Tác giả nhận định khá đầy đủ, chi tiết, xác đáng về giá trị văn xuôi của ông: “Lý Biên Cương đã chọn cho mình một phong cách là chất hiện thực trữ tình, không ham chi tiết vụn vặt, khôn
Trang 1Nhà văn Lý Biên Cương (1941 - 2010)
Trang 2Ảnh bìa sách: Lý Biên Cương – Tuyển tập Truyện ngắn, Truyện vừa, Tiểu thuyết NXB Văn học, 2003
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian khảo cứu, sưu tầm tài liệu để chấp bút cho công trình nghiên cứu của mình, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cá nhân và tập thể
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc nhất tới Thầy hướng dẫn luận văn: PGS.TS NGUYỄN NGỌC THIỆN, người đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình và giúp đỡ tôi từ lúc chọn đề tài cũng như trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thành Luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô giáo khoa Văn học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Sở Giáo dục – Đào tạo Hưng Yên, Ban giám hiệu trường Trung học phổ thông Nguyễn Thiện Thuật cùng bạn
bè, đồng nghiệp gần xa và những người thân trong gia đình đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thu Hương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Những số
liệu trong phạm vi nghiên cứu là do tôi trực tiếp thống kê, không sao chép từ
bất cứ nguồn tài liệu nào, những trích dẫn tài liệu đã sử dụng trong Luận
văn là đúng sự thật và được trích dẫn nguồn gốc từ các tài liệu, tạp chí,
công trình nghiên cứu đã được xuất bản, công bố Các giải pháp nghiên cứu
nêu trong Luận văn được rút ra từ những cơ sở lý luận và nghiên cứu thực
tiễn, trong quá trình học tập và giảng dạy
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thu Hương
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn … ……… 4
Lời cam đoan ……… 5
Mục lục ……… 6
Danh mục các từ viết tắt, ký hiệu, ảnh và bảng biểu ……… 9
MỞ ĐẦU ……… 11
1 Lý do chọn đề tài ……… 11
2 Lịch sử vấn đề ……… 14
3 Mục đích nghiên cứu ……… 17
4 Nhiệm vụ nghiên cứu ……… 18
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… 18
6 Phương pháp nghiên cứu ……… 19
7 Dự kiến đóng góp mới ……… 20
NỘI DUNG Chương 1: Đặc điểm cái nhìn hiện thực và hình tượng tác giả trong văn xuôi Lý Biên Cương ……… 21
1.1 Khái niệm về cái nhìn hiện thực và hình tượng tác giả ………… 21
1.2 Từ cái nhìn hiện thực sử thi đến cái nhìn đa chiều rộng mở, hướng về đời thường ……… 26
1.2.1 Những chủ đề chính qua ba giai đoạn sáng tác ……… 30
1.2.1.1 Cái nhìn hiện thực trong chiến tranh, xây dựng miền
Bắc xã hội chủ nghĩa ……… 32
1.2.1.2 Hiện thực thời hậu chiến, tái thiết đất nước ………… 34
1.2.1.3 Hiện thực trong thời kỳ đổi mới từ 1987 đến 2010, hướng về thế sự đời tư ……… 36
Trang 61.2.2 Đặc điểm thẩm mỹ của cái nhìn hiện thực ……… 38
1.2.3 Cái nhìn hiện thực – trữ tình ……… 40
1.3 Từ cái nhìn bề ngoài đến cái nhìn ngày càng thâm nhập vào thế giới bên trong con người ……… 41
1.3.1 Con người trong các mối quan hệ ……… 41
1.3.2 Ngợi ca phẩm chất tốt đẹp của con người ……… 43
1.3.3 Thi vị hóa phương diện tình cảm trong sáng của con người 46 1.3.4 Màu sắc thẩm mỹ ……… 47
Chương 2: Nghệ thuật xây dựng nhân vật ……… 52
2.1 Khái niệm nhân vật ……… 52
2.2 Sự đa dạng, phồn tạp về tính cách nhân vật ……… 53
2.2.1 Con người bình thường giản dị, tốt xấu đan xen ………… 55
2.2.2 Con người lý tưởng, hướng thiện ……… 57
2.2.3 Con người tha hóa, biến chất ……… 58
2.2.4 Người phụ nữ bạc phận ……… 59
2.3 Các biện pháp xây dựng nhân vật ……… 66
2.3.1 Đặt tên ……… 67
2.3.2 Điểm nhìn bên ngoài ……… 69
2.3.3 Điểm nhìn bên trong ……… 72
2.4 Nghệ thuật miêu tả dòng tâm tư nhân vật ……… 74
2.4.1 Dòng tâm tư chiều sâu, tính sinh động, thời hiện tại trong miêu tả ……… 75
2.4.2 Dòng tâm tư và màu sắc hiện thực trữ tình ……… 76
Trang 7Chương 3: Cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ nghệ thuật và giọng điệu 78
3.1 Cốt truyện ……… 78
3.1.1 Khái niệm cốt truyện……… 78
3.1.2 Các dạng truyện ……… 79
3.1.3 Trình tự thời gian kể ……… 84
3.2 Kết cấu ……… 91
3.2.1 Khái niệm kết cấu ……… 91
3.2.2 Các dạng kết cấu ……… 92
3.2.3 Đặc sắc mở đầu và kết thúc truyện, sự hấp dẫn ……… 96
3.3 Ngôn ngữ nghệ thuật ……… 100
3.3.1 Ngôn ngữ của người kể chuyện ……… 101
3.3.2 Sự luân phiên điểm nhìn và ngôn ngữ kể ……… 104
3.4 Giọng điệu ……… 109
3.4.1 Giọng tâm tình, thủ thỉ, nhẹ nhàng ……… 109
3.4.2 Từ ngợi ca đến trầm tư, lão thực, hiền minh, triết lý …… 111
3.4.3 Chất trữ tình của giọng điệu ……… 119
KẾT LUẬN ……… 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 126
BÀI VIẾT LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN ĐÃ CÔNG BỐ ……… 130
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU
Tuyển tập Tuyển tập Truyện ngắn, Truyện vừa, Tiểu thuyết
[X, tr.Y] X là thứ tự ứng với tên trong phần tài liệu tham khảo
Y là trang được trích dẫn
DANH MỤC ẢNH, BẢNG BIỂU
Ảnh bìa sách Lý Biên Cương – Tuyển tập Truyện ngắn, Truyện
Bảng thống kê thể loại tác phẩm trong phạm vi nghiên cứu 18 Bảng 1.2.1: Thống kê tổng quan trong phạm vi nghiên cứu 30
Bảng 3.2.3: Thời hiện tại trong mở đầu và kết thúc truyện 98 Bảng 3.3.2 (1): Khái quát mối liên quan giữa ngôi kể và điểm nhìn 104 Bảng 3.3.2 (2): Ngôn ngữ hiện thực của đời sống trong Tuyển tập 108
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong văn xuôi Việt Nam hiện đại xuất hiện nhiều cây bút với những phong cách viết khác nhau Có những nhà văn lựa chọn cho mình một lối viết với những tìm tòi về mặt hình thức “lạ hóa” Bên cạnh đó lại có những nhà văn chọn cho mình một kiểu viết dung dị, nhẹ nhàng khơi sâu vào nỗi niềm của cuộc sống thường nhật như Lý Biên Cương
Lý Biên Cương (1941- 2010) tên thật là Nguyễn Sĩ Hộ, quê xã Hồng Phong, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, một vùng đất bên bờ Lục Đầu Giang, nơi hội
tụ nhiều nhân tài đất nước như nhà giáo Chu Văn An, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi Cũng từ đây Lý Biên Cương và rất nhiều nhà văn, nhà thơ của quê hương Chí Linh được thấm nhuần văn hóa của vùng địa linh nhân kiệt mà khôn lớn thành văn tài của thời đại mới
Ông từng là phóng viên báo Tiền Phong (1960); báo Vùng Mỏ (khu Hồng Quảng, 1961 - 1964); báo Quảng Ninh (1964 - 1987), từng là Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ninh, Phó Tổng biên tập báo Hạ Long
Là một tên tuổi có vị trí vững vàng trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, hơn
50 năm cầm bút, nhà văn đã để lại một khối lượng tác phẩm lớn với gần bốn mươi đầu sách ở nhiều thể loại khác nhau như: thơ, tản văn, tiểu thuyết, truyện vừa, truyện phim và đặc biệt là truyện ngắn Ông đã nhận được nhiều giải thưởng cao quý từ Trung ương đến địa phương như:
Trang 10Giải thưởng các cuộc thi truyện ngắn tuần báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam): Truyện Khoảng không của đất - giải Ba, 1972; Truyện Đêm ấy vùng than
ai thức - giải Nhì, 1975
Giải thưởng cuộc thi truyện vừa tạp chí Tác phẩm mới 1996 - 1998 (Hội Nhà văn Việt Nam): Truyện Người đàn bà ngang qua đời tôi - giải Chính thức
Tặng thưởng truyện xuất sắc 1974 (Tạp chí Văn nghệ Quân đội): Truyện Mắt và sóng
Giải thưởng văn học công nhân lần thứ nhất 1969 - 1972 (Tổng công đoàn và
Hội Nhà văn Việt Nam): Ba truyện Đêm mưa, Bố con người thợ hàn và Than -
giải Chính thức
Giải thưởng Văn học tuổi trẻ, 1987 (Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh):
Truyện Quả ngọt
Giải thưởng hằng năm (Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt
Nam): Tiểu thuyết Những kiếp phù du - NXB Hội Nhà văn - giải B (không có giải
A), 1993; Tập truyện Thu cảm - NXB Văn Học - giải A, 1994; Tập truyện Những
khoảnh khắc rủi may - NXB Công an Nhân dân - giải B (không có giải A), 1998
Giải thưởng truyện phim xuất sắc 1987 - Hãng phim truyện Việt Nam: Truyện
Tập Dã quỳ - NXB Hội Nhà văn - giải Nhất, lần 5, 1996 - 2000
(Trích Giải thưởng của nhà văn Lý Biên Cương, [13, tr.6])
Trang 11Văn xuôi Lý Biên Cương hấp dẫn người đọc, bởi lẽ đọc truyện của ông, người
ta tìm thấy sự pha trộn cái mới mẻ, độc đáo của văn phong hiện đại với những yếu tố thuộc về truyền thống rất gần gũi quen thuộc Chất liệu từ đời sống dồi dào cùng những mảnh đời đa đoan, đa sự đã đi vào trang văn của ông một cách
tự nhiên, mang theo những lời nhắn gửi về tình người, tình đời…khiến cho người đọc phải day dứt, suy nghĩ, nhiều lúc còn giật mình bởi như bắt gặp một mảnh tâm hồn mình trong đó Tất cả được biểu hiện trong một cách viết dung
dị, trong sáng, không hoa mỹ, cầu kỳ “Dòng riêng” Lý Biên Cương đặt trong
“Nguồn chung” của văn chương Việt Nam hiện đại góp phần tạo nên một vẻ đặc sắc trong văn xuôi Lý Biên Cương
Nghiên cứu vấn đề này sẽ góp phần bổ sung việc đánh giá một cách hoàn chỉnh, khái quát những thành tựu nổi bật của văn xuôi Lý Biên Cương trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Hơn nữa, về mặt nghề nghiệp, đối với một giáo viên giảng dạy ngữ văn thì những hiểu biết về Văn học Việt Nam hiện đại qua một tác giả với những tác phẩm tiêu biểu là điều rất cần thiết
Mặc dù đến nay, tác phẩm của Lý Biên Cương còn chưa được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông, nhưng qua việc nghiên cứu, đánh giá về giá trị văn xuôi Lý Biên Cương sẽ góp phần tạo nên những thuận lợi cho việc giảng dạy, nhận diện tổng quan về văn xuôi văn học Việt Nam hiện đại
Chính vì lý do trên, chúng tôi đã chọn vấn đề:
“Nghệ thuật tự sự trong văn xuôi Lý Biên Cương” (Qua Tuyển tập Truyện ngắn, Truyện vừa, Tiểu thuyết) làm đề tài nghiên cứu Hơn nữa, đây là một đề tài
mới, còn rất ít người để ý nghiên cứu và cho đến nay vẫn còn là mảnh đất màu
mỡ cho những ai tìm đến khai mở công việc nghiên cứu và khám phá
Ở đề tài này, chúng tôi không có tham vọng nhiều mà chỉ đặt cho mình yêu cầu khám phá, hệ thống hoá một vấn đề lý luận dựa trên cứ liệu văn học sử, từ
Trang 12đó suy nghĩ, tìm tòi thêm với hy vọng có thể trình bày được một đôi ý kiến nhìn nhận mới về một tác giả văn xuôi Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề
Lý Biên Cương – một người say mê văn chương từ khi còn nhỏ Trong bài
“Chơi… văn” đăng trên Tạp chí Nhà văn, tháng 1 năm 2000, ông đã từng nói:
“Tôi mê mẩn với sách từ khi còn thò lò mũi, cái thời đánh khăng, chơi bi và bắt chuồn chuồn cho cắn rốn tập bơi Bé xíu đã ham đọc sách, ham hóng chuyện Bố
mẹ cho đồng nào ăn sáng, đi học thì thôi, bụng réo sôi mặc bụng, hẵng thì thụt giấu tiền vào cạp quần rồi len lén mò đến hiệu sách… Sách đem về nhà, lủi ra vườn tìm chỗ khuất đọc ngấu nghiến, đọc quên cả ăn, quên cả chập tối lúc nào, nhiều đận bị ông bố dữ đòn đánh cho thập tử nhất sinh vì cái tội mải đọc sách để
em ngã nhào xuống ao, lằn roi tím bầm chạy ngang đùi hệt như mạch lươn Vậy vẫn không chừa, vẫn vùi đầu vào những thếp truyện sách” [12, tr.191] Và đặc biệt tâm hồn nhà văn rất dễ cảm thương trước mọi số phận éo le do sách mang
lại Ví như khi “Đọc Nửa chừng xuân, khóc Đọc Tấm lòng vàng, khóc Đọc Tắt
đèn, cổ họng nghẹn ngào Đến đọc Kiều nước mắt không còn phải giấu ai…”
[12, tr.191] Những giọt nước mắt ấy cứ thấm suốt cuộc đời văn chương của ông Ngay từ khi còn nhỏ, mỗi khi đọc được một câu thơ, câu văn hay, cậu học trò Nguyễn Sĩ Hộ thường ghi lại Cách làm tỉ mỉ ấy mỗi ngày một ăn sâu vào trong suy nghĩ, giúp cậu tiếp cận với cái hay, cái đẹp của nghệ thuật ngôn từ Rồi những trò chơi chữ nghĩa cũng góp phần tạo dựng sự nghiệp văn chương của nhà
văn tương lai tiến xa không ngờ Bài thơ đầu tay được in trên báo Nhân Dân là bài “Mở cống Xuân Quan”, ông viết khi mới mười bẩy tuổi
Trang 13Vậy là, chính sách, truyện, văn chương đã mở cửa đầu tiên cho Nguyễn Sĩ Hộ
đi tới con đường viết văn Ngay cả những năm cuối đời, niềm đam mê sách vẫn bám riết ngày đêm “Tôi không thể dừng đọc, dù chỉ một ngày…” [12, tr.191]
Trong cuốn Văn học về đề tài công nhân, năm 1983, bài viết “Lý Biên
Cương”, Tôn Phương Lan đã khẳng định giá trị văn chương của nhà văn: “Cuối những năm sáu mươi, bạn đọc bắt đầu quen dần với Lý Biên Cương trong những truyện ngắn viết về vùng than Quảng Ninh Từ bấy đến nay, ngòi bút của Lý Biên Cương là một dòng chảy liên tục, tuy có chỗ nông sâu, có chỗ lặng lờ nhưng cũng có cả những vùng gợn sóng” [25, tr.150] Nhưng bài viết này mới chỉ dừng lại khái quát về các tác phẩm của nhà văn đến đầu những năm 80, chưa thể đề cập đến giai đoạn sáng tác tiếp sau đó của nhà văn
Tiếp đến là bài viết của Hữu Tuân “Lý Biên Cương, gương mặt văn xuôi
Quảng Ninh” đăng trên Tạp chí Nhà văn, tháng 11 năm 2003 Tác giả nhận định
khá đầy đủ, chi tiết, xác đáng về giá trị văn xuôi của ông: “Lý Biên Cương đã chọn cho mình một phong cách là chất hiện thực trữ tình, không ham chi tiết vụn vặt, không chạy theo phong trào mà cố gắng phát hiện vầng sáng của tâm hồn, của đời sống nội tâm nhân vật, làm sao kết hợp được hài hòa vẻ đẹp giữa lý tưởng và tình cảm, giữa ý thức cộng đồng và nguyện vọng cá nhân, giữa quan hệ
xã hội và gia đình” [48, tr.87] Trong bài viết này, Hữu Tuân chỉ đưa ra nhận
định chủ yếu qua gần năm mươi tác phẩm trong Tuyển tập Lý Biên Cương –
Truyện ngắn, Truyện vừa, Tiểu thuyết Qua đó Hữu Tuân mới chỉ đưa ra những
nhận định mang tính tổng hợp, có tác dụng dẫn gợi chứ chưa đi sâu vào từng vấn
đề cụ thể
Năm 2007, Cao Năm có bài “Nhà văn với cuộc sống” (Đọc Con người kể
cũng hay hay của nhà văn Lý Biên Cương do NXB Hải Phòng ấn hành) đã nêu
những nhận xét khá chi tiết về gần một trăm tản văn của Lý Biên Cương được in
Trang 14trong tập sách Qua đó ông muốn khẳng định Lý Biên Cương đã tạo dựng cho mình một “Lối viết khách quan, giọng văn pha chút hài hài” [30, tr.4] Riêng ở thể loại tản bút, tác giả bài viết cũng thể hiện thái độ “trân trọng đón nhận tản bút
Con người kể cũng hay hay của nhà văn Lý Biên Cương như một trong số nhà
văn đi tiên phong trong thể loại này
Không dừng lại ở đó, năm 2010, Cao Năm còn có hai bài viết: “Nhà văn Lý Biên Cương – Một nhà văn nhiệt tình với báo chí” và bài “Nhớ nhà văn Lý Biên Cương” nhằm giới thiệu với độc giả một “tay văn, tay báo”, cùng với đó là sự khái quát một số nét về sự nghiệp văn chương và con người Lý Biên Cương, đồng thời thể hiện thái độ sẻ chia, thương tiếc và lời chia buồn sâu sắc tới bạn văn, sau khi Lý Biên Cương trút hơi thở cuối cùng
Đặc biệt, trong Điếu văn của Ban Chấp hành Hội nhà văn Việt Nam do nhà văn Nguyễn Trí Huân, Phó chủ tịch Hội đọc tại Lễ truy điệu nhà văn Lý Biên Cương đã nhấn mạnh: “Cho đến bây giờ, khi ông đã ra đi vĩnh viễn, để lại cho đời trên 40 ấn phẩm văn chương, hầu hết là truyện ngắn, có thể khẳng định rằng trong làng văn Việt Nam, ông là một cây bút có năng suất nhất và vào hàng xuất sắc ở thể loại này” [21,tr.9] Ngoài ra, còn một số bài viết khác về Lý Biên Cương của Ngô Mai Phong, Phan Hằng, Hoài Giang viết sau khi ông mất
Trên các website của các cá nhân và tổ chức đã đăng tải các bài viết về Lý
Biên Cương như: Trần Chiểu có bài “Lý Biên Cương như tôi biết” đăng ngày
