Vì thế, khi nghiêncứu sự biến đổi trong đời sống văn hóa cña ngêi Th¸i ë Quú Ch©u không chỉgiúp chúng ta hiểu thêm về thay đổi trong phong tục tập quán của cộng đồngdân tộc ít người tron
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dân tộc Thái là một thành viên của Đại gia đình 54 dân tộc anh em sinhsống trên đất nước Việt Nam Dân tộc Thái có một nền văn hóa rất phong phúthể hiện trong nếp sống văn hóa, phong tục tập quán mang những đặc trưngriêng không lẫn với dân tộc nào Là một dân tộc có số dân đông, chỉ đứng saungười Kinh và người Tày về số lượng Riêng ở miền Tây Nghệ An người Tháichiếm số lượng đông nhất, họ sở h÷u một nền văn hóa cực kỳ phong phú vàđầy chất trữ tình thể hiện trong trong lịch sử, văn hóa dân gian, họ có trangphục độc đáo, tiếng nói riêng biệt, đặc biệt là những phong tục, tập quán sinhhoạt đa dạng
Sinh hoạt văn hóa là một yếu tố vô cùng quan trọng trong cộng đồng tộcngười, nó có vai trò quyết định để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, giữanền văn minh này với nền văn minh kia Vì vậy, khi nghiên cứu về lĩnh vựcnày chúng tôi cho rằng có ý nghĩa chiến lược lâu dài, tác động đến việc xâydựng và phát triển văn hóa nước ta trong giai đoạn mở cửa giao lưu và xâydựng nền văn hóa Viêt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo Nghị quyếtTrung ương 5 khóa VIII đã đề ra
Do sự phân bố lao động kể từ ngày thống nhất đất nước, dân tộc Thái đã
có điều kiện tiếp xúc mạnh mẽ với văn hóa các dân tộc khác, nhất là dân tộcKinh từ miền xuôi lên miền núi lập nghiệp Vì vậy, nền văn hóa của cộngđồng người Thái ở miền Tây Nghệ An đã có sự giao thoa, tiếp thu qua lại, ởchừng mực nào đó diễn ra quá trình Việt hóa Nhưng không vì thế mà họ mất
đi giá trị truyền thống của mình Người Thái ở Qùy Châu – Nghệ An luôn biếtgiữ gìn những giá trị tốt đẹp mà thế hệ trước để lại, đồng thời trên cơ sở đó họ
Trang 2tiếp thu những yếu tố văn hóa tiên tiến của các dân tộc cùng cộng cư và sángtạo ra những yếu tố văn hóa mới thích hợp với hoàn cảnh sống
Trong quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa, đời sống của dân téc Thái ởQùy Châu có những nét thay đổi theo chiều hướng tích cực Vì thế, khi nghiêncứu sự biến đổi trong đời sống văn hóa cña ngêi Th¸i ë Quú Ch©u không chỉgiúp chúng ta hiểu thêm về thay đổi trong phong tục tập quán của cộng đồngdân tộc ít người trong thời kỳ hội nhập, mà còn cung cấp tài liệu để các nhàchức năng có cái nhìn toàn diện về đời sống của người Thái về những đónggóp của họ từ sau ngày đất nước đổi mới đến nay Để từ đó có chính sách hợp
lí cho việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc Thái Nghiên cứu chuyển biếntrong đời sống văn hoá của dân tộc Thái ở Quỳ Châu - Nghệ An từ năm 1986đến năm 2009 có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc
Là con em người Thái vùng miền núi dân tộc thiểu số Nghệ An, nơi hội
tụ của bản sắc văn hóa dân tộc Người viết nhận thấy mình có tình cảm, vừa
có trách nhiệm đối với nền văn hóa dân gian người Thái Những lí do trên đãthôi thúc chúng tôi nghiên cứu để hiểu sâu hơn về giá trị văn hóa và nhữngthay đổi trong đời sống tộc người của dân tộc Thái Chính vì vậy chúng tôi
mạnh dạn chọn đề tài “Chuyển biến trong đời sống văn hóa của dân tộc Thái ở Qùy Châu – Nghệ An từ năm 1986 đến năm 2009” làm khóa luận tốt
nghiệp Đại học
2 Lịch sử vấn đề
Sinh sống lâu đời trên dải đất Việt Nam, kế thừa nền văn hóa cổ truyềncủa cha ông, người Thái đã góp phần không nhỏ vào kho tàng văn hóa chungcủa các dân tộc Việt Nam Họ có nhiều phong tục tập quán truyền thống tốtđẹp, văn hóa đa dạng Dân tộc Thái đã được giíi nghiên cứu dân tộc học vàvăn hóa học trước đây cũng như gần đây chú ý tới Nhiều công trình nghiêncứu nghiêm túc về các dân tộc trong đó có dân tộc Thái được in thành sách,
Trang 3những kết quả và thành công đó của những người đi trước rất đáng trân trọng
và cần tiếp thu Thời phong kiến đã có một số tác phẩm nổi tiếng đề cập đến
dân tộc Thái như bộ Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Sách Nghệ An
ký của Bùi Dương Lịch, Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều
Nguyễn đã giúp chúng ta có thêm cơ sở để nghiên cứu về người Thái Thờigian gần đây xuất hiện nhiều cuốn sách và tạp chí nghiên cứu về người Thái
trên cả nước nói chung và Nghệ An nói riêng như cuốn Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An của Nguyễn Đình Lộc, tư liệu về lịch sử của dân tộc Thái của Đặng
Nghiêm Vạn
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đó đã đi vào các lĩnh vực khác
nhau, tuy nhiên vẫn còn ở diện rộng Gần đây nhất là hai luận văn: Bước đầu tìm hiểu đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc Thái ở miền Tây Nghệ An từ
1975 đến nay của tác giả Nguyễn Thị Huyền và Đời sống văn hoá vật chất của người Thái ở huyện Quỳ Châu, Nghệ An của tác giả Nguyễn Thị Nuôi đã
đề cập đến đời sống văn hoá vật chất, tinh thần của người Thái ở miền TâyNghệ An nói chung, tuy nhiên về cơ bản còn nặng về lĩnh vực văn hoá Đểhiểu rõ hơn về những thay đổi trong đời sống văn hoá của dân tộc Thái ởhuyện Quỳ Châu nói riêng và dân tộc Thái nói chung trong thời kỳ đổi mới vàđưa ra những đề xuất nhỏ, nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
Do đó, đề tài “Chuyển biến trong đời sống văn hóa của dân tộc Thái ở Qùy Châu – Nghệ An từ năm 1986 đến năm 2009” mặc dầu còn bó hẹp trong
phạm vi nhỏ và mang tính chất địa phương nhưng hoàn toàn mới mẻ
3 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1 Nguồn tư liệu
Tư liệu có được là do thu thập từ nguồn tư liệu dân tộc học, nguồn tưliệu văn hóa, các sách tham khảo, nguồn tư liệu địa phương, các báo cáo, tạp
Trang 4chí Ngoài ra, chúng tôi còn gặp gỡ và trao đổi với một số già làng, trưởngbản, thầy mo người dân tộc Thái ở các bản Đôm, Luồng, Kẻ Bọn
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài chúng tôi đã tuân thủ phương pháp khoa học trong
đó phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp lôgiclịch sử là những phương pháp được vận dụng trong việc nghiên cứu đề tài.Ngoài ra, khãa luËn còn sử dụng các phương pháp chuyên ngành như :phương pháp mô tả, phương pháp liên hệ, so sánh, thống kê, điều tra để xử lý
tư liệu chính xác, đảm bảo tính khoa học của quá trình phân tích , tổng hợp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu về “sự biến đổi trong đời sống văn hóa của dântộc Thái ở huyện Qùy Châu - Nghệ An từ năm 1986 đến năm 2009”
- Tìm hiểu khái quát về nguồn gốc địa bàn cư trú và đặc điểm của ngườiThái ở Qùy Châu - Nghệ An
- Nghiên cứu về sự biến đổi trong sinh hoạt vật chất, tinh thần của dântộc Thái ở Quỳ Châu – Nghê An từ 1986 đến năm 2009
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài đề cập đến vấn đề “sự biến đổi trong đời sống văn hóa của dântộc Thái ở huyện Qùy Châu từ năm 1986 đến năm 2009”, những nội dungkhác không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 5NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI CỦA
NGƯỜI THÁI Ở HUYỆN QUỲ CHÂU, NGHỆ AN
1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Quỳ Châu.
1.1.1 Vị trí địa lí
Quỳ Châu là một huyện miền núi vùng cao của tỉnh Nghệ An, cáchtrung tâm tỉnh lỵ 150 km về phía Tây Bắc trên quốc lộ 48 Tổng diện tích tựnhiên là 107.360,78 ha chiếm khoảng 10% diện tích toàn tỉnh Nghệ An Cótoạ độ địa lý: 190- 19047’ vĩ độ Bắc, 104054’ – 1050 17’ kinh độ Đông Phía Bắc
và Đông Bắc tiếp giáp 2 huyện Thường Xuân và Như Xuân của tỉnh ThanhHoá, phía Tây Bắc giáp huyện Quế Phong, Phía Tây Nam Giáp huyện TươngDương, phía Đông giáp huyện Nghĩa Đàn, Phía Nam giáp huyện Quỳ Hợp
1.1.2 Địa hình
Huyện Quỳ Châu có địa hình khá phức tạp Theo các nhà địa chất, vùngnúi Quỳ Châu được kiến tạo từ thời Đại cổ sinh và đã trải qua thời kỳ bào mònxâm thực rất lâu dài Đây là một vùng thung lũng nằm trong thềm lục địa cổ,nơi có núi lửa hoạt động nên địa hình trở nên đa dạng, phức tạp.Vùng đất nàytập trung chủ yếu các dãy núi loại thấp chạy theo hướng Tây Bắc - ĐôngNam Độ cao trung bình của hệ thống các dãy núi so với mặt biển là 800m đếngần 1000m Tuy nhiên, vùng Quỳ Châu cũng có những dãy núi khá cao như:
Pú Chó (cao 1500m), Pú Quặm (cao 1500m), Pu Huống (1600m) Những dãynúi này thường có các sườn dốc rất lớn, và bị nhiều dòng chảy chia cắt.Những vùng ở độ cao dưới 300m thì kết cấu địa chất hầu hết là sa phiến, đávôi và phố biến nhất là đất Latêrít màu vàng đỏ Những vùng có độ cao từ400m đến 800m có nhiều đá Phirít, còn những vùng có độ cao từ 900m trở lên
Trang 6thì hầu hết là núi đá vôi Nhìn chung, vùng núi Quỳ Châu đã hình thành nênquần thể động - thực vật thích hợp với giới hạn vùng cư dân trong lịch sử.
