân tộc Thái chính là khúc vĩ thanh ca ngợi lịch sử, truyền thống hào hùng của cha ông trong quá trình bảo vệ và xây dựng cuộc sống bản mường Sự vận động và những biến cố lớn lao của lịch sử dân tộc Thái nói riêng, của cả đất nước Việt Nam nói chung đã được

tái hiện qua những bản trường ca đậm chất sử thi

Bên cạnh mạch nguồn cảm hứng đậm nét ở trường ca, hơi thở của lịch sử, của thời đại còn được thể hiện khá rõ nét ở nhiều tác phẩm thuộc các thể loại khác của VHHĐ dân

tộc Thái như: tiểu thuyết Tiếng thét Tồng Lôi (Thái Tâm), các truyện ngắn Những bông ban tím, Lòng rừng, Sao lạ Phiềng Xa (Sa Phong Ba), Xuống núi, Chuyện dời bản dời mường (Vi Hợi),… Ở những tác phẩm trên, các vấn đề lớn liên quan đến các dân tộc vùng

cao nói chung và bà con dân tộc Thái nói riêng như việc tổ chức kháng chiến chống thực dân xâm lăng; chuyện dời bản dời mường của bà con đến các vùng đất tái định cư để lấy đất xây dựng các công trình thủy điện; chuyện xây dựng và phát triển các nông trường chăn nuôi, sản xuất lớn theo mô hình hợp tác xã sau chiến tranh; chuyện trồng cây gây rừng hay đổi mới phương thức làm ăn đã được các nhà văn phản ánh kịp thời Trong đó, công lao to lớn thuộc về nhân dân, thuộc về tập thể song cũng không thể không kể tới vai trò quan trọng của những cá nhân ưu tú, những người anh hùng trong thời chiến và cả trong thời bình như Sầm Văn Bản, Bống, Nhớ, Mọn, Dụ,… Họ chính là những người góp phần làm nên lịch sử, những người đóng góp vào việc thực hiện thành công những chủ trương, chính sách lớn của nhà nước đối với đồng bào các DTTS vùng cao

2.1.2 Con người “hoàn tất” trong cảm hứng sử thi

Trong “thời đại sử thi”, nhiệm vụ giải quyết các vấn đề lớn, có ý nghĩa quan trọng, liên quan vận mệnh của cả cộng đồng thường được đặt lên vai các nhân vật anh hùng

Trang 35

Họ là người tổ chức, dẫn dắt, định hướng và trực tiếp giải quyết các vấn đề lớn liên quan đến vận mệnh, sự sống còn của cả dân tộc Vai trò của họ thuộc về lịch sử và mang tầm thời đại Bởi vậy, tất yếu, đó phải là những con người kết tinh được sức mạnh, ý chí cũng như phẩm chất chung của cả cộng đồng Họ là những nhân vật ạnh hùng của thời đại anh hùng và là trung tâm quy tụ mọi mối dây liên hệ trong một cộng đồng Phẩm chất anh hùng và tính lí tưởng trong nghệ thuật xây dựng kiểu nhân vật này

là một trong những phương diện quan trọng thể hiện khuynh hướng sử thi và tính lãng mạn của các tác phẩm văn học

Trong VHDG dân tộc Thái, kiểu nhân vật này là nhân vật trung tâm trong rất nhiều thể loại như sử thi, truyện thơ, truyện cổ tích… Nhìn chung, đó là đều là những nhân vật

lí tưởng từ nguồn gốc xuất thân, vẻ đẹp hình thể, sức mạnh thể chất đến hoài bão, lí

tưởng sống và các chiến công xuất chúng

Tiếp tục nguồn cảm hứng từ văn học cổ truyền, nhiều tác phẩm thuộc LHTS của VHHĐ dân tộc Thái cũng dành sự chú ý, trân trọng và ngợi ca những con người anh hùng, những con người mới mang lý tưởng xã hội chủ nghĩa, những con người hiện thân cho vẻ đẹp dân tộc và thời đại Trong chiến tranh, đó là những người chiến sĩ dũng cảm,

kiên trung, một lòng trung thành với dân tộc, với tổ quốc như Tam Pong, Phan Tứn (Sóng Nặm Rốm) hay người thủ lĩnh tài ba, đức độ, nhân cách cao đẹp như Sầm Văn Bản (Tiếng thét Tồng Lôi), Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng cuộc sống mới,

