Cũng trong các sáng tác của mình, Đỗ Kim Cuông dành sự quan tâm đặc biệt tới số phận của những người lính sau những năm tháng chiến đấu gian khổ, may mắn sống sót trở về, lại hòa nhập và
Trang 1LÃ THỊ HỒNG NGÂN
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG VĂN XUÔI ĐỖ KIM CUÔNG
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện
HÀ NỘI - 2016
Trang 2Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo, PGS TS Nguyễn Ngọc Thiện người đã hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, phòng Sau đại học, quý thầy cô đã trực tiếp giảng dạy tôi trong suốt khóa học
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô trong Hội đồng chấm luận văn
đã dành thời gian đọc và đóng góp ý kiến
Xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ động viên của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã có những cố gắng, tìm tòi nhất định, song chắc chắn luận văn không tránh khỏi hạn chế Vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy, cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2016
Học viên
Lã Thị Hồng Ngân
Trang 3Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo,
PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện Tôi xin cam đoan:
- Luận văn là kết quả nghiên cứu tìm tòi của riêng tôi
- Những tư liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực
- Những gì được triển khai trong luận văn không trùng khít với bất kì công trình nghiên cứu của các tác giả nào đã được công bố trước đó
Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2016
Học viên
Lã Thị Hồng Ngân
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Đóng góp của luận văn 7
8 Cấu trúc của luận văn 7
PHẦN NỘI DUNG 8
Chương 1 HIỆN THỰC PHẢN ÁNH 8
VÀ NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG VĂN XUÔI ĐỖ KIM CUÔNG 8
1.1 Hiện thực phản ánh trong văn xuôi Đỗ Kim Cuông 8
1.1.1 Đề tài chiến tranh 8
1.1.2 Đề tài đời sống xã hội thời hậu chiến 14
1.2.1 Điểm nhìn trần thuật 21
1.2.1.1 Khái niệm điểm nhìn 21
1.2.1.2 Điểm nhìn trong văn xuôi Đỗ Kim Cuông 24
1.2.2 Giọng điệu người kể truyện 36
1.2.2.1 Khái niệm giọng điệu 36
1.2.2.2 Giọng điệu trong văn xuôi Đỗ Kim Cuông 38
Chương 2 NHÂN VẬT TRONG VĂN XUÔI ĐỖ KIM CUÔNG 50
2.1 Khái niệm nhân vật 50
2.2 Nhân vật trong văn xuôi Đỗ Kim Cuông 52
2.2.1 Nhân vật người lính 52
Trang 52.2.2 Nhân vật phụ nữ 66
2.2.3 Các loại nhân vật khác 70
2.3 Một số biện pháp khắc họa nhân vật 72
2.3.1 Nghệ thuật khắc họa ngoại hình 72
2.3.2 Nghệ thuật khắc họa tâm trạng nhân vật 76
2.3.2.1 Đối thoại 76
2.3.2.2 Độc thoại nội tâm 79
2.3.3 Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện 85
Chương 3 CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU TRONG VĂN XUÔI ĐỖ KIM CUÔNG 90
3.1 Cốt truyện trong văn xuôi Đỗ Kim Cuông 90
3.1.1 Khái niệm cốt truyện 90
3.1.2 Cốt truyện trong văn xuôi Đỗ Kim Cuông 91
3.1.2.1 Cốt truyện trong truyện ngắn 91
3.1.2.2 Cốt truyện trong tiểu thuyết 96
3.2 Kết cấu trong văn xuôi Đỗ Kim Cuông 102
3.2.1 Khái niệm kết cấu 102
3.2.2 Kết cấu trong văn xuôi Đỗ Kim Cuông 103
3.2.2.1 Kết cấu đơn tuyến 103
3.2.2.2 Kết cấu đa tuyến 106
3.2.2.3 Kết cấu đảo trật tự thời gian và kết cấu truyện lồng trong truyện 109
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Đỗ Kim Cuông sinh năm 1951, bút danh Đỗ Hồng Hà, Trà Lý, Trâm Anh Sinh ra ở Thái Bình, nhưng suốt một thời tuổi trẻ, Đỗ Kim Cuông gắn bó với miền Trung Năm 1968, ông gia nhập quân đội rồi vào chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên - Huế và khu Năm, đến sau ngày thống nhất đất nước, ông đến với giảng đường đại học, vào học khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Huế (1976-1980) Ra trường, ông về dạy học và làm công tác văn hóa - văn nghệ tại Nha Trang, rồi ra Hà Nội Ông từng giữ nhiều vị trí quan trọng khác nhau: nguyên Vụ trưởng Vụ văn hóa văn nghệ (Ban Tuyên giáo Trung ương), hiện là Phó Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam
Nhà văn Đỗ Kim Cuông là tác giả của nhiều tiểu thuyết như: Người đàn bà đi trong mưa (1986); Một nửa đại đội (1987); Hai người còn lại (1987); Vùng trời mộng ảo (1991); Giáp ranh (1995); Miền hoang dã (1999); Thung lũng tử thần (2000); Phòng tuyến sông Bồ (2010); Sau rừng là biển (2011); Lỗi hẹn với Sêpôn (2013)… Ngoài ra ông còn hàng chục tập truyện ngắn như: Đá trắng (2004); Đêm ngâu (2005); Chuyện tình ở biển (2006); Một mảnh hồn quê (2007); Tự thú người gác rừng (2008); Người kéo vó bè (2008); Chớp biển (2009)… Có thể nói, Đỗ Kim Cuông là cây bút có nhiều
đóng góp cho văn học hiện đại Việt Nam với số lượng tác phẩm khá lớn Ông xuất hiện từ giữa những năm 80 của thế kỉ trước với những sáng tác nổi bật về
đề tài chiến tranh và đời sống xã hội thời hậu chiến Mảng đề tài quen thuộc
và gần gũi này thực sự đem lại tên tuổi cũng như tiếng vang của ông trong làng văn Việt Nam những năm cuối thế kỉ trước và đầu thế kỉ này Với những đóng góp của mình, nhà văn Đỗ Kim Cuông đã nhận được nhiều giải thưởng
văn chương như: Giải A cho tiểu thuyết Phòng tuyến sông Bồ trong cuộc thi
Trang 7sáng tác văn học do Quân chủng Hải quân tổ chức (1995); Giải Cây bút vàng
do Hội nhà văn Việt Nam và tạp chí Văn nghệ Công an tặng (1998); Giải A cuộc thi truyện vừa do Hội nhà văn Việt Nam và tạp chí Tác phẩm mới tổ
chức (1998); giải thưởng Văn học Sông Mê Công (2013)
1.2 Những nghiên cứu về Đỗ Kim Cuông mới chỉ dừng lại ở các bài viết nhỏ lẻ của Thi Thi, Nguyễn Khắc Phê, Nguyễn Hiệp, Ngọc Diệp, Mai Quốc Liên, Nguyễn Thế Quang…Tuy nhiên, đó vẫn chưa phải là những nhận định mang tính khoa học chuyên sâu về đóng góp của nhà văn cho nền văn học đương đại Cho đến nay, những nghiên cứu về Đỗ Kim Cuông mới chỉ là những bài viết phê bình ngắn, cảm nhận về một tác phẩm cụ thể hoặc những bài phỏng vấn trực tiếp nhà văn về vấn đề nhân vật, hoàn cảnh ra đời cũng như thông điệp
mà nhà văn gửi gắm qua tác phẩm trên các báo, các tạp chí mà thôi Do vậy, chúng tôi xác định luận văn này là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện về nhà văn Đỗ Kim Cuông
1.3 Trong khoa nghiên cứu văn học, Tự sự học là một bộ môn nghiên
cứu giàu tiềm năng, giúp ta có thể khám phá hết nghệ thuật, tài năng qua ngòi bút của nhà văn và có thể đánh giá được dấu ấn của thời đại trong văn
chương Theo giáo sư Trần Đình Sử trong cuốn Tự sự học - một số vấn đề lí luận và lịch sử thì “nội dung của khoa học tự sự là nghiên cứu cấu trúc văn bản tự sự và những vấn đề có liên quan” [41, tr.16], “Tự sự học giúp hiểu rõ
mọi hình thức tự sự, nghệ thuật và phi nghệ thuật” [41, tr.19]
Việc lựa chọn đề tài: Nghệ thuật tự sự trong văn xuôi Đỗ Kim Cuông
của chúng tôi bắt nguồn từ tầm quan trọng cũng như khả năng của tự sự học trong nghiên cứu văn học Qua đó, chúng tôi góp phần khẳng định vị trí và những đóng góp của Đỗ Kim Cuông trong văn học Việt Nam hiện đại Ngoài
ra, thực hiện đề tài này chúng tôi cũng muốn nhận diện sâu sắc hơn sự phát triển và dấu ấn của lý thuyết tự sự trong văn xuôi Việt Nam hiện đại qua sáng tác của một nhà văn
Trang 8Có thể nói, Đỗ Kim Cuông là một nhà văn có vị trí và đóng góp vào tiến trình phát triển của văn xuôi hiện đại Việt Nam, nhưng lại chưa có một công trình nghiên cứu nào về ông toàn diện và quy mô để xác lập được những
cống hiến xứng đáng của ông Do vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài: Nghệ thuật
tự sự trong văn xuôi Đỗ Kim Cuông Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu
sâu về nội dung phản ánh và giá trị nghệ thuật cũng như những đặc sắc về phong cách, bút pháp tự sự của Đỗ Kim Cuông qua văn xuôi của ông
2 Lịch sử vấn đề
Nhà văn Đỗ Kim Cuông cho tới nay đã cho xuất bản 18 tiểu thuyết và hơn mười tập truyện ngắn Đây là số lượng tương đối lớn với sự nghiệp văn chương của một nhà văn Đỗ Kim Cuông thực sự thành công nổi bật với thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh và đời sống xã hội
thời hậu chiến Từ những tác phẩm đầu tay Người đàn bà đi trong mưa (tiểu thuyết -1986), Một nửa đại đội (tiểu thuyết - 1987), Hai người còn lại (tiểu thuyết - 1987) đến những tác phẩm vừa xuất bản như Sau rừng là biển (tiểu thuyết - 2011), Trang trại hoa hồng (tiểu thuyết - 2016), bạn đọc nhận thấy
nhân vật trung tâm trong các tác phẩm của Đỗ Kim Cuông là hình ảnh người lính như chính lời tự bạch của tác giả: “Những người lính là nhân vật của tôi
Niềm hạnh phúc của tôi trên mỗi trang sách Ngày nay những anh lính cụ Hồ
