1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của trung trung đỉnh

115 982 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 735,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu về tự sự học sẽ cho ta thấy kĩ thuật trần thuật của các thể loại, các nhà văn, truyền thống văn hóa và từ đó nhìn nhận các vấn đề văn học sử một cách sâu sắc hơn.Vận dụng lý thu

Trang 1

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lý Hoài Thu

HÀ NỘI, 2015

Trang 3

hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi tận tình, chu đáo, trách nhiệm trong suốt quá trình thực hiện đề tài này Cô đã cho tôi nhiều bài học quý báu về phương pháp nghiên cứu khoa học và tác phong làm việc

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Lí luận văn học, khoa Ngữ văn, phòng Sau đại học - trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện, giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã dành cho tôi sự quan tâm, giúp đỡ, sẻ chia về mọi mặt trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học

Hà Nội, ngày 10 tháng 01 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hồng Nga

Trang 4

Tôi xin cam đoan r ng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là trung thực và không tr ng lặp với các đề tài khác Tôi c ng xin cam đoan

r ng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 10 tháng 01 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hồng Nga

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Mục đích nghiên cứu 7

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

6 Những đóng góp mới của đề tài 8

7 Phương pháp nghiên cứu 8

NỘI DUNG 10

Chương 1 KHÁI LƯỢC CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA TRUNG TRUNG ĐỈNH 10

1.1 Khái lược về nghệ thuật tự sự 10

1.1.1 Sự hình thành và phát triển của tự sự học 10

1.1.2 Một số khái niệm 11

1.2 Hành trình sáng tác của Trung Trung Đỉnh 15

1.2.1 Những chặng đường chính trong cuộc đời cầm bút 15

1.2.2 Quan niệm của Trung Trung Đỉnh về sáng tác nghệ thuật 17

1.2.3 Tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới 21

Chương 2 CỐT TRUYỆN VÀ NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT

CỦA TRUNG TRUNG ĐỈNH 31

2.1 Cốt truyện 31

2.1.1 Cốt truyện tiểu thuyết 31

2.1.2 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện trong tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh 34

Trang 6

2.2.2 Các kiểu nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết

của Trung Trung Đỉnh 43

Chương 3 TỔ CHỨC KẾT CẤU VÀ NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA TRUNG TRUNG ĐỈNH 63

3.1 Tổ chức kết cấu 63

3.1.1 Kết cấu trong tiểu thuyết 63

3.1.2 Tổ chức kết cấu trong tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh 63

3.2 Nghệ thuật trần thuật 74

3.2.1 Ngôi kể và điểm nhìn 74

3.2.2 Ngôn ngữ trần thuật 84

3.2.3 Giọng điệu trần thuật 93

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tự sự học nguyên gốc vốn là một nhánh của thi pháp học hiện đại, nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề liên quan hay nói cách khác là nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật của văn bản tự sự

Nghiên cứu tự sự học đang là một xu thế tiềm năng trong lí luận văn học và ngày càng có ý nghĩa văn hóa rộng lớn Tìm hiểu về tự sự học sẽ cho

ta thấy kĩ thuật trần thuật của các thể loại, các nhà văn, truyền thống văn hóa

và từ đó nhìn nhận các vấn đề văn học sử một cách sâu sắc hơn.Vận dụng lý thuyết tự sự vào việc tiếp nhận tác phẩm văn học Việt Nam chính là hướng nghiên cứu thi pháp học hiệu quả

Tiểu thuyết là một thể loại có quy mô lớn, giữ vai trò chủ đạo trong một

nền văn học Mặc d là một thể loại luôn ở “thì hiện tại chưa hoàn kết” nhưng đây là một thể loại then chốt của văn học, có khả năng bao quát hiện thực cả

về chiều rộng c ng như chiều sâu

C ng với sự vận động của đời sống xã hội Việt Nam, tư duy văn học ngày càng mở ra những biên độ thẩm mỹ mới Quan niệm hiện thực, quan niệm về con người, về chức năng văn học thay đổi tất yếu kéo theo thay đổi nghệ thuật tự sự Tiểu thuyết là nơi hội tụ nhiều khát vọng cách tân và cho thấy khá rõ những nét mới trong nghệ thuật tự sự Đặc biệt những năm gần đây đã xuất hiện một số tiểu thuyết để lại ấn tượng mạnh cho người đọc bởi

sự khác lạ về bút pháp như báo hiệu một “tinh thần thẩm mỹ” mới Đó thực

sự là “mảnh đất” hấp dẫn mời gọi người nghiên cứu vận dụng lí thuyết về tự

sự học để giải mã tác phẩm

Từ năm 1986 đến nay văn xuôi đã có rất nhiều khởi sắc, trong đó

Trung Trung Đỉnh được xem là một trong những gương mặt khá tiêu biểu của làng tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Ông là cây bút tiểu thuyết khá mới mẻ