đó là những con người dũng cảm, dám đứng lên đấu tranh chống lại những tập quán canh

tác lạc hậu, dám đổi mới như Nhớ, Bống, Nhọm (Những bông ban tím), Dụ (Lòng rừng);

đấu tranh chống lại thói mê tín dị đoan, chống lại cách chữa bệnh bằng bùa phép, phản

khoa học, những thầy cúng lừa đảo lấy tiền của người dân như Pằn (Nỗi bực của y sĩ Pằn); đấu tranh chống lại cái xấu, tập quán du canh du cư trên núi cao của đồng bào để xuống núi lập bản, xây dựng cuộc sống mới như Vừ Bá Cổ (Xuống núi) hay đấu tranh

chống lại những kẻ xấu mang dã tâm phá hoại cộng đồng, phá hoại cuộc sống bình yên

của bà con như Pa Lử, Mai (Nơi trời đất gặp nhau),… Trong số những người dân Tồng Lôi (Tiếng thét Tồng Lôi), Sầm Văn Bản là một trong những nhân cách cao quý nhất

Không cam chịu lối sống bán nước cầu vinh, ông và gia đình đã đổi từ họ Sầm quý tộc sang họ Lương bình dân, từ chối cuộc sống xa hoa để quay trở về sống cuộc sống nghèo nhưng lương tâm được thanh thản với bà con dân bản Trong những tháng ngày cơ cực, khó khăn nhất của người Tồng Lôi, ông luôn sát cánh bên họ, động viên, an ủi, chia sẻ với họ, dũng cảm đứng lên bênh vực quyền lợi, đấu tranh bảo vệ họ trước những kẻ sát nhân khát máu Nếu như xem cuộc khởi nghĩa của các nghĩa binh Tồng Lôi là một bản tráng ca ca ngợi sức mạnh tinh thần đoàn kết, tinh thần quả cảm, bản lĩnh kiên cường bất khuất của những người con dân tộc Thái trước kẻ thù thì Sầm Văn Bản chính là một

Trang 36

trong những nốt son đẹp nhất trong bản tráng ca đó Tài năng, đức độ, nhân phẩm, tấm lòng nhân ái của người thủ lĩnh nghĩa binh không chỉ khiến những người dân trong bản Tồng Lôi, trong tổng Thuần Hàm cảm phục, nể trọng mà còn khiến kẻ thù phải khiếp sợ, cúi đầu Xây dựng hình tượng nhân vật như vậy, các nhà văn dân tộc Thái, một mặt, thể hiện rõ sự tiếp thu, ảnh hưởng đối với văn học truyền thống; mặt khác, đã giúp người đọc

có cơ hội được thâm nhập sâu và hiểu hơn về vùng phát sáng tự nhiên cao đẹp trong bản

chất con người Thái

Trong các tác phẩm mang cảm hứng sử thi của văn học dân tộc Thái, vấn đề số phận của cá nhân đã được gắn chặt với số phận của cộng đồng Các vấn đề đời tư hầu như không được đặt ra, nếu có thì cũng chỉ nhằm nhấn mạnh thêm trách nhiệm và tình cảm của người anh hùng đối với dân tộc Đặc biệt, ở nhiều tác phẩm, gắn liền với những sự kiện hào hùng của dân tộc là câu chuyện về số phận của con người bước từ bóng đêm của cuộc đời nô lệ

đắng cay ra ánh sáng của cuộc sống tự do Tam Pong, Phan Tứn trong Sóng Nặm Rốm hay những người chị, người mẹ trong Những người con của bản đều dũng cảm vượt qua bi

kịch cá nhân, bi kịch gia đình, nén vào lòng nỗi đau riêng để hòa mình vào trong cuộc chiến đấu chống lại kẻ thù chung của cả dân tộc Được tôi rèn trong thử thách, họ từng bước trưởng thành rồi trở thành những người lãnh đạo trong hàng ngũ cách mạng, quay trở

về giải phóng bản mường, gặp lại gia đình, người thân sau chiến thắng và tiếp tục vững vàng đi lên trong cuộc sống mới của dân tộc Đây đồng thời cũng chính là tính lãng mạn lịch sử trong các tác phẩm trường ca hiện đại của văn học dân tộc Thái