19/11/2005 trên http://phongdien.net; trên http://duonghuongnv.blogspot.com
của nhà văn Dương Hướng ngày 12/12/2010 có bài “Lý Biên Cương thăm thẳm
đường đời”; trên http://vinacomincaotham.blogtiengviet.net của bạn văn Cao
Thâm có bài “Góc khuất của nhà văn Lý Biên Cương” Ngoài ra còn có các trang báo điện tử cũng đăng tin bài về nhà văn Lý Biên Cương Ngày 17/02/2009 trên
trang web cand.com, có bài viết của Dương Hướng đăng trong mục Đời sống văn
Trang 15hoá “Nhà văn Lý Biên Cương: Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”; trang web
nhavan.vn (Trung tâm Văn hóa Hội Nhà văn Việt Nam) đăng bài “Lý Biên Cương” trong mục tư liệu các nhà văn, ngày 11/08/2009 và Báo Quảng Ninh điện
tử http://www.baoquangninh.com.vn trong mục Quảng Ninh - Đất và người ngày 07/02/2011 đăng bài “Tư riêng Lý Biên Cương” của tác giả Trương Thiếu Huyền Gần đây nhất và cũng đầy đủ hơn cả là công trình nghiên cứu về: “Nghệ thuật
tự sự trong Tuyển truyện viết về than của Lý Biên Cương” của Hoàng Thị
Khuyên, năm 2011 đã nhận xét: “Sức hấp dẫn và cũng là thành công của nghệ thuật tự sự trong truyện viết về than của Lý Biên Cương với bạn đọc trước hết là
ở “người kể chuyện” Là nhân tố trung tâm của nghệ thuật tự sự” [24, tr.110]
Từ nhiều bài viết khác nhau, song các tác giả đều có chung nhận xét: “Cái nhìn về nhà văn Lý Biên Cương phải đứng từ góc tối để nhìn ra phía sáng mới tường tận được - và phải nhìn với tấm lòng nhân ái mới thấu đáo Và lại phải đặt
mình là người trong cuộc mới thấm thía lẽ đời” [9, tr.1]
Đọc văn của ông, ta bắt gặp một Lý Biên Cương điềm tĩnh và sâu lắng, nặng suy tư và ưu ái với đời, nhất là với bao cuộc đời truân chuyên, bất hạnh Do vậy, truyện của Lý Biên Cương không mang tính bác học, kinh viện mà gắn bó với đời thường, với vốn văn hóa dân tộc và văn học dân gian Qua các bài viết đó, các tác giả đã khẳng định: Lý Biên Cương – một tài năng đa dạng, ông thành công ở nhiều thể loại khác nhau (truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết) Ông xứng đáng sẽ được nhận giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật Tuy vậy, hiện vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tập trung, có hệ thống, xứng đáng với những cống hiến đặc sắc của ông cho văn học Việt Nam hiện đại
3 Mục đích nghiên cứu
Trang 16Với đề tài đã chọn, Luận văn nghiên cứu của chúng tôi nhằm đạt được những yêu cầu sau:
- Nhận diện văn xuôi Lý Biên Cương, ghi nhận những đóng góp lớn cả về số lượng và chất lượng tác phẩm của ông
- Làm rõ những đặc sắc về phong cách và bút pháp tự sự của Lý Biên Cương
- Từ những kết quả nghiên cứu đã đạt được, luận văn góp phần khẳng định tài năng, vị trí của Lý Biên Cương trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khảo sát Tuyển tập Truyện ngắn, Truyện vừa, Tiểu thuyết Từ đó làm rõ tư
tưởng và phong cách nghệ thuật tự sự trong văn xuôi Lý Biên Cương
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là: “Nghệ thuật tự sự trong văn xuôi
Lý Biên Cương” Tuy vậy, trong khuôn khổ đề tài chúng tôi không thể khảo sát các tác phẩm của Lý Biên Cương từ nhiều phương diện mà chỉ vận dụng lý thuyết tự sự học, thi pháp học để làm rõ cái nhìn nghệ thuật về hiện thực và con người; nghệ thuật xây dựng nhân vật; nghệ thuật kết cấu và cốt truyện, ngôn ngữ, giọng điệu trong văn xuôi Lý Biên Cương
Để làm rõ vấn đề “Nghệ thuật tự sự trong văn xuôi Lý Biên Cương”, chúng
tôi chủ yếu đi sâu nghiên cứu những tác phẩm được in trong cuốn Lý Biên
Cương – Tuyển tập Truyện ngắn, Truyện vừa, Tiểu thuyết (2003) Nhà xuất bản Văn học, 748 trang
Bảng thống kê thể loại tác phẩm trong phạm vi nghiên cứu
Trang 17Thể loại Số lượng Số trang
ở đây tôi mới gặp chính tôi” [9, tr.1]
Ngoài Tuyển tập trên, chúng tôi còn tham khảo mở rộng một số tác phẩm khác
và những bài viết của ông đăng rải rác trên các báo và tạp chí đương thời để góp phần làm sáng tỏ và phong phú cho đề tài nghiên cứu được đầy đủ và chắc chắn
6 Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài “Nghệ thuật tự sự trong văn xuôi Lý Biên Cương” chúng tôi đã kết hợp sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân loại, thống kê: Đối với từng chương, từng chuyên mục,
chúng tôi thực hiện việc khảo sát, thống kê và phân loại với những số liệu cụ thể
- Phương pháp hệ thống tổng hợp: Căn cứ vào các dữ liệu, các bảng thống kê
nhằm đưa ra những kết luận về nghệ thuật xây dựng tác phẩm
- Phương pháp so sánh: Nhằm tìm ra những điểm giống và khác nhau của văn xuôi Lý Biên Cương với một số tác phẩm của các nhà văn khác
- Phương pháp phân tích tác phẩm: Đây là phuơng pháp chủ yếu nhằm khám
phá nội dung và nghệ thuật đặc sắc trong văn xuôi Lý Biên Cương Song
Trang 18chúng tôi chỉ đi sâu phân tích một số tác phẩm tiêu biểu mà các chuyên mục của Luận văn đề cập đến
7 Dự kiến đóng góp mới
Đây là một trong số ít công trình đầu tiên nghiên cứu Nghệ thuật tự sự trong văn xuôi Lý Biên Cương, khẳng định có căn cứ khoa học về tài năng của một phong cách văn xuôi góp phần vào sự phát triển của văn học Việt Nam hiện đại
từ nửa sau thế kỷ XX
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Đặc điểm cái nhìn hiện thực và hình tượng tác giả trong văn xuôi
Lý Biên Cương;
Chương 2: Nghệ thuật xây dựng nhân vật;
Chương 3: Cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ nghệ thuật và giọng điệu
Trang 19NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM CÁI NHÌN HIỆN THỰC VÀ HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ
TRONG VĂN XUÔI LÝ BIÊN CƯƠNG
1.1 Khái niệm về cái nhìn hiện thực và hình tượng tác giả
Văn học phản ánh hiện thực, tất yếu nó cũng phản ánh nhận thức của nhà văn
về con người Nhà văn quan niệm về con người thế nào thì nhân vật trong tác phẩm của họ cũng bị chi phối bởi những quan niệm ấy Trong các tác phẩm văn xuôi của Lý Biên Cương, người đọc được chứng kiến những cái tồn tại trong thực tế, bởi ngòi bút của ông luôn “bám sát thời cuộc, chuyển biến theo giông bão cách mạng và dòng thác đời người, truyện Lý Biên Cương thường len lỏi qua các ngõ ngách đời thường” [48, tr.86]
Ông là người luôn khước từ mọi suy đoán, trong một lần phúc đáp thư, gửi Nhà xuất bản Đà Nẵng, ông tâm sự: “…Tôi không mày mò viết những điều mình chưa tỏ, hoặc phóng bút cao giọng chuyên đâu đâu Tôi thích những cái vặt vãnh quanh mình, thật bình thường, thật bé nhỏ” [12, tr.195] Hơn nữa, ông đi nhiều,
Trang 20viết nhiều, nên tính hiện thực trong văn ông là điều tất yếu: “Tôi ngỡ có thể sờ thấy họ, nghe họ tâm sự, cùng họ lao vào những lần khó khăn, khó lường, những truyện mắc mớ trùng khắp, những đêm đi ca, những lần đau ốm, những bữa đói không đủ cơm gạo…” [14, tr.836]
Đối tượng nhân vật mà Lý Biên Cương miêu tả không phải là những “nghệ sĩ đao phủ” khua đường đao ngọt như chặt một khúc chuối xuất hiện trong sáng tác của Nguyễn Tuân, cũng không thấy kiểu nhân vật “nửa tây nửa ta” như trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng Nhân vật của ông rất gần với Thạch Lam, đó là
những nhân vật thường nhẹ nhàng trong tính cách (Thủy – Chia tay Hải Phòng),
êm ái trong ứng xử (Lân – Câu chuyện ngắn về con đường dài) nhưng ảnh
hưởng thì sâu sắc và mạnh mẽ trong lòng người Tất cả những điều ấy có cùng chung xuất phát điểm là một tinh thần nhân văn, nhân đạo cao cả, mà ông là người thắp đuốc cho tinh thần ấy rực sáng trên trang văn Đó là cái nhìn hiện thực trong văn xuôi Lý Biên Cương