1.1.3 Khí hậu
Vùng núi Quỳ Châu chịu ảnh hưởng trực tiếp của miền khí hậu Sông
Mê Công và được chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô so với vùnglưu vực sông Lam thì các mùa ở đây thường đến sớm nhưng lại kết thúc muộnhơn từ 15 đến 20 ngày, nhiệt độ và lượng mưa đều khác nhau Mùa mưa kéodài từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm Thường gây mưa lớn Lượng mưatrung bình trong mùa đạt tới 1829,2 mm và thường tập trung vào tháng 9 Mùakhô bắt đầu từ tháng 11 năm trước cho đến tháng 3 năm sau Đây là thời gian
có gió lạnh phương Bắc thổi mạnh, khí hậu khô hanh và rét đậm kéo dài.Những nơi có độ cao trên 1500m thường xuất hiện sương mù và băng giá, dorét hạn và hạn hán kéo dài đã làm cho sông suối ở Quỳ Châu vào mùa khô cạnkiệt với khí hậu như vậy, mùa hạ lượng mưa lớn, nước sông thì dâng nhanhgây ra lũ lụt rất nguy hiểm, mùa khô lại không đủ nước để tưới tiêu, trồng trọt
là những vùng lúa chủ yếu của huyện Đồng thời hệ thống sông ngòi ở QuỳChâu còn chứa đựng một tiềm năng về thuỷ điện rất lớn
1.1.5 Khoáng sản, động - thực vật
Trang 7Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn nói chung phong phí nhưng trữlượng không lớn và không tập trung Các loại khoáng sản như vàng, thiếc,quặng, đặc biệt là đá Rubi (Châu Bình - Quỳ Châu) với trữ lượng 54,077kg.Đây là tiềm năng cho công nghiệp khai thác đáp ứng nhu cầu xây dựng vàphát triển kinh tế trên địa bàn.
Thảm thực vật Quỳ Châu dày đặc, có nhiều tầng, đặc biệt, tài nguyênrừng hết sức phong phú và đa dạng Theo thống kế cho thấy ở Quỳ Châu cótới 84 họ và hơn 500 loài thực vật Nhiều loại gỗ quý hiếm được coi là có giátrị kinh tế cao như gỗ lim, sến, lát, gụ, de, dổi,… Ngoài ra còn có nhiều loạicây đặc sản như sa nhân, nấm hương, thiên nhiên kiện, cánh kiến,… với giá trị
sử dụng cao Động vật cũng hết sức đa dạng, có nhiều loại thú quý như voi,
hổ, bò tót,… đó là chưa kể đến các loại động vật hoang dã mà đồng bào sănbắt hàng ngày phục vụ cho nhu cầu thực phẩm
Tóm lại: Điều kiện tự nhiên ở Quỳ Châu, nơi quần tụ của đồng bào cácdân tộc thiểu số có ảnh hưởng rất lớn đến phương thức tồn tại, phương thứccanh tác và hoạt động kinh tế - xã hội cũng như sinh hoạt văn hoá tinh thầncủa con người
- Về hành chính:
Vùng đất thuộc 3 huyện Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Quế Phong từ xưa vốn làmột đơn vị hành chính Năm 1415 gọi là Châu Quý, năm 1649 đổi thành phủQuỳ Châu Đến năm 1963 theo Quyết định số 53/CP của Chính phủ, QuỳChâu được chia ra làm 3 huyện: Quỳ Châu, Quỳ Hợp và Quế Phong [20;7 ]
Hiện nay, huyện Quỳ Châu gồm có 11 xã và 1 thị trấn Do vị trí địa líphức tạp như trên nên Quỳ Châu được chia thành 4 vùng, có những đặc điểmsinh thái, kinh tế khác nhau
Trang 8+ Vùng 1 (vùng trên) gồm 4 xã: xã Châu Tiến, xã Châu Bính, xã ChâuThuận, xã châu Thắng với tổng diện tích tự nhiên là 24.930 ha, dân số trên 1,4vạn người, đây là vùng trồng lúa lớn nhất của huyện.
+ Vùng 2 (vùng giữa) gồm 1 xã và 1 thị trấn, đó là: xã Châu Hạnh vàthị trấn Quỳ Châu Có tổng diện tích là 13.957 ha, dân số trên 1 vạn người
+ Vùng 3 (vùng dưới) gồm 3 xã: Châu Hội, Châu Bình, Châu Nga.Tổng diện tích tự nhiên là 33.179ha, dân số trên 1,6 vạn người
+ Vùng 4 (vùng trong) gồm 3 xã: Châu Phong, Châu Hoàn và DiênLãm Có tổng diện tích tự nhiên là 35.614ha, dân số trên 1 vạn người [ 32;9]
1.2 Người Thái ở Quỳ Châu - Nghệ An
Quỳ Châu là vùng đất có con người cư trú và làm ăn từ rất lâu đời Saukhi phát hiện ra di chỉ Thẩm Ồm (Châu Thuận), các nhà khảo cổ học chochúng ta biết rằng, trên dải đất miền Tây Bắc Nghệ An cách ngày nay khoảng
20 vạn năm, người nguyên thuỷ đã có mặt và sinh sống
Trong đại gia đình các dân tộc ở Quỳ Châu ngày nay, Thái là dân tộc có
số dân đông nhất Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 2009, dân tộc Thái ởQuỳ Châu là 39.679 người [32;10] Do vậy mà yếu tố văn hoá truyền thống ởvùng này vừa mang tính thống nhất của văn hoá Thái, vừa mang tính đặc thùcủa địa phương
1.2.1 Tên gọi và lịch sử cư trú
Trang 9Cũng như cộng đồng Thái ở vùng Tây Bắc hay vùng đường 7 tỉnh Nghệ
An, cộng đồng Thái ở Quỳ Châu cũng có những nhóm địa phương mang têngọi khác nhau Nếu như ở Tây Bắc có sự phân định rõ ràng theo hai ngànhThái Đen (Táy Đăm) và Thái Trắng (Táy Khao), thì ở Quỳ Châu có 2 nhómThái: Tày Mường (còn gọi là Hàng Tổng hay “Dọ”) và Tày Thanh (còn gọi làMan Thanh hay “Nhại’)
Nhóm Tày Mường (hay gọi là Hàng Tổng) là nhóm chủ mường, có sốlượng chiếm phần đông Theo tiếng Thái “Tày Mường” là tên khẳng định họ
là người của mường, chủ mường Còn tên gọi Hàng Tổng có thể là tên dongười Kinh gọi xuất hiện cùng với việc thành lập các cấp hành chính thờiMinh Mệnh (nhà Nguyễn) Nếu so sánh với người Thái ở Tây Bắc, chúng ta
dễ dàng nhận thấy về mặt ngôn ngữ và văn hoá, nhóm Tày Mường ở QuỳChâu (Nghệ An) và ở Thường Xuân (Thanh Hoá) gần giống với người TháiTrắng ở Tây Bắc
Nhóm Tày Thanh là nhóm không có chủ ở mường, tức không phải làngười gốc ở Mường Theo sự giải thích của nhóm này thì tên gọi Tày Thanhbắt nguồn từ nơi cư trú trước khi họ di cư đến đây là Thanh Hoá và MườngThanh (Điện Biên – Lai Châu) Tuy số lượng không nhiều nhưng sự có mặtcủa nhóm Tày Thanh đã góp phần làm phong phú thêm văn hoá Thái ở QuỳChâu
Còn tên gọi “Tày Dọ” hay “Tày Nhại” thông thường do các nhóm gọinhau để phân biệt nhóm tộc người mình với nhóm khác theo ý không tôntrọng lắm “Dọ” nghĩa là tạm, chẳng hạn như “Dù dọ” là ở tạm; “Nhại” là dichuyển, như “Nhại hươn”, “Nhại ban” (chuyển nhà, chuyển bản) Rất có thể
do tranh chấp quyền làm chủ mường nên nhóm này cho rằng nhóm kia mớichuyển từ khác đến và xin ở tạm nhờ đất, mường của mình và ngược lại
Trang 10Như vậy, trong tên gọi của các nhóm Thái ở Quỳ Châu (Nghệ An) hàmchứa những ẩn số mang nhiều ý nghĩa sâu sắc, tuy nhiên, về cơ bản, các nhómThái ở đây có sự thống nhất về mọi phương diện: kinh tế, văn hoá, xã hộinhưng vẫn có những nét văn hoá riêng biệt biểu hiện đặc biệt ở phương diệnphong tục tập quán, trang phục, thẩm mĩ,…
1.2.1.2 Lịch sử cư trú
Khi tìm hiểu về nguồn gốc của người Thái ở Nghệ An, có ý kiến chorằng: ngoài bộ phận đến từ thiên di, người Thái ở Nghệ An còn có bộ phậnbản địa Quan điểm này muốn chứng minh ở Nghệ An có người Thái cổ sinhsống Qua nghiên cứu các di chỉ khảo cổ học trong vùng, Diệp Đình Hoa đã đi
đến nhận định: “Phần đất người Thái cư trú hiện nay đã từng có người sinh sống ít ra từ cuối thời đá cũ cho đến thời đại chủng Nêgrôit – Ôxtralôit Nhóm người này qua quá trình kết hợp với những nhóm người từ nới khác đến đã dần Mônggôlôit hoá về mặt chủng tộc Đến thời kỳ dựng nước đầu tiên, họ có chung những đặc trưng mà chúng tôi gọi là Việt Cổ Trong quá trình thống nhất và đa dạng hoá, những đặc trưng về mặt khảo cổ học cho phép chúng ta suy nghĩ rằng, những người này cũng có thể đồng thời là tổ tiên của người Tày – Thái cổ”.
Gần đây, những tư liệu nghiên cứu về dòng họ, phong tục, tập quán,trang phục, lễ hội truyền thống tổ chức xã hội của 2 nhóm Hàng Tổng và ManThanh, tác giả Hoàng Lương cho rằng: nhóm Man Thanh, Hàng Tổng và cácnhóm tương tự mà lâu nay được ghép vào nhóm Thái Trắng thực ra là nhómThái Cổ Theo chúng tôi, quan điểm trên đây không hẳn là không có cơ sở, vìrằng hàng loạt các di chỉ khảo cổ ở miền núi Nghệ An như: Con Cuông,Tương Dương, Nghĩa Đàn, Quỳ Châu,… cho thấy sự tồn tại của các nền vănhoá khảo cổ từ thời đại đá cũ đến thời đại đá mới rồi thời đại đồ đồng và sơ kỳ
đồ sắt là khá liên tục
Trang 11Theo một số nhà Nghiên cứu thì người Thái chỉ có mặt ở đây sớm nhất
là hơn 10 thế kỷ Vậy thì khoảng trống gần 10 thế kỷ ở vùng đất này ai là chủnhân? Phải chăng một trong số họ là cư dân Tày – Thái cổ? Các nhà nghiêncứu cho rằng vào khoảng thế kỷ XI và XII do nhu cầu sản xuất và để mở rộngvùng cư trú người Thái từ nam Trung Quốc đã thiên di vào vùng Tây Bắc ViệtNam Họ tràn khắp từ vùng Lai Châu, Nghĩa Lộ đến Sơn La và sau đó dạtxuống vùng núi Thanh Hoá, Nghệ An Theo Đặng Nghiêm Vạn, các nhómThái di cư vào đất Nghệ An không thể sớm hơn thế kỷ XI – XII
Theo các tài liệu thông sử thì người Thái có mặt ở vùng Phủ Quỳ vào
thế kỷ XIII – XIV, rõ nhất là vào thời thuộc Minh Theo cuốn Đại Nam nhất thống chí, rằng vào thời thuộc Minh có Cầm Quý là tù trưởng và thủ lĩnh cai
quản ở đó Khi Lê Lợi đem quân vào Nghệ An, Cầm Quý đem toàn bộ dân
binh với hơn 8000 quân và 10 con voi gia nhập nghĩa quân Trong cuốn Nghệ
An ký của Bùi Dương Lịch có ghi: Phủ Quỳ Châu xưa thuộc đất Bào Nam, tục
gọi là Mường Tôn - đầu thời Lê do tù trưởng Cầm Công chiếm giữ Đến thờiHồng Đức tách ra làm phủ Trấn Ninh
Trong truyện thơ dài Lái Lông mường của đồng bào Thái cũng phản
ánh ý thức ban đầu của người Vượn hiện đại đối với thời ấy:
…“Ỷ khắc mới đẻ ra hòn đất,
Ỷ khi mới đẻ ra ông trời, Miếng đất bằng lá đa, Ông trời bằng vỏ ốc…”
Truyện thơ Lái lông mường cho rằng người Thái có mặt đầu tiên tại
Phủ Quỳ là nhóm Tày Mường (Tày Dọ, Hàng Tổng), về sau có thêm TàyThanh (Man Thanh, Tày Nhại…)
Tổ chức mường đầu tiên của người Thái ở Phủ Quỳ là Mường Noọc.Gắn với sự xuất hiện của Mường là truyền thuyết về Tạo Lò Ý Lò Ý nguyên
Trang 12là dòng dõi của hoàng thân của kinh đô Luông Pha Bang (Lào), sau khi bị emtrai là Lò Ai giết, vứt xác xuống sông, xác Lò Ý trôi theo dòng sông Mã đếnđịa bàn huyện Quan Hóa (Thanh Hóa - Việt Nam), Lò Ý được một con quạcứu sống nhờ vào liều thuốc thần Vào thời đó, người Thái ở đây chưa tổ chứcthành Mường, chưa có ai làm Tạo nên mời Lò Ý ở lại làm Tạo và lập nênMường Ca Da - Mường Quạ cứu vớt.