ấy có người đã trở thành viên chức, nhà doanh nghiệp, trí thức, có nhiều người trở về với con trâu, cái cày, Dù thế nào đi chăng nữa, họ còn theo tôi, tạo cho tôi niềm cảm hứng trên mỗi trang viết” [11, tr.185]
Ông là một nhà văn đi ra từ một người lính thứ thiệt, đã từng tham chiến ở một vùng đất máu lửa là chiến trường Trị Thiên Huế, giai đoạn từ
1968 đến 1975 Đó là khoảng thời gian khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh Những năm tháng trở về thời bình, lúc đi dạy học, làm báo, viết văn, đi qua nhiều vùng đất nước, bằng sự trải nghiệm của chính mình và đồng đội, nhà
Trang 9văn đã gặp lại những người từng mặc áo lính, ngồi sau xe ôm của họ, lắng nghe biết bao chuyện cảm động, đồng cảm với họ để viết về họ chân thực và
sâu sắc Nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên khi đọc Phòng tuyến sông Bồ nhận
thấy “Ngồn ngộn những sự kiện, những con người, những số phận, tính cách
ấy không thể thoát ra ngoài cuộc chiến Chiến tranh, chiến trường, con người
và số phận của nó là vấn đề của tiểu thuyết này Tác giả có một vốn sống, vốn cảm xúc đồ sộ, và anh đã trải nó ra trong từng câu văn, từng tình huống, tâm trạng, đối thoại, khắc họa ” [28]
Cũng trong các sáng tác của mình, Đỗ Kim Cuông dành sự quan tâm đặc biệt tới số phận của những người lính sau những năm tháng chiến đấu gian khổ, may mắn sống sót trở về, lại hòa nhập vào cuộc sống đời thường lam lũ, nghèo khó, trong cuộc vật lộn đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu… trong cuộc chuyển mình để làm nên sự nghiệp đổi mới có ý nghĩa sinh tử của đất
nước, để nêu cao những phẩm giá tốt đẹp của người lính cụ Hồ Sau rừng là biển là cuốn tiểu thuyết thứ 18 của Đỗ Kim Cuông thể hiện rõ nội dung này Ngay đầu cuốn sách ông ghi: Tưởng nhớ những người bạn của tôi đã hy sinh trên chiến trường Trị Thiên - Huế Rời quân ngũ đã gần 40 năm mà trái tim
ông vẫn vẹn nguyên những tình cảm đằm thắm với những con người mà ông
đã cùng sống và chiến đấu, rồi làm sống lại hình ảnh họ với tất cả tình yêu, nỗi xót thương và trân trọng Đánh giá về cuốn tiểu thuyết, Nguyễn Thế
Quang đã có cái nhìn khái quát “Trang trại Hoa Hồng đưa ta đến những
không gian rộng lớn từ làng quê Bắc Bộ đến giải đất miền Trung và Cao nguyên, với những người lính, người dân quê, những người ông, người bà, những người cha người mẹ cùng con cháu suốt những năm bom đạn rồi hòa bình” [36, tr.40] và khẳng định: “Đây là cuốn tiểu thuyết có cốt truyện hấp dẫn Hình ảnh nhân vật, sự kiện liên tục tạo ra những bất ngờ Đằng sau những câu văn giản dị mà xúc động, một cách viết kiệm lời ta bắt gặp một Đỗ
Trang 10Kim Cuông từng trải, điềm tĩnh, sâu sắc và nhân hậu” [36, tr.44] Đây cũng là những nét chính trong hầu hết các sáng tác của Đỗ Kim Cuông
Nhiều người biết đến Đỗ Kim Cuông - một nhà văn Về sau, khi đã làm công tác quản lý, ông vẫn được yêu mến bởi những trang viết Tác phẩm của ông mộc mạc, dung dị, song ẩn chứa trong những con chữ là sự rộng mở của một tấm lòng Ông từng là người lính và cho đến giờ, truyện ngắn, tiểu thuyết của ông vẫn đậm chất lính Ông từng là nhà giáo, và cho đến giờ cốt cách của ông vẫn như một nhà giáo Cương vị của ông chính là sự phản ánh nhân cách của một nghệ sĩ căn cốt dám sống, dám nghĩ, dám nói sự thật
Đỗ Kim Cuông là một nhà văn có vị trí trong văn học Việt Nam sau
1986, nhưng những nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của ông mới chỉ
dừng lại ở những bài viết nhỏ, đơn lẻ Do vậy, với đề tài: Nghệ thuật tự sự trong văn xuôi Đỗ Kim Cuông, chúng tôi hy vọng sẽ mang tới cái nhìn tổng
quan, sâu sắc hơn về nhà văn và những cống hiến của ông trong văn học giai đoạn từ 1986 tới nay
3 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài đã chọn, luận văn của chúng tôi nhằm:
- Làm rõ nội dung sáng tác của Đỗ Kim Cuông qua đề tài chiến tranh
và đời sống xã hội, con người thời hậu chiến
- Làm rõ những đặc sắc của nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Đỗ Kim Cuông
- Qua những kết quả nghiên cứu, luận văn khẳng định những đóng góp của ông trong văn xuôi Việt Nam đương đại
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Qua những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong văn xuôi Đỗ Kim Cuông, luận văn có nhiệm vụ làm rõ tư tưởng nghệ thuật và phong cách tự sự độc đáo của văn xuôi Đỗ Kim Cuông
Trang 115 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, luận văn tập trung khảo sát, thống kê, phân tích
sáu tác phẩm tiêu biểu của ông Đó là bốn tiểu thuyết: Vùng trời mộng ảo, Nxb Phụ nữ năm 1999; Sau rừng là biển, Nxb Hội Nhà văn, 2011; Phòng tuyến sông Bồ, Nxb Văn hóa dân tộc, 2012; Lỗi hẹn với Sêpôn, Nxb Hội Nhà văn, 2013 Hai tập truyện ngắn: Đêm ngâu, Nxb Chính trị quốc gia, 1999; Chuyện tình ở biển, Nxb Thanh Niên, 2003
Với nhiệm vụ luận văn là tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong văn xuôi Đỗ Kim Cuông nên những tác phẩm về thể loại tự sự liên quan đến đề tài cũng được so sánh, đối chiếu
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Vận dụng lý thuyết tự sự học và các phương pháp nghiên cứu cụ thể để làm rõ vấn đề người kể chuyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, cốt truyện, giọng điệu và kết cấu trong văn xuôi Đỗ Kim Cuông
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp phân tích tác phẩm
Phương pháp này giúp người viết nhận thức được đặc sắc ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Tuy vậy chúng tôi sẽ tập trung một số tác phẩm nổi bật, những chi tiết cụ thể để làm rõ luận điểm
6.2 Phương pháp hệ thống, tổng hợp
Để hiểu được nghệ thuật tự sự trong văn xuôi Đỗ Kim Cuông, chúng tôi xem xét các yếu tố, các khía cạnh tạo nên chỉnh thể của nghệ thuật tự sự
Từ những tác phẩm tiểu thuyêt và truyện ngắn, chúng tôi tập trung, tổng hợp
để nêu bật những luận điểm cụ thể
6.3 Phương pháp phân loại thống kê
Với từng khía cạnh, cấp độ nghệ thuật tự sự, chúng tôi khảo sát, phân loại, thống kê bằng những số liệu cụ thể
Trang 126.4 Phương pháp so sánh
Luận văn sử dụng so sánh, đối chiếu với một số nhà văn khác để làm rõ những đặc sắc, riêng biệt trong nghệ thuật văn xuôi Đỗ Kim Cuông
6.5 Phương pháp loại hình
7 Đóng góp của luận văn
- Đây là công trình đầu tiên đi sâu vào nghiên cứu một số phương diện trong nghệ thuật tự sự của văn xuôi Đỗ Kim Cuông
- Luận văn làm rõ những đặc sắc phong cách và bút pháp nghệ thuật của văn xuôi Đỗ Kim Cuông
- Khẳng định giá trị và đóng góp của nhà văn đối với truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam đương đại
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được triển khai trong ba chương:
Chương 1 Hiện thực phản ánh và người kể chuyện trong văn xuôi
Đỗ Kim Cuông
Chương 2: Nhân vật trong văn xuôi Đỗ Kim Cuông
Chương 3: Cốt truyện và kết cấu trong trong văn xuôi Đỗ Kim Cuông
Trang 13tự tay mình đào huyệt chôn cất một vài bạn bè đồng học, đồng ngũ với mình trong những cánh rừng, những thửa ruộng ngập nước ở vùng ven đô Huế, Quảng Trị… Sau này khi đã trở về với cuộc sống đời thường, nhiều cay nghiệt, vượt lên sự túng thiếu, bần hàn những trang viết về người lính của tôi lặng lẽ ra đời Tôi viết như một niềm hối thúc nội tại, viết để trả món nợ cho những người đã khuất và cho cả bao người lính sau cuộc chiến may mắn trở về” [11, tr.182-184] Từ lời trò chuyện ấy, cùng dõi theo hành trình sáng tác của Đỗ Kim Cuông, bạn đọc nhận thấy hiện thực nổi bật trong các sáng tác
của nhà văn là Chiến tranh và Đời sống xã hội thời hậu chiến
1.1.1 Đề tài chiến tranh
Chiến tranh - cho đến nay vẫn là một đề tài lớn, mang tầm vóc nhân loại Nó từng có bề dày trong tiến trình của lịch sử văn học thế giới Sự hiện diện của mảng đề tài này trong văn học chính là sự phản ánh sinh động nhất bức tranh hiện thực cuộc sống trong những giai đoạn lịch sử đặc biệt của từng dân tộc và của cả loài người Với Văn học Việt Nam, chiến tranh và người lính từ lâu đã được xem như là đề tài có tính truyền thống Điều này có cơ sở
Trang 14thực tế lịch sử - xã hội Việt Nam Ra đời phát triển trong môi trường, bối cảnh lịch sử dân tộc suốt nghìn năm giặc phương Bắc xâm lăng, ngót trăm năm dưới ách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp và hàng mấy chục văm dưới chế