Với cái nhìn hiện thực đó, từ cuối thập kỉ 60 của thế kỷ XX và những năm đầu thế kỉ XXI, Lý Biên Cương cho ra đời liên tiếp nhiều tác phẩm văn xuôi Ở thể loại này, ông có dịp bộc lộ một cách không hạn định cái tôi, vốn sống, sự chiêm nghiệm về người phụ nữ trong cách nhìn cuộc sống của một Lý Biên Cương từng trải và khiêm nhường Ông đã kết hợp được những ưu thế vốn có của mình khi viết kí với chất đào hoa, lãng tử, nhạy cảm của một tâm hồn vẫn luôn tiềm tàng chất nghệ sĩ này
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì “Hình tượng tác giả là phạm trù thể hiện
cách tự ý thức của tác giả về vai trò xã hội và vai trò văn học của mình trong tác phẩm, nó gắn với ý thức của tác giả về vai trò xã hội, tư thế văn học rất đa dạng của mình Hình tượng tác giả có tính chất loại hình sâu sắc, nhưng cũng mang đậm cá tính tác giả, khi vai trò cá tính sáng tạo của cái “tôi” cá nhân được ý thức
Trang 21đầy đủ Nó không những cho phép nhận ra phong cách cá nhân, mà còn giúp tìm hiểu tính hệ thống của văn bản tác phẩm, mối quan hệ của nó với ý thức về vai
trò xã hội và văn học” [36, tr.101]
Mỗi nhà văn, dù muốn hay không đều thể hiện chính mình trong các tác phẩm một cách đặc biệt Tác giả chính là trung tâm làm nên nội dung và hình thức của tác phẩm, tác giả hiện trong thế giới của tác phẩm chính là hình tượng tác giả Đối với mỗi thể loại, hình tượng tác giả được thể hiện khác nhau Nếu như ở thơ
ca, đó chính là hình tượng cái “Tôi” trữ tình, thì ở văn xuôi, đó chính là hình tượng người kể chuyện Nhưng với mỗi nhà văn, sáng tạo ra một tác phẩm đều phải chọn cho mình một cách kể riêng Khác với những tác phẩm hồi kí, nhật kí, hình tượng tác giả xuất hiện một cách trực tiếp với tư cách là người chứng kiến, tham gia vào câu chuyện mà họ đang kể lại, ở một tác phẩm truyện ngắn, hình tượng tác giả luôn xuất hiện gián tiếp qua các yếu tố khác nhau để hình thành nên tác phẩm, nhưng rõ nét nhất là thể hiện qua hình ảnh nhân vật, đặc biệt là nhân vật trung tâm trong tác phẩm
Đọc truyện của Lý Biên Cương, người ta thấy hiện lên cuộc đời, con người của chính ông Đó là những nơi bước chân ông đã đi qua, là mảnh đất mà ông gắn bó suốt đời, là những mối quan hệ trong cuộc đời, đặc biệt là những thân phận người phụ nữ Con người hiện hữu bao giờ cũng có một lịch sử Trong tác phẩm của Lý Biên Cương hầu hết đều lấy chất liệu từ cuộc sống của chính bản thân ông Vì thế “tâm hồn” ông cũng trải mình trong từng trang viết Qua tất cả những gì ông đã gắn bó, trải nghiệm, đã nghĩ suy, đã sống chết vì nó, người ta thấy những đường nét chân thực của bức chân dung Lý Biên Cương Tất cả những điều ấy, trước khi chảy qua ngòi bút đã chảy qua tim nhà văn “như một dòng máu” và tạo nên một hình tượng sâu đậm Màu đen của than, bản chất của những người thợ mỏ đã làm nên dòng chảy liên tục trong ngòi bút
Trang 22Trong những bút kí, kí sự của ông, người đọc đã từng được biết đến lớp người thanh niên trẻ trung, sôi nổi, đầy hoài bão và nhiệt huyết của vùng mỏ Thái độ
“nhập cuộc” ấy ở ông đã chứng tỏ một quan niệm sống tích cực, đối với ông, cầm bút không chỉ để lưu danh, mà còn là một hành động dấn thân quyết liệt để diệt trừ quốc nạn, chạy chữa những căn bệnh ung nhọt rất nguy hiểm của xã hội
Trước mỗi vấn đề, ông thường trình bày, phân tích, lý giải, tìm nguyên nhân
và cách khắc phục hoặc đưa ra những kiến nghị chính đáng với một thái độ đầy trách nhiệm, kèm theo đó là một nỗi lo âu, một niềm đau, một sự phẫn nộ, một niềm tiếc nuối khôn nguôi Đó chính là những lời trăn trở, những lời thỉnh cầu sâu đậm ý thức công dân và thiên chức của người trí thức
Cái tôi nhập thế ở Lý Biên Cương có sự đồng cảm sâu sắc với nhà văn Thạch Lam khi chọn lựa, thể hiện những nhân vật bình thường trong cuộc sống Sự trải nghiệm của nhà văn đóng vai trò như một hình tượng nổi bật xuyên suốt làm nên phong cách, sức sống cho những câu chữ Có thể nói, với thể loại truyện ngắn, cái tôi Lý Biên Cương có dịp bộc lộ nhiều nhất, nó sống động, gần gũi, trò chuyện trực tiếp với bạn đọc không cần phải qua khâu trung gian nào
Trên những trang văn vừa bay bổng vừa đằm sâu thì dòng riêng Lý Biên Cương trên một số bình diện, về cơ bản vẫn bắt vào cái nguồn chung đã được khơi dòng từ các bậc tiền bối đầu thế kỷ XX như Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Nguyên Hồng Tuy nhiên, văn của ông lại đi sâu khai thác hoàn cảnh éo le, trắc trở của nhân vật nữ, cảm thông trước những mất mát, nỗi đau, sự bức xúc muốn vươn tới cái hoàn thiện, tốt đẹp, văn minh cho xã hội mà ông đang từng ngày từng giờ gắn bó với nó trong từng hơi thở
Truyện ngắn Đêm ấy vùng than ai thức, một “câu chuyện như không có
chuyện” kể về mối tình của đôi trai gái vùng mỏ giữa một thị xã bị bom thù tàn phá hủy diệt Họ sống xả thân và bình thản tự nhiên không suy tính thiệt hơn Đó
Trang 23là những trang viết tài hoa, chân xác đến gan ruột mà nếu nhà văn chỉ đứng bên
lề cuộc sống như một người làm khách, chắc chắn không thể nào đạt tới
Hơn nữa, Lý Biên Cương không chỉ bó hẹp ngòi bút trong phạm vi một vùng đất Trong một bức thư gửi đồng nghiệp, ông tự bạch: "Thật ra trong cuộc đời sáng tác nửa thế kỷ của tôi, không chỉ viết mỗi về than Anh biết đấy, tôi vốn người làm báo, đi đây đi đó, tích lũy và viết về nhiều vùng đất, nhiều loại người,
phần lớn viết thành truyện ngắn Đi Điện Biên, tôi viết "Cháy một triền hoa ban
Nậm Lay"; đi Lào Cai tôi viết "Sa Pa góc khuất"; lên Cao Bằng có "Dã Quỳ"; tới
Lạng Sơn ghi "Đồng Đăng có phố Kỳ lạ"; ra Móng Cái: "Sâm cầm ơi sâm cầm"; đến Tuyên Quang có "Ngược Tuyên"; Thái Nguyên có "Vườn hoang"; sang Hải Phòng: "Chia tay Hải Phòng" và "Mười hai cửa bể"; về Hải Dương: "Trăng
khuyết", "Đất quê", "Thu cảm"…Các vùng phía Nam đi ít hơn nhưng vẫn có các
truyện "Sữa thơm dòng sông Hương"; "Nhớ rét"; "Cà Mau mưa" [14, tr.833] Đó
chính là ân tình của nhà văn đối với những miền đất ông đã đi qua
Lý Biên Cương đã thể hiện rất thành công hình tượng tác giả trong tác phẩm của mình Sự hoá thân của tác giả qua nhân vật đóng vai “người kể chuyện” trong tác phẩm Ở đó, nhà văn cũng có điều kiện bộc lộ gần như trực tiếp những suy nghĩ của mình trước một hiện thực được nhìn ở tầm gần
Người xưa nói: “Văn như kỳ nhân”, xem văn là biết được người, đọc tác phẩm
là biết ngay tác giả Đọng lại trong tác phẩm Người đàn bà ngang qua đời tôi,
thiên truyện mang nhiều yếu tố tự truyện, ông đã thể hiện rõ nét phong cách văn chương của mình và nhận thức được vẻ đẹp ẩn sâu trong tâm hồn mỗi con người tưởng chừng như bình thường nhất
Cách xây dựng nhân vật cũng thể hiện cảm quan của nhà văn Đó là “một anh
viết lách quèn” trong Xe pháo mã…cọc cạch; một “khách thơ” trong Tết văn…là
hóa thân của chính tác giả, một người mà hơn bao giờ hết, hiểu rõ rằng trước khi
Trang 24là một nghệ sĩ biết rung động trước cái đẹp, hãy làm một người biết yêu ghét vui buồn trước mọi lẽ đời thường tình, biết hành động để có một cuộc sống xứng đáng với con người
Khi tác giả luôn hướng tới cuộc sống thực của mỗi nhân vật mà nhà văn tâm
huyết thể hiện thì ở “Người đàn bà ngang qua đời tôi” Lý Biên Cương đã để lại
từ chính trong tâm tưởng nhà văn một dấu ấn trong lòng bạn đọc
Với chúng tôi, khi đọc những tác phẩm phục vụ cho đề tài nghiên cứu này, không hiểu sao chúng tôi cứ thấy thấp thoáng đời tư của ông ẩn chìm trong đó Chợt đồng cảm hơn với những nỗi niềm sâu kín của nhà văn Hình như, văn đàn