Được một thời gian sau, vì nhớ quê cha đất tổ, Lò Ý xin dân Mườngđược trở về quê cũ thăm vua cha nhưng Lò Ý đi mãi lạc vào vùng Phủ Quỳ -tại đây cư dân cũng chưa có tổ chức Mường, người dân ở đây mời Lò ý ở lạilàm Tạo cho Mường, và được gọi là Mường Tôn (Mường gốc) Mường Tônchính thức được thành lập và lấy bản Đon Cơn làm trung tâm của mường
Sau một thời gian Đon Cơn hưng thịnh và ngày càng được mở rộng.Một chi họ Lò Căm thành lập bản mới ở Đon Chăm, một chi họ khác thànhlập bản mới ở Piêng Chảo Về sau, chi họ Lò ở Piêng Chảo phát triển lên và
họ lại thành lập thêm bản mới nữa là Mường Noọc - tức Mường ngoài (so vớiMường gốc là Mường Tôn) Do địa thế thuận lợi, Mường Noọc ngày càng lớnmạnh, có thế lực và trở thành trung tâm của cả một vùng Từ đó, dòng họ LòCăm con cháu của dòng họ Lò Ý trở thành vị chúa mường trị vì có quyền thếtập và đã truyền lại cho con cháu đời sau
1.2.2 Sinh hoạt kinh tế và văn hóa xã hội
1.2.2.1 Về kinh tế
Kinh tế truyền thống của đồng bào Thái ở Quỳ Châu nhìn chung không
có gì khác biệt lắm so với những người đồng tộc của họ ở Tây Bắc và ở cáckhu vực khác vùng Đông Nam Á như Lào, Thái Lan… Vốn là cư dân nôngnghiệp, lấy việc trồng lúa nước làm trọng, còn trồng trọt trên nương – cũngnhư chăn nuôi và thủ công nghiệp đóng vai trò bổ trợ cho nền kinh tế củangười Thái Vì vậy, ngay từ đầu đặt chân đến vùng đất này, người Thái đã tập
Trang 13trung vào việc khai phá ruộng đất ở những thung lũng lòng chảo rộng lớn nhưmường Chiềng Ngam, Mường Miêng,…Trong vốn tri thức dân gian của ngườiThái, những kinh nghiệm khai thác ruộng nước, nhất là kinh nghiệm liên quanđến việc dẫn thủy nhập điền rất phong phú và ảnh hưởng đến các dân tộc anh
em trong vùng Hệ thống “mương, phai, lái, lín” đã trở thành một biểu tượngcủa nông nghiệp Thái nói riêng, văn hóa Thái nói chung Ca dao, tục ngữ Thái
phản ánh về quy luật thiên nhiên và đúc kết kinh nghiệm sản xuất như: “Nằm hày bướn ha, đắm ná bướn hốc” ( trỉa rẫy tháng năm, cấy ruộng tháng sáu), hay “Na pạc quai, pái nặm” (tránh ruộng đầu miệng trâu, cuối nguồn nước)
[19;16]
Ngoài ra, việc canh tác trồng trọt trên nương rẫy của người Thái QuỳChâu cũng có sự kết hợp nhiều loại hình kĩ thuật khác nhau như: có nươngcày, nương cuốc, phát, đốt, gieo trồng Trong khai thác nương rẫy, họ đã cónhững tiến bộ nhất định trong việc xen canh gối vụ trên nương, ngoài cây lúanếp ra, người Thái còn trồng các loại cây ngô, sắn, dâu tằm, chàm, bầu, bí…trong đó cây bông được chú trọng nhiều, vì là cây nguyên liệu chính phục vụcho việc sản xuất nguyên liệu đáp ứng nhu cầu dệt thổ cẩm làm trang phục
Chăn nuôi gia đình của người Thái cũng được chú trọng trong cơ cấukinh tế của người Thái Các loại vật nuôi chủ yếu là trâu, bò, lợn, gà… nhằmcung cấp sức kéo cho sản xuất nông nghiệp và đáp ứng nhu cầu thực phẩmcho đời sống hàng ngày Điều đáng chú ý là trong chăn nuôi của người Tháithì chăn nuôi tằm rất phát triển Mặc dù vất vả nhưng đây cũng là nguồnnguyên liệu đáp ứng nhu cầu sản xuất trang phục cho nhu cầu ăn mặc
Nghề thủ công nghiệp truyền thống của người Thái tuy chưa thực sự trởthành nghề độc lập nhưng là nghề gắn bó mật thiết với đời sống vật chất vàtinh thần của họ suốt thế hệ này sang thế hệ khác Hầu hết các gia đình Tháiđều trồng bông, dệt vải, đó là những mặt hàng chăn, gối, nệm, khăn, váy Đặc
Trang 14biệt thổ cẩm của người Thái Quỳ Châu nói riêng, Nghệ An nói chung cóphong cách giống với thổ cẩm Lào hơn là thổ cẩm Thái Tây Bắc Vì vậy, đây
là mặt hàng rất được người Lào ưa chuộng và từ lâu đã có sự trao đổi (qua cửakhẩu của huyện Quế Phong)
Ngoài ra, người Thái Quỳ Châu còn quan tâm đến việc khai thác cácnguồn lợi có sẵn trong tự nhiên như săn bắt muông thú, đánh cá, hái lượm cácloại sau xanh và lâm thổ sản để phục vụ cho cuộc sống hàng ngày Chính vìvậy mà trong tập quán ăn uống người Thái đã biết chế biến rất nhiều món ăn
từ tự nhiên như cá, thịt nướng, thịt chua, cá, thịt lam, và các món từ rau quảxanh như chẻo mạy, chẻo bón…
Người Thái Quỳ Châu có tục uống rượu cần - một nét văn hóa đặctrưng của vùng miền núi Vò rượu cần (rượu trú) được xem như là sản phẩmđộc đáo trong văn hóa ăn uống của người Thái Quỳ Châu Nguyên liệu chính
để chế tạo ra rượu cần là trấu và sắn (hoặc gạp nếp) Men để ủ rượu là men lá,loại men được làm từ bột gạo và các loại thảo dược tự nhiên như rễ cây ở chỉthiên, lá chua me đất, củ riềng và đặc biệt không thể thiếu lá “lâu siếu” Vớiloại men này, rượu cần có nước màu sẫm như mật ong và hương vị rất riêng:một chút cay, một chút đắng, một chút chua và sau này là dư vị ngọt ngào Vòrượu cần từ lâu đã không thể thiếu trong tập tục ăn uống của cộng đồng ngườiThái Đặc biệt nó được sử dụng như một phương tiện để biểu hiện tấm lòngmến khách của các gia đình người Thái Dân gian Thái có câu:
Pì noọng ma, lúng ta tâu, Hau ha cầy, sù lâu
Tức là: Anh em, họ hàng nội ngoại đến thăm
Ta mổ gà, đãi rượu
Trang 151.2.2.2 Quan hệ xã hội, hôn nhân và gia đình
Cho đến nay, tuy còn nhiều ý kiến khác nhau về lịch sử hình thành cácnhóm cư dân Thái ở miền núi Nghệ An, nhưng căn cứ vào những chuyện kể
về dân gian, ghi chép trong các thư tịch cổ, chứng tỏ đã tồn tại ở đây một tổchức xã hội Thái truyền thống, ổn định từ khoảng cuối thế kỷ XIX đến đầu thế
kỷ XX
Mường là đơn vị hành chính cao nhất trong xã hội truyền thống củangười Thái ở Quỳ Châu Đứng đầu mường là chúa đất gọi là “Châu Mường”.Dưới Mường do chúa đất cai quản các mường nhỏ là quản mường (Châumường nhỏ) cai trị
Bản là đơn vị cơ sở của mường, là nơi cư trú của các gia đình phụ hệ,bản của người Thái xưa gần giống như một công xã láng giềng bao gồm nhiềudòng họ cư trú Chức vị cao nhất trong bản là Tạo bản gọi là trưởng bản.Người này do dân bản bầu lên trong cuộc họp “húa hươn” (nóc nhà) và sau đóchúa đất xét duyệt Mỗi khi dân bản thấy người này không còn xứng đángtoàn bản sẽ mở lại cuộc họp để bầu trưởng bản mới
Về chế độ sở hữu đất đai trong xã hội Thái theo luật tục tất cả đất đai,rừng núi, sông ngòi… đều thuộc quyền sở hữu của cộng đồng nhưng trên thực
tế, tất cả đều thuộc quyền sở hữu của chúa đất Ruộng được chia gọi là “ruộnggánh vác” Tùy vào vị trí của từng người trong xã hội mà người đó được ưutiên hay được như các thành viên khác, ngoài ruộng trên nhiều gia đình Tháicòn được chia các loại ruộng như “ruộng cơm gói”, ruộng góp
Giai cấp thống trị bao gồm các chúa đất thuộc dòng họ quý tộc và cácchức dịch được xác lập do xã hội truyền thống quy định hoặc do thực dânPháp bổ nhiệm Ở Vùng Quỳ Châu chỉ có con cháu họ Sầm mới được làmChâu mường Giai cấp bị trị bao gồm các tầng lớp nhân dân lao động, trong
đó lực lượng lao động tự do được gọi là “Páy” chiếm đông đảo nhất trong xã
Trang 16hội Bên cạnh lực lượng nông dân lao động tự do còn có một bộ phận ngự cư
và chủ yếu là người khác tộc như người Ơđu hay Khơmú Cuối cùng trongtầng lớp bị trị là “Côn hươn” (tức con ở)
“Côn hươn” là tên gọi Thái dùng để chỉ những lớp người tôi tớ trongnhà Tạo, nhà chức dịch như Chánh Tổng, Lí Trưởng “Côn hươn” có nhiềunguồn gốc khác nhau, họ là những người nghèo khổ đến xin ở nhà chủ, ngườimắc nợ nhiều không trả được phải làm công để trả nợ…Thân phận “Cônhươn” có thể thay đổi được nếu có tiền chuộc lại hoặc được chủ giải phóng