độ thực dân kiểu mới - đế quốc Mĩ, văn học Việt Nam là tấm gương phản ánh trung thành và chân thực hiện thực cuộc sống của đất nước và con người trong những cuộc trường chinh dựng nước và giữ nước Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam cũng tự nhiên từng bước hình thành qua mỗi chặng đường phát triển của văn học dân tộc Ở mỗi chặng đường, đề tài chiến tranh lại được tiếp cận và phản ánh từ những góc độ khác nhau, theo những cảm hứng khác nhau Đặc biệt sau khi hòa bình và thống nhất đất nước, văn học vẫn không thôi viết về chiến tranh và càng hăng hái trong nhiệm vụ phản ánh đời sống thời hậu chiến Lúc này người viết đã có độ lùi cần thiết để nhìn nhận về cuộc chiến, để xâm nhập sâu hơn vào đời sống tinh thần của người lính, vì vậy mà chiến tranh đã trở thành “siêu đề tài”, người lính trở thành
“siêu nhân vật” (Chu Lai), càng khám phá càng thấy độ sâu không mòn nhẵn
Ở mảng văn xuôi viết về đề tài chiến tranh có thể kể tới các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Thi, Anh Đức, Nguyễn Minh Châu, Chu Lai, Nguyễn Quang Sáng,
Nhà văn Đỗ Kim Cuông, trước khi trở thành cán bộ lãnh đạo tại các cơ quan trung ương chỉ đạo văn học nghệ thuật, từng chiến đấu nhiều năm trên chiến trường Trị Thiên Huế Trong hơn hai chục tác phẩm đã xuất bản, nhà văn dành nhiều tâm huyết và cả ngàn trang sách miêu tả những năm tháng hào hùng và bi tráng của quân dân Thừa Thiên Huế mà ông là người trong cuộc Vốn sống đó là một mỏ quý vô tận đối với người sáng tác Đã có hàng chục cuốn tiểu thuyết, hàng trăm truyện ngắn của các nhà văn trong cả nước viết về cuộc chiến đấu của quân dân Trị Thiên chống ngoại xâm trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước Nhiều tác phẩm đã lên phim, lên
Trang 15sân khấu Đó là tiểu thuyết của các nhà văn như Phùng Quán, Xuân Thiều, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Quang Hà, kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường…nhưng có lẽ vẫn chưa đủ Ngồn ngộn hiện thực của cuộc sống và con người Trị Thiên trải dài qua cả thế kỷ sống trong binh đao lửa đạn, giữa cái sống và cái chết Ngay
cả những điều nhà văn biết, trải nghiệm về cuộc chiến ở vùng đất này đã khai thác để đưa vào truyện ngắn, tiểu thuyết cũng chỉ là mảng nhỏ của bức tranh chiến sự bộn bề Với ông, viết về chiến tranh cách mạng là nỗi ám ảnh khôn nguôi Đó không chỉ còn là lựa chọn mà còn trở thành một thôi thúc tự nhiên Chỉ có điều, khi Đỗ Kim Cuông đến với “địa hạt” này, ở đó đã có những
“tượng đài” sừng sững về hiện thực chiến trường Làm sao để viết về chiến tranh, về người lính mà không trùng lặp, không để người đọc có cảm giác
“quen mòn”, đó là thách thức lớn đặt ra cho ngòi bút Đỗ Kim Cuông Lật giở
những trang truyện của nhà văn, từ Hai người còn lại, Một nửa đại đội, Phòng tuyến sông Bồ, Tự thú người gác rừng, Đá trắng, Lỗi hẹn với Sê Pôn…bạn đọc hoàn toàn bị lôi cuốn Sức hấp dẫn từ những trang văn không
phải ở kĩ thuật viết “hậu hiện đại” (Đỗ Kim Cuông không phải là nhà văn đam
mê theo đuổi mốt cách tân trong lối viết truyện này) mà chính bởi tâm huyết của người cầm bút, vốn từng trải và cả nỗi thắc thỏm không yên của một người từng đi qua chiến tranh đã lay động tâm hồn độc giả
Tiểu thuyết Phòng tuyến sông Bồ: Ngồn ngộn những sự kiện, những
con người, những số phận, tính cách được khắc họa và những số phận, tính cách ấy không thể thoát ra ngoài cuộc chiến tranh Chiến tranh, chiến trường, con người và số phận của nó là vấn đề của tiểu thuyết này Tác giả có một vốn sống, vốn cảm xúc đồ sộ và ông đã trải nó ra trong từng trang văn, từng tình
huống tâm trạng, đối thoại, khắc họa Phòng tuyến sông Bồ mở ra bằng một
trận đánh phục kích Tác giả chậm rãi mô tả trận đánh, cũng đồng thời làm động tác giới thiệu nhân vật và tình huống Một trận đánh cụ thể được tái hiện
Trang 16với nhãn quan của người trong cuộc đã cho ta hiểu biết sinh động về cuộc chiến vừa qua Lồng vào đó nhà văn bắt đầu nêu lên tình huống: đơn vị chủ lực của trận đánh đang bị giải thể để trở về địa phương bám dân, giữ đất, làm
du kích, giữ lấy chỗ đứng chân cho cách mạng Lúc này là sau Mậu Thân, lực lượng ta teo tóp, mỗi xã chỉ còn vài ba người, không còn quân Đó là một tình huống đầy kịch tính và trong tình huống đó, bộc lộ tính cách và tâm trạng của từng nhân vật Đó là những tính cách như Phong, Cường… những người chỉ huy; mà cuộc đời họ gắn bó với đồng đội, với chiến trường như là sự gắn bó
tự nhiên, máu thịt Nhưng bên trong, khuất sau những hành động là những mối tình, những trắc trở, những âm thầm khổ đau hay hạnh phúc của Phong
và Tâm, của Cường và Hạnh… Không gian sự việc của tiểu thuyết mở ra quá rộng, và Đỗ Kim Cuông thừa vốn sống để “tham lam” mở ra rộng, ôm chứa cho hết những tháng ngày ông đã trải qua, nhưng đã “rộng” thì thường khó
“sâu” Và các thủ pháp của tiểu thuyết, các cách kể chuyện, các thi pháp tiểu thuyết; nhất là sự soi rọi ngọn đèn vào sâu hơn nữa nội tâm con người… vẫn còn là một thách thức với nhiều tác giả viết về chiến tranh, ham “đại cảnh”
mà xao lãng cái “vi mô” Nhưng có thể khẳng định, toàn bộ cuốn tiểu thuyết
là một cống hiến đáng quý cho văn học, cho cuộc sống, hôm nay và cả mai sau Nếu có ai đó làm phim về cuốn tiểu thuyết này, thì bản thân cuốn tiểu thuyết với nhiều chi tiết đặc hiệu của nó, đã là những phần quý giá của một kịch bản phim truyện Cuộc sống đang có những biến động, thay đổi nhiều chiều Nhưng dù có thay đổi thế nào, cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc ta vừa qua vẫn là một đề tài bất tận Làm sao cho mỗi người hôm nay, mỗi người sắp tới nhận được cái ánh lửa thiêng soi rọi từ cuộc chiến ấy, để mà sống mà làm
việc Phòng tuyến sông Bồ của Đỗ Kim Cuông góp phần khơi lên ngọn lửa
thiêng quý giá ấy
Trang 17Viết về cuộc chiến mà mình đã đi qua với độ lùi của thời gian, Đỗ Kim Cuông một mặt tìm kiếm những giá trị tinh thần cũ, tri ân sâu sắc những hy sinh thiêng liêng của đồng đội, đồng bào, làm nổi rõ tầm vóc của cuộc chiến tranh bằng những trận đánh và tượng đài bất tử của những người lính bình dị Mặt khác, tác phẩm cũng cho thấy rằng cần phải nhìn chiến tranh từ chiều kích của thảm họa nhân văn của con người, chiến tranh với tất cả những xung đột tàn nhẫn từ bên trong đến bên ngoài, không chỉ hủy hoại mạng sống con người mà còn hủy hoại cả kí ức và khả năng sống bình thường của con người, đầu độc cuộc sống của con người ở những tầng sâu nhất
Những trang viết về sự thật gân guốc, cay đắng mà con người phải chịu trong chiến tranh cũng được nhiều nhà văn khắc họa như hàng loạt tác phẩm:
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Thời xa vắng của Lê Lựu, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, Bức tranh của Nguyễn Minh Châu, Mười ba bến nước của Sương Nguyệt Minh…Ở sáng tác
của Đỗ Kim Cuông cũng vậy
Cuộc chiến được mô tả trong Phòng tuyến sông Bồ, Lỗi hẹn với Sê Pôn,
Đá trắng… không chỉ là cuộc đối đầu giữa hai lực lượng Ta và Địch mà còn là
trận chiến của những con người bình thường có, anh hùng có, hi sinh có, tính
toán có Một mặt, Phòng tuyến sông Bồ ngợi ca những con người cùng chung
lý tưởng với những phẩm chất trong sáng tuyệt đẹp như Phong, Cường, Nhàn, Thái Long, Tâm, Hạnh… “Cái nghiệt ngã của chiến tranh ít khi làm cho ai khóc, nhưng trái tim người lính nhức nhối, vò xé họ trong cõi thẳm sâu Không, không thể tính hết bằng nước mắt Họ cùng nhau chia từng bát cơm, hụm nước, điếu thuốc, hòa với nhau niềm vui, nỗi cực nhọc… Họ bất tử, dầu họ chưa được nhận phong anh hùng hay những tấm huân chương” [13, tr.62-63] Mặt
khác Phòng tuyến sông Bồ cũng dựng lên chân dung những kẻ suy thoái về
tinh thần, đạo đức, sự thủ tiêu nhân cách một cách thảm hại như Thoan, Tam,
Trang 18Lân và Lý - những kẻ cơ hội, toan tính, yếu hèn và bội phản, những kẻ mà qua họ Phong nhận ra: “Tôi đã tìm ra mẫu người anh hùng trong tiểu đoàn 10, trong những người lính C1 của tôi Tôi đã tìm thấy ở em, ở thím Tư Biều, ở ông già Miên… Bây giờ tôi lại tìm thấy một âm bản khác của chiến tranh, của những con người như Lân, Tam, Thoan… Bất giác tôi thấy kinh tởm, buồn nôn Thực là khủng khiếp và ghê sợ” [13, tr.192] Đó là góc khuất bi thảm của chiến tranh mà ít nhà văn thời chiến có thể khắc họa Âm hưởng nghiền ngẫm các giá trị khác của cuộc chiến ở các tác phẩm này cũng là cảm hứng chung của các tác phẩm viết về chiến tranh từ thập kỉ 80 trở đi
Phần lớn tác phẩm của Đỗ Kim Cuông là viết về chiến tranh, nơi nhà văn sống thời trai trẻ với bao lý tưởng, ước vọng Cuộc sống vất vả không bóp nghẹt tâm hồn lãng mạn, cảm xúc của nhà văn: “Hơn 40 năm trước, sau mỗi lần bị quân Mỹ, quân Ngụy phục kích, chốt chặn ở Khe Trái, Đóc Đoác, địa đạo 310; đánh nhau với tụi lính Bảo an, dân vệ, lính của sư đoàn 54 Ngụy ở Dốc Đu, Dốc Cát, đồi Chóp Nón, Hòn Vượn, ở Phú Ổ La Chử, Văn xá Trung, Văn xá Làng, Bồn Chí, Bồn Phổ… vừa đào đất chôn bạn mình, vừa giật mình