Có thể nói, các nhân vật, hình tượng trong các tác phẩm mang cảm hứng sử thi, tuy thuộc nhiều tầng lớp, lứa tuổi, thành phần khác nhau song đều mang trong mình những phẩm chất anh hùng, đều thể hiện tầm vóc lớn lao, kết tụ sức mạnh, ý chí cũng như phẩm chất chung của cả cộng đồng Xuất phát từ cơ sở của hiện thực, song vẻ đẹp cả về thể chất lẫn tinh thần của những nhân vật này đã được lí tưởng hóa Đây cũng chính là tính lãng mạn lịch sử trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của các tác phẩm mang cảm hứng sử thi

Vẻ đẹp của nhân vật, không chỉ mang ý nghĩa tự thân, mà còn chứa đựng trong nó ước mơ, khát vọng, lí tưởng và niềm tin của con người về sức mạnh dân tộc Điều này thể hiện nhân sinh quan tích cực mang chất nhân văn cao đẹp trong các tác phẩm văn học Thái

2.1.3 Sự rạn nứt trong quan niệm về hiện thực chiến tranh

Trên thực tế, tất cả các TPTS hiện đại mang cảm hứng sử thi của văn học dân tộc Thái đều ra đời vào thời hậu chiến Điều này có nghĩa là với độ lùi sau chiến tranh, các nhà văn đã

có một khoảng thời gian cần thiết để chiêm nghiệm lịch sử và tích lũy cảm xúc Họ sáng tác, không phải chỉ nhằm ca ngợi hay tự hào mà còn để cùng chiêm nghiệm lại nỗi đau, nhìn lại những mất mát, hi sinh, qua đó, trân trọng hơn quá khứ và lịch sử dân tộc Bởi vậy, bên cạnh

Trang 37

chất sử thi hoành tráng và âm hưởng hào hùng, nhiều TPTS dân tộc Thái còn có những trang viết thấm đẫm nỗi đau, nước mắt và máu của của những người con, những bản làng Thái oằn mình dưới gót giầy xâm lăng Nói cách khác, văn xuôi dân tộc Thái đã xuất hiện những dấu hiệu rạn nứt của cảm hứng sử thi trong quan niệm hiện thực về chiến tranh

Trong thể loại trường ca, độc giả từng có cơ hội được chứng kiến, được hòa mình vào không khí sôi nổi, hào hùng, những cuộc chiến đấu oanh liệt của quân và dân ta trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, trong đó có phần công lao của đồng bào các DTTS Cũng qua những trang viết, chúng ta có thể cảm nhận rất rõ niềm hoan ca chiến thắng của cả dân tộc Nó thể hiện lòng tự hào của các nhà văn Thái đối với truyền thống cha ông Nhưng nếu chỉ có vậy, những tác phẩm đó sẽ rơi vào tình trạng ngợi ca một chiều dễ dãi Điều đó cũng có nghĩa là, chúng sẽ chỉ là thứ văn chương cổ động mà độc giả sẽ không có nhiều lí do để nhớ, để lưu ấn tượng

Điều đáng nói ở đây là, trong các tác phẩm, lịch sử, quá khứ và truyền thống dân tộc

đã không chỉ được tái hiện mà còn được viết lên bởi những dòng cảm xúc suy tư, chiêm nghiệm Bởi vậy, nội dung, nguồn cảm hứng của trường ca không chỉ là những chiến công, niềm vui, sự lạc quan hay sự ngợi ca một chiều mà trong đó còn chứa đựng những buồn đau, mất mát và những cảm xúc rất thực, rất đời thường của những con người đã trải qua một thời máu lửa Bên cạnh không gian lí tưởng, không gian lãng mạn, trong các tác phẩm còn có không gian hiện thực trần trụi và không gian xã hội hậu chiến

Không ít những trang viết mô tả không gian hiện thực khủng khiếp của chiến tranh

để tố cáo tội ác của kẻ thù, để ghi lại cho vô vàn thảm cảnh mà con người phải chịu đựng trong chiến tranh Khắp nơi trên những bản làng của người Thái, giặc điên cuồng tàn phá

khiến “Lúa bông rụng đầy cây/ Nhà nát sàn trơ cột/ Chất chồng núi đắng cay” [93, tr