Trang 8

nhưng rất ấn tượng với “cộng đồng tiếp nhận” Là một nhà văn đồng thời

c ng là một người lính, bước vào chiến tranh Trung Trung Đỉnh là một người lính cầm súng đúng nghĩa, nhưng bước ra khỏi cuộc chiến ông đã là một nhà văn Chiến trường, sự sống, cái chết, những mất mát và cả niềm hạnh phúc đã

"tôi luyện" ngòi bút của ông Viết như một sự thôi thúc, một sự trả nợ những tháng năm tuổi trẻ đã qua, và c ng có lúc viết là để "tiễn biệt ngày buồn" Văn của ông luôn trĩu nặng những trăn trở về cuộc đời, về phận người, và có sức

ám ảnh kỳ lạ

Trung Trung Đỉnh quan niệm “kinh nghiệm cuộc sống rất đáng quý,

nhưng đôi khi nó cũng rất có hại cho quá trình sáng tác Với tôi, nếu viết hoàn toàn thời bình cũng không được, mà hoàn toàn về chiến tranh cũng không ổn ” Viết tiểu thuyết để thể hiện những trải nghiệm, nhà văn chân

thành bày tỏ những suy nghĩ của mình, diễn đạt nhu cầu đổi mới như một nhu cầu tất yếu của văn học Đồng thời thể hiện sự nhận thức về mình và bản thân người cầm bút và những hoài nghi về nhân cách con người Qua các tiểu thuyết, Trung Trung Đỉnh c ng đưa ra một quan niệm nghệ thuật mới về con người Bên cạnh hình tượng người lính trở về sau chiến tranh, là hình tượng những con người sống trong cơ chế mới với những thành bại, được mất, bất trắc, đổ vỡ

Trung Trung Đỉnh khởi nghiệp sự nghiệp văn chương của mình từ năm

1972 b ng truyện ngắn đầu tay Những khấc coong chung được in trên Tạp chí

Văn Nghệ quân giải phóng miền Trung Trung Bộ Từ những năm 80 Trung

Trung Đỉnh mới được biết đến nhiều hơn với các truyện ngắn Người trong

cuộc (1980) và Đêm nguyệt thực (1982)

Khi ngọn gió đổi mới vừa được thổi lên, văn đàn Việt Nam trở nên sôi

động, náo nhiệt, đôi lúc quyết liệt trong một cơn chuyển mình lột xác Trung

Trung Đỉnh mở màn sự nghiệp tiểu thuyết b ng tác phẩm Những người không

Trang 9

chịu thiệt thòi (1982), đến cuối những năm 80 đầu những năm 90 ông cho ra

đời ba tiểu thuyết: Ngược chiều cái chết (1989), Tiễn biệt những ngày buồn

(1990) và Ngõ lỗ thủng (1990) Với ba tiểu thuyết này, Trung Trung Đỉnh đã

tạo cho mình một diện mạo mới Ông cố đi vào cái lõi của sự thật, buộc mình

và độc giả của mình phải cật vấn riết róng tại sao bao lâu nay mình sống như vậy Dường như Trung Trung Đỉnh đang gõ lên một tiếng chuông báo động

và cảnh tỉnh những lỗ thủng trong tâm hồn và nhân cách mỗi người

Năm 1999, tiểu thuyết Lạc rừng ra đời Tác phẩm đã đoạt giải của Bộ

Quốc Phòng và giải chính thức của cuộc thi viết tiểu thuyết của Hội nhà văn

1998 - 2000 Trung Trung Đỉnh là người có công rất lớn với Tây Nguyên Từ

sau năm 1975 đến nay, ông là người viết về Tây Nguyên rất thành công với

Đêm nguyệt thực, Đêm trắng, Chóp trên đỉnh Kon Từng… Lạc rừng và Lính trận là những tác phẩm để đời của ông viết về mảnh đất này Đó là một phần

cuộc sống, một phần tuổi trẻ của Trung Trung Đỉnh Lạc rừng được coi là tác

phẩm thành công nhất của ông về đề tài chiến tranh và Tây Nguyên

Năm 2008 tiểu thuyết Sống khó hơn là chết được xuất bản Cuốn tiểu

thuyết là những ám ảnh quá khứ của nhà văn, là sự trăn trở day dứt và đấu tranh cho những điều tưởng dễ mà thật khó, chết là đi vào cõi vĩnh h ng, nhưng sống thì sống sao cho ra sống, sống thế nào mới thật khó