tự hỏi “Sao mi lại còn sống? Sau những trái mìn Claymo lửa xanh chớp lè?” Càng không mơ tưởng mình sẽ viết văn” Vậy nhưng, văn chương trong ông
là một đời sống say mê, có thật Ông viết văn như một chuyện tự nhiên, viết
về những đồng đội, về đồng bào, về vùng đất Thừa Thiên - Huế, về những ngày chiến đấu oanh liệt… Viết về chiến tranh là viết về con người, nhà văn không để các sự kiện đè bẹp con người Hiện thực chiến tranh không phải là mục đích tái hiện mà chỉ là đường viền làm nổi rõ số phận con người Nhìn chiến tranh từ góc độ số phận con người và thể hiện chiến tranh qua tâm trạng con người, Đỗ Kim Cuông đã đi đến đáy cùng của hiện thực chiến tranh Hiện thực ấy được thể hiện trong một giọng văn nhẹ nhàng mà sâu sắc, chân thật mà tinh tế Cái sâu sắc và tinh tế ấy đến từ tâm hồn của người viết và sự
Trang 19giàu có cảm xúc khởi nguồn từ những gian truân, hiểu đời của nhà văn Đỗ Kim Cuông
1.1.2 Đề tài đời sống xã hội thời hậu chiến
Thực chất, văn học “hậu chiến’ là một khái niệm ước lệ chỉ một giai đoạn văn học sau chiến tranh mà cảm hứng chính của nó vẫn là suy ngẫm về chiến tranh trong hoàn cảnh mới, của những con người vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh, còn bị chi phối bởi quán tính của cuộc chiến “Những cuộc chiến tranh có bắt đầu nhưng chẳng có kết thúc Nó dai dẳng trên nước mắt người
vợ góa, người mẹ, nỗi buồn của trẻ mồ côi, tiếng rên rỉ của người lính bị thương Những vết thương trên mặt đất biến dần, bãi chiến trường xưa thay bằng những luống cày mới, nhưng rất lâu, rất lâu trong những mẩu bánh vẫn
lưu lại mùi vị chua của bụi đất và thương đau” (Văn hóa và đời sống, Số
6-1980) Nhận định này của Bôrit Vaxiliep thật trùng khớp biết bao với hiện thực hậu chiến ở Việt Nam Khoảng thời gian từ 1975 đến 1986, Văn học Việt Nam đã bắt đầu chạm tới mức xung đột không tránh khỏi của một xã hội đang
cố hàn gắn vết thương chiến tranh Những xung đột đến mức đã có những cuộc hoán vị giữa anh hùng và hèn yếu, cao thượng và tính toán, lí tưởng và
sa đọa… Những người lính trở về từ chiến tranh không còn quán tính sống chết nữa, mà phải đối diện với trăm ngàn điều đời thường, nhiều sự oái oăm
bi hài, nhiều nghịch cảnh không thể cứu chữa Văn học loay hoay trước những sự lệch pha dữ dội giữa định hướng sáng tác cũ và những vấn đề đặt ra của cuộc sống mới
Nhìn lại quá khứ đã qua, khoảng cách thời gian đã đưa lại cho người cầm bút những suy nghĩ, chiêm nghiệm sâu sắc về số phận con người ở khía cạnh mà trước đây luôn bị làm mờ đi, nhạt đi trước số phận dân tộc: khía cạnh
bi kịch cá nhân Cảm hứng bi kịch là cội nguồn cho sự xuất hiện của một loại nhân vật mang diện mạo tinh thần hoàn toàn mới trong văn học sau 1975,
Trang 20nhất là sau năm 1986 nhờ nỗ lực đổi mới và dân chủ hóa đời sống văn hóa
văn nghệ thể hiện rõ qua các tác phẩm tiêu biểu như Thời xa vắng (Lê Lựu), Mảnh đất tình yêu (Nguyễn Minh Châu), Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Bến không chồng (Dương Hướng), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn mày
dĩ vãng (Chu Lai)…
Nhà văn Đỗ Kim Cuông trong một lời trò chuyện cùng bạn đọc đã viết:
“Những trang viết về chiến tranh cách mạng, về cuộc sống ngày hôm nay, phải khác với ngày hôm qua Một độ lùi 30 năm đủ để cho nhà văn suy ngẫm một cách nghiêm túc nhất về hiện thực của đời sống, của chiến tranh cách mạng Có những giá trị, chuẩn mực xã hội đã đổi thay Nhà văn cần có một cái nhìn mới, cách nghĩ mới về cuộc sống, con người để làm sao đưa đến cho bạn đọc những trang viết chân thực nhất về cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của dân tộc, về cuộc sống và con người Việt Nam với bao niềm vui, nỗi buồn,
hy vọng trong biến thiên của lịch sử…” (Sách Nhà văn Việt Nam hiện đại – Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản lần thứ 4/2010) Có lẽ, Sau rừng là biển đã
được tác giả viết với quan niệm và cách nhìn này, tuy nhiên, từ “lý thuyết” đến thực tiễn sáng tạo bao giờ cũng có một khoảng cách Bằng một kết cấu đa chiều- cả về không gian, thời gian, giọng điệu nhân vật - nhà văn Đỗ Kim
Cuông qua 230 trang tiểu thuyết Sau rừng là biển đã cố gắng phản ánh một
hiện thực trong và sau chiến tranh phong phú, phức tạp, không dễ “kết luận” như nó vốn có và như ông đã từng chứng kiến Một cuốn tiểu thuyết hơn 200 trang nhưng mở ra cho người đọc những nẻo đến để đồng cảm với thân phận con người, đặc biệt là số phận những người lính trở về sau chiến tranh
Đọc những trang đầu, tưởng chỉ là câu chuyện đơn giản và quen thuộc:
ba người lính quê một tỉnh đồng bằng Bắc bộ, từng sống chết bên nhau ở Trị Thiên, gặp lại nhau sau chiến tranh, những hồi ức xen lẫn với bao vất vả trong cuộc mưu sinh hiện tại Ba người lính không thuộc loại có nhiều “sao vạch”,
Trang 21thời hậu chiến cũng không có công tích gì đặc biệt - Thái, nhân vật xưng “tôi” rời chiến trận về dạy học; Huynh về làng quê, Hùng may mắn hơn, trở thành
sĩ quan, được đi học Liên Xô, nhưng rồi hư hỏng phải vào tù - “sự tích nhân vật như thế tưởng cũng khó nâng tầm tư tưởng của tiểu thuyết Vậy nhưng, chính nhờ tác giả đưa nhân vật vào các “địa hạt” bình thường - giáo dục và nông thôn - mà tác phẩm đã chạm đến những vấn đề xã hội triết lý sâu sắc Đây không phải là “dưới đáy” xã hội hay “mũi nhọn cuộc sống” như lâu nay khi bàn đến đề tài trong sáng tác văn học nghệ thuật, nhưng với cách lựa chọn
đó, tác giả đã tiếp cận cuộc sống thật của nhân dân với bao nỗi lo cơm áo hàng ngày chứ không “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” hay những chuyện tình tay ba tay tư nơi công sở cùng những pha “sex” câu khách rẻ tiền Sự rộng lớn bao la cũng như phức tạp của cuộc sống, đời người ôm trọn trong đó bao thân phận không ai giống ai Những người lính cùng chung một chiến hào, một lý tưởng, chung kẻ thù trong chiến tranh nhưng sau khi trở về với cuộc sống đời thường, mỗi người đi theo một ngã rẽ khác nhau Chính từ cuộc sống tưởng như yên bình bên cạnh người thân sau lũy tre xanh hay trên giảng đường… họ đã hiểu rằng, cuộc sống không phải như họ nghĩ Kẻ thù không hiện hình ngay trước mũi súng, mà ẩn náu trong sự việc hàng ngày, nằm trong chính mối quan hệ tưởng như thân quen nhưng đầy rẫy éo le và phức tạp; nằm trong đồng chí, bạn bè của anh và ngay trong bản thân anh
Sau rừng là biển phản ánh khá dữ dội nhiều thân phận con người,
nhưng vẫn toát lên những điểm sáng nhân hậu, không chỉ Huynh, Toản, giáo Thái, Kha, chị Nhàn và cả Hùng râu Họ đều đáng yêu và đáng thương cả Họ
là một phần làm nên hiện thực cuộc sống này Cuộc sống của những người lính trở về sống trong thời kì bao cấp, trong cuộc vật lộn giữa cái tốt và cái xấu… trong cuộc lột xác để làm nên sự nghiệp đổi mới có ý nghĩa sinh tử của đất nước, để bảo vệ những phẩm giá tốt đẹp của người lính cụ Hồ Nhà văn
Trang 22không thể chối bỏ được thực tại ấy và phải có trách nhiệm, lương tâm để phản ánh hiện thực ấy một cách trung thực Đó cũng còn là lời cảnh báo với xã hội Song văn chương không chỉ để phản ánh, giãi bày, nó phải tạo ra những hình tượng nghệ thuật, trở thành điểm tựa cho người đọc, làm cho người đọc tin vào những điều tốt đẹp của con người và cuộc sống
Không chỉ Sau rừng là biển mà các tác phẩm Người kéo vó bè, Đảo chắn sóng, Người lính trẻ tóc bạc, Người chăn dê ở Thung Cò;…giúp ta
hiểu rõ hơn cách tiếp cận hiện thực cuộc sống thời hậu chiến của nhà văn
được đặt ra trong tác phẩm Xóm nhỏ cuối ghềnh, Sau rừng là biển Đề tài thế
sự, đạo đức với những vấn nạn về sự xuống cấp đạo đức của đời sống hôm nay cũng khiến nhà văn quan tâm đặc biệt Hình như cơ chế thị trường sơ khai,
sự cạnh tranh quyết liệt của thương trường, lòng ham muốn làm giàu bằng mọi cách, có thể cả những bất công, lợi ích cá nhân, của nhóm,… đã tạo ra những tệ nạn rất quỷ quyệt, ranh ma, tàn nhẫn trong những con người ngay cạnh chúng
ta Không chỉ là tham nhũng, biển lận của công mà thói hách dịch, cửa quyền, triệt hạ lẫn nhau, biến tổ chức thành nơi đấu đá của các phe nhóm… ít nhiều
được phản ánh trong các truyện ngắn Đêm trắng, Người chăn dê ở Thung Cò, Người đàn bà xóm núi và tiểu thuyết Vùng trời mộng ảo, Sau rừng là biển
Các tác phẩm ấy đã phần nào phản ánh những mảng tối nhức nhối của đời sống: Ông chủ tịch huyện nọ đấu đá với ông bí thư, một ông chủ doanh nghiệp nhà nước làm ăn có tiếng tăm phải vào tù vì tham nhũng, một anh lính
Trang 23trở về từ chiến trường được đi đào tạo sĩ quan ở nước ngoài không vượt ra khỏi cám dỗ của dục vọng và đồng tiền phải vào nhà đá… Nhưng ở những câu chuyện đó ta nhận thấy cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa thiện và