là nơi ông giãi bày bao nỗi lòng riêng u uẩn, bao tâm trạng mà ông chưa biết, không thể chia sẻ với ai, chỉ có thể gửi vào trong tác phẩm Càng đọc nhiều văn ông, ngấm hơn những điều suy ngẫm, những triết lý ẩn sâu trong các tác phẩm của ông, bạn bè, đồng nghiệp và lớp người đi sau như chúng tôi luôn thấy nhà văn Lý Biên Cương với trái tim đau đáu những nỗi niềm nhân thế, luôn khao khát hướng về cuộc sống
1.2 Từ cái nhìn hiện thực sử thi đến cái nhìn đa chiều rộng mở, hướng về đời thường Không ai có thể phủ nhận rằng: Văn học bao giờ cũng bắt nguồn từ hiện thực
và phản ánh hiện thực đó vào tác phẩm Nhưng cách phản ánh hiện thực của từng thể loại truyện, thơ, ký sự không phải là hoàn toàn giống nhau
Hiện thực trong thần thoại là hiện thực của thiên nhiên đã được nhân hoá, của sự chinh phục tự nhiên “trong tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng” Ở đây ta sẽ gặp những ông khổng lồ có thể bắn được mặt trời, uống một hớp nước cạn mười khúc sông, dùng đôi quang gánh để gánh hai trái núi, vết chân để lại thành những ao hồ Hiện thực của cổ tích là hiện thực của ước mơ, là hiện thực của “những chiếc thảm biết bay”, “những đôi hài vạn dặm” Hay có thể nói: Hiện thực trong cổ
Trang 25tích là “phi hiện thực” Vì ngoài cuộc đời sẽ chẳng bao giờ tìm thấy một niêu cơm mà bao nhiêu người ăn không hết, một cây đàn gẩy lên làm tan tác hàng vạn binh sĩ đối phương, và chẳng phải lúc nào người hiền lành nghèo khổ cũng gặp lành
và chiến thắng, kẻ độc ác bị thất bại Thế nhưng đặc điểm của thể loại này cho phép tác giả “bịa đặt” mọi tình tiết, thậm chí “bịa đặt” cả những tình tiết không hợp lý
Và “thế giới trong truyện cổ tích không cần phải miêu tả chi li, vì thế chúng gần giống nhau, gần như bị xoá nhoà ranh giới về không gian và thời gian” [8, tr.22] Nhưng ở đây, một số nhân vật và tình huống ngẫu nhiên, sắp đặt mà chúng ta thường gặp từ truyện cổ tích, theo thời gian lại xuất hiện trong trang viết của Lý
Biên Cương như một huyền thoại:
Trong truyện ngắn Chia tay Hải Phòng, anh bộ đội Chung gặp lại cô kỹ sư
Thủy nơi miền đất sông Hậu trong hoàn cảnh thật éo le “Sao tôi lại có thể hưởng hai may mắn cùng lúc? Như đang nằm mơ, khó tin là có thật trên đời” [13, tr.142] Khi còn đóng quân ở Hải Phòng, Thủy đã yêu một chiến sĩ của Chung
nhưng vẫn e lệ “Em đâu diễm phúc làm dâu bộ đội các anh” [13, tr.148] Chiến
tranh tàn khốc quá, vợ Chung và người yêu Thủy đều hy sinh Để rồi khi gặp lại nơi miền đất sông Hậu, sau bao thăng trầm, họ đã tìm đến với nhau như một bản nhạc trữ tình: “Nhưng em ơi, đêm nay anh bỗng nghe một bài hát khác, bài hát
không lời, vang mạnh trong anh” [13, tr.158]
Với Giai điệu thành thị, sự tình cờ của anh kỹ sư trưởng tên Quý về đúng nơi
chôn nhau cắt rốn của mình xây dựng nhà máy điện, rồi gặp lại chính người yêu giữa đêm đông rét cứng da trong một lần đi thị sát công truờng trên dòng sông
mà mười năm trước người con gái đã “ùm” thuyền để ghi dấu ấn những kỷ niệm của mình “Linh tính báo cho tôi biết cô lái không thể người xa lạ Ngữ chăng, cũng dáng dấp ấy, cũng điệu chống đến cong vút con sào ” [13, tr.274]
Trang 26Trong tác phẩm Đất quê, lời tự sự của ông Phụng về tên họ của người lính
Việt Cộng mà ông không hay chính là giọt máu của mình, nhưng bằng sự linh cảm của con người, ông lại đến thắp hương cho “đối phương”: “Tôi giật mình thấy hồ sơ ghi tên Nguyễn Như Giảng Cái họ Nguyễn Như ở ngoài Bắc không nhiều, khéo thằng bé này có họ với mình cũng nên Tôi thắp chùm nhang khấn
người chiến sĩ của trái tim tôi” [13, tr.330-331]
Quá tam ba bận là những gì mà truyện ngắn Sữa thơm dòng sông Hương mang
lại cho người đọc Với tình huống nhà văn gặp lại cô gái ngày bán trà đá, tối bán mình bên dòng Hương, Mai Chăm đang cho con bú vào lúc nửa đêm, rồi sau mười năm chẵn không ngờ hội ngộ Mai Chăm lại là người đưa khách du lịch đi thăm di tích Huế Nhưng chưa hết, sáu năm sau lại trở lại Huế, lững thững đi dọc Hương Giang, hỏi dò cô lái đò thì gặp con của Mai Chăm, giống hệt mẹ về hình dáng mà ông cứ ngỡ đó là Mai Chăm, và “Dạ, con theo nghề má con đó chú!” [13, tr.439]
Với Đồng đăng có phố Kỳ lạ, lạ thật, thân gái dặm trường, tải hàng thuê qua
biên giới bị bọn cửu vạn gá bạc, thách đố Mạng sống chỉ còn gang tấc khi bắt Phúc phải đi qua bãi mìn của chiến tranh biên giới để lại, chị đã xác định hóa kiếp mình để trả thù: “Người tao sẽ bay lên, thân tao ắt bị xé vụn thành ngàn mảnh, máu tao hất thẳng vào mặt từng đứa Ha ha! Tao liều đấy, hồn tao rồi về vặn cổ từng thằng cá cược đến đứa thắng bạc ”[13, tr.510] Nhưng mìn không nổ mà còn được anh lính biên phòng chỉ đường cứu mạng Lần thứ hai chạy trốn khỏi tên chủ người Hoa đã hóa kiếp đời con gái để rồi tại cột mốc biên giới, người đến nhận vẫn là anh lính biên phòng cũ: “Anh đúng là ân nhân cuộc đời tôi, anh trấn thủ lưu đồn mấy năm ròng, cứu vớt tôi mấy đận lớn Anh “miệng ăn măng trúc măng mai, những giang cùng lứa ” cuối cùng gắn nghĩa nặng tình sâu với riêng tôi” [13, tr.513], và rồi chị là người vợ tỉa bắp trồng khoai nơi quê anh lính
Trang 27Năm 1998, với truyện ngắn Dã Quỳ, ông An, cán bộ đi công tác điều tra một
vùng văn hóa và đang cần khuây khỏa việc gia đình, về đúng nơi mà hai mươi năm trước ông đã từng là anh thợ rèn, yêu và trao gửi mầm sống mới, càng ly kỳ hơn lại đúng “sắp tới giờ nhà gái cho rước dâu” [13, tr.548] cô con gái của mình
mà ông không từng hay biết
Và cuối cùng, đúng với cái tên Phù du, ly kỳ và chiêm nghiệm là phút cuối
đời của vợ nhà văn Hoài Thư bên cạnh Phương (người yêu cũ con trai bà) và người chồng đang rối bời chuyện gia đình
“Bà Thư lịm đi, mạch ngừng đập, rồi tỉnh lại thều thào:
- Con ơi mẹ bảo con này Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ đi
- Vâng, vâng
- Con ơi nhớ lấy câu này Nhất mặn là muối, nhất cay là gừng
- Vâng, vâng
- Chàng ơi phụ thiếp làm chi Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng” [13,
tr.732] Âu cũng duyên phận con người, nhưng cũng là lời trăng trối của người
bạn đời mà bấy lâu nay ông vẫn chê bai bà, chê thầm lặng, nhưng vẫn chung
thủy và trách nhiệm với gia đình
Nghệ thuật tự sự của Lý Biên Cương thành công chính là ở điểm đó Các nhân vật của ông thường chìm đắm trong những hoàn cảnh éo le của cuộc sống thường ngày Nhưng đó là hiện thực, hiện thực trong văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung và truyện của Lý Biên Cương nói riêng, là hiện thực của cuộc sống đời thường, diễn ra đúng như nó có, nhiều khi là một hiện thực đau lòng Ở đó có
cả chuyện của anh bỏ vợ, chị bỏ chồng Hơn nữa, ở đó còn xuất hiện những tên cán bộ hách dịch, những tay cơ hội, ích kỷ nhỏ nhen Có thể tìm thấy trong những tác phẩm là những chi tiết vô cùng xác thực: xác thực từ địa điểm, thời
Trang 28gian, tên tuổi Chức năng của tự sự làm nhiệm vụ ghi nhận và phơi bày tất cả những hiện thực ngồn ngộn của cuộc sống, ca ngợi cái hay và phê phán cái xấu Như vậy, mỗi một thể loại văn học ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể
và có những đặc trưng riêng của nó Nhiều tác phẩm ra đời nhằm phản ánh những sự kiện tức thời xảy ra trong cuộc sống thường ngày, thậm chí mang tính vụn vặt đời thường
1.2.1 Những chủ đề chính qua ba giai đoạn sáng tác
Sinh năm 1941, với cuộc đời cầm bút cần mẫn, Lý Biên Cương đã đi trọn dải
đất hình chữ S Bút tích của ông đã để lại từ Mũi Cà Mau (Cà Mau mưa) đến địa đầu Móng Cái (Sâm cầm ơi sâm cầm) Theo những tháng ngày ấy, chúng ta có
thể chia đời văn ông ra làm ba giai đoạn có sự chuyển dịch về bút pháp