Sau đó nhà văn mang ám ảnh quá khứ Trung Trung Đỉnh tiếp tục “lên

kế hoạch” cho ra mắt tác phẩm mới Lính trận Nhà văn cho biết ông không

lấy đề tài là những thân phận day dứt còn lại sau cuộc chiến như tác phẩm trước, Lính trận sẽ là một chiến trường thật sự trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Sau mười năm chăm chút đến tháng 8 năm 2007 khi dự trại sáng

tác ở Đà Lạt, Trung Trung Đỉnh đã hoàn chỉnh tiểu thuyết Lính trận Đây có

thể coi là cuốn tiểu thuyết mang ít nhiều dấu ấn tự truyện mà nhà văn, sau những năm tháng cận kề cái chết bên những người đồng đội, đã muốn viết

Trang 10

một điều gì đó để tri ân với những người đồng chí của mình Tác phẩm được Nhà xuất bản Hội nhà văn xuất bản vào năm 2010 và c ng trong năm này tác phẩm được trao giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam

Với 7 tiểu thuyết trình làng: Những người không chịu thiệt thòi, Ngược

chiều cái chết, Tiễn biệt những ngày buồn, Ngõ Lỗ Thủng, Lạc rừng, Sống khó hơn là chết và gần đây nhất là Lính trận, Trung Trung Đỉnh đã khẳng

định được bản lĩnh và tài năng của mình - một nhà tiểu thuyết vạm vỡ Tác

phẩm của ông từng gây xôn xao dư luận như Lạc rừng, Sống khó hơn là chết,

Lính trận nhanh chóng được chuyển thể thành kịch bản tác phẩm điện ảnh và

được công chúng hân hoan đón nhận như Tiễn biệt những ngày buồn và Ngõ

Lỗ Thủng…

Xuất phát từ những căn cứ lý luận và thực tiễn đã nêu, chúng tôi lựa

chọn đề tài: Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh với

mong muốn nhận diện một hiện tượng đáng chú ý trong đời sống văn chương nước nhà những thập niên gần đây, qua đó nắm bắt con đường vận động phong phú, đa dạng các thể nghiệm cách tân của tiểu thuyết Việt Nam đương đại và b ng tất cả sự trân trọng, hứng thú, say mê của mình đối với các sáng tác của nhà văn Trung Trung Đỉnh

2 Lịch sử vấn đề

Như đã nói, Trung Trung Đỉnh là một trong những gương mặt khá tiêu biểu trong làng tiểu thuyết hiện đại Việt Nam Ông đã khẳng định được bản lĩnh và tài năng của mình ở lĩnh vực tiểu thuyết Tác phẩm của ông từng

gây xôn xao dư luận như Lạc rừng, Sống khó hơn là chết hay nhanh chóng

được chuyển thể thành kịch bản tác phẩm điện ảnh và được công chúng hân

hoan đón nhận như Tiễn biệt những ngày buồn và Ngõ Lỗ Thủng… Ở những

mức độ khác nhau, cho tới nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, bài báo viết về tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh như:

Trang 11

Võ Hồng Ngọc trong bài giới thiệu về Tiễn biệt những ngày buồn trên

Báo Văn nghệ số 15 cho r ng: “Đây là một cuốn sách về bản thân ngày hôm nay mà ở đó “chiến tranh vẫn hắt bóng xuống đời sống tinh thần của các nhân vật, vẫn là một món nợ quá khứ đang day dứt ám ảnh họ khôn nguôi Các nhân vật trong Tiễn biệt những ngày buồn được khắc họa trong bối cảnh của một cuộc “hành hương” gian lao để đi tìm lại chính mình”

Nhà văn Nguyên Ngọc nhận định: “Anh đã sáng tạo ra được một cách

viết mới về Tây Nguyên, và do đó đã khám phá lại cho ta một lần nữa cái thế giới Tây Nguyên khiêm nhường, lẩn khuất mà tuyệt đẹp ấy Trong nghệ thuật làm được một việc như vậy là rất nhiều Tiểu thuyết này của anh là một minh chứng rõ rệt”

Lưu Khánh Thơ trong bài giới thiệu tiểu thuyết Lạc rừng với nhan đề

Lạc rừng cuốn tiểu thuyết thành công của Trung Trung Đỉnh khẳng định

thành công của nhà văn trên phương diện lựa chọn đề tài và nội dung phản ánh cốt truyện, ngôi trần thuật c ng như nghệ thuật ngôn từ

Trần Bảo Hưng đã có bài viết Lạc Rừng và hình ảnh những người dân

Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ Ông cho r ng: “Với Lạc rừng

Trung Trung Đỉnh đã khắc họa một cách tự nhiên mà dung dị, sâu sắc cuộc chiến đấu toàn dân toàn diện của đồng bào Tây Nguyên ”

Nguyễn Chí Hoan trong bài viết Giống như chuyện cổ tích xa xưa mà

hiện đại c ng đánh giá cao cách xây dựng tình huống truyện, giọng điệu c ng

như cảm giác chân thật mà tác phẩm đem lại

Trên tờ Thể thao & Văn hóa, Dương Bình Nguyên cho r ng: “Sống

khó hơn là chết không phải là thành công cỡ Lạc rừng, c ng khác nhiều so

với bốn tiểu thuyết còn lại nhưng tác phẩm đi vào sự tinh giản, tưởng nhẹ

mà rất buồn, tưởng giản đơn mà không phải vậy Đó là sự tr n trọc về nhân

tình thế thái của nhà văn.”