ác, giữa lương tâm của những người có văn hóa thực sự, lo lắng cho cuộc sống chung và những kẻ thoái hóa ở mọi cấp độ Nếu sự thực đáng sợ trong những tác phẩm mà ta vừa nhắc là điều không còn xa lạ, chúng ta vẫn thường gặp trong đời sống hiện thực hôm nay, thì Đỗ Kim Cuông, bằng sự “trung thực và dũng cảm” đã mổ xẻ vết thương đau nhưng cũng đồng thời gieo vào lòng bạn đọc niềm tin vào những giá trị tốt đẹp nơi con người và cuộc sống như ông từng trò chuyện: “Tôi còn sống được đến ngày hôm nay cũng như còn viết được chính là tôi luôn có một niềm tin vào cuộc sống của con người Nhiều nhà văn khác cũng như tôi Nếu mình không có một niềm tin vào cuộc sống của con người thì cũng không viết được, không sống được Bởi cuộc đời này đôi khi đẩy mình vào thế bĩ cực và nhiều khi thất vọng, nhiều khi bàng hoàng trước những gì đang diễn ra Nhưng hãy tin ở con người, hãy tin ở các nhà văn Trong số hàng nghìn tác phẩm chúng tôi đọc, vẫn thấy lóe lên cái
đẹp cứu rỗi trong tác phẩm của các nhà văn” (An ninh Thế giới online,
18/12/2014)
Như vậy, với hành trình sáng tác hơn 40 năm, nhà văn Đỗ Kim Cuông đặc biệt thành công với đề tài chiến tranh và đời sống xã hội thời hậu chiến các sáng tác của ông cho ta thấy cái nhìn đau đáu gần như xuyên suốt, tạo cho người đọc nhiều ám ánh về hình tượng người lính trong và sau cuộc chiến Đồng thời cũng thấy được sự nhạy cảm của nhà văn trước những biến động của thời đại để cho ra đời những tác phẩm thể hiện sự bám sát từng bước đi của đời sống, đóng góp nhiều tiếng nói đa thanh cho văn học
1.2 Người kể chuyện trong văn xuôi Đỗ Kim Cuông
Trang 24Người kể chuyện là khái niệm trung tâm của Tự sự học Đó là “một người
do nhà văn sáng tạo ra để thay mình thực hiện hành vi trần thuật” [40, 101] Thuật ngữ “người kể chuyện” có từ năm 1490 (La tinh: Narrator), tuy nhiên lí luận về nó thì phải đến thế kỉ XX mới phát triển (dẫn theo Phong Tuyết)
Tác phẩm nghệ thuật là một sản phẩm sáng tạo hư cấu của nhà văn nhằm thể hiện một quan điểm, tư tưởng, ý đồ nghệ thuật Trong thế giới ấy nhà văn xây dựng một chỉnh thể nghệ thuật gồm nhiều yếu tố và người kể chuyện là một trong những yếu tố quan trọng Người kể chuyện là một sản phẩm của sáng tạo nghệ thuật, nó khác với người kể chuyện ngoài thực tế Đó
là một nhân vật đặc biệt trong tác phẩm văn học được nhà văn trao cho nhiệm
vụ quan sát, theo dõi, ghi chép, phân tích, đánh giá, nó có chức năng tổ chức các nhân vật khác
Tuy vậy người kể chuyện không hoàn toàn trùng khít với tác giả tiểu
sử, người kể chuyện thống nhất nhưng không đồng nhất với tác giả tiểu sử Đây là một kiểu nhân vật đặc biệt, một hư cấu của nhà văn trong tương quan với toàn bộ tác phẩm văn học Tư tưởng, quan điểm của tác giả thực luôn lớn hơn tư tưởng của người kể chuyện, nó được thể hiện trong toàn bộ tác phẩm Người kể chuyện có thể mang dáng dấp nào đó của nhà văn, nhưng đó không phải là tác giả thực vì những gì nhà văn thể hiện qua người kể chuyện chỉ là một mảnh nhỏ, một phần trong toàn bộ cuộc đời của nhà văn
Trong cuốn Luận về tiểu thuyêt, M.Butos viêt “Người kể chuyện trong
tiểu thuyết không phải là ngôi thứ nhất thuần túy Người đó chẳng bao giờ hoàn toàn là chính bản thân tác giả Không nên nhập làm một Robinsơn với Defoe, Marcel với Proust Bản thân người kể chuyện đã là một hư cấu, nhưng giữa đám nhân vật tưởng tượng, tất cả dĩ nhiên ở ngôi thứ ba, y là đại diện của tác giả…ta đừng quên rằng y cũng là đại diện của độc giả, nói chính xác là điểm nhìn mà tác giả mời bạn đọc đặt mình vào để đánh giá, thưởng thức, rút
Trang 25bài học cho mình về một chuỗi sự kiện nào đấy” [59, tr.264-265] Như vậy, người kể chuyện có vai trò quan trọng trong tác phẩm văn học, nó không chỉ
là đại diện của nhà văn, là phương tiện trao gửi của nhà văn mà còn là cầu nối, có tác dụng định hướng đối với độc giả
Khi phân loại người kể chuyện, người ta có nhiều căn cứ:
Nếu căn cứ vào vị trí người kể chuyện trong tác phẩm có người kể chuyện ngôi thứ nhất và người kể chuyện ngôi thứ ba Người kể chuyện ngôi thứ nhất xưng “Tôi” thường kể về câu chuyện của mình hoặc kể về câu chuyện mà bản thân mình chứng kiến Họ thường bộc lộ tính chủ quan và cảm xúc cao độ, có thể mang quan điểm của tác giả nhưng không trùng khít với tác giả Người kể chuyện ngôi thứ ba thường đứng ở vị trí khách quan, không dính líu đến câu chuyện, kể lại câu chuyện, có thể bộc lộ cảm xúc cũng có thể không bộc lộ cảm xúc mà chỉ kể và tả Ở đây người kể chuyện “giữ một khoảng cách giữa người kể chuyện và nhân vật, cốt truyện để rộng đường hư cấu và đảm bảo tính khách quan của hiện thực” [21, tr.54]
Nếu căn cứ vào vai trò của người kể chuyện, ta có thể chia người kể chuyện đáng tin cậy và người kể chuyện không đáng tin cậy Ở đây lời của người kể chuyện nếu thống nhất với quan điểm của tác giả, thống nhất với đánh giá yêu, ghét của tác phẩm thì là người kể chuyện đáng tin cậy Ngược lại, nếu lời của người kể chuyện không thống nhất với quan điểm của tác phẩm thì là người kể chuyện không đáng tin cậy
Người kể chuyện là một yếu tố không thể thiếu trong tác phẩm tự sự,
nó có vai trò quan trọng và bất biến Nhà nghiên cứu Jonathan Culler từng nói
“Bất cứ trần thuật nào đều phải có người trần thuật, bất kể người trần thuật ấy
có được xác nhận rõ ràng hay không Bởi vì vấn đề trung tâm của chủ đề mỗi câu chuyện đều là mối quan hệ giữa người trần thuật hàm ẩn (phạm vi tri thức, quan niệm giá trị) với câu chuyện mà nó kể ra” [40, tr.180]
Trang 26Trong sự phát triển của Tự sự học, tam giác tự sự ba chiều “Tác giả -
nhân vật - độc giả” dần được thay thế bởi sự huyền diệu và phức tạp hơn của mối quan hệ tứ giác “Tác giả - người kể chuyện - nhân vật - độc giả” và càng ngày người kể chuyện càng giữ vai trò quan trọng
Có rất nhiều yếu tố chi phối người kể chuyện: điểm nhìn, ngôi kể, giọng điệu, ngôn ngữ… Nhưng tìm hiểu nghệ thuật trong văn xuôi Đỗ Kim Cuông, chúng tôi sẽ đi sâu vào hai đặc điểm quan trọng chi phối người kể chuyện là điểm nhìn và giọng điệu
1.2.1 Điểm nhìn trần thuật
1.2.1.1 Khái niệm điểm nhìn
Khi sáng tác văn học, điều quan trọng là nhà văn có thể tìm cho mình một ví trí để có thể bộc lộ quan điểm, tư tưởng, thái độ của mình một cách tốt nhất Vị trí ấy gọi là điểm nhìn Vì vậy, “Điểm nhìn thể hiện vị trí của người
kể dựa vào để quan sát, cảm nhận, trần thuật, đánh giá các nhân vật và sự kiện” [39, tr.104] Việc xác định được điểm nhìn cũng chính là chọn được vị trí phát ngôn cho người kể chuyện và khi đó câu chuyện mới được bắt đầu
P Lubbock - một trong những người đầu tiên chỉ ra mối quan hệ giữa người kể chuyện và vấn đề điểm nhìn khẳng định: “Tôi cho rằng toàn bộ vấn
đề rắc rối về phương pháp trong nghệ thuật sáng tác phụ thuộc vào vấn đề
“điểm nhìn”- vấn đề thái độ của người kể chuyện với việc trần thuật” Còn theo Iu Lotman, vấn đề điểm nhìn văn bản bao giờ cũng là vấn đề giữa người sáng tạo và cái được sáng tạo Do đó, điểm nhìn trở thành vấn đề then chốt của kết cấu, nó giúp nhà văn sắp xếp lại bố cục, phát triển nội dung truyện gắn với ý đồ tư tưởng của nhà văn
Trong đời sống hàng ngày, khi xác định được vị trí để phát ngôn, xác định được một điểm nhìn cũng giúp cho chủ thể phát ngôn bộc lộ được đúng nhất quan điểm đánh giá của mình Khi đó chủ thể phát ngôn có thể trình bày,
Trang 27thể hiện, phân tích, bình luận hoàn toàn chủ động theo đúng vị trí phát ngôn của mình nhằm đạt được hiệu quả giao tiếp tốt nhất Thế nhưng giữa điểm nhìn trong đời sống hàng ngày và điểm nhìn nghệ thuật không được đồng nhất mặc dù nó có những điểm tương đồng “Điểm nhìn trong lời nói giao tiếp là một cấu trúc hàm ẩn mà tọa độ được xác định bởi hai trục: Lời nói hiển ngôn
và hành động phát ngôn của chủ thể giao tiếp, được người nghe tiếp nhận bằng thao tác suy ý” [40, tr.95] Ở đây vị thế được xác định với người nói, thái
độ bản thân với người nghe được thể hiện qua lời nói, ngữ điệu và một số yếu
tố phi ngôn ngữ đi kèm như ánh mắt, cử chỉ, vẻ mặt, điệu bộ,… Không giống như vậy, điểm nhìn trong truyện “không chỉ là điểm nhìn thuần túy quang học như khái niệm tiêu cự, tụ tiêu mà còn mang nội dung quan điểm, lập trường tư tưởng, tâm lý con người” [40, tr.191] PGS.TS Nguyễn Thái Hòa cũng từng khái quát: “Điểm nhìn nghệ thuật trong truyện về cơ bản cũng được suy ý từ văn bản và hành động kể chuyện nhưng văn bản là hệ thống rất phức tạp gồm nhiều tầng bậc và hành động kể (phát ngôn cũng thể hiện ở nhiều thủ pháp khác nhau Tuy vậy, đó là mối quan hệ giữa Người viết - Văn bản - Người nhận