Gia đình người Thái hiện nay là gia đình nhỏ phụ quyền Trong gia đìnhphụ quyền thì quyền lực tập trung vào người chủ gia đình Người cha cóquyền quyết định mọi công việc trong gia đình từ tổ chức sản xuất, dựng vợ
gả chồng đến việc tham gia vào các hoạt động xã hội của mường, bản
Hôn nhân: Truyền thống hôn nhân của người Thái là một vợ một chồng.Trường hợp đa thê chỉ xảy ra ở những gia đình quý tộc trước đây Dư luận xãhội Thái rất lên án trường hợp vợ chồng sống không hoàn thuận Luật tục Thái
xử phạt rất nặng những trường hợp vi phạm đạo đức gia đình, quan hệ ngoạitình, loạn luân
Vùng núi Quỳ Châu với địa hình phức tạp, chia cắt với nhiều con sông,suối nhỏ, tiện lợi cho việc sản xuất nông nghiệp cũng như các hoạt động kinh
tế, xã hội khác của con người Do vậy, Quỳ Châu vốn là địa bàn cư trú củanhiều tộc người khác nhau trong suốt trường kỳ lịch sử, trong đó người Tháichiếm một phần đông dân số và là tộc người có ảnh hưởng lớn đối với vùngvăn hóa này
Trang 17Chương 2 NHỮNG CHUYỂN BIẾN TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ VẬT CHẤT
2.1 Chuyển biến trong đời sống kinh tế
2.1.1 Nông nghiệp
Trước năm 1986, người Thái ở Quỳ Châu lấy kinh tế nông nghiệp trồngtrọt làm nền tảng Họ trồng lúa nương trên rẫy để đáp ứng nhu cầu về lươngthực Trong canh tác nương rẫy họ kết hợp nhiều loại kỹ thuật khác nhau, có
cả nương cày, nương cuốc và nương đốt phát theo kiểu “đao canh hỏa chủng”,
họ xen canh gối vụ với loại hình rẫy hai vụ (hày tháng, hày lộc) Trên nươngđồng bào Thái chọn lúa nếp làm giống chính dể gieo hạt, có nhiều giống lúanhư Nếp hoa vàng, nếp cẩm ngoài ra họ còn trồng nhiều loại cây phụ nhưbầu, bí, ngô, vừng, đậu để tăng thêm nguồn thực phẩm trong quá trình chờthu hoạch
Từ lâu, đồng bào Thái ở Quỳ Châu đã sớm biết đến nghề trồng lúanước, trong vốn tri thức dân gian của họ, những kinh nghiệm liên quan đếnviệc dẫn thủy nhập điền rất phong phú, theo họ “hày tím tá bo tò ná hờ quang”(rẫy ngút tầm mắt không bằng ruồng một thửa), xem thế đủ biết ruộng nước
có vị trí như thế nào trong đời sống kinh tế cũng như tâm thức của họ Vậynhưng trước đây họ chỉ trồng lúa một vụ, với những giống lúa kém năng suất
và chất lượng như Chiêm đen, Hai linh ba, chính vì vậy cho đến trước năm
1986 kinh tế nương rẫy vẫn chiếm vị trí khá quan trọng trong cơ cấu nôngnghiệp người Thái ở Quỳ Châu
Nhìn chung vốn đất rừng ở Quỳ Châu khá phong phú với hơn 248.000héc-ta (chiếm 62% đất tự nhiên) [20;10], đây là một điều kiện hết sức thuậnlợi cho việc phát triển kinh tế lâm nghiệp, đặc biệt là các mô hình vườn rừng.Tuy nhiên dưới sức ép của dân số, hàng năm diện tích nương rẫy không ngừng
Trang 18được mở rộng, đồng thời với quá trình đó là sự thu hẹp diện tích rừng, kể cảnhững khu rừng già Theo thống kê của UBND huyện Quỳ Châu, đến năm
1980 độ che phủ chỉ đạt 24% [19;46], chỉ số này cao hơn chỉ số tương ứng của
cả nước nhưng thấp hơn nhiều so với chỉ số của những năm 60
Cùng với nền kinh tế nông nghiệp trồng trọt, chăn nuôi gia đình cũngđược chú trọng trong cơ cấu kinh tế của người Thái Trước đây họ chủ yếuchăn nuôi các loại gia súc, gia cầm theo hình thức thả rông, chăn thả tự nhiên.Gầm nhà sàn cũng chính là nơi trú ngụ hay đúng hơn là chuồng trại của vậtnuôi Họ không có biện pháp chăm sóc, phòng chống dịch bệnh cho đàn giasúc, gia cầm cho nên chúng không thể phát triển một cách chiều sâu, do đó vậtnuôi chưa trở thành hàng hóa thường xuyên để đưa ra trao đổi Các loại vậtnuôi như trâu, bò, lợn, gà , chủ yếu người Thái nuôi để lấy sức cày kéo trongnông nghiệp, làm thịt trong các dịp lễ, tết, ma chay, và còn là lễ vật để nộptài trong quan hệ hôn nhân
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đề ra từ Đại hội VI (1986), tiến trìnhthực hiện ở khu vực nông nghiệp nông thôn miền núi nói chung, miền núiNghệ An và Quỳ Châu nói riêng còn chậm hơn so với khu vực kinh tê côngnghiệp, dịch vụ ở đô thị hay những vùng trọng điểm kinh tế Nhưng nhìnchung kinh tế của đồng bào Thái Quỳ Châu cũng đã có những nét khởi sắcnhất định, song cho đến những năm cuối của thập kỷ 80 vẫn chưa có nhữngbước đột phá Từ năm 1992, một loạt các Nghị quyết, Quyết định của Chủ tịchHội đồng Bộ trưởng đã được ban hành: QĐ327, tháng 5/1992 về chính sách
sử dụng đất và phủ xanh đất trống đồi trọc; Nghị định 64CP, tháng 9/1993 banhành quy chế về giao đất nông nghiệp cho các hộ nông nghiệp và cá nhân sửdụng lâu dài và ổn định vào mục đích sản xuất nông nghiệp; [19;49], nhờvậy diện mạo đời sống kinh tế của người Thái ở Quỳ Châu đã có những biếnđổi sâu sắc
Trang 19Trước hết, do nhận thức được sự cần thiết của việc xây dựng cơ sở hạtầng, các cấp lãnh đạo ở Quỳ Châu đã coi việc cải tạo, nâng cấp và làm mới hệthống giao thông, hệ thống thủy lợi là nhiệm vụ ưu tiên trong giai đoạn mới,phong trào quần chúng làm thủy lợi, giao thông, xây dựng được chú trọng vàphát triển có trọng điểm như tu sử các đập Khe Nhã, Na Xén, Huôi Pùng, Kẻ
Lè, Khe Nhung, Khe Nem, nâng cấp, mở mới các tuyến đường giao thôngXăng- Kiềng- Kọc; Hội Mài- Kẻ Khun, Trung Độ 3, [32;7], đến nay tất cảcác xã đã có đường ô tô đến tận trung tâm, đây chính là điều kiện cơ bảnnhằm phá vỡ thế khép kín tương đối và có phần bế tắc của địa bàn người Thái
ở Quỳ Châu
Bước đột phá tiếp theo là tiến hành thay giống lúa truyền thống bằnggiống mới trên các chân ruộng nước các giống lúa Nhị Ưu, Tạp Giao, KhangDân có khả năng kháng sâu bệnh và cho năng suất, chất lượng cao, được sựtrợ giá của Nhà nước đã về đến các bản làng Thái Ngoài việc thay giống mớiđồng bào còn chú trọng hơn trong các khâu, kỹ thuật chăm sóc lúa, phòng trừsâu bệnh, đầu tư phân bón cho lúa tốt hơn Theo khảo sát ở bản Đồng Minh-
xã Châu Hạnh và các hợp tác xã Châu Hội I, II cho thấy năng suất lúa trungbình hiện nay đạt từ 9- 10 tấn/ ha/ năm, tăng hơn 300% so với canh tác bằnggiống lúa cũ (chỉ đạt 2,5- 3 tấn/ ha/ năm) [19;50] Do đó chỉ việc canh tác lúanước cũng đã đủ để đảm bảo lương thực cho các hộ gia đình Thái mà khôngcần đến sự hỗ trợ của nương rẫy
Trên thực tế cho thấy, từ năm 1986 trở lại đây việc canh tác nương đốt
đã hầu như giảm đáng kể, đặc biệt từ những năm 90, dưới sự vận động củahuyện và bằng các biện pháp hành chính nhằm chấm dứt tình trạng đốt nươnglàm rẫy Đến nay đồng bào Thái đã không còn canh tác nương đốt, kể cảnhững vùng sâu, xa như Châu Hoàn, Diên Lãm; việc giao đất, giao rừng chocác hộ cơ bản đã hoàn thành
Trang 20Trên các diện tích đất rừng đã được giao, ở các xã Châu Bình, ChâuHội, Châu Hạnh đã xuất hiện nhiều mô hình vườn rừng hứa hẹn nhiều triểnvọng Tính đến năm 2009, toàn huyện trồng được hơn 6.000 héc- ta rừng keo,riêng xã Châu Bình trồng hơn 2.500 héc- ta Xuất hiện ngày càng nhiều môhình kinh tế trang trại điển hình, kinh tế hộ gia đình sản xuất kinh doanh giỏi,điển hình như các hộ gia đình ông Vi Đức Thuận, Lô Thị Hòa, Trương HảiNhi (xã Châu Bình); Mạc Văn Biền, Lang Thị Quê (xã Châu Bính); lươngVăn Phương, Vi Thị Hồng (xã Châu Phong); và hàng trăm hộ người Tháikhác đã và đang góp phần mở ra hướng phát triển mới cho sản xuất lâmnghiệp hàng hóa [32;10].