Trang 12

Lính trận ra đời c ng khiến giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm Phạm

Phú Phong trong bài Trung Trung Đỉnh - vẫn nhớ thời Lính trận đã nhận

xét: “Thời gian kể chuyện được đan xen giữa quá khứ và hiện tại, không gian chiến trận được tái hiện thông qua điểm nhìn của người kể chuyện, nhưng tất

cả những gì gian khổ và khốc liệt nhất của chiến tranh đã hiện ra một cách

sinh động và chân thật.”

Đỗ Bích Thúy trong bài Lính trận - tự truyện hay tiểu thuyết nhận xét

“Một câu chuyện khá khó để kể lại vì nó gần như không có cốt truyện, một câu chuyện về những người lính miền Bắc vượt Trường Sơn vào Tây Nguyên, một câu chuyện về đoạn cuối của chuyến đi d ng dặc ấy - chính là trận đánh Plei me - Ia Đrăng Nhưng tất cả trở nên cuốn hút và hấp dẫn nhờ những chi tiết và giọng điệu.”

Ngoài ra, tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh đã trở thành đề tài của một số

luận văn Thạc sĩ như: Tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh (Nguyễn Thi Anh-

Trường Đại học sư phạm Hà Nội - 2009); Tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh thời

kỳ đổi mới (Phạm Thị Hồng Duyên- Trường Đại học Vinh- 2009); Đặc điểm

tiểu thuyết Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh (Nguyễn Văn Thiện- Trường Đại

học Vinh- 2010); Nhân vật trong tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh (Nguyễn

Thị Việt Hồng - Trường Đại học Sư phạm Hà Hội 2- 2013);

Nhìn chung, các ý kiến đều thống nhất trong việc ghi nhận những thành công của tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh và những đóng góp của nhà văn vào tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới Tất cả những bài báo, công trình nghiên cứu kể trên, không nhiều thì ít, không trực tiếp thì gián tiếp, đã đề cập đến vấn

đề nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh Nhưng các công trình

này chưa đặt ra vấn đề nghiên cứu nghệ thuật tự sự một cách có hệ thống Tuy vậy, những bài viết, công trình nghiên cứu ấy đều trở thành những gợi ý đáng

quý, sẽ hỗ trợ tích cực cho chúng tôi tiếp tục đi sâu vào tìm hiểu Nghệ thuật tự

Trang 13

sự trong tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh để từ đó có một cái nhìn toàn diện

hơn về tiểu thuyết của ông trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Trung Trung

Đỉnh, luận văn nh m hướng đến những mục đích sau:

- Chỉ ra những đặc điểm nổi bật về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh

- Thấy được những đóng góp mới và những nỗ lực của Trung Trung Đỉnh trong sáng tạo nghệ thuật nói chung và tiểu thuyết nói riêng

Từ đó, làm nổi bật những thành công của nhà văn trong nghệ thuật tự sự, khẳng định tài năng, phong cách và những đóng góp của Trung Trung Đỉnh đối với nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Dựa trên hệ thống lý thuyết tự sự đã được các công trình nghiên cứu chuyên biệt xây dựng, chúng tôi sẽ tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong tác phẩm văn học của Trung Trung Đỉnh, đồng thời c ng góp phần kiểm nghiệm tính khoa học của những lý thuyết đó qua những sáng tác tiêu biểu của nhà văn

Khảo sát và phân tích các tiểu thuyết tiêu biểu của Trung Trung Đỉnh, đặt chúng trong mối tương quan với một số hiện tượng văn học đương thời, trên cơ sở đó, phát hiện ra những sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh từ các phương diện: Cốt truyện và nhân vật; Tổ chức kết cấu và nghệ thuật trần thuật