ở cả hai bậc hiển ngôn và hàm ẩn” [41, tr.95-96] Như vậy, điểm nhìn là điểm xuất phát của một cấu trúc nghệ thuật, đó là một cấu trúc tiềm ẩn được người đọc tiếp nhận bằng thao tác suy ý, bằng các mối quan hệ phức hợp giữa người trần thuật và văn bản, giữa văn bản và người đọc, giữa kể chuyện và người đọc hàm ẩn Điểm nhìn, do đó có vai trò quan trọng đặc biệt trong một cấu trúc chỉnh thể của tác phẩm văn học, nó là cầu nối đầu tiên hướng tư tưởng của nhà văn tới người đọc và ngược lại Khái niệm điểm nhìn là một khái niệm phức tạp Trước đây, có ý kiến đồng nhất khái niệm này với “ngôi kể” Thế nhưng,
“Điểm nhìn trần thuật gắn bó mật thiết với ngôi kể nhưng rộng hơn ngôi kể” [43, tr.105] Có nhiều câu chuyện được kể theo ngôi thứ ba nhưng điểm nhìn nhà văn gửi gắm là điểm nhìn của nhân vật trong truyện
Trang 28Điểm nhìn là một hiện tượng mang tính cá nhân, chủ quan của nhà văn
và không bị chi phối bởi tác nhân bên ngoài Điểm nhìn sẽ chi phối cảm hứng sáng tác của nhà văn, từ đó khẳng định được cái riêng, cá tính và phong cách của nhà văn Cùng một vấn đề của đời sống nhưng mỗi nhà văn sẽ tìm cho mình một cách nhìn, một cách tiếp cận, một vị trí quan sát khác nhau Bởi lẽ quy luật của văn chương là sáng tạo, nó không chấp nhận bất cứ một sự lặp lại nhàm chán nào Nếu không tìm cho mình một hướng thể hiện mới thì nó sẽ bị đào thải, thậm chí sẽ chết Cái “Tôi” được lặp lại nhiều lần - đó hoàn toàn chưa phải là cá tính sáng tạo…cá tính sáng tạo của nhà văn thể hiện trong những khía cạnh khác nhau của nghệ thuật của nhà văn đó Trước hết nó thể hiện ở sự độc đáo trong cách nhìn của anh ta đối với những hiện tượng của cuộc sống, ở sự độc đáo và ở ý nghĩa của những khái quát mang tính chất sáng tạo của anh ta” [25, tr.91-92]
Điểm nhìn trần thuật được chia làm nhiều loại dựa vào những tiêu chí khác nhau Điểm nhìn bên ngoài: Người kể chuyện miêu tả những sự kiện bên ngoài nhân vật, kể và tả những điều nhân vật không biết Điểm nhìn bên trong: người kể chuyện thể hiện bằng hình thức tự thú qua hình tượng “Tôi” hoặc gửi gắm vào nhân vật trong truyện Điểm nhìn không gian là điểm nhìn xa hay nhìn cận cảnh Điểm nhìn thời gian là điểm nhìn từ thời điểm hiện tại như sự việc diễn ra hay nhìn lại quá khứ, qua kí ức Điểm nhìn tâm lý là nhìn theo con mắt của người từng trải hay mới bước vào đời, già hay trẻ, nam hay nữ Ngoài ra còn có điểm nhìn tư tưởng và ý thức hệ Tuy vậy, mọi sự phân chia rạch ròi là không thể, đặc biệt là trong nghệ thuật Bởi lẽ, khi thì là trong một tác phẩm nhà văn lại sử dụng nhiều điểm nhìn khác nhau, khi thì là điểm nhìn bên trong, khi thì là điểm nhìn bên ngoài, khi thì điểm nhìn qua nhân vật này, khi điểm nhìn qua nhân vật khác Sự đan cài, xen lẫn, chồng chéo này được gọi là sự luân phiên điểm nhìn hay nói cách khác là nhà văn sử dụng điểm nhìn di động
Trang 29Cách sử dụng sự luân phiên này tạo nên tính sinh động hấp dẫn trong tác phẩm văn học, là một yếu tố tạo nên thành công cho tác phẩm
1.2.1.2 Điểm nhìn trong văn xuôi Đỗ Kim Cuông
Tác phẩm văn học là phương tiện để thể hiện tư tưởng, quan điểm, cách nhìn của nhà văn với cuộc sống Sự lựa chọn cho mình vị trí quan sát khác nhau thể hiện sự linh hoạt của nhà văn trong sáng tạo nghệ thuật Trong tác phẩm của Đỗ Kim Cuông, nhà văn sử dụng nhiều điểm nhìn khác nhau, khi thì là điểm nhìn bên trong, khi thì là điểm nhìn bên ngoài, khi lại có sự luân phiên điểm nhìn khác nhau Tất cả bộc lộ cách nhìn cuộc sống linh hoạt của nhà văn và mỗi cách nhìn lại mang đến cho người đọc những cảm nhận khác nhau về nhân sinh
* Điểm nhìn bên trong
Trong tự sự, người kể chuyện thường chọn cho mình một vị trí để trần thuật, vị trí đó sẽ quy định câu chuyện được kể như thế nào Với cách kể chuyên từ điểm nhìn bên trong, nhà văn có thể trao điểm nhìn cho người kể chuyện nhưng nhà văn cũng có thể gửi gắm điểm nhìn, trung tâm cảm nhận
và phát ngôn cho một nhân vật cụ thể trong truyện Theo nhà Tự sự học Manfred Jahn, điểm nhìn bên trong là nghệ thuật trình bày một điều gì đó từ điểm nhìn của nhân vật trong câu chuyện Ở đây câu chuyện vì thế mà mang đậm tính chủ quan, những sự kiện, biến cố sẽ lần lượt hiện lên qua cảm nhận, suy nghĩ, thái độ của nhân vật
Dõi theo hành trình sáng tác của Đỗ Kim Cuông, người đọc dễ dàng nhận ra nhà văn sử dụng điểm nhìn bên trong rất phổ biến như là một phương thức tự sự, từ đó nhà văn bộc lộ thái độ, quan niệm với cuộc sống Với điểm nhìn này, nhà văn có thể đi sâu vào đời sống tâm hồn, nội tâm với những suy
nghĩ phong phú, những trăn trở, day dứt của nhân vật Các truyện ngắn: Đảo chắn sóng, Chiều mưa Đà Lạt, Thương nhớ Mai vàng, Mùa hoa ban nở, Dì
Trang 30Hậu, Người đàn bà xóm núi, Xa ngái Mường Loòng, Chuyện tình ở biển, Người lính trẻ tóc bạc, Nhớ rừng, Đá trắng… hay các tiểu thuyết: Vùng trời mộng ảo, Lỗi hẹn với Sêpôn,… là những tác phẩm được viết từ điểm
nhìn bên trong
Ở điểm nhìn bên trong, nổi bật lên là những tác phẩm được trần thuật ngôi thứ nhất Người kể chuyện ở ngôi thứ nhất trong văn xuôi Đỗ Kim Cuông trước tiên được thực hiện như một hình thức bộc lộ cái tôi cá nhân, người kể chuyện cũng là người trong cuộc trực tiếp tham gia hay chứng kiến các sự việc, sự kiện nhập vào hoàn cảnh để mô tả, phân tích suy ngẫm, bày tỏ thái độ Sự hiện diện của nhân vật xưng tôi - người kể chuyện là hình thức gia tăng tính đối thoại, chất vấn cho câu chuyện Khi người kể chuyện cũng là nhân vật bình đẳng như các nhân vật khác trong truyện sẽ lôi cuốn được sự chú ý của người đọc, tạo tính khách quan của truyện và thể hiện đậm nét dấu
ấn chủ quan của người kể chuyện Từ đó truyện mở rộng sự đối thoại đa chiều giữa người kể chuyện với nhân vật, người kể chuyện với độc giả, nhân vật với độc giả…
“Tôi” trong truyện ngắn Thương nhớ mai vàng là một nhân vật như thế
Là phóng viên của một tờ báo tỉnh, “Tôi” luôn khao khát tự do để được nghĩ ngợi, luôn thiết tha “với những buôn dãy của bà con dân tộc người Rắc Lay, vùng Giang Ché”, “những cánh đồng mía đang xém lửa”, “hương mật mía thơm ngào ngạt đang sôi sùng sục trong các chảo gang, tỏa khói mù mịt bốc
ra từ những lò đường”…[10, tr.71] Vậy mà bài báo viết về những con người, những sự việc ấy được ông Tổng biên tập vỗ vai nói chân tình như có ý an ủi
“Bài báo viết về mấy cây mía đường của ông hơi dài… Lại dữ dằn quá… Chả
lẽ báo ta đăng hai kì? Chưa chừng đăng rồi còn bị phê bình” cùng lời khuyên
“Nên viết sao cho nó mềm lại, đành rằng nông dân có nơi đốt mía” [10, tr.70]
“Tôi xin phép nghỉ hai ngày với lí do lấy tư liệu mới, viết lại bài báo” Anh
Trang 31rời khỏi tòa soạn như một kẻ mộng du, lao nhanh trên đường phố bằng cái xe đạp cọc cạch Bước chân đưa anh tới cánh đồng tôm và những vườn dừa nơi chân núi Đồng Bò Nơi ấy đã hơn chục năm nay anh thường có những cuộc chuyện trò với chị Lài - người đàn bà bị mù một mắt do bỏng nặng trong chiến tranh Từ điểm nhìn bên trong, nhân vật “Tôi” dần bộc lộ những suy nghĩ của mình về câu chuyện tình yêu và cuộc đời đầy éo le của chị Lài Thời trẻ chị trải qua một mối tình thơ mộng với Bảy Hiện - người đã vài lần được tặng Huân chương chiến công trong những trận đánh diệt Mỹ, diệt Ngụy và lính Nam Triều Tiên Kết quả của tình yêu lãng mạn ấy là đứa bé trong bụng Lài Bảy Hiện bị khai trừ khỏi Đảng và có thông tin hắn vì bất mãn mà đã
“chiêu hồi” Còn chị Lài đau đớn nhục nhã khi bị kỉ luật, khai trừ khỏi Đảng
về tội “luyến ái sa đọa” Những ẩn ức, nỗi niềm của người phụ nữ bất hạnh ấy được nhà văn thể hiện sâu sắc qua cái nhìn tinh tế của nhân vật “Tôi” “Trong
kí ức mập mờ về người tình nhân quá vãng, tôi nhận thấy chị còn thương người ấy lắm Niềm thương trong nỗi chua chát, pha chút thù hận của một kẻ
bị người tình bội bạc” [10, tr.74] Nhưng tôi cũng nhận thấy “Từ trong sâu thẳm cõi lòng người đàn bà tật nguyền đau khổ vẫn còn yêu anh” [10, tr.81] khi nghe chị kể về chuyện nhận được lá thư của Bảy Hiện gửi về Chiến tranh
là mất mát, là hy sinh không chỉ tuổi trẻ, tình yêu mà có khi là cả mạng sống của con người Vì tình yêu mà chị chấp nhận hy sinh, chịu đựng Và cũng vì tình yêu ấy mà chị được đền đáp xứng đáng là cuộc đoàn viên với Bảy Hiện - giờ đã là đại tá sắp nghỉ hưu sau bao năm bôn ba sống ở nước ngoài Câu chuyện của chị Lài khiến “Tôi” ao ước mình là người nặn tượng “Trên ghềnh
đá bến sông này, tôi sẽ lấy đá hoa cương ở dãy Đại Sơn, tạc hình hài người đàn bà là chị suốt hơn 20 năm trời đằng đẵng đợi và hy vọng” [10, tr.75] Ước ao ấy chính là niềm tin, ước vọng bất tử hóa những phẩm chất giá cao đẹp của người phụ nữ: đợi chờ, chung thủy Cũng từ điểm nhìn của “Tôi” một