Bảng 1.2.1: Thống kê tổng quan trong phạm vi nghiên cứu
Thể loại
Địa danh
Truyện ngắn
Truyện vừa
Tiểu thuyết
Trang 2913 Hạ Long của một người ٧ Vùng mỏ
Từ 1987 đến 2010
Trang 3045 Người bán than rong ٧ Nơi khác
Theo bảng thống kê trên, vùng mỏ 14 tác phẩm, nơi khác 29 tác phẩm, ngoại quốc 3 tác phẩm đã phản ánh sự chuyển dịch ngòi bút trong các giai đoạn sáng tác Hai chữ “Vùng Mỏ” gần như đã chiếm vị trí độc tôn trong giai đoạn khởi
nghiệp của người cầm bút (1960 đến 1975) với cái gọi là “Văn học về đề tài
công nhân” Nhưng từ năm 1976 đến 1986 đã có sự đan xen ở những nơi mà ông
đã đi qua, ông đã chứng kiến công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, tái thiết đất nước với biên độ được mở rộng hơn cả về nội dung, vùng miền và tính cách
nhân vật Trong khoảng thời gian mười ba năm, từ 1987 đến 2010 ông viết khởi
sắc có năng suất, dồi dào bởi ông đi nhiều, viết truyện miệt mài Do vậy, bút danh Lý Biên Cương cũng vì thế mà thân thiện hơn với độc giả
1.2.1.1 Cái nhìn hiện thực trong chiến tranh, xây dựng miền Bắc xã hội
chủ nghĩa (chiến đấu và sản xuất từ 1960 đến 1975)
Nếu theo dõi văn học Việt Nam, trong đó có dòng văn học đề tài công nhân, có thể tìm thấy các tác giả xuất thân là công nhân, hoặc cũng sống gắn bó với đời sống người công nhân Chúng ta có một đội ngũ viết về công nhân rất hùng hậu tập trung ở Thái Nguyên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nội Những nhà văn với dòng văn học đề tài này như Tô Ngọc Hiến, Sĩ Hồng, Tùng Điển, Lưu Nghiệp Quỳnh, Lý Biên Cương…với những tác phẩm dài hơi về đề tài công nhân như:
Mở hầm (Nguyễn Dậu), Những ngày thường đã cháy lên (Xuân Cang), Xi măng
(Huy Phương), Những người thợ mỏ (Võ Huy Tâm), Những ô cửa màu nâu (Tùng
Trang 31Điển)…Họ đã từng gắn bó với người thợ cho ra đời những tác phẩm viết về vùng
mỏ và vùng công nghiệp khác, đó là niềm tự hào của văn học Việt Nam hiện đại Văn học Việt Nam nói chung và văn học vùng mỏ nói riêng luôn rộng mở đón nhận những ai đến và bồi đắp vẻ đẹp con người lao động Năm 1961 Lý Biên
Cương tự nguyện xung phong về vùng mỏ Quảng Ninh, công tác tại báo Vùng
Mỏ, nơi gắn bó với nền công nghiệp khai thác than tập trung Lúc đầu, ông cầm
bút viết báo Tại nơi đây, Lý Biên Cương có hướng tiếp cận riêng Trong cảm quan của ông, người thợ mỏ có thể còn khiếm khuyết chỗ này, chỗ khác, nhưng phẩm chất của họ là tính cần mẫn, trung thực
Quá trình làm báo đã giúp ông thu thập, tích lũy tài liệu và chọn một vùng quê văn học cho mình Lần lượt và đều đặn, ngót bốn mươi tập sách là tiểu thuyết, là truyện ngắn, là kịch bản, là thơ được ra đời Cuốn nào, trang nào cũng có bóng dáng của người vùng than Nơi này thấm đẫm máu thịt, mồ hôi nước mắt của thợ
mỏ, nhưng cũng ghi dấu nụ cười, hạnh phúc của họ Những con người vùng than hiện lên với số phận chìm nổi trong từng trang sách, bền bỉ và kỹ lưỡng trong từng câu chữ của nhà văn
Mang đặc trưng văn xuôi vùng mỏ, ông đã dựng lên khá chi tiết bức tranh về thời chiến một phong cách hiện thực trữ tình, không ham chi tiết vụn vặt, không chạy theo phong trào mà cố gắng chắt lọc những vầng sáng tâm hồn của đời sống nội tâm nhân vật, kết hợp hài hòa giữa lý tưởng và tình cảm, giữa cái chung và cái riêng, giữa quan hệ xã hội và gia đình
Với sở trường truyện ngắn, khi nhằm viết đề tài sản xuất than, là tiếng nói tâm tình của các nhân vật thuộc các trang truyện như: bác sĩ, kỹ sư, bộ đội, nhưng đông đảo hơn cả vẫn là người công nhân Họ đến vùng mỏ từ nhiều miền quê khác nhau với những hoàn cảnh khác nhau Mặc dù trong giai đoạn chiến tranh chống giặc Mỹ bắn phá miền Bắc, đặc biệt là vùng mỏ, nhưng Lý Biên Cương ít đi vào miêu tả sự khốc liệt của
Trang 32những trận chiến đấu với máy bay địch, cái sục sôi của biển cả, vẻ hào phóng và thoáng đãng của kỳ quan thiên nhiên, mà dường như chỉ miêu tả cái duyên phận con người như
Yến (Đêm ấy vùng than ai thức), anh Lý bị thương (Bây giờ ta lại nói về nhau) Và trong
nhiều truyện ngắn, nhân vật trong trang văn của ông là phụ nữ Ông miêu tả tâm lý nhân vật nữ đặc biệt tinh tế, thường dịu dàng, thâm trầm mà cả nghĩ Trong sáng tác của ông, giai đoạn này cốt truyện còn hao hao giống nhau, nhất là các nhân vật nữ như trong
truyện: Đảo nhỏ; Ngọn đèn đông bắc biển Mặc dù Quảng Ninh được ví như một Việt
Nam thu nhỏ (có các khu công nghiệp tập trung, có biển, có rừng, có di tích lịch sử, có cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng Vịnh Hạ Long…) nhưng dường như nhân vật của ông chủ yếu được định hình ở một vài phẩm chất và phạm vi quen thuộc, lối dẫn dắt truyện còn đơn điệu và kết thúc truyện theo hướng trữ tình, ngợi ca, có hậu
Phải chăng vì thế mà văn chương ông trong thời kỳ này hiếm khi có tiếng ồn
ào, hỗn độn, xô bồ của vùng công nghiệp tập trung; truyện của ông ít thấy gai góc, băm bổ, ngoắt nghéo, làm “sốc” người đọc như ai đó, mà thường nhuần nhị, thanh thoát dịu dàng như tranh lụa Qua đó, ông gửi gắm nhiều chiêm nghiệm sâu xa về cuộc đời, về mình, về người, về những gì ông từng chứng kiến Bởi thế tác phẩm nào của ông, dù rất nhẹ nhàng bình dị, vẫn luôn có sức lan tỏa, vọng vang đến bến bờ Cho hay sự nổi tiếng trong thiên hạ là một chuyện, sự tinh tế của ngòi bút khi lách vào những nỗi niềm riêng của con người lại là chuyện khác, và văn chương muôn thuở phải chăng chỉ là mượn chuyện đời mà thấu tỏ
niềm riêng, mà ưu ái cảm thông với mọi điều trắc ẩn? Những Than con gái; Đêm
mưa; Đêm ấy vùng than ai thức là những tác phẩm loại này, nên dù ông viết
lâu rồi, đến nay vẫn còn nhiều dư vị trong lòng bạn đọc
1.2.1.2 Hiện thực thời hậu chiến, tái thiết đất nước (từ 1976 đến 1986)
Trang 33Sau ngày nước nhà thống nhất, bước vào thời kỳ tái thiết đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh, hiện thực cuộc sống được Lý Biên Cương tái hiện mở rộng hơn, sâu hơn và nhịp điệu cũng dồn dập hơn Biên độ ngòi bút của ông cũng vươn xa hơn Trong thời bao cấp và những năm đầu của thời kỳ đất nước
mở cửa, ông có truyện làng quê đang chuyển mình như: Đất quê; Giai điệu
thành thị, một thế hệ trẻ trong công cuộc tái thiết đất nước như: Ngày ấy còn rừng rậm; Câu chuyện ngắn về con đường dài; Chia tay Hải Phòng
Đọc qua mười tác phẩm trong thời kỳ này (theo phạm vi nghiên cứu) có thể
ghi nhận tác phẩm Đất quê được ông khai sinh năm 1986 là tác phẩm tiêu biểu
hơn cả Nó như một bước chuyển mình về dung lượng hiện thực, về phương pháp xây dựng nhân vật và mang đậm tính nhân văn sâu sắc, cũng như một dấu chấm hết cho cách viết thời bao cấp và mở ra những khuynh hướng mới
Với dung lượng gần năm mươi trang khổ lớn, tác phẩm đã đề cập đến tất cả các mặt của cuộc sống thời mở cửa Nhân vật Nguyễn Như Phụng đã là tâm điểm, xuyên suốt tác phẩm Phụng là sự đối lập về tính cách trong con người của
kẻ bại trận, xa quê hơn hai chục năm có lẻ, gắn bó với hai người đàn bà đi qua cuộc đời ông, một cô Nếp nền nã, đằm thắm, ngược lại là Dự của những câu du tình làm siêu lòng chàng đíplôm kẻng trai Bên cạnh đó, còn chứa đựng các mâu thuẫn, xung đột trong đời sống nội tâm của mỗi cá nhân
Tên truyện chỉ với một từ ngắn gọn mà súc tích “Bão” đã toát lên sự bứt phá về giọng văn mạnh mẽ, như hướng về luận đề tâm bão của đời người Nếu như Đêm
ấy vùng than ai thức được xem là câu chuyện về một mối tình đẹp, dường như
tách biệt với tiếng gầm rú của máy bay Mỹ, thì ở truyện ngắn Bão, ngắn cả nội