123] Chúng tìm mọi cách ngăn chặn “Lòng dân với cách mạng” bằng các thủ đoạn tàn

ác: “Cột chân tay/ Chở thuyền ra giữa sông Đà/ Thả trôi thác” khiến “Nước sông Đà đỏ máu người thân” [38, tr 61] Sức mạnh hủy diệt và sự tàn ác của chúng được ví như cơn

“lũ quét qua mường”, như “cơn mưa độc tàn phá” [38, tr 74] Cuộc sống của người dân

Thái khốn khổ vì một cổ hai tròng Ngoài vơ vét, bóc lột và tàn sát, chúng còn bắt những người con gái Thái phục vụ để làm trò tiêu khiển, làm nhục họ và thi nhau “giằng xé” như lũ thú hoang dại, cuồng loạn [93, tr 129]

Chiến dịch Điện Biên Phủ cũng được tái hiện với tất cả sự dữ dội, tàn khốc của chiến tranh Đứng trước sự chống trả quyết liệt của quân và dân ta, giặc điên cuồng cho máy bay đến thả bom khắp nơi hòng tiêu diệt quân ta, tiêu diệt sự sống trên mặt đất

Sức hủy diệt của chiến tranh được tái hiện bằng những hình ảnh sinh động: “Thả bom cháy lúa vàng/ Hạt lúa nổ sôi đất/ Khói cuộn tung rối trời/ Chúng nhảy dù như đổ rác/

Trang 38

Phá sạch bóng mường bản/ Đào nát nền đất rừng” Chúng phô diễn sức mạnh quân sự hùng hậu nhằm đè bẹp tinh thần chiến đấu của quân và dân ta: “Bắn đại bác thay gà gáy canh một canh ba/ Thả pháo sáng nhiều thay chăn đắp ấm/ Dội bom phá rừng thay tiếng trống mừng bữa ăn” [93, tr 135-136]

Bên cạnh niềm hoan ca, khúc vĩ thanh chiến thắng cũng còn những nốt trầm lặng lẽ, những nỗi đau và mất mát không thể nói thành lời Nhiều người con của bản đã ra đi không có ngày trở lại Các anh đã nằm lại trên chiến trường Nỗi đau khiến cả núi rừng

phải “sững sờ lặng lẽ” Người thì “chờ đợi lòng đau hóa đá” [38, tr 46] Đi xuyên qua

chiến tranh, những người lính, người con của bản cảm nhận rất rõ những tàn dư và hậu

quả khủng khiếp, dai dẳng của nó: “Xuyên đời mình tới đời con đời cháu/ Nhiễm vào gân, vào máu/ Nhiễm vào tim vào não/ Dập tắt đường sinh nở/ Nếu có sinh:/ Cũng sinh

ra những con người quái gở” Trên cơ thể người lính, những vết thương dù đã lành thành sẹo nhưng vết sẹo ấy vẫn luôn “…nhức nhối với thời gian/ Hóa đồng hồ hóa trời mưa, trời nắng” [38, tr 91] Trong số những người con của bản ra trận, có người phải nằm lại

nơi chiến trường, có người may mắn được trở về Trong niềm vui chung của cả dân tộc,

họ - những người con may mắn trở về, lại cảm thấy sợ khi gặp lại những người mẹ, người chị ở bản Người chiến sĩ không run sợ trước kẻ thù tàn ác nhưng lại sợ khi phải đối diện với những người thân yêu của đồng đội đã ngã xuống Họ sợ niềm vui của mình lại chạm vào nỗi đau, vào vết thương của gia đình đồng đội Họ cảm thấy đau khi phải nói ra sự thật, phải chứng kiến cảnh những người mẹ, người chị, người vợ bao năm dài đằng đẵng sống trong chờ đợi, hi vọng, đang hân hoan chờ đón tin vui lại vỡ òa vì mất mát Nỗi đau

ấy xoáy sâu vào lòng những người chiến sĩ trở về Họ đau cho đồng đội đã hi sinh và đau

cả cho những người thân yêu

Cũng như vậy, đọc Tiếng thét Tồng Lôi, độc giả hẳn sẽ không thể nào quên hình ảnh