5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Nghệ thuật tự sự trong tiểu

thuyết của Trung Trung Đỉnh

Trang 14

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khoảng 40 năm vừa làm báo vừa sáng tác văn học, Trung Trung Đỉnh cho ra đời một số lượng tác phẩm khá phong phú, trong đó có 5 tập

truyện ngắn, 7 tiểu thuyết và một số tập ký

Ở mỗi thể loại Trung Trung Đỉnh đều có những thành công nhất định, nhưng do yêu cầu đặt ra của đề tài, chúng tôi chỉ khảo sát năm tiểu thuyết tiêu

biểu của Trung Trung Đỉnh đó là: Tiễn biệt những ngày buồn (1990), Ngõ lỗ

thủng (1990), Lạc rừng (1999), Sống khó hơn là chết (2008), Lính trận (2010)

6 Những đóng góp mới của đề tài

Về mặt lí luận: Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh Từ đó chúng ta thấy được vai trò của nghệ thuật tự sự trong đời sống thể loại

Về thực tiễn: Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho các chuyên đề văn học Việt Nam đương đại trong nhà trường

Góp phần làm rõ cá tính sáng tạo, phong cách nghệ thuật, những đóng góp và vị trí văn học của Trung Trung Đỉnh trong dòng chảy văn xuôi hậu chiến và đương đại

7 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ khoa học của đề tài, luận văn vận dụng tổng hợp một số phương pháp nghiên cứu sau:

7.1 Phương pháp loại hình

Vận dụng những nguyên tắc loại hình học vào nghiên cứu tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh để hiểu rõ hơn tác phẩm của nhà văn c ng như khắc sâu hơn lý thuyết về loại tác phẩm tự sự

7.2 Phương pháp tiếp cận thi pháp học

Vận dụng các khái niệm, các phương pháp và các tri thức trong thi pháp học để làm rõ hơn các khái niệm liên quan đến nghệ thuật tự sự… trong một

số tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh

Trang 15

7.3 Phương pháp so sánh

Sử dụng phương pháp so sánh nh m phân biệt sự giống và khác nhau trong nghệ thuật tự sự của các tác giả nói chung và nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh nói riêng

Trang 16

NỘI DUNG Chương 1 KHÁI LƯỢC CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ

VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA TRUNG TRUNG ĐỈNH

1.1 Khái lược về nghệ thuật tự sự

Tự sự có nghĩa là: phương thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai

phương thức khác là trữ tình và kịch, được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học

Thuật ngữ “Tự sự học” do Todorov sử dụng lần đầu tiên vào năm 1969

trong sách Ngữ pháp Câu chuyện mười ngày Việc nghiên cứu hình thái tự sự

đã có từ xưa, nhưng chủ yếu vẫn n m trong phạm vi của tu từ học Thuật ngữ

tự sự học cũng có khi được dịch là trần thuật học Khi nói trần thuật học thường chỉ nói tới hành vi của người trần thuật và ngôn ngữ của anh ta Nói

là tự sự thì tính đến cả hệ thống sự kiện và tổ chức sự kiện và mặt khác bao hàm cả việc nghiên cứu các cấu trúc tự sự cụ thể hoặc lịch sử của một nền văn học hay một giai đoạn văn học nào đó

1.1.1 Sự hình thành và phát triển của tự sự học

Tự sự học nguyên gốc vốn là một nhánh của thi pháp học hiện đại, hiểu theo nghĩa rộng chính là nghiên cứu cấu trúc của một văn bản tự sự và các vấn đề liên quan hoặc nói cách khác là nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật của văn bản tự sự Dựa trên kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu về

tự sự học thì tự sự học hiện đại đến nay chia làm ba giai đoạn “Tự sự học trước chủ nghĩa cấu trúc, tự sự học cấu trúc chủ nghĩa và tự sự học hậu cấu trúc chủ nghĩa”

Tự sự học ở Việt Nam - tự sự học là ngành nghiên cứu còn khá mới ở

nước ta Cho đến nay, các nhà nghiên cứu mới bước đầu quan tâm nên các công trình về tự sự học chưa nhiều Công trình đầu tiên tập hợp các bài viết về

tự sự học ở Việt Nam là Tự sự học - những vấn đề lí luận và lịch sử (2 phần)

của tác giả Trần Đình Sử chủ biên

Trang 17

1.1.2 Một số khái niệm

1.1.2.1 Cốt truyện

Cốt truyện (Fabula, gốc Latinh, có nghĩa là tin đồn, đàm đạo, huyền thoại, cổ tích, truyền thuyết, ngụ ngôn) là phạm tr được sử dụng để xác định

đặc trưng của đối tượng thẩm mĩ ở bình diện khai triển vận động của nó, tức

là biểu đạt tiến trình sự kiện trong thế giới của nhân vật, xuất hiện trong ý

thức độc giả nhờ vào sự kể chuyện (trần thuật)