Trong chăn nuôi, với nhiều chủ trương, chính sách và sự hỗ trợ tích cựccủa các cấp chính quyền, từ 1986 đến nay đồng bào Thái đã chú trọng hơntrong việc chăm sóc sức khỏe cho đàn gia súc, gia cầm Xây dựng chuồng trại
và dời gia súc, gia cầm ra khỏi gầm nhà sàn được tiến hành nhanh chóng, từ
đó số lượng và chất lượng của vật nuôi tăng lên rõ rệt Cụ thể là năm 1985tổng đàn trâu của cả huyện chỉ có 3.984 con, tổng đàn bò là 5.330 con, và đànlợn là 4.809 con [32;8]; đến năm 2009 tăn lên 19.445 con trâu, 7.928 con bò,
và 23.900 con lợn [27;2], chỉ tính riêng xã Châu Bình đã có tổng đàn trâu tới
1952 con, tổng đàn bò 1641 con, lợn 3205 con [25;2] Đặc biệt Quỳ Châu cógiống vịt bầu nổi tiếng, loại vịt này béo, thịt chắc, thơm ngon Giờ đây đồngbào luôn coi trọng công tác thú y, không để xẩy ra dịch bệnh nên đàn gia súc,gia cầm phát triển ổn định, đa số người Thái coi trâu, bò là sản phẩm hànghóa Đó là một bước tiến không thể phủ nhận về nhận thức của những ngườinông dân Thái trong nỗ lực hộ nhập với nền kinh tế thị trường
Sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi cũng như tác động của yếu tố
kỹ thuật mới đã làm thay đổi một số thành tố trong bộ công cụ của người TháiQuỳ Châu Việc đoạn tuyệt với canh tác nương rẫy đã dẫn đến hệ quả tất yếu
Trang 21là sự mai một của hệ thống công cụ làm nương rẫy như cây gậy chọc lỗ (chỉlẹ), cây cù ngoèo (vạch), chiếc hái (hẹp), cũng như một số công cụ đa năngkhác như dao (pạ, vanh), rìu (ván) cũng có thay đổi về chức năng, giờ đâychúng không còn tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp với vai trò làcông cụ chặt phát nữa Về khía cạnh này không thể và có lẽ không nên nói đến
sự tiếc nuối bởi đó là xu thế tất yếu của quá trình phát triển
2.1.2 Các ngành nghề thủ công và săn bắn, hái lượm
Cùng với việc trồng trọt và chăn nuôi, các ngành nghề thủ công củangười Thái khá phong phú, đó là các nghề đan lát, mộc, dệt thổ cẩm, rèn, Trước đây, mỗi bản Thái thường có một người làm nghề rèn, chuyên làm racác công cụ đơn giản như dao, rìu, các dụng cụ gặt hái, Còn nghề dệt thì hầunhư nhà nào cũng có khung dệt, tự dệt ra những tấm thổ cẩm đẹp mắt
Nghề dệt của người Thái Quỳ Châu trước đây chủ yếu để phục vụ nhucầu gia đình, cưới hỏi Từ 1986, đã bắt đầu có hoạt động trao đổi với nước bạnLào qua cửa khẩu huyện Quế Phong Dự án dệt thổ cẩm được tiến hành sau đótại bản Hoa Tiến, xã Châu Tiến Đến năm 1997 sản phẩm sản xuất ra đã đượcđưa đi trưng bày và bán tại Hội chợ hàng thủ công truyền thống tại Hà Nội, dotrung tâm Karaftlink phát triển hàng thủ công mỹ nghệ tổ chức Làng dệt đãgiải quyết việc làm cho hơn 120 thành viên trong bản
Hoạt động săn bắn được tiến hành trong những ngày nông nhàn, trước kia khinhững khu rừng xung quanh các bản làng còn nhiều muông thú, đồng bàothường kết hợp săn bắn bằng súng, nỏ cùng với đặt bẫy (hẹo), có nhiều kiểubẫy khác nhau tùy vào đối tượng thú to hay nhỏ, như “hẹo”, “tằm”, “hẹonhằm”, “hào”, dùng để bẫy những con thú lớn (lợn rừng, hươu, nai, );
“cắp”, “thịp”, “hẹo pàn”, để bẫy những con thú nhỏ hơn (chim, chuột,sóc, )
Trang 22Hái lượm là hoạt động bổ trợ đắc lực cho bữa ăn hàng ngày của ngườiThái, tùy theo từng mùa họ vào rừng hái các loại rau quả rừng (măng, mộcnhĩ, củ, quả, ), ở dưới nước họ bắt từ tôm, cua, cá, cho đến các loại nhuyễnthể, côn trùng.
Tóm lại, trước đây đồng bào Thái ở Quỳ Châu sống trong nền kinh tế tựcấp, tự túc, hầu như trông chờ vào thiên nhiên Tuy thế,với số dân còn ít ỏitrên một diện tích rừng rộng lớn với nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng thìcác hoạt động kinh tế trên cũng đã cung cấp khá đầy đủ lương thực cho đồngbào Ngày nay, đa số các bản làng đã có chợ, cửa hàng, mỗi gia đình đều cóvườn rau, ao cá riêng nên đồng bào đã không còn vất vả vào rừng kiếm rau,không còn mò tôm bắt ốc như trước nữa
2.2 Những chuyển biến trong trang phục, ẩm thực
2.2.1 Trang phục
Về trang phục, người Thái ở miền Núi Nghệ An nói chung, huyện QuỳChâu nói riêng về cơ bản cũng giống như bộ y phục của người Thái ở cácvùng khác của Việt Nam Trước đây, trong bộ trang phục của người Thái cổtruyền, Nam giới mặc quần chân què, lá tọa, áo bà ba hai hoặc ba túi, hàngkhuy cài bằng vải bông do phụ nữ tự dệt lấy Họ thường đi dép hoặc đi chânđất Họ có một bộ đồ dành riêng cho ngày lễ hội với quần áo lành lặn làmbằng vải rồi có chiếc khăn mới màu xanh da trời Tuy nhiên cũng có nhữngtiểu tiết rất khác làm cho trang phục mỗi vùng có những nét khác biệt, khôngthể lẫn lộn
Trang phục của người phụ nữ Thái là một phức hợp nhiều bộ phận vớinhững chức năng cụ thể khác nhau trong một tổng thể thống nhất Khi quansát từ trên xuống, trang phục của phụ nữ Thái gồm có: Khăn “Piêu” trên đầu,trâm cài tóc, hoa tai, vòng cổ, áo, dây lưng, xà tích và váy
Trang 23Để tạo ra được những bộ trang phục của cả nam giới hay nữ giới, ngườiphụ nữ Thái phải tiến hành nhiều công đoạn; bắt đầu từ việc trồng bông, nuôitằm, kéo sợi, dệt vải, nhuộm chàm cho đến việc may, thêu thùa… đó là mộtquy trình lao động bền bỉ để tạo nên sản phẩm văn hóa: Trang phục.
Nguyên liệu để làm trang phục chủ yếu là hai nguồn cơ bản: Sợi bông
và sợi tơ tằm Để có được sợi bông và tơ tằm cho việc dệt thổ cẩm người Thái
đã tiến hành trồng bông trên nương và trồng dâu nuôi tằm, từ xưa, đất QuỳChâu đã nổi tiếng về cây bông và cây dâu tằm, rằng:
Là có mon Chiêng Ngam đây là hăm đai
Là có phai Piêng Pần đây hục sao va Tức: Cứ mỗi một cây dâu ở mường Chiêng Ngam nuôi tằm cho sợi dệt được một xếp tơ (hăm đai), cứ một cây bông ở Piêng Pần cho sợi dệt được tấm thổ cẩm dài 20 sài (sao va).
Sau khi có được bông, tơ thu từ nương về để cho thành sợi phải trải quacác khâu sơ chế như cán bông (ít phai), bật bông (pựt phai), quấn bông (lọphai), sư sợi (pằn phai) rồi hồ sợi (ha phai) Mỗi một công đoạn đều được xử
lý gia công cẩn thận, bằng những dụng cụ tự tạo bởi bàn tay khéo léo củangười Thái, để có được những sợi vải mảnh phục vụ cho việc dệt thổ cẩm là
cả một quá trình lao động, thể hiện được đức tính cần cù, bàn tay khéo léo và
cả một trình độ nghệ thuật của phụ nữ Thái, đồng bào Thái có câu:
Chụ phơ mèn tá
Lá phơ mèn mư pứa
Tức là: Yêu người nào khen người ấy đẹp
Guồng kéo sợi người nào người ấy quen tay
Cũng tương tự như nghề làm vải, để có được một sản phẩm bằng tơ tằmcũng phải trải qua nhiều công đoạn khác nhau, đó là từ việc rút tơ (sáo lọc),cho đến việc se tơ (lăng đai) và đặc biệt là công đoạn xử lý cho tơ mềm
Trang 24(phoọc đai), tơ chuẩn bị xử lý phải được chia thành từng con nhỏ để khi nhúngnước tơ ngấm đều, cho tơ vào ngâm trong nước trong khoảng 60 – 120 phút.Sau đó vớt ra và lấy phần nước tro đem đun sôi, thả tơ vào luộc, đến khi tơchín thì vớt ra, đem gặt sạch, giũ thẳng và phơi nắng.