“cánh đồng Na Nọi khô cằn giờ đã nhuộm đỏ máu” [61, tr 700] và cảnh tượng cả hai

mươi lăm ngôi nhà của bản Tồng Lôi bị giặc đốt cháy ngùn ngụt Chiến tranh, rõ ràng, không chỉ là tội ác, mà cao hơn, là tội ác hủy diệt Cả một bản của người Thái vốn có tên trên bản đồ địa giới hành chính quốc gia, bỗng chốc bị xóa sạch không còn dấu vết, không

còn ai còn sống sót Đó chính là sự thực tàn khốc của chiến tranh

Ngay cả trong thời bình, bên cạnh những cái “được” lớn lao của công cuộc tái thiết

và xây dựng đất nước, các nhà văn Thái cũng không ngần ngại nhìn thẳng vào những cái

“mất”, những nỗi buồn có thực của đồng bào miền núi khi phải di dân ra khỏi mảnh đất

đã gắn bó bao thế hệ Đối với đồng bào vùng cao, đó là sự hi sinh rất lớn Đã bao đời, tổ tiên và cuộc sống của họ đều gắn bó với những vùng đất đó Phải rời bản, rời mường vén lên núi cao, một lần, hai lần rồi ba lần, đối với bà con, là quyết định vô cùng khó khăn

Trang 39

Cất vào sâu trong trái tim những nỗi buồn riêng, họ lại lao vào góp sức cùng người dân

cả nước xây dựng các công trình thủy điện

Rõ ràng, sự thực của lịch sử, thực tế của cuộc sống hay bản chất của chiến tranh, đối với các nhà văn Thái, không phải chỉ là màu hồng tươi đẹp, không phải chỉ là những khúc tráng ca mà còn có những nốt trầm lặng lẽ Khái quát lịch sử bằng những hình tượng cụ thể, cảm xúc trào dâng và lắng đọng chính là một thành công của các TPTS dân tộc Thái

2.2 Cảm hứng thế sự

Nói đến cảm hứng thế sự là nói đến cảm hứng về cuộc sống đời thường, về con người của thực tại Những tác phẩm mang cảm hứng thế sự thường hướng vào sinh hoạt hằng ngày của con người, chú ý khẳng định giá trị thẩm mĩ của cái đời thường, khám phá mọi phức tạp, éo le và cả cái cao quý trên hành trình đi tìm ý nghĩa cuộc sống và hạnh phúc của con người Các tác phẩm mang cảm hứng thế sự là nơi nhà văn có thể miêu tả cuộc sống “như vốn có” thay cho lối miêu tả cuộc sống “như muốn có trước đây” Tác phẩm văn học mang cảm hứng thế sự biểu thị sự đổi mới của nhà văn trong quan niệm về tính chân thực của văn học, đưa văn học thoát khỏi tình trạng “minh họa” hoặc “tô vẽ”

Trong LHTS văn học dân tộc Thái, mạch nguồn cảm hứng này đã trở thành một trong những mạch nguồn cảm hứng chủ đạo từ những năm 80 của thế kỉ XX Nó gắn với nhu cầu nhận thức lại hiện thực của các nhà văn trước những vấn đề phức tạp, đa dạng, nhiều chiều nảy sinh trong cuộc sống của con người thời hậu chiến Thay cho cái nhìn đơn tuyến và đậm chất lí tưởng trước đây là một cái nhìn đa chiều, gai góc, đậm tính phê phán Các nhà văn không ngần ngại đi sâu vào các ngõ ngách, phơi bày lên trang giấy những góc khuất, những mảng màu xám của hiện thực Đó là trạng thái xã hội với những khiếm khuyết, băng hoại về nhân cách, lối sống, những “khoảng tối” nơi công quyền hay bày tỏ những băn khoăn, trăn trở về vấn đề sinh thái,…

2.2.1 Trạng thái xã hội với những khiếm khuyết, băng hoại về nhân cách và lối sống

Người Thái luôn coi trọng những con người có đạo đức, có hành vi, lối sống chuẩn mực, giản dị và lành mạnh Trải qua lịch sử lâu dài, các phẩm chất đó tạo thành những giá trị văn hóa cốt lõi và những quy định ứng xử hài hòa, tốt đẹp giữa con người với con người trong xã hội Tuy nhiên, trên thực tế, ở nhiều lúc, nhiều nơi, những giá trị ấy đang

có nguy cơ bị mai một, phá vỡ do những tác động không thuận chiều từ môi trường xã hội và từ chính những dục vọng đen tối của con người Điều này đã được các nhà văn Thái phản ánh qua các tác phẩm như Cơn lốc đen (Cầm Hùng), Sương rơi từ núi ((Kha Thị Thường), Lão trộm lợn rừng, Ma suối (La Quán Miên),…