Trong các công trình nghiên cứu của các nhà hình thức luận Nga, “cốt truyện” (“fabula”) lần đầu tiên được giới thuyết rành mạch và được sử dụng

với tư cách là khái niệm có quan hệ với khái niệm “truyện kể” (“sujet”) Cốt

truyện (fabula) là nền tảng sự kiện xác thực hoặc hư cấu của tác phẩm nghệ

thuật, đồng thời, c ng như truyện kể (sujet), nó là phương thức được tác giả lựa chọn để chuyển tải câu chuyện (recit, histoire) của nhân vật Với các nhà

hình thức luận, cặp đối lập “cốt truyện (“fabula”) - truyện kể” (“sujet”) đã cụ thể hoá - ở cấp độ “cấu trúc tác phẩm thi ca” (M Bakhtin) - song để khởi thuỷ

và có ý nghĩa tối quan trọng “vật chất - thủ pháp” làm nên nền móng quan niệm về hoạt động thẩm mĩ như là “sự huỷ diệt nội dung b ng hình thức” (L

Vygotski) 1.1.2.2 Nhân vật văn học

Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn

học Nhân vật có vai trò rất quan trọng trong tác phẩm tự sự Nhân vật chính

là nơi chứa đựng nội dung phản ánh, tư tưởng, chủ đề của tác phẩm, là nơi ký thác quan niệm về con người, về nhân sinh của nhà văn Vì thế, nhân vật được dựng lên có thể không phải là con người thật nên không thể phán xét nó ở ngoài đời mà phải đặt trong mối quan hệ tình huống truyện của nhà văn Việc phân tích nhân vật trở thành con đường để đi đến giá trị hiện thực, nhân đạo của tác phẩm, để nhận ra lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn Nhân vật được coi là đứa con tinh thần của nhà văn, nên phân tích nhân vật còn để nhận ra tài năng, đặc điểm, bút pháp nghệ thuật của nhà văn

Trang 18

Nhân vật trong văn học rất phong phú: Nhân vật có tên và nhân vật không tên Trong thần thoại nhân vật có thể là thần, bán thần Trong truyện ngụ ngôn hay những truyện viết cho thiếu nhi, nhân vật thường là những con

Dựa trên những căn cứ vào cấu trúc nhân vật, chúng ta có nhân vật chức năng, nhân vật tư tưởng, nhân vật tính cách, nhân vật loại hình, nhân vật ngụ ngôn

1.1.2.3 Kết cấu

Kết cấu là sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong bố cục của tác phẩm, là sự tổ chức, sắp xếp các yếu tố, các chất liệu tạo thành nội dung của tác phẩm trên cơ sở đời sống khách quan và theo một chiều hướng tư tưởng nhất định

Kết cấu có nhiệm vụ tổ chức hệ thống các nhân vật, sự kiện, các biến

cố, hình ảnh…làm cho những yếu tố đó gắn bó chặt chẽ và tạo được sự tác động qua lại trong tác phẩm văn học Chính vì vậy, kết cấu trở thành một chính thể nghệ thuật toàn vẹn không thể chia cắt được Kết cấu đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện sự thống nhất chặt chẽ giữa chủ đề tư tưởng với hệ thống tính cách

Kết cấu của tác phẩm văn học rất đa dạng, dựa trên thể loại có thể chia thành: kết cấu tác phẩm tự sự và kịch với kết cấu tác phẩm trữ tình, có loại kết cấu chỉ tồn tại ở trong một giai đoạn lịch sử Kết cấu theo trình tự thời gian:, kết cấu tâm lý, kết cấu đa tuyến, kết cấu hai tuyến nhân vật đối lập

Trang 19

Như vậy là có nhiều loại kết cấu khác nhau được các tác giả sử dụng,

nh m mục đích làm nổi lên được chủ đề, tư tưởng, giá trị của tác phẩm Trong các tác phẩm của mình, nhà văn không chỉ sử dụng một loại kết cấu, mà có thể linh hoạt sử dụng các kết cấu, vì thế không thể nói một tác phẩm văn học chỉ có một kết cấu duy nhất

1.1.2.4 Trần thuật

Theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi đồng chủ biên thì: trần thuật (narrate) là phương diện cơ bản của phương thức tự sự, là việc giới thiệu khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của người trần thuật Trần thuật không chỉ là lời kể mà còn bao hàm cả việc miêu tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời ghi chú của tác giả… Ngôn ngữ trần thuật do vậy là nơi bộc lộ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nhà văn, bộc lộ cách lý giải cuộc sống từ cách nhìn riêng và cá tính sáng

tạo của tác giả

Trần thuật là một phương thức nghệ thuật đặc trưng của tác phẩm tự sự Trong tiểu thuyết, trần thuật tập trung vào số phận một hoặc nhiều cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó, sự trần thuật ở đây được triển khai trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách Với đặc điểm đó, trần thuật trong tiểu thuyết là một phương diện thi pháp đặc trưng của thể loại Trần thuật tồn tại với nội dung trần thuật và hình thức trần thuật