* Kỹ thuật làm trang phục
Cũng như nhiều tộc người khác sống ở miền rừng núi nước ta, ngườiThái Quỳ Châu có những kinh nghiệm sử dụng lá, quả, cây, củ… các loại đểnhuộm sợi bông và sợi tơ tằm, tạo ra những gam màu đẹp và bền để làm trangphục Thông thường sợi bông chỉ nhuộm màu chàm và để màu trắng tự nhiên,còn các màu khác để phối màu khi trang trí thường từ sợi tơ tằm Riêng màu
đỏ từ cánh kiến là chỉ để nhuộm cho tơ tằm với qui trình: cánh kiến giã vụn,ngâm vào nước trong sạch khoảng một ngày, lọc lấy nước, thả tơ đã ngâmnước chua từ lá dâu da vào nước cánh kiến, ngâm khoảng 30 phút, vắt sạchnước đem phơi Cho lá dâu da đất phủ dưới đáy nồi to, trải tơ đã được ngâmtrong nước cánh kiến vào nồi, phủ tiếp một lớp lá dâu da lên trên tơ Cho nướccánh kiến vào, đem đun sôi khoảng 60 phút, nhấc nồi xuống, mở vung đểnguội rồi đem giặt sạch, phơi khô sẽ được màu đỏ như ý muốn
Ngoài ra, đồng bào Thái còn tạo ra được màu xanh từ vỏ cây LinKa vớicông thức: vỏ cây Linka tươi, cạo sạch vỏ ngoài, rửa sạch rồi ngâm cùng mộtthanh sắt to khoảng một ngày, sau đó đun sôi khoảng 40 phút, lọc hết vỏ cây,chỉ lấy nước để nguội, thả tơ vào ngâm trong nước nguội khoảng 30 phút, vò
tơ cho tơ ngấm đều nước màu vắt ra phơi gió và bắc nước màu lên đun sôi, lạithả tơ vào luộc khoảng 30 phút rồi mới vớt ra để nguội, đem giặt nước cho hếtphai màu, giũ thẳng và đem phơi nắng cho chúng ta màu xanh lá cây đẹp mắt
Nếu luộc sơi tơ trên nước màu hai lần sẽ được màu xanh đậm, còn nếu
tơ được ngâm trong nước màu có thanh nhôm sẽ cho ta màu da cam hoặc nếu
tơ được xử lý bằng nước tro xong, cho ngâm vào nước màu khoảng 1 - 2
Trang 25tiếng đồng hồ mà không luộc chúng ta lại được màu xanh nhạt nhưng không
có ánh vàng Còn để có được tơ màu vàng, đồng bào Tháo dùng lõi cây mít,cây mít dai và cây lâu năm thì cho màu tốt hơn
Sau công đoạn nhuộm màu sẽ là khâu dệt thổ cẩm Nếu người Thái ởMai Châu - Hòa Bình thường dệt các loại vải thô, vải sọc, vải ô vuông theocách dệt lòng một thì người Thái Quỳ Châu - Nghệ An lại vừa dệt vừa thêu
Họ thêu cài các hoa văn bằng các sợi màu đã được chuẩn bị qua các thao táccài, đan trực tiếp trên khung dệt Các dạng thức hoa văn cũng rất đa dạng,phong phú gồm nhiều loài động vật, hoa lá, chim muông… được phối màumột cách hài hòa làm nổi bật lên hoa văn chính
Một bộ trang phục của nam giới Thái tuy đơn giản hơn nhiều so vớitrang phục nữ nhưng vẫn đầy đủ cả khăn, áo, quần Cũng như khăn Piêu củangười phụ nữ, khăn của người đàn ông Thái có tác dụng giúp con người bảo
vệ cái đầu, che nắng và tránh rét Khi nắng có thể quấn khăn trên đầu, gọn vàtiện lợi cho các thao tác của lao động chân tay Khi trời rét, khăn có thể dỡ raquàng cổ, quàng đầu cho ấm Khi quấn khăn trong các dịp lễ, hội làng tứcbiểu hiện người con trai đã thực sự trưởng thành, người đàn ông đàng hoàng,chững chạc và lịch sự, có thể tham ga mọi công việc lớn nhỏ trong gia đình vàcộng đồng Điều đáng chú ý là bộ trang phục của người Thái Qùy Châu không
thể thiếu mũ quan - tiếng Thái gọi là mù hăm Trong quan niệm “chia của”
của người thái cho người quá cố đi sang thế giới bên kia gồm áo quần, vậtnuôi, vật dụng sinh hoạt thì trang phục cũng là một yếu tố không thể thiếu mà
mù hăm là yếu tố tiên quyết, quyết định cho người quá cố được nhận vào
mường tổ tiên là “Thén Na” hay không Người Thái có câu:
Bò mi mù hăm hau cặm phai…
Tức: Không có mù hăm thì đi đắp phai
Trang 26Trang phục tang lễ, người Thái có quan niệm rằng chết là về với tổ tiên,
là lên thiên đàng, do đó áo quần được chuẩn bị rất chu đáo Áo tang mặc chongười chết của người đàn ông Thái gồm: áo lót và áo quan mặc khoác ngoài.Theo người Thái, mặc áo càng rộng, càng dài càng sang trọng và rất giàu có
Do vậy, khi lìa thế giới người để về thế giới tổ tiên là phải ăn mặc sang trọng.Nhưng “sang trọng” ở đây là sang trọng ở thế giới “ma” còn ở thế giới người,người Thái lại rất kiêng kỵ mặc áo quan đó
Nói đến trang phục Nam của người Thái cổ truyền không thể khôngnhắc đến quần dài, chiếc quần là nét biểu hiện giới tính Kết cấu quần gồm 2ống tách ra ở phần dưới và chung nhau ở phần trên Nhìn bề ngoài, chiếc quầntruyền thống của nam giới Thái không khác gì quần bà ba của người Kinh.Người đàn ông Thái trước đây rất ít dùng đồ trang sức, có chăng chỉ là đeovòng tay
- Về trang phục: Như đã nói ở trên, trang phục của người phụ nữ TháiQuỳ Châu gồm có khăn Piêu, trâm cài tóc, vòng cổ, áo, dây lưng, váy
Khăn Piêu của người Thái Quỳ Châu có những nét riêng, đồ án văn hoatrên chiếc khăn Piêu của người phụ nữ Thái Quỳ Châu được thêu dệt dày đặchơn, không đính “cút Piêu” như “Piêu” của người Thái vùng Tây Bắc Nguyênliệu để dệt nên Khăn Piêu chính là vải bông tự dệt Khăn trong lao động sản
xuất thường đơn giản, không cầu kỳ, người Thái gọi là Khắn đắm, khăn chỉ là
một dải vải nhuộm màu chàm, không trang trí hoa văn trên đó Khăn rộngkhoảng 40cm, dài từ 150 – 200cm Đây là loại khăn bình thường ai cũng cóthể đội và đội vào bất cứ lúc nào Còn khăn trong các dịp lễ, dịp tết và cácngày hội thường được người phụ nữ Thái trang trí làm đẹp, cầu kỳ hơn Chiều
dài, chiều rộng cũng tương tự như khắn đắm Trên nền màu chàm, người phụ
nữ Thái thêu, dệt các đồ án hoa văn bằng các loại chỉ màu (xanh, đỏ, tím,vàng…) ở hai đầu khăn Để có được một chiếc khăn hoàn chỉnh, người phụ nữ
Trang 27Thái phải dành một thời gian nhất định cho nó Nếu thêu (dệt) liên tục mộtchiếc khăn phải mất thời gian từ 2 đến 4 tuần, nhưng họ không có điều kiện đểlàm như vậy, họ chỉ thêu khăn trong những lúc rảnh rỗi trước khi đi làmruộng, làm nương, những đêm tối khi việc nhà đã hết và trong những ngàynông nhàn.
Áo của phụ nữ Thái Quỳ Châu được cắt may rộng vừa, khi mặc ôm sátlấy thân người Áo được trang trí bằng hàng cúc bởi các chất liệu như bạc,xương, đồng, sừng và phổ biến nhất là hàng cúc bằng sợi do họ tự tay tết từnhững sợi màu lại với nhau mang dáng hình của cánh hoa, lá cây Chúng đượccấu các bộ phận đan cài vào nhau Khi mặc áo, hàng cúc được cài vào nhautạo thành những bông hoa, chiếc lá trên nền của nẹp áo trông giống như hìnhcây, làm nổi bật trên nền áo
Cũng như nhiều nhóm Thái ở các vùng khác của Tổ quốc và nhiều dântộc thiểu số khác, người phụ nữ Thái Quỳ Châu - Nghệ An trước đây cũngmặc váy Khác biệt với váy Thái ở vùng Tây Bắc không có hoa văn, chiếc váyphụ nữ Thái Quỳ Châu được trang trí hoa văn ở phần chân váy, còn thân váy
là một tấm vải chàm đen Riêng nhóm Thái Thanh, thân váy còn có cạp váyđược can từ miếng vải khác vào thân váy, cùng với chiếc áo, khi váy đượcmặc vào người, nó làm tăng thêm dáng vẻ dịu dàng của người phụ nữ Thái.Khi mặc đầu váy quấn chặt lấy thắt lưng, đoạn thừa gấp nếp về phía trước
Riêng váy tang của người phụ nữ Thái ở chân váy không trang trí hoavăn Điều này thể hiện tâm trạng buồn đau, mất mát của người vợ, người conđối với người đã khuất
Dây lưng là một bộ phận không thể thiếu trong trang phục của phụ nữThái Quỳ Châu Nó được chú ý làm đẹp và đã tạo ra hình thức độc đáo củamình Thắt lưng truyền thống của người Thái Quỳ Châu là một dải băng vải
Trang 28dài chừng 200 250cm, rộng khoảng 20 cm, sao cho mỗi lần quấn được từ 2
-3 vòng qua eo còn để lại mỗi đầu dây một đoạn chừng -30 - 40cm sau khi thắt
Dây lưng của người Thái Quỳ Châu có sự khác biệt giữa hai nhóm.Nhóm Man Thanh có dây lưng làm bằng sợi, để màu trắng tự nhiên hoặc sợinhuộm màu xanh, mỗi dây lưng gồm 2 - 3 con sợi Dây lưng nhóm TàyMường thường được làm bằng băng vải, gồm hai loại; loại không trang trí hoavăn thường nhuộm màu xanh lá cây, loại màu đỗ thẩm có trang trí hoa văn ởhai đầu dây lưng, tùy từng lứa tuổi người lớn hay trẻ em mà thắt lưng cũngđược dệt, gia công trang trí với kích thước to, nhỏ cho phù hợp Khi thắt lưngđược quấn vào người giữ cho váy khỏi bị tuột hai đầu dây trang trí hoa vănđược giắt trước bụng hoặc lệch sang hai bên hông khi đi phất phơ diễn theonhịp bước tạo nên vẻ đẹp khỏe khoắn của người phụ nữ nhưng cũng khôngkém phần duyên dáng
Đi cùng với váy áo, khăn Piêu là đồ trang sức Hầu hết đồ trang sức củangười Thái là bằng bạc, nhôm, đồng Trang sức của phụ nữ Thái được làmthành các cỡ, đủ các kiểu chạm trổ giản dị, thanh nhã Trâm cài tóc, hoa tai,vòng cổ, vòng tay, xà tích,… là những yếu tố của trang sức phụ nữ Thái Từngyếu tố của trang sức được mang theo trên các vị trí khác nhau trên cơ thể làmtăng thêm nhiều lần vẻ đẹp của phụ nữ Thái
Có thể nói rằng, trang phục của người Thái ở Quỳ Châu giai đoạn trướcnăm 1986 vẫn còn mang đậm tính truyền thống, yếu tố ngoài vẫn chưa xâmnhập đáng kể, hay có chăng cũng chỉ là một vài nét trong tổng thế trang phụccủa người Thái Tuy nhiên, từ năm 1986 đến nay, trang phục của người Thái
đã có nhiều thay đổi so với trước Nam giới Thái hiện nay mặc quần vải may
từ vải tổng hợp có sẵn bán trên thị trường, áo may vải mỏng, cả quần lẫn áođều may theo kiểu đồ Âu phục Đồ trang sức của nam giới Thái Quỳ Châu bây
Trang 29giờ bao gồm cả nhẫn, dây chuyền, đồng hồ đeo tay, họ còn đi giày đen trongcác dịp đi chợ huyện, chợ tỉnh.