Một trong những bộ phận đang có những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về đạo đức, hành vi và lối sống là giới trẻ Lớn lên ở miền rừng núi, nơi cuộc sống còn nhiều

Trang 40

khó khăn, nhiều bạn trẻ may mắn được gia đình cố gắng chắt chiu nuôi cho ăn học với hi vọng con mình sẽ lớn khôn, thành tài và đỡ khổ Trên thực tế, nhiều người trong số họ đã không phụ lòng mong mỏi của gia đình, của quê hương Sau đã đỗ đạt, nên người, họ quay trở về đem tài năng cống hiến cho những bản quê nghèo đã nuôi mình lớn khôn Nhưng cũng không ít người trong số đó đã không chống lại được những cám dỗ của cuộc sống nơi thị thành Họ nhanh chóng bị thay đổi, bị biến chất, trở thành những con người sống buông thả, dễ dãi và sa đọa như trường hợp của Thùy Mai (Cơn lốc đen), Y Sương (Sương rơi từ núi), Ỏn Là (Hai người trở về bản)…

Tiểu thuyết Cơn lốc đen của tác giả Cầm Hùng đã đi sâu khai thác sự tha hoá về đạo

đức, nhân cách của con người trong cuộc sống hiện đại Sự cám dỗ của cuộc sống giàu sang, ăn chơi nơi phố huyện, ham muốn được đổi đời, được ăn diện, đua đòi theo lối sống thị thành, những ham muốn dục vọng, những đồng tiền kiếm được dễ dàng nhờ trao đổi và tận dụng lợi thế của sắc đẹp, của thân xác,… đã biến Thuỳ Mai, cô gái vốn con nhà có truyền thống gia giáo ở một thị trấn nhỏ miền sơn cước thành một kẻ biến chất, tha hoá sâu

về nhân cách Theo dõi diễn biến câu chuyện, người đọc không khỏi xót xa và giật mình

trước những thay đổi tiêu cực trong quan niệm và lối sống của con người thời mở cửa

Cũng vì thèm khát cuộc sống phồn hoa nơi thành phố, nhân vật Y Quy (trong tác

phẩm Suối của rừng của nhà văn người Êđê Niê Thanh Mai) đã vứt bỏ tình nghĩa thiêng

liêng và tình yêu trong sáng để chạy theo người con gái giàu sang Không chỉ phản bội lời thề, Y Quy còn cùng người yêu bỏ nhà ra đi khi bị gia đình phản đối Lối sống sa đọa của những con người trẻ tuổi cũng được nhà văn người Tày Cao Duy Sơn đề cập

đến qua các nhân vật trong nhiều tác phẩm như Làn Dì trong Thằng Hoán, vợ cả Lâm trong Người lang thang, Nhẫn trong Đàn trời,… Đối với những con người này, sự thèm

khát nhục dục và tham vọng tiền bạc không chỉ là một nhu cầu bản năng, sinh lí mà còn

là sự biểu hiện của tư tưởng bệnh hoạn và lối sống quá ư buông thả và dễ dãi

Thông qua tác phẩm, các nhà văn dân tộc Thái nói riêng, các nhà văn DTTS nói chung, đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự băng hoại những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp và sự tha hoá nhân cách trong một bộ phận giới trẻ miền núi Xu hướng đề cao lợi ích cá nhân lên hàng đầu (xu hướng duy lợi) và chỉ quan tâm, chú trọng đến kết quả đạt được (xu hướng thực dụng) mà không quan tâm đến hành động và nhân cách bản thân của những người trẻ này đã và sẽ tiếp tục là nguyên nhân khiến quá trình tự tha hóa

của họ diễn ra sâu hơn và nghiêm trọng hơn

Tình trạng con người bị tha hóa bởi đồng tiền, bởi vật chất không chỉ xảy ra ở những người trẻ mà còn diễn ra trong cuộc sống của những người dân nghèo Ở đối