Một số khái niệm khác có liên quan đến trần thuật:

Trang 20

kể chuyện có thể mang điểm nhìn của tác giả, song tác giả không phải là trung tâm của truyện kể và không có vai trò đáng kể trong việc tổ chức truyện

Điểm nhìn và người kể chuyện trở thành hai phương diện không thể tách rời Truyện bao giờ c ng được kể từ một điểm nhìn nhất định và bởi một người kể chuyện nào đó Pospelov khẳng định vai trò quan trọng của điểm nhìn trong tác phẩm tự sự: “Trong tác phẩm tự sự, điều quan trọng là tương quan giữa các nhân vật với chủ thể trần thuật, hay nói cách khác, điểm nhìn của người trần thuật đối với những gì mà anh ta miêu tả”

Ngôn ngữ

Ngôn ngữ tự sự là nơi bộc lộ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nhà văn, thể hiện quan điểm của tác giả hay quan điểm của người kể chuyện đối với cuộc sống được miêu tả

Ngôn ngữ tự sự có những nguyên tắc thống nhất trong việc lựa chọn các phương tiện tạo hình và biểu hiện ngôn ngữ để thể hiện cảm xúc, quan điểm của tác giả Ngôn ngữ tự sự là yếu tố cơ bản thể hiện phong cách nhà văn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tính của tác giả

Ngôn ngữ tự sự mang tính chính xác, cá thể hóa Mỗi câu, mỗi chữ trong tác phẩm có thể chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa, nhiều cách giải thích Nhưng mỗi từ lại phải mang tính chính xác và cá thể hóa Ngôn ngữ tự sự còn

là ngôn ngữ đa thanh vì đặc trưng của ngôn ngữ văn xuôi là sự tác động qua lại rất phức tạp giữa tiếng nói tác giả, người kể chuyện và nhân vật, giữa ngôn ngữ miêu tả và ngôn ngữ được miêu tả

Giọng điệu

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, giọng điệu là: “thái độ, tình cảm, lập

trường, đạo đức của nhà văn với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, d ng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ

xa gần, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm…”

Trang 21

Giọng điệu góp phần tạo nên phong cách nhà văn và có tác dụng truyền cảm cho người đọc Nhà văn Tsêkhôp đã nhận định r ng: “Nếu tác giả nào đó không có lối nói riêng của mình thì người đó không bao giờ là nhà văn cả”

Nói tóm lại, giọng điệu có rất nhiều sắc thái, mỗi giọng điệu mang lại giá trị khác nhau nh m phục vụ tốt nhất cho mục đích, ý đồ của tác giả khi xây dựng tác phẩm

1.2 Hành trình sáng tác của Trung Trung Đỉnh

1.2.1 Những chặng đường chính trong cuộc đời cầm bút

Nhà văn Trung Trung Đỉnh tên thật là Phạm Trung Đỉnh, sinh ngày 21 tháng 9 năm 1949, tại xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng Hiện ông đang sống và làm việc tại Hà Nội Trung Trung Đỉnh xuất thân trong một gia đình nông dân, học hết phổ thông thì đi bộ đội, nhiều năm hoạt động ở chiến trường Tây Nguyên thời chống Mỹ cứu nước nên vốn sống về v ng đất này của ông rất phong phú Ngoài viết văn, ông còn làm thơ, viết kịch bản phim Trung Trung Đỉnh khởi nghiệp sự nghiệp văn chương của mình vào năm

1972 b ng truyện ngắn đầu tay Những khấc coong chung được in trên Tạp chí

Văn Nghệ quân giải phóng miền Trung Trung Bộ Nhưng phải từ những năm

80 Trung Trung Đỉnh mới được biết đến nhiều hơn với các truyện ngắn

Người trong cuộc (1980) và Đêm nguyệt thực (1982)

Khi ngọn gió đổi mới vừa thổi lên trong nước, văn đàn Việt Nam đã trở nên sôi động hơn, náo nhiệt hơn, đôi lúc quyết liệt trong một cơn chuyển

mình lột xác Trung Trung Đỉnh mở màn sự nghiệp tiểu thuyết b ng tác phẩm

Những người không chịu thiệt thòi (1982), đến cuối những năm 80 đầu những

năm 90 ông cho ra đời ba tiểu thuyết: Ngược chiều cái chết (1989), Tiễn biệt

những ngày buồn (1990) và Ngõ lỗ thủng (1990) Với ba tiểu thuyết này,

Trung Trung Đỉnh đã tạo cho mình một diện mạo mới Ông cố đi vào cái lõi của sự thật, buộc mình và độc giả của mình phải cật vấn riết róng tại sao bao