Phụ nữ Thái ngày nay chủ yếu mặc đồ Tây, những đồ trang sức bằngbạc, nhôm, đồng với các vòng tay, vòng cổ của ngày xưa, ngày nay đồ trangsức chủ yếu là bằng bạc, đá, mã não, vàng, mạ vàng với những sợi, vòng nhỏ,mảnh và được chế tạo tinh xảo như xuyến tai, dây chuyền, vòng tay… Điểmkhác hẳn trước là cả phụ nữ và nam giới Thái ngày nay đều biết đeo nhẫnbằng vàng hoặc bằng bạc Những bộ quần áo truyền thống của nam giới, của
nữ giới Thái mang đậm bản sắc văn hóa Thái chỉ được sử dụng vào các ngày
lễ, tết Chiếc khăn Piêu cũng chỉ còn mang tính tượng trưng Trong nhữngngày bình thường chúng ta hiếm khi gặp được những người phụ nữ trongtrang phục truyền thống, có chăng cũng chỉ là một vài người già đã ngoài 80,bởi ngày nay từ những lớp trẻ đến những người trung niên, họ đều sử dụngcác loại vải tổng hợp với mẫu mã phong phú, đa dạng và rất tiện sử dụngtrong sinh hoạt và lao động sản xuất
Chiếc khăn Piêu duyên dáng ngày xưa giờ đây được người phụ nữ Tháithay bằng các loại khăn sợi len, dạ để chống rét và trang điểm cho mình
Thiếu nữ Thái đã không còn để tóc dài để tẳng cẩu (búi tóc) như trước đây
nữa, họ xõa tóc hoặc dùng kẹp tóc, búi tóc thậm chí ép, uốn và tạo mẫu tóccho phù hợp với những mốt thời trang hiện nay
Chiếc váy được người phụ nữ Thái sử dụng để chứng tỏ bàn tay khéoléo, đức tính kiên trì qua những nét hoa văn, được mặc phủ đến gót chân khi
đi bộ tạo ra dáng thướt tha, uyển chuyển cùng với đồ trang sức bạc bóng bánhnay đã được thay vào đó là những chiếc vay may bằng vải cotton, vải kaky,những chiếc quần âu, quần Jane để tiện lợi hơn khi đi lại và sinh hoạt
Trang 302.2.2 Chuyển biến trong ăn uống, đi lại và một số sinh hoạt khác
* Thức ăn: Người Thái ở Quỳ Châu vốn là những cư dân trồng lúa (bao
gồm cả lúa nếp trên nương và lúa tẻ trên ruộng), ngoài lúa nếp, tẻ ra họ biết ănngô, sắn, lúa giáp hạt không đủ gạo, ngô, sắn thì họ ăn các loại lương thực cósẵn trong tự nhiên như của mài, củ nâu, báng… Thực phẩm của họ hết sứcphong phú, bao gồm các loại động, thực vật có sẵn trong tự nhiên như ếch,nhái, rắn, cá,… các loại rau rừng (măng, lá…) cho đến thịt vật nuôi trong nhà(lợn, gà, trâu, bò…)
Cách chế biến của họ rất đơn giản, thường họ chỉ nấu hoặc xào, đặc biệtngười Thái ở Quỳ Châu có món rau trộn (Phắc Chúp) và món chẻo, món canhmăng Chẻo măng là món ăn phổ biến hàng ngày của cư dân Thái ở Quỳ Châu
vào giai đoạn trước năm 1986 Món chẻo bón hay chẻo sụp là loại thức ăn
được làm từ lá môn ngứa trong tự nhiên Lá môn được hái về phơi héo đi rồiđem hông (đồ) trên bếp lửa khoảng 30 phút, sau đó để phơi cho nguội, giã nhỏ
ra rồi phơi nắng cho thật khô càng phơi khô thì chẻo càng thơm và ngon hơnkhi ăn
Bữa ăn của đồng bào Thái thường kèm theo vị chua cay, mặn chát, phổ
biến nhất trong món cay là món chẻo ớt, có thể nói đây là món dễ làm nhất,
gần gũi nhất Ớt tươi được hái ngay trong vườn được nướng chín, kèm theo đó
là một nắm lá hẹ cũng được nướng chín, đem hai thứ đó giã cùng với muối,
mì sẽ được món chẻo ớt Ngoài việc ăn ngay tại nhà thì món chẻo ớt cũng dễ
dàng gói theo khi đồng bào lên nương, rẫy, khi vào rừng…
Cách chế biến món ăn từ thịt của người Thái cũng rất phong phú, ngoàicác món luộc, xào, nướng người Thái còn chế biến ra các món lạp (tái), mónnậm pịa, thịt chua, và đặc biệt nhất trong các món ăn của họ là món lamnhọc Món lam nhọc có thể chế biến từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhaunhư cà (lam nhọc khứa), bắp chuối (lam nhọc pí), khoai môn (lam nhọc bón),
Trang 31Từ năm 2000 đến nay thì những món ăn truyền thống trên đã khôngđược coi trọng như trước nữ, bởi ngày nay, với sự xâm nhập của khoa họccông nghệ hiện đại, đồng bào Thái đã sử dụng bếp ga, nồi điện để nấu nhữngmón ăn theo công thức mới, những dụng cụ nấu nướng như ống nứa, ống tre
dùng để nướng, để lam thì ngày nay với nền kinh tế thị trường, đồng bào Thái
thay vào đó bằng những dụng cụ từ kim loại như sắt, thép, nhôm… từ đó, thức
ăn được nấu chín nhanh hơn, song không thể cảm nhận được hương vị của tự
nhiên
Như vậy, chứng tỏ trong tập quán ăn uống hàng ngày của người Thái ởQuỳ Châu đã có những biến đổi rất rõ nét, trên đây là nói về những món ănthường ngày, còn các món ăn ngày tết của người Thái thì ít nhiều còn mangđặc điểm của bản sắc văn hoá dân dộc
Món bắt buộc trong ngày tết, thể hiện trên mâm cúng của người TháiQuỳ Châu là xôi nếp và thủ lợn Theo quan niệm của họ, mỗi dịp lễ tết là dịp
để bày tỏ lòng hiếu thảo của con cháu đối với ông bà, tổ tiên và cơm nếp vàthủ lợn là hai thứ không thể thiếu dân lên bàn thờ Tuy nhiên, ngày nay haimón này có thể thay thế bằng cơm tẻ và cá hoặc thịt gà
Trước năm 1986, đồng bào Thái ở Quỳ Châu không có tục ăn tiết canh,chưa biết đến những món nem, chả, giò, thịt giả hộp nhưng ngày nay, đểphong phú hơn trong các món ăn ngày tết, đồng bào Thái đã chế biến nhữngmón ăn mới đó
* Thức uống:
Trước năm 1986 đồ uống chủ yếu của người Thái Quỳ Châu là nướcsuối, nước lã, chè xanh Đây là đồ uống tiện lợi mỗi khi lên nương, rẫy hay đilàm họ có thể uống ngay tại các dòng suối, khe nơi đầu nguồn Nhưng từ 1986trở lại đây, cùng với sự vận động của Nhà nước và để bảo vệ sức khoẻ của
Trang 32mình, đồng bào Thái đã chuyển sang uống nước sôi, ngoài ra còn có các loạichè, trà được đồng bào mua trên thị trường.
Rượu trắng được đồng bào Thái sử dụng làm thức uống trong bữa ăn,trước đây, họ nấu rượu trắng bằng các dụng cụ tự chế tác, chủ yếu là bằng chõ(háy) nấu rượu “Háy” nấu rượu tiếng Thái gọi là “háy siếu lâu” được chế tạo
tà thân gỗ đục rỗng, bên trong cũng có lá chắn để hứng rượu như nồi nấu rượuhiện nay Rượu trắng của đồng bào Thái ngày xưa rất mạnh, thường họ chỉ sửdụng trong những dịp lễ, tết, hay dịp có khách quý đến nhà, mỗi khi cúng bái.Ngày nay, người Thái Quỳ Châu không còn nấu rượu trắng bằng “háy siêulâu” nữa mà họ đã dùng những chiếc nồi nấu rượu bằng nhôm rất bền, nhẹ và
dễ sử dụng hơn
Nếu như rượu trắng là thức uống được dùng ngay trong bữa tiệc thìrượu cần là thức uống được người Thái dùng để uống sau bữa cơm Đây là đồuống mà cả đàn ông lẫn phụ nữ Thái đều được sử dụng Trước đây, cách thứcuống rượu cần rất tỉ mỉ, bài bản, chi tiết thể hiện phong tục, tập quán tiêu biểucủa người Thái, trước khi uống một vò rượu cần đã được mở ra, cho nướcngập đầy, cắm vòi xong xuôi phải qua một bài “khấn” của ông mo hoặc người
có am hiểu về luật tục, còn ngày nay, mỗi khi uống rượu cần quy trình đó vẫnđược thể hiện nhưng không nhất thiết phải là bài khấn của ông mo mà bất kỳngười nào cũng có thể khai rượu được Tuy nhiên trong những lễ, hội quantrọng thì phong tục đó vẫn phải được thể hiện theo đúng trình tự nghiêm túc
Thức uống của người Thái Quỳ Châu hiện nay không chỉ giới hạn ởnước suối, nước chè xanh, rượu trắng hay rượu cần, người Thái còn biết uốngbia, nước ngọt và các loại thức uống trên thị trường
* Đi lại và một số sinh hoạt vật chất khác
Cũng như các dân tộc ở các vùng miền núi, dân tộc Thái ở Quỳ Châu,Nghệ An sinh sống trên địa hình chủ yếu là dốc cao, đồi núi, có nơi còn bị
Trang 33chia cắt bởi sông, suối, phương tiện đi lại trước đây của người Thái ở vùng bị
ngăn cách bởi sông Hiếu, đó là chiếc đò (tiếng Thái gọi là To, Hưa), những
chiếc bè (pe) Còn những nơi khác đồng bào chỉ có thể đi bộ, riêng ngựa chỉdùng cho quan lại, chúa đất Từ năm 1986 đến nay, cùng với những tuyếnđường mới được mở mang, khai thông đến từng bản làng, người Thái đã sắmcho mình những chiếc xe máy để làm phương tiện đi lại, những chiếc đò ngàyxưa không còn nữa bởi đã có những cây cầu mới mọc lên, nối đôi bản làng
Trước 1986, chiếc đèn dầu là dụng cụ hữu hiệu nhất để thắp sáng trongnhà của người Thái, ngoài chiếc đèn dầu, người Thái còn biết tận dụng cácloại nhựa cây, sáp ong để thắp sáng Song những loại dụng cụ này độ bềnkém, độ sáng không cao và rất bất tiện khi sử dụng Từ sau năm 1986, họ đãbiết sử dụng điện để thắp sáng, trước khi trên địa bàn Quỳ Châu có điện lướiquốc gia (năm 1995) họ sử dụng các loại máy phát điện, máy tua bin phát điệnchạy bằng sức nước Loại máy này có thể lợi dụng được độ dốc của các consông, suối có nước chảy xiết ở Qùy Châu
Theo thống kê cho thấy đến năm 2009, trên địa bàn Quỳ Châu đã có9/12 xã, thị trấn sử dụng điện lưới quốc gia Còn lại 3 xã vùng trong (ChâuPhong, Châu Hoàn, Diên Lãm) là chưa có điện lưới, tuy nhiên đồng bào Thái
ở đây có đến 60% gia đình sử dụng máy phát điện, điện tua bin chạy bằng sứcnước
Trước đây khi chưa có điện, đồng bào Thái thường quây quần bên bếplửa trò chuyện vào mỗi buổi tối, họ vừa trò chuyện, vừa uống bát nước chèxanh thì nay trong mỗi gia đình đều có tivi, có đầu VCD, DVD, có đài catsec,
họ không những quây quần bên nhau để uống nước chè xanh mà họ còn uốngtrà, cà phê, thưởng thức những bộ phim truyền hình hấp dẫn Trước đây, cóthể nói đồng bào Thái ở Quỳ Châu còn ít am hiểu về thông tin thời sự, thôngtin xã hội, có chăng chỉ là qua đài phát thanh, sách báo, song số lượng người
Trang 34được tiếp xúc cũng rất ít, trẻ em thì chỉ quây quần bên ông, bà để nghe nhữngcâu chuyện cổ tích ngày xưa, còn bây giờ đồng bào Thái đã được tiếp xúc vớisóng truyền hình, thậm chí cả Internet, sách báo điện tử Những câu chuyện cổtích của các ông, bà giờ đây đã không còn được yêu chuộng nữa mà trẻ emngười Thái đã biết đến, đam mê những bộ phim hoạt hình, phim khoa học, cácchương trình thiếu nhi Đặc biệt, từ năm 2005 trở lại đây, số người Thái sửdụng đầu đĩa Karaoke đã tăng nhanh, lượng người Thái hát Karaoke trở thànhphong trào.