Trang 32hiện thực cuộc sống được gợi lên đầy trăn trở và ám ảnh: Đó hiện thực chiến tranh mà con người cần phải biết hi sinh lợi ích cá nhân để phụng sự cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc Đó là hiện thực cuộc sống đang thay da đổi thịt hàng ngày nhưng đâu đó vẫn còn những tồn tại không dễ kiếm tìm một giải pháp hữu hiệu: “là tính dữ dằn của sự việc” được phản ánh trong bài báo với việc “Tỉnh vừa gọi mình lên có ý kiến về bài báo”, về những con người
vô tình hay hữu ý làm cho sự phát triển của xã hội trở nên trì trệ: là Ngô “với
bộ mặt vừa khả ố vừa bỉ ổi cũng với những suy nghĩ bẩn thỉu của nó” ở tòa soạn báo [10, tr.71], là tay bác sĩ xét nghiệm “vừa làm việc vừa nhai kẹo cao
su lem lẻm” [10, tr.81] Dù nhân vật “Tôi” không trực tiếp bày tỏ suy nghĩ gì, nhưng bạn đọc nhận thấy những ưu tư trăn trở của Tôi và cũng là của nhà văn trước muôn mặt của cuộc sống đời thường
Cũng với điểm nhìn bên trong qua nhân vật “tôi” truyện ngắn Đêm ngâu thực sự hấp dẫn người đọc bởi cách cách dẫn chuyện của nhà văn
Những mảnh ghép đan xen giữa hiện tại và quá khứ về câu chuyện tình yêu
và cuộc đời của người đàn ông tên Nhẫn và cô Hằng được “tôi” kể lại chân thực Nhẫn đã yêu Hằng ngay từ lần gặp đầu tiên khi cô là nữ giao liên trong nội tuyến ra bắt liên lạc với Nhẫn để trao cho anh những tin tức, thư từ và báo cáo tình hình hoạt động của địch trong nội thành Nhưng éo le ở nỗi Nhẫn đã
có vợ - người phụ nữ hơn anh tới 8 tuổi mà cụ bá An sắp đặt với ý “cột chặt chân anh” Chuyện tình éo le, khốn khổ đó đã không qua được đôi mắt soi mói, rình mò của Khổn - một người cùng tổ công tác với Nhẫn Hắn đã viết thư báo cáo với tổ chức “về hành vi băng hoại đạo đức của Nhẫn” Nhưng rồi
Tư Sơn, tổ trưởng tổ công tác đã gạt đi vì “Tôi tin cậu, Nhẫn ạ! Một người như cậu sẽ có đủ nghị lực vượt qua nhưng giây phút yếu mền” [11, tr.139] Lòng tin của anh Tư Sơn đã không uổng Nhẫn phải đắp lên cái vẻ mặt của kẻ phản bội Anh lọt sâu vào hang quỷ để tìm ra nhưng mưu mô toan tính của
Trang 33địch trong cuộc chiến đấu mới - cuộc kháng chiến chống Mĩ Cũng từ đó Nhẫn và Hằng mất tin nhau dù trong anh những kỉ niệm về Hằng, về tình yêu vẫn luôn âm thầm dai dẳng Sau ngày giải phóng, anh cũng chưa được phép trở về thăm quê nhà Anh chỉ lặng lẽ ngắm nhìn quê hương và những kỉ niệm quá vãng qua từng chiếc biển số xe lấm đỏ bụi đường Còn về Hằng, vốn là một cô gái xinh đẹp, thời trẻ cô diện lắm, có nhiều người yêu mến nhưng bà
Cả Sợi (cô mồ côi, được bà Cả Sợi nhận nuôi) phần vì khó tính khó nết, phần
vì sợ phải chia của, nên đã không đồng ý cho cô lấy ai Hòa chung những phong trào sôi động nóng bỏng của đất nước thời bấy giờ, cô Hằng trở thành cán bộ phong trào năng nổ khi Mĩ ném bom bắn phá miền Bắc lần đầu Cho đến ngày bà Cả Sợi mất, cô Hằng đã bước sang tuổi 50 Chiến tranh đã tàn, không còn cần đến những người đàn bà ăn cơm nhà di vận động quần chúng nữa Cô Hằng tìm được niềm vui khi trở thành nhân viên cửa hàng lương thực với mức tem phiếu như một người cán bộ và đến tuổi nghỉ cô có khoản lương hưu Duy chỉ có một điều mà không ai biết về cô Hằng đó là thời trẻ cô đã từng có một tình yêu đẹp với Nhẫn Mẹ của “Tôi” là bạn buôn bán cũng cô Hằng Cô rất quý và tin tưởng “Tôi” Bởi vậy mà những trang nhật kí của cô cùng câu chuyện tình yêu, những khát khao, đợi chờ của cô Hằng được “tôi”
kế lại vô cùng cảm động Với điểm nhìn bên trong ngôi thứ nhất, “tôi” có lúc như một người đối thoại tâm tình cùng với cô Hằng, có lúc như hóa thân vào Nhẫn để để bày tỏ những quan điểm, khát khao về lí tưởng và tình cảm riêng
tư “Thắng lợi của cuộc kháng chiến là trên hết Mỗi người chúng ta phải biết quên bản thân mình, đặt lợi ích của tổ chức của dân tộc lên hàng đầu” [11, tr.139], “Phải, tôi và cậu đều là con người của cách mạng đào luyện Mà người cách mạng cũng có lúc đúng lúc sai, cũng có người tốt kẻ xấu Chúng
ta không chỉ biết cầm súng đánh giặc, mà còn là những con người rất tình cảm nữa Khi nhiệm vụ đòi hỏi, chúng ta dám hy sinh cả những gì quý giá nhất của
Trang 34bản thân vì nghĩa lớn” [11, tr.139] Cuối truyện, “tôi” là người sắp xếp cuộc gặp gỡ cho cô Hằng và ông Nhẫn Cuộc gặp gỡ sau cả chặng dài của cuộc đời chứ không phải mỗi năm một lần như Ngưu Lang và Chức Nữ trong truyền thuyết thủa nào của ông bà giúp nhân vật “tôi” hiểu rằng “hạnh phúc không chỉ dành riêng cho giới trẻ” [11 tr.152]
Như vậy, việc sử dụng điểm nhìn bên trong đã đem lại cái nhìn sâu sắc
và nhân bản hơn cho câu chuyện Đó là phương thức trần thuật giúp người đọc cảm nhận rõ hơn về đời sống nội tâm nhân vật với những hồi ức, kỉ niệm, suy nghĩ, thái độ, tình cảm sâu sắc và tinh tế Lời người kể chuyện đồng thời cũng là của người tham dự, chứng kiến câu chuyện vì vậy mà có độ tin cậy cao Đó cũng là nỗ lực, cố gắng để đưa những trang văn gần gũi hơn với cuộc đời của ngòi bút Đỗ Kim Cuông
* Điểm nhìn bên ngoài
Điểm nhìn bên ngoài là vị trí người kể chuyện chọn để trần thuật từ phía bên ngoài Đó là vị trí quan sát khách quan (hoặc có vẻ khách quan) của người kể Với điểm nhìn này, người kể trần thuật, miêu tả sự vật từ phía ngoài nhân vật, kể những điều nhân vật không biết, tạo được tính khách quan tối đa cho trần thuật Các sự kiện được diễn ra tự nhiên như nó vốn thế Người kể chuyện chỉ kể chứ không tham gia nhận xét, bình luận, đánh giá, lý giải, bày
tỏ cảm xúc hay quan điểm sống của mình Người đọc toàn quyền có những cảm xúc và nhận định riêng Ngoài tính khách quan, điểm nhìn bên ngoài còn giúp nhà văn bao quát nhiều góc độ và phương diện hiện thực hơn Tiêu biểu
như các truyện ngắn: Chuyện riêng của Đại tá Hoàng, Xóm nhỏ cuối ghềnh, Người kéo vó bè, Đêm trắng, Tám Huyệt…
Người kéo vó bè là một trong những truyện ngắn tiêu biểu được nhà
văn chọn vị trí trần thuật từ bên ngoài Câu chuyện kể về Mão, một người lính phục viên trở lại quê hương sau năm 1975 Cũng giống như bao người lính rời
Trang 35khỏi tay súng, Mão chịu thương chịu khó làm đủ mọi việc nhưng “đói nghèo như một căn bệnh kinh niên dai dẳng đeo bám gia đình anh” “Ngót 20 năm nay, Mão sống âm thầm như một cái bóng ở làng Chành Thậm chí người ta ít gặp anh ở làng thảng hoặc lễ Tết hoặc giỗ kỵ, ngày mùa thu hoạch Mão đáo qua nhà một vài buổi rồi anh trở về với căn chòi bên bờ sông Cọi” [11, tr.17] Cuộc sống cứ lặng lẽ như vậy trôi qua cho tới một ngày, Mão nhận được giấy mời của công an huyện đánh về: Trung ương cần gặp tại Văn phòng Quốc hội Đó là cuộc gặp gỡ giữa Mạo với vợ chồng Thom Son - thượng nghị sỹ
Mỹ, vốn là cựu binh tại chiến trường Việt Nam Trong một trận chiến giáp lá
cà, Thom Son bị thương Những đoạn ruột bị lòi ra của hắn được Mão dùng hai tay của mình ấn lại bằng cách úp chiếc bát men Trung Quốc trước khi dùng băng cột lại Chính từ chiếc ba lô trong đó có một lá thư và cuốn sổ nhỏ của Mạo mà vợ chồng Thom Son tìm được ân nhân Họ mời Mão sang Mỹ tham quan như một cách đền đáp phần nào ơn cứu mạng Chuyện đi Mỹ của Mạo có người bằng lòng, có người ganh ghét Họ mạc nhà Mạo lại hả hê, nghĩ phen này dòng họ Bùi ở làng Chành dứt khoát “đổi đời”, không chịu cảnh so núi lép vế mãi để cho họ Nguyễn xem thường, khinh rẻ “Chỉ có Mạo thấm thía điều này Ba đêm nằm ở một khách sạn bên bờ Hồ Tây với giá phòng 40
đô la một đêm, là ba đêm Mạo không ngủ” [11, tr.18] Và cũng không ai ở làng Chành biết được rằng sau trận đánh đó hai ngày anh bị thương “Bốn năm trời anh ở trại sản xuất với án kỉ luật, để đi trồng sắn, hái rau lang, ngâm gạo giã bún và đêm đêm đi canh thú rừng với những cơn sốt rét định kì và đau nhức toàn thân lúc trái gió trở trời Chưa ai kịp cải chính cho Mạo, thì tin thằng Mạo bỏ ngũ, “chiêu hồi”, bị khai trừ khỏi Đảng đã bay về tới làng Chành Năm ấy ông bố Mạo mới ngoài tuổi 60, nghe chuyện buồn rồi ốm chết” [11, tr.19-20] Bằng cách kể chuyện khách quan, chân thực, người kể chuyện đứng ngoài miêu tả những hành động, những mâu thuẫn nội tâm của
Trang 36nhân vật, người kể chuyện không có bất cứ một nhận xét nào Nhưng câu chuyện ấy gợi cho người đọc nhiều suy ngẫm: Cách con người ứng xử với những ân tình quá khứ ngay kể cả với những người phía bên kia chiến tuyến, làm thế nào để bù đắp kịp thời cho những hy sinh, mất mát của người lính đã vào sinh ra tử? Làm thế nào để cuộc sống của họ trở nên tốt đẹp hơn? Và con người có cần thôi đi sự ghen ghét, ích kỉ cá nhân, tính hơn thua, lòng đố
kị …?