dung và tên truyện, nhưng lại khắc họa một tình yêu mãnh liệt Bão biển đã tràn vào đảo nhỏ “Tiếng sóng rít lên nghe ù ù trong ngực, ngỡ sóng có thể úp chụp trên
Trang 34mái nhà lẻ loi này” [13, tr.136], nhưng tình yêu đã tạo cho đôi trai gái niềm tin
mãnh liệt: “Em hẹn anh ấy đêm nay phải về Nhất định anh ấy sẽ về” [13, tr.136] Bên cạnh đó, sự chuyển biến trong tính cách nhân vật được thể hiện như một
bước ngoặt trong tác phẩm Câu chuyện ngắn về con đường dài Nhân vật chính là
Vân, một kỹ sư trẻ: “…Cô gái mới từ trường đại học mỏ về Nghịch, xáo trộn không khí trong phòng ngay từ ngày nhập cư Người nhong nhỏng cao, ăn vận mốt mới, vài ngày một bộ, phải nói bộ nào cũng hợp, cũng tôn thêm vẻ đẹp của cô gái đương thì Vào phòng đứng nghiêm, giơ tay chào trưởng phòng báo cáo có mặt y như lính tráng Vân đẹp thời thượng, tách hẳn các cô kỹ sư khác, không ỏn ẻn làm duyên, không vờ vĩnh gợi tình mấy anh dại gái Hôm trước tuyên bố phải cách mạng bộ tóc thì hôm sau đã hí hửng mang đến phòng một kiểu đầu thật mới…Hăng hái đầu têu các cuộc tranh cãi…luôn miệng các anh các chị ơi, phòng ta buồn quá thể, phải bày ra chuyện gì cãi cọ cho rộn lên chứ…hoan hỉ vỗ tay reo hò cho các cuộc tranh cãi bất phân thắng bại, mắt đỏ tía tai như hoa mào gà…Em sẽ dạy cả
phòng múa Múa là phong cách của lớp trẻ, không thể không biết Vaxilô hay Cha
cha cha…?” [13, tr.218-219] Vân, đó là con người của công việc và trí tuệ, đại
diện cho lớp thanh niên trí thức thời hậu chiến tái thiết đất nước
1.2.1.3 Hiện thực trong thời kỳ đổi mới từ 1987-2010, hướng về thế sự đời tư Những truyện viết trong giai đoạn này, ông muốn vươn xa ngoài vùng mỏ, phác họa nhiều nhân vật thời đổi mới như: Cô em “ăn sóng nuốt gió” sẵn sàng từ
bỏ vị trí công chức nhà nước đi làm cai thầu xây dựng (Sâm cầm ơi sâm cầm),
tay chạy vật tư dùng đủ ngón nghề “mua ít, khai nhiều”; một ông giám đốc tài năng đã “xoay sở công ăn việc làm cho bốn nghìn công nhân đang bên bờ vực phá sản khi xóa bỏ thời kỳ bao cấp, để hôm nay có thể thở phào, con thuyền mỏ
đang đi dần vào quỹ đạo của dòng sông thương trường” [13, tr.617] (Chú tò vò
Trang 35ấy bay đâu); một kỹ sư “cờlanhke” đức độ và xông pha, quê ở tận Mũi Ngọc
(Móng Cái), nơi nhìn thấy trước tiên mặt trời mọc, sẵn sàng nhận công tác tại
nhà máy xi măng Hà Tiên, nơi được ngó mặt trời lặn – Mũi Cà Mau (Nhớ rét) Và
Thủy, nữ kỹ sư “cải tạo đất” quê Hải Phòng, “Còn trẻ quá đa Nghe lời Đảng mà lặn
lội vô” [13, tr.148] khai hoang vùng đồng bằng sông Hậu (Chia tay Hải Phòng) Đặc biệt, với tiểu thuyết Phù du nhà văn đã gióng lên hồi chuông cảnh báo các bậc
phụ huynh quá chiều chuộng, áp đặt quan điểm của mình lên con cái, đồng thời khuyến cáo giới trẻ chớ lấy tầm hiểu biết của mình làm thước đo thiên hạ
Từ những năm cuối thập niên tám mươi trở lại đây, theo sát bước đổi thay của thời đại mới, truyện của Lý Biên Cương không chỉ bó hẹp đúng, sai trong phạm vi
tư tưởng, phẩm chất và lương tâm người thợ mà ông còn hướng đến những mặt trái của đời sống xã hội, sự tha hóa nhân cách bởi đồng tiền, nạn tham nhũng, suy thoái đạo đức Bộ mặt nông thôn đã dần đổi thay, đem lại cuộc sống dễ chịu hơn, nhưng nó cũng song hành nhiều tệ nạn cho người dân thôn quê, mà không ai khác
là những người phụ nữ phải gánh chịu Đã có những kẻ cơ hội lợi dụng chức quyền và sự cả tin, ngây thơ mà lấy đi sự trong trắng của đời người con gái, đẩy
họ vào hoàn cảnh bi kịch như Phương (Phù du), Ngữ (Giai điệu thành thị)
Thời mở cửa, buôn bán được tự do, mạnh ai nấy làm, ai cũng cần có chỗ đứng
của mình trong xã hội, đôi khi họ kiếm tiền bằng đủ mọi nghề như: Tú Bà (Sâm
Cầm ơi sâm cầm), làm mỹ viện…(Xe pháp mã cọc cạch) hoặc bằng mọi thủ
đoạn như kiểu của tay chạy vật tư (Chú tò vò ấy bay đâu)
Cũng trong thời kỳ này, ngòi bút của Lý Biên Cương không chỉ vươn ra ngoài vùng mỏ mà còn vượt ra ngoài lãnh thổ Việt Nam, được ông thể hiện trong tiểu
thuyết Phù du Từ Phòng Thành (Trung Quốc), đến những quán tranh, những kiốt
sách, nơi Puskin, Maiacôpki…từng đến (Matxcơva-nước Nga) và Bức tường
Béc-lin (Đức); Nẻo trời Vô Tích tôi qua; Thế giới mình bé nhỏ; Lang thang một phố cổ
Trang 36Nga, Một người về quê ăn tết; tuy khác nhau về quốc tịch, màu da Song tựu trung
lại, ông đều cảm thông chia sẻ trước số phận long đong của người phụ nữ
Ông từng giữ cương vị “Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, Phó Tổng
biên tập báo Hạ Long kiêm chi hội trưởng Chi hội nhà văn tại Quảng Ninh Đây
là lúc ông có điều kiện giao lưu rộng hơn với các Hội văn nghệ tỉnh, thành trong
Nhưng thành công trong văn chương bao nhiêu, được người đời yêu mến bao nhiêu thì cuộc đời ông lại là cả một chuỗi dài bất như ý Cho tới tận phút tàn hơi, nhà văn vẫn là một kẻ độc hành Bên ông vẫn luôn thiếu vắng bóng dáng của một người bạn đời tri kỷ đúng như tâm nguyện Khi nghiên cứu tuyển tập truyện này, chúng tôi đồng cảm hơn với những nỗi niềm sâu kín của nhà văn Dường như, văn đàn là nơi ông giãi bày bao nỗi lòng riêng u uẩn, bao tâm trạng mà ông không biết chia sẻ cùng ai, chỉ biết gửi vào trong tác phẩm
1.2.2 Đặc điểm thẩm mỹ của cái nhìn hiện thực
Trang 37Cũng như hầu hết các cây bút văn xuôi hiện đại khác, do nhu cầu phản ánh muôn mặt của đời sống, Lý Biên Cương không chỉ sử dụng độc nhất một lối trần thuật trong các tác phẩm của mình, mà thường có sự đan xen, phối hợp, dịch chuyển các điểm nhìn khác nhau nhằm tạo sự uyển chuyển, linh hoạt trong cách dẫn truyện Lý Biên Cương thiên về điểm nhìn nội tâm để khám phá và miêu tả nhân vật Bởi chỉ ở góc độ này ông mới khai thác hết tính thẩm mỹ cho những trang truyện của mình
Đó cũng là một nét riêng trong cái đẹp, cái cao cả, có cái hài, cái phi lý đời thường Giá trị thẩm mỹ của nó cũng tương ứng, biện chứng với các giá trị phủ định như cái xấu, cái thấp hèn, cái bi nhằm mô tả đặc tính giá trị của những tình thế kịch tính khác nhau trong đời sống hiện thực theo cảm quan của nhà văn
Với truyện ngắn Đêm ấy vùng than ai thức nhân vật của ông đã nhìn con sóng
như một đôi tình nhân trên biển “…Chao, những cặp uyên ương sóng dìu nhau chơi giỡn trên nước Chúng thật chung thủy, thật thỏa mãn…mùa xuân, những cặp sóng rõ ra những cặp vợ chồng mới, du từng lượn nhẹ, tôn trọng nhau khi trời heo heo gió Có lúc chúng cũng cãi nhau sau đó lại làm lành Mùa đông chúng có con Bao giờ cặp sóng bố mẹ cũng chạy ép hai bên che chở cho lượn sóng con ở giữa…” [13, tr.79]
Ông là một phong cách văn chương rất riêng, không trộn lẫn với ai Đọc văn ông, chúng tôi có cảm giác mình được sống nhiều hơn, lại giống như đang chiêm ngưỡng một công trình được tạo tác rất tài hoa Văn ông đẹp, thoáng đãng lại mượt mà, sự giàu có về ngôn ngữ văn chương của ông như của tự nhiên ban cho vậy Có khi, cố công tìm mãi cốt truyện thấy gần như ''không có gì'' thế mà truyện ngắn ông viết vẫn ra, ngòi bút vẫn dồi dào lắm Sự tinh tế, nhạy cảm của ông, ngôn ngữ văn chương giàu có của ông là thứ không thể bắt chước được Không ít cảnh lao động sản xuất bình thường, tưởng chừng khô khan, đơn
điệu như cảnh chài lưới (Sóng cửa sông), cảnh đốt lò gốm (Trăng khuyết), cảnh
Trang 38lò rèn (Dã Quỳ), cảnh xây ống khói nhà máy (Giai điệu thành thị) cho đến cảnh cải mả (Đất quê) đều được ông mô tả thật tài tình Những thứ ấy, ở đô thị Sài
Gòn hoa lệ hay Thủ đô Hà Nội cổ kính ta không thể gặp được Vậy mà, ngay cả trong không gian chứa đầy ắp tình thương, ngòi bút Lý Biên Cương xuất hiện như một điểm sáng về tình người Thế thái, nhân tình, biết thế nào là đủ?