2.3 Những thay đổi về làng bản và kiến trúc nhà cửa
quê hương đất nước: “mương háu háu xằng, ban háu háu moi, noi háu háu chừ” (Mường ta ta xây, bản ta ta coi, Nòi ta ta giữ ).
Hầu hết các bản Thái ở Quỳ Châu đều có qui mô tương đối lớn, mỗilàng có từ 30 đến 40 nóc nhà Mỗi làng thường có một nguồn nước riêng đểtập trung sinh hoạt, không giống như các cộng đồng người miền núi ở TâyNguyên, người Thái không có mái nhà Rông – nơi sinh hoạt chung của cảlàng Ngày xưa, mỗi khi có hội họp hay diễn ra nghi lễ quan trọng, dân làngthường tụ họp tại một ngôi nhà có người chủ uy tín trong làng hoặc nhà củatrưởng bản
Hiện nay, trên toàn bộ 11 xã ở huyện Quỳ Châu (trừ Thị trấn), mỗi xã
có ít nhất từ 5 - 6 bản (xã Diên Lãm có 7 bản), nhiều nhất là 13 bản (xã Châu
Trang 35Phong 13 bản) Mỗi bản hiện nay không chỉ có từ 30 đến 40 nóc nhà mà cónhững bản lên tới hơn 100 nóc nhà, như ở Bản Đôm (Châu Phong), BảnChiềng (Châu Bính), Piêng Ke (Châu Hạnh)…
Nếu như cấu trúc của làng bản ngày xưa chỉ có những ngôi nhà kèm vớivài mảnh vườn để trồng rau, hoa quả, thì bây giờ ở mỗi bản đã có cả nhà cộngđồng, nơi diễn ra hội nghị, tụ họp của cả bản, có chợ làng, quán sá, thậm chí
có cả sân bóng đá, bóng chuyền để đồng bào luyện tập thể dục, thể thao, tăngcường sức khỏe
Theo thống kê năm 2009 của phòng Văn hóa - Thông tin huyện QuỳChâu, trên địa bàn huyện Quỳ Châu có 98 đơn vị văn hóa, trong đó số làngvăn hóa là 69/135 Nổi bật là những ngôi làng Thái được xem là làng Thái gốcmang đậm dấu ấn của làng Thái ngày xưa, đó là làng Hòa Bình (xã ChâuBình), làng Đồng Minh (xã Châu Hạnh), làng Hoa Tiến (xã Châu Tiến), vàđặc biệt là Bản Hốc (xã Diên Lãm) với số lượng nhà sàn chiếm hơn 95%
Hưởng ứng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống vănhóa”, Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Văn hóa thông tin - thể thao huyện QuỳChâu đã tiến hành chỉ đạo các đơn vị cơ sở đẩy mạnh, tiến hành các hoạt độngvăn hóa, thể thao trong nhân dân, theo đó, mỗi bản, làng đều thành lập đội vănnghệ, thể thao để sẵn sàng tham gia hoạt động khi diễn ra lễ hội
Như vậy, về mặt cấu trúc, làng bản người Thái ngày nay đã có nhữngthay đổi Ngoài những ngôi làng Thái định cư ở nơi gần khe suối, dựa lưngvào núi, bây giờ làng bản người Thái còn được xây dựng ở những vùng đấtbằng phẳng, vùng đồi núi thấp bán sơn địa, gần đường giao thông thuận lợicho việc canh tác ruộng đất
2.3.2 Nhà cửa
Cũng như người Thái ở các vùng khác, người Thái Quỳ Châu, Nghệ Anvốn có truyền thống ở nhà sàn Tư liệu dân tộc học cho biết, loại nhà sàn xưa
Trang 36nhất còn được duy trì cho đến ngày nay được gọi là nhà có Đà (Hướn Kháng).Đây là loại nhà đơn giản nhất, cột chôn, các mối liên kết chủ yếu dựa vàongoãm tự nhiên, ngoãm nhân tạo, có lạt buộc Kết cấu khung nhà truyền thống
có dạng vì cột, hay nói đúng hơn là vì nửa cột nửa kèo, các thành kèo khôngthuộc về phần khung nhà mà thuộc về phần mái, không có các mối liên kết vớiquá giang hay cột mà tựa lên thanh đòn nóc và các thanh đòn tay cái Đâycũng là dạng kết cấu phổ biến ở nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam Kết cấungôi nhà truyền thống của người Thái thường gồm ba hoặc năm gian, cộtchôn, có hai cầu thang, một cầu thang trước và một cầu thang phía sau cầuthang phía trước là cầu thang chính của ngôi nhà, còn cầu thang phía sauthường được dùng làm nơi đi lại cho người phụ nữ mỗi khi có khách quý ởtrong nhà, không tiện đi lại
Trong ngôi nhà sàn truyền thống, gian nhà chính giữa là nơi sinh hoạtchung của gia đình và cũng là nơi để đặt bàn thờ tổ tiên, nơi diễn ra các hoạtđộng nghi lễ và cũng là nơi để tiếp đón khách
Để làm được một ngôi nhà sàn, đồng bào Thái phải chuẩn bị rất nhiềunăm, từ việc sắm sửa dụng cụ, vật liệu đến việc dựng nhà Ngày xưa, khi màchưa có những dụng cụ kỹ thuật máy móc thì đồng bào thường dùng nhữngthứ dụng cụ thô sơ như rìu, dao, đục tay, búa Vật liệu được chọn để làm nhà
đó là các loại gỗ tự nhiên, tre, nứa, lá cọ, tranh….Khâu dựng nhà đối vớingười Thái hết sức quan trọng, việc chọn đất, chọn ngày để làm nhà phải dothầy mo, thầy cúng tiến hành theo những nghi lễ nhất định
Ngày nay, loại nhà sàn theo kiểu kiến trúc truyền thống chỉ còn rất ít,hầu như không còn, có chăng cũng chỉ là những ngôi nhà phục dùng làm nhàbếp, nơi nấu ăn của gia đình Trong điều kiện quỹ đất, gỗ rừng hạn hẹp, phầnlớn đồng bào Quỳ châu đã chuyển từ nhà sàn sang ở nhà đất làm bằng gỗ hay
Trang 37nhà xây trệt theo kiểu người Kinh hiện đại, quá trình chuyển sang nhà đất diễn
ra từng 15 năm trở lại đây (từ năm 1995)
Nếu ngày trước, ngôi nhà sàn với mái lá thì bây giờ mái nhà được lợpbởi ngói đỏ Cột trước đây cột chôn thì bây giờ cột kê có chiều cao từ 4 – 5m.Các mối liên kết chủ yếu dựa vào các mộc nhân tạo Trước đây thường là loạinhà nửa cột nửa kèo với ngoãm nhân tạo và lạt buộc thì ngày nay đã có sựtách rời giữa cột với kèo, lạt buộc được thay bằng hệ thống chốt, mộng rấtchắc chắn
Trước đây, tầng dưới của nhà sàn cũng chính là nơi ở của gia súc, giacầm vật nuôi của gia đình thì bây giờ chuồng trại của vật nuôi đã được xâydựng tách riêng ra khỏi gầm nhà sàn, vì vậy gầm nhà sàn bây giờ được sạch
sẽ, thoáng mát, có thể là nơi cất các dụng cụ lao động, nơi đặt kho chứa thóclúa hoặc nơi đặt khung dệt vải,…
Trong những năm gần đây, những ngôi làng của đồng bào Thái cònxuất hiện một loại kiến trúc nhà sàn mới, đó là loại nhà sàn được xây dựngtheo kiểu nhà 2 tầng, loại nhà này có cột rất dài khoảng từ 6 – 7m được thiết
kế rất công phu và chắc chắn, cả tầng trên lẫn tầng dưới đều là nơi sinh hoạtchung của gia đình
Nhà sàn mới bây giờ thường 3 gian, vẫn thờ 2 loại ma làng và ma xó,trong nhà vẫn được chia thành các buồng như xưa song không còn mang nặngtính cổ truyền, cầu thang lên sàn trước đây thường là 2 cầu thang thì nay chỉmột cầu thang đi dọc theo sàn nhà Kho chứa ngũ cốc và chạn bếp của nhà sànngày xưa đến bây giờ không còn nữa, nó được thay bằng các vật dụng hiệnđại, tiện dụng như sập gụ, thùng phi… đặc biệt ngày xưa khi đồng bào cònkhả năng phát nương làm rẫy, họ thường xây dựng một loại nhà chứa hay nhà
kho để cất lúa nương, loại nhà này có cấu trúc đơn giản (tiếng Thái gọi là Lậu Khâu - tức là kho chứa thóc, lúa) Nhà chỉ có 4 cột chôn, tường được bao
Trang 38quanh bằng tre, nứa, trên cột nhà họ thường gắn một miếng gỗ tròn bao quanh
cột nhằm tránh sự xâm nhập của chuột hại thóc lúa Hiện nay, Lậu khâu cũng
chỉ còn rất ít (chủ yếu còn tồn tại ở các xã vùng 4 (vùng trong) – nơi đồng bàoThái vẫn còn làm nương, rẫy)
Trước đây người Thái có tục cấm triệt người lạ vào các phòng riêng nếukhông được chính chủ nhân mời vào, song tục lệ đó ngày nay có phần mờnhạt, ở một số vùng như vùng 3 ở Quỳ Châu, đồng bào Thái còn có tục ngủthăm, mỗi khi có khách đến nhà thông thường là khách con trai chưa vợ, giađình cho phép các con cái ngủ thăm cùng với người khách trải chiếu ngủ trênsàn nhà Tuy nhiên ngày nay tục lệ này không còn nữa bởi mỗi gia đình đều
có một buồng riêng dành cho khách
Gian bếp trong ngôi nhà sàn truyền thống là gian dành cho phụ nữ làmcông việc bếp núc, nam giới rất ít khi tham gia vào hoạt động này, đặt ngaychính giữa gian bếp là một cái bếp lửa Bếp được đóng khung bằng gỗ, đắpđất thật chặt và được đặt sao cho bằng với mặt sàn nhà Ngày nay bếp lửa vẫnđược đun bằng củi, song do vấn nạn chặt phá rừng làm cho gỗ ngày càng khanhiếm nên đa số đồng bào đã sử dụng bếp ga trong nấu nướng
Cách bố trí nơi đặt bàn thờ trong ngôi nhà cũng có những thay đổi đáng
kể, những ngôi nhà sàn truyền thống thường được dành riêng một góc hay mộtgian nhỏ đầu tiên trong ngôi nhà, nay do cấu trúc nhà ở thay đổi, kể cả nhà sànhay nhà trệt bàn thờ đều được bài trí ở ngay gian phòng chính, nơi tiếp kháchchính là gian trung tâm của ngôi nhà
Tóm lại, việc xây dựng các thôn bản cổ truyền của người Thái theohướng đô thị hóa là xu thế tất yếu, chỉ tính riêng phần tìm kiếm vật liệu hiệnnay cũng đã rất khó khăn, hơn nữa nếu tính về giá trị kinh tế thì xây một ngôinhà nền đất kiên cố mái bằng vẫn rẻ hơn so với việc xây dựng một ngôi nhàsàn cổ truyền 7- 9 gian Hơn nữa, trên những dạng địa hình quy hoạch mới,