Tiếp cận từ điểm nhìn bên ngoài với ngôi thứ ba, nhà văn miêu tả hiện thực cuộc sống như nó vốn có Ở đó, hiện thực được tái hiện một cách chân
thực, rõ nét Xóm nhỏ cuối ghềnh là câu chuyện về cuộc sống mưu sinh hàng
ngày của một “xóm cư dân” có lẽ đặc biệt nhất trên đất này: xóm chỉ có bốn
hộ dân với 18 miệng ăn: “Đi thuyền từ ngoài vịnh Đầm Môn mà nhìn vào Ghềnh Đá, bốn nóc nhà hệt như miếng vải vá khác màu trên cả một thảm xanh nơi triền núi Nhỏ nhoi và cô quạnh Nó dường như tách ra khỏi thế giới của văn minh và ánh sáng Có những đứa trẻ chưa một lần được nhìn thấy ô
tô, đèn điện Phim ảnh công công cộng chiếu phục vụ cho dân trong xã cũng chưa bao giờ về tới Ghềnh Đá…” [10, tr.285] Nhưng có lẽ đây là một trong
số ít những địa bàn dân cư của đất nước này, nếp sinh hoạt trong các gia đình, xóm ấp vẫn còn giữ được như thời vua Nghiêu, vua Thuấn: “Đêm cửa các nhà không cài then, chốt khóa Cây rau, trái quả trong vườn không ai hái trộm Gà vịt nhà nọ sang nương nhà kia tối lại về chuồng ngủ… chuyện của một người nghe được cả xóm đều hay Nắm xôi ngày giỗ kị chia đều cho sắp nhỏ…” [10, tr.286] Rồi chuyện những đứa trẻ trong xóm nhỏ “đói chữ”, chuyện tình yêu của anh lính đảo Hai Mạnh với Hạnh - cô gái gặp tai nạn trong chuyến vượt biên không thành Chuyện những người lính đảo hàng ngày chiến đấu với những con tàu buôn bán hàng lậu, với những con thuyền vượt biên, chở người trốn đi nước ngoài Chuyện Trung ương cho tỉnh liên doanh với một
Trang 37Công ty của nước ngoài mở xưởng đóng tàu tại đây cùng với những “thay da đổi thịt” của xóm nhỏ ngày nào Câu chuyện cứ nhẹ nhàng không có bất cứ một xung đột kịch tính nào thông qua cách miêu tả và trần thuật của nhà văn Thế nhưng chính với điểm nhìn ấy mà tác phẩm gợi ra cho bạn đọc những vấn
đề đáng phải suy ngẫm: về vai trò và trách nhiệm của mỗi người với cuộc sống của chính mình và với Tổ quốc; về nghị lực và niềm tin giống như cái kết của câu chuyện “Trời nổi dông, đổ mưa nhưng dân các làng cá vẫn đi biển nhiều… Không nhìn thấy ngôi nhà của đồn biên phòng ngoài Hòn Đỏ, nhưng Hai Mạnh vẫn nhận ra nó Bởi ngọn đèn biển sáng xanh như một vì sao làm dấu cho những con thuyền lênh đênh trên biển khỏi nhầm hướng, trở về” [10, tr.297]
Đỗ Kim Cuông sử dụng phương pháp trần thuật này không nhiều nhưng ông biết cách làm mới lối trần thuật quen thuộc để tạo cho tác phẩm sự cuốn hút đối với người đọc Từ điểm nhìn bên ngoài, nhà văn lặng lẽ quan sát
và miêu tả chân thực những hành động, suy nghĩ của nhân vật, từ đó để người đọc tự suy ngẫm, tìm ra lí lẽ, bài học cho riêng mình Đằng sau những câu văn khách quan, ít cảm xúc ấy bạn đọc nhận ra một Đỗ Kim Cuông trầm tính, không ưa “cao đàn, khoát luận”, hay “những cơn mưa tầm tã giáo điều”
* Điểm nhìn di động
Văn học luôn yêu cầu mỗi nhà văn phải tự thay đổi mình để khẳng định
vị trí riêng Nếu trước kia, các nhà văn chỉ sử dụng một điểm nhìn thuần túy, thì giờ đây sự cách tân bằng cách lựa chọn nhiều điểm nhìn, luân phiên điểm nhìn trong một tác phẩm sẽ giúp tác phẩm nghệ thuật trở nên hấp dẫn hơn rất nhiều Là một cây bút không ngừng nỗ lực tìm tòi, Đỗ Kim Cuông không nằm ngoài sự thay đổi này Khảo sát văn xuôi Đỗ Kim Cuông, bạn đọc sẽ thấy nhiều tác phẩm của ông chọn điểm nhìn di động Sự di chuyển điểm nhìn có lúc từ người kể chuyện sang nhân vật, có lúc di chuyển từ nhân vật này sang
Trang 38nhân vật kia Một số tác phẩm tiêu biểu như: Đảo chắn sóng, Cồn cát, Một người đàn ông và hai người đàn bà, Người đàn bà xóm núi… và các tiểu thuyết: Phòng tuyến sống Bồ, Lỗi hẹn với Sêpôn Việc thay đổi điểm nhìn
tự sự sẽ tạo cho câu chuyện được kể tính khách quan hơn, mạch truyện vì thế mà thay đổi biến hóa, mở rộng khả năng bao quát, cuốn hút người đọc vào câu chuyện
Đảo chắn sóng có sự di chuyển điểm nhìn từ bên ngoài vào điểm nhìn
của nhân vật Biên “Chưa tới 7 giờ nhưng vùng thôn quê hẻo lánh ven biển này như bị đẩy lùi vào những đêm tiền sử Hòn núi Cóc đen sẫm nổi lên giữa nền trời “Con Cóc” đất đang ngửa cổ uống trăng Biên nhận ra sự khác lạ ở hòn núi sau 19 năm là phần chân của núi Con Cóc đang bị đào bới lở loét” [10, tr.06] Đang mạch miêu tả của người kể chuyện đứng bên ngoài tác phẩm, câu chuyện được thay đổi hướng vào điểm nhìn của Biên: “Cô giáo ạ! Cuộc đời của tôi gian truân lắm - Biên kể - Quê tôi đất ruộng Dạo cải cách, tôi cũng đã từng vào đội thiếu niên đánh trống tham gia đấu tố địa chủ Nhà tôi bần nông nên được đội chia cho những sáu sào Thầy mẹ tôi cả đời đi làm thuê, cấy rẽ, bỗng dưng có ruộng, khác nào bắt được vàng…” [10, tr.07] Lời
kể của tác giả xen lẫn lời của nhân vật tạo nên sự đa dạng trong văn phong
Từ điểm nhìn của người kể chuyện ngoài tác phẩm khi miêu tả thiên nhiên, ngoại cảnh chuyển sang điểm nhìn của Biên với những tâm sự, giãi bày về gia cảnh, về tuổi thơ, và cả những mâu thuần nội tâm giằng xé khi nghĩ về người
vợ do cha mẹ anh sắp đặt và Tằm - Người con gái đã cứu anh trong đêm con tàu không số bị vây bủa: “Mười hai năm trời tôi nuôi vợ con bằng số công điểm ít ỏi sau mỗi vụ cày… Khó khăn khổ cực mấy rồi cũng qua Chỉ có điều tôi giấu biệt chuyện về Tằm Không ai có thể chia sẻ được tình cảm sâu kín của tôi với người con gái ở một vùng biển xa xôi cách trở đã lùi sâu vào quá khứ Và nói với ai? Hiểu theo cách nào tôi cũng là kẻ có lỗi Thậm chí, mất
Trang 39Đảng như chơi” [10, tr.12] Khép lại câu chuyện là cuộc hội ngộ của anh Biên
và chị Tằm mà người kể chuyện được chứng kiến: “Biên vừa đi vừa chạy gằn Anh nghẹt thở vì xúc động khi nhìn thấy ngôi nhà tranh thấp thoáng dưới rặng cây là một làn khói xanh bốc lên cao Bóng áo xanh của một người đàn bà đang ngồi gội đầu dưới góc một cây xoài lớn… Trong một giây anh nhận ra ánh mắt ngời sáng của Tằm 19 năm trước lúc bắt gặp cô đang thả mình trong làn sóng biển…” [10, tr.13-14]
Sự di chuyển điểm nhìn trần thuật là một thành công trong nghệ thuật
tự sự của Đỗ Kim Cuông Bằng sự di chuyển này, người đọc nhận ra hiện thực khách quan được miêu tả sinh động và cảm nhận được thế giới nội tâm sâu sắc của nhân vật trong tác phẩm Trong tác phẩm của Đỗ Kim Cuông, điểm nhìn không chỉ được luân phiên từ ngoài vào trong, từ người kể chuyện sang nhân vật mà còn được di chuyển từ nhân vật này sang nhân vật khác Có lúc sự luân phiên này lại đan cài nhau một cách phức hợp khiến cho việc phân tách rạch ròi trong tác phẩm gặp khó khăn Điều này được thể hiện rõ nét
trong các tiểu thuyết của ông: Lỗi hẹn với Sê Pôn và Phòng tuyến sông Bồ
Phòng tuyến sông Bồ mở ra bằng một trận đánh phục kích Tác giả -
người kể chuyện chậm rãi mô tả trận đánh, cũng đồng thời làm động tác giới thiệu các nhân vật và tình huống: “Đơn vị bộ đội nằm phục kích được trải dài hơn một trăm mét, chia ra thành bốn cụm chính ẩn kín trong rừng cây, tạo thế
bố trí theo hình cánh cung bao quanh lấy bãi ngụy Mảnh đất rộng lọt thỏm giữa rừng cây trống trải, chi chit các hố công sự hình tròn, hình chữ nhật Có những căn hầm được tụi lính ngụy chặt cây, lấp đất phủ chỉ còn chừa ra một cửa hầm chui lọt thân người, liền kề đấy là bệ đât lấy hướng xạ kích ra xung quanh Những người lính giải phóng vẫn nằm im chờ đợi Sự chờ đợi kéo căng ra như một sợi dây đàn” [13, tr.07] Một trận đánh cụ thể được tái hiện với nhãn quan của người trong cuộc đã cho ta hiểu biết sinh động về cuộc
Trang 40chiến vừa qua Ngồn ngộn các sự kiện, các nhân vật, các tính cách, số phận hiện lên thông qua sự luân phiên các điểm nhìn Khi là của Phong, Cường - những người lính chỉ huy mà cuộc đời họ gắn bó với đồng đội, với chiến trường như là sự gắn bó tự nhiên máu thịt, nhưng bên trong, khuất sau những hành động là những mối tình, những trắc trở, những âm thầm khổ đau hay hạnh phúc Điểm nhìn dịch chuyển sang nhân vật Phong với những suy nghĩ
về lẽ sống, về tình yêu của con người trong hoàn cảnh chiến tranh: “Tình yêu của em đã cứu tôi thoát khỏi những giây phút mà trạng thái tâm lý bế tắc, u uẩn… Tôi tưởng ánh mắt em là hai ngọn đèn soi thấu tâm hồn tôi, đọc được trong tôi từng ý nghĩ đớn hèn và cả sự khắc khoải, mỏi mệt” [13, tr.111-112]
Có lúc là suy nghĩ của Cường về cuộc chiến đấu trên vùng đất cực kì ác liệt:
“Ở đấy sự trả giá được coi như một hành vi độc ác và nó không thể tồn tại ẩn khuất Ở đó mối quan hệ giữa con người với con người được ví như máu thịt, tim óc trong một cơ thể sống hoàn chỉnh Và tình yêu thương con người tự nó tạo nên một chất keo dính gắn bó mỗi mảnh đời khác nhau khi đã đứng chung trên một chiến hào” Và cả những suy nghĩ của Tâm, Hạnh về lý tưởng sống
và tình yêu Cứ thế sự luân phiên, dịch chuyển điểm nhìn của các nhân vật trong tiểu thuyết đã đem đến cho bạn đọc một hình dung sinh động về cái ác liệt, cái đặc thù, tình người, đau khổ, hy sinh và hy vọng của vùng phòng tuyến sông Bồ
Bằng sự luân phiên các điểm nhìn, người kể chuyện trong sáng tác của
Đỗ Kim Cuông đã thể hiện một cái nhìn sâu sắc, nhiều chiều về chiến tranh
và đời sống xã hội thời hậu chiến Ở đó có tất cả những vinh quang chiến thắng, có cả những mất mát hy sinh, ở đó có anh hùng và có cả những kẻ
“chiêu hồi” hèn hạ, ở đó với muôn vàn những vấn đề nảy sinh cần những giải pháp thiết thực và hữu hiệu