Sự bề bộn, khẩn trương của nhịp sống công nghiệp vùng mỏ đi vào văn ông cũng sâu lắng hơn; sự mạnh mẽ, dữ dội trong tình yêu, trong đời sống người vùng biển qua văn ông cũng êm ả, nhuần nhị gần gũi với người đọc
1.2.3 Cái nhìn hiện thực – trữ tình
“Văn học là nhân học” (M.Gorki) Do vậy, vẻ đẹp nhân bản của con người luôn luôn là một phương tiện thẩm mỹ mà ở đó chất thơ và chất hiện thực hoà quyện với nhau
Ở Câu chuyện ngắn về con đường dài, trong không gian đêm tối giữa rừng và
thế giới dường như chỉ còn có hai người Hiệp và Vân còn thức thì ngọn lửa cũng
hiện lên thật đẹp: “Ngọn lửa cháy vùn vụt, bỗng được gió cuộn lại, nở tách làm
đôi, cứ uốn éo hất mãi những cái lưỡi nhọn lên cao, khi thì chụm lại như dải lụa cháy phần phật và ở chính giữa khối đỏ mềm đó nhấp nhoáng cụm đỏ đông đặc
hơn, ánh ánh như một con mắt đẹp” [13, tr.232]
Vậy thì cái gì đã khiến cho họ phải thức? Công việc và trách nhiệm ư? Phải chăng tâm hồn đôi bạn trẻ đã mách bảo họ cùng thức Ngọn lửa của tình yêu phát
ra từ những lời đối thoại, những hoạt động của con người nơi đây Mỗi người đều góp một chút hương vị, tạo nên một nét chấm phá đẹp trong bức tranh vùng
mỏ, nhưng tất cả những con người có mặt trong thời chiến đã làm nên tổng thể của cảnh vật cuộc sống
Nếu như cuộc sống hiện thực trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam
được “đo bằng” một đơn vị “lãng mạn” nhất định, phố huyện còn được miêu tả
Trang 39bằng những ánh đèn hắt ra từ những quán bên đường; thì bây giờ chỉ còn là bóng đêm Một vài tia sáng le lói từ kẽ cửa thành từng vệt Con mắt thơ mộng đâu chỉ dừng ở những ánh sáng rất thực mà tìm đến cái mong manh của thứ đom đóm lập loè trong kẽ lá bàng lại càng gợi buồn khó tả nơi phố huyện nghèo Thì ở đây, dưới ngòi bút Lý Biên Cương là một chùm sáng giữa rừng đang hừng hực cháy, ngọn lửa của tuổi trẻ khát khao khẳng định mình và cũng là ngọn lửa của trái tim, chan hoà thực sự, ấm áp tình người
Sự hoà quyện giữa hiện thực và trữ tình đã giúp Lý Biên Cương có được chất văn nhẹ nhàng thanh thoát, ẩn hiện nhân cách lão thực của ông
Hơn nữa, trong truyện vừa Ngày ấy còn rừng rậm, tác giả còn thể hiện tư
tưởng, tình cảm của Quân qua những lời độc thoại đầy chất thơ khi một mình vô vọng tìm người thầm yêu “Ngân em, em ở rừng hay đã ra biển? Em có nghe anh gọi? Em có hay trái tim mọi người đang đau nhói Nó vô lý, hết sức vô lý? Anh
không thể tin em biến mất” [13, tr.210]
Thành công của Lý Biên Cương chính là sự kết hợp hài hoà giữa bút pháp lãng mạn với xu hướng hiện thực, tạo cho mỗi tác phẩm của ông một sức sống trường tồn cùng lòng người Tình người của nhà văn với nhân vật đã đưa ý nghĩa truyện lên một tầng cao mới Ai đó đã định nghĩa về thơ: “Thơ là hiện thực, thơ
là cuộc đời còn là thơ nữa” thì các tác phẩm của Lý Biên Cương, đặc biệt là truyện ngắn có đầy đủ những yếu tố mang phong vị của một bài thơ trữ tình thắm thiết mà lại gắn bó với đời thường sâu sắc
1.3 Từ cái nhìn bề ngoài đến cái nhìn ngày càng thâm nhập vào thế giới bên trong con người
Tác giả dành tấm lòng ưu ái cho nhiều cuộc đời bất hạnh, nhiều số phận chìm nổi, long đong Đa số họ là giới nữ, hầu hết những con người này đều xuất thân
Trang 40từ tầng lớp lao động nghèo khổ, nhưng lại toát lên những phẩm chất đáng quý được thể hiện trong các phương diện sau:
1.3.1 Con người trong các mối quan hệ
Với xã hội: Lòng nhiệt huyết của hai nữ kỹ sư đi “mở đất” nơi “Mở mắt đã
ngột ngạt mùi bùn, mùi cỏ thối, mùi phân chim, những thứ mùi chua nghoét, lờm lợm ai ải” [13, tr.146], nhưng trên hết cả là tình cảm với quê hương đã gắn bó những năm tháng tuổi thơ của Tám “Chị thiệt sung sướng được về làm việc chính đồng đất quê hương Ước mơ bao ngày mới thỏa” [13, tr.146]
Với thiên nhiên: “Không, bảo anh ít bạn, không đúng Anh có bạn phong lưu
hơn mọi người trên đời Những bạn thiên nhiên kỳ diệu kia…mặt trời bao giờ cũng đợi anh ra làm “ốp” tối mới chịu lặn” [13, tr.79] và Suyền cũng “biết trăng
tròn dần từng ngày và khuyết dần từng buổi” [13, tr.79]
Với gia đình: Truyện vừa Đất quê thì ông đã khắc họa nên tình cảm ông cụ
Ngũ và thằng cháu Tộc Hình ảnh người ông kính yêu đã khắc sâu vào lòng con trẻ để đến khi sang cát, được giao việc tắm rửa cho ông, nó “lao người từ một góc
mộ đến…Con rửa á? Thằng bé kêu lên, ngơ ngác xen lẫn xúc động” [13, tr.348]
Với cộng đồng: Mỗi nhà văn, trước hết là người rất nhạy cảm với những bức
bối xã hội Một nhà văn sẽ viết được tác phẩm hay khi họ luôn giữ trong lòng mình niềm tự hào dân tộc, tự hào công dân Việt, khi họ được quyền viết về vấn
đề mình quan tâm với một tinh thần nhân bản, khi tác phẩm của họ được độc giả đón nhận một cách đồng lòng Đó cũng là điều mà nền văn học Việt Nam hiện nay vươn tới, nếm trải một niềm vui lành mạnh, được cùng hàng triệu người làm một việc nhỏ bé nhưng ngây ngất và sung sướng Điều mà nền văn học Việt Nam cần nhất hiện nay là một nguồn cảm hứng xã hội có khả năng liên kết tất cả mọi người lại với nhau Tính nhân văn sâu sắc cũng như nguồn cảm xúc, ý tưởng