tượng này, sự tha hóa được diễn ra ở nhiều dạng khác nhau

Ngày đăng: 31/03/2017, 14:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyên An, “Một số ghi nhận về cách viết của La Quán Miên”, Tạp chí Văn hóa các dân tộc, số 12, tr 21 - 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ghi nhận về cách viết của La Quán Miên”, "Tạp chí Văn hóa các dân tộc
2. Thái Phan Vàng Anh (2010), Người kể chuyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Đề tài tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người kể chuyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Năm: 2010
3. Aristote (1999), Nghệ thuật thơ ca (in chung cùng Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca" (in chung cùng "Văn tâm điêu long
Tác giả: Aristote
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
4. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
5. Phạm Đình Ân (1999), “Trời đỏ”, Phụ trương “Văn nghệ Dân tộc và miền núi” - Báo Văn nghệ, số 5, tr 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trời đỏ”, Phụ trương “"Văn nghệ Dân tộc và miền núi
Tác giả: Phạm Đình Ân
Năm: 1999
6. Triều Ân (2006), Tuyển tập văn thơ Triều Ân, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập văn thơ Triều Ân
Tác giả: Triều Ân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
7. Sa Phong Ba (1980), Những bông ban tím (Tập truyện ngắn), Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bông ban tím
Tác giả: Sa Phong Ba
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1980
8. Sa Phong Ba (1994), Vùng đồi gió quẩn (Tập truyện ngắn), Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vùng đồi gió quẩn
Tác giả: Sa Phong Ba
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 1994
9. Sa Phong Ba (2005), Chuyện dưới chân núi Hồng Ngài (Tập truyện ngắn), Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện dưới chân núi Hồng Ngài
Tác giả: Sa Phong Ba
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2005
10. Sa Phong Ba (2010), Nhà ấy có ma xó (Tập truyện ngắn), Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà ấy có ma xó
Tác giả: Sa Phong Ba
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2010
11. Trần Bình (2014), Giáo trình Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Tác giả: Trần Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
Năm: 2014
12. Nông Quốc Chấn (1977), Một vườn hoa nhiều hương sắc, Nxb Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vườn hoa nhiều hương sắc
Tác giả: Nông Quốc Chấn
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1977
13. Nông Quốc Chấn (chủ biên) (1999), Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Nông Quốc Chấn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1999
14. Nông Quốc Chấn chủ biên (2004), Tinh tuyển văn học Việt Nam - Văn học dân tộc ít người, tập 2, quyển 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh tuyển văn học Việt Nam - Văn học dân tộc ít người
Tác giả: Nông Quốc Chấn chủ biên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
15. Cầm Cường (1993), Tìm hiểu văn học Thái ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn học Thái ở Việt Nam
Tác giả: Cầm Cường
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
16. Nguyễn Văn Dân (2012), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2012
17. Trịnh Bá Đĩnh (2011), Chủ nghĩa cấu trúc và văn học: Nghiên cứu – Văn bản- Thuật ngữ, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa cấu trúc và văn học: Nghiên cứu – Văn bản- Thuật ngữ
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2011
18. Trần Lê Phương Đông (2003), “Thế giới qua con mắt trẻ thơ” (Nhân đọc “Bản nhỏ tuổi thơ” của tác giả La Quán Miên), Tạp chí Sông Lam, số tháng 7&8, tr 14 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới qua con mắt trẻ thơ” (Nhân đọc “"Bản nhỏ tuổi thơ"” của tác giả La Quán Miên), "Tạp chí Sông Lam
Tác giả: Trần Lê Phương Đông
Năm: 2003
19. G.N. Pospelov (chủ biên) (1985), Dẫn luận nghiên cứu văn học (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà dịch), tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận nghiên cứu văn học
Tác giả: G.N. Pospelov (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1985
77. Phùng Gia Thế (2010), Tổ chức trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/, ngày 26/3/2010 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Phụ lục 4. BẢNG THỐNG KÊ SỐ LẦN SỬ DỤNG BIỆN PHÁP SO SÁNH   TRONG MỘT SỐ SÁNG TÁC CỦA CÁC NHÀ VĂN DÂN TỘC THÁI - Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái thời kì hiện đại (NCKH)
h ụ lục 4. BẢNG THỐNG KÊ SỐ LẦN SỬ DỤNG BIỆN PHÁP SO SÁNH TRONG MỘT SỐ SÁNG TÁC CỦA CÁC NHÀ VĂN DÂN TỘC THÁI (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w