Trang 22

lâu nay mình sống như vậy Dường như Trung Trung Đỉnh đang gõ lên một tiếng chuông báo động và cảnh tỉnh những lỗ thủng trong tâm hồn và nhân cách mỗi người

Năm 1999, tiểu thuyết Lạc rừng ra đời Tác phẩm đã đoạt giải của Bộ

Quốc Phòng và giải chính thức của cuộc thi viết tiểu thuyết của Hội nhà văn

1998 - 2000 Trung Trung Đỉnh là người có công rất lớn với Tây Nguyên Từ

sau năm 1975 đến nay, ông là người viết về Tây Nguyên rất thành công với

Đêm nguyệt thực, Đêm trắng, Chóp trên đỉnh Kon Từng… Lạc rừng và Lính trận là những tác phẩm để đời của ông viết về mảnh đất này Đó là một phần

cuộc sống, một phần tuổi trẻ của Trung Trung Đỉnh Lạc rừng được coi là tác

phẩm thành công nhất của ông về đề tài chiến tranh và Tây Nguyên

Năm 2008 Trung Trung Đỉnh xuất bản cuốn tiểu thuyết Sống khó hơn là

chết Cuốn tiểu thuyết chưa đầy 200 trang là những ám ảnh quá khứ của nhà

văn, là sự trăn trở day dứt và đấu tranh cho những điều tưởng dễ mà thật khó, chết là đi vào cõi vĩnh h ng, nhưng sống thì sống sao cho ra sống, sống thế nào mới khó lắm thay

Sau tiểu thuyết Sống khó hơn là chết, nhà văn mang “ám ảnh quá khứ” Trung Trung Đỉnh tiếp tục “lên kế hoạch” cho ra mắt tác phẩm mới Lính trận

Nhà văn cho biết ông không lấy đề tài là những thân phận day dứt còn lại sau

cuộc chiến như tác phẩm trước, Lính trận sẽ là một chiến trường thật sự trong

thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Sau mười năm chăm chút đến tháng 8 năm

2007 khi dự trại sáng tác ở Đà Lạt, nhà văn Trung Trung Đỉnh đã hoàn chỉnh

tiểu thuyết Lính trận Đây có thế coi là cuốn tự truyện mà nhà văn Trung

Trung Đỉnh, sau những năm tháng cận kề cái chết bên những người đồng đội,

đã muốn viết một điều gì đó để tri ân với những người đồng chí của mình Tác phẩm được Nhà xuất bản Văn học xuất bản vào năm 2010 và c ng trong năm này tác phẩm được trao giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam Đến năm

2012 tác phẩm được trao giải thưởng Đông Nam Á

Trang 23

1.2.2 Quan niệm của Trung Trung Đỉnh về sáng tác nghệ thuật

Trung Trung Đỉnh có quan niệm: Kinh nghiệm cuộc sống rất đáng quý,

nhưng đôi khi nó cũng rất có hại cho quá trình sáng tác Với tôi, nếu viết hoàn toàn thòi bình cũng không được, mà hoàn toàn về chiến tranh cũng không ổn Với một giọng văn thâm trầm, giàu chất triết lý, Trung Trung Đỉnh

đưa lại cho người đọc những dư vị khá đặc biệt “Đọc văn anh có “lối đi riêng” của mình: không “thời thượng”, không ồn ào, lặng lẽ cày xới trên những điều mình cảm, mình nghĩ” (Phạm Xuân Nguyên) Chính vì vậy cho nên “chung quanh tác phẩm của anh chưa bao giờ có sự tranh cãi ồn ào (theo

cả nghĩa hay và dở của nó) Nhưng cái được và chưa được ở ngòi bút của anh

tự thân đến với người đọc theo cách cảm nhận của mỗi người”

Viết tiểu thuyết để thể hiện những trải nghiệm, nhà văn chân thành bày

tỏ những suy nghĩ của mình, diễn đạt nhu cầu đổi mới như một nhu cầu tất yếu của văn học Đồng thời thể hiện sự nhận thức về mình và bản thân người cầm bút và những hoài nghi về nhân cách con người Đi kèm với sự hoài nghi

là một cấu trúc trần thuật mở Chính vì vậy cho nên, tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh thời kỳ đổi mới có sự phong phú về cấp độ và hình thức đối thoại

Qua các tiểu thuyết, Trung Trung Đỉnh c ng đưa ra một quan niệm nghệ thuật mới về con người Quan niệm nghệ thuật về con người được xem là

toàn bộ cái nhìn và sự miêu tả về con người bằng các biện pháp nghệ thuật

Trong quan niệm nghệ thuật có cái chung của thời đại, của dân tộc và của cả nền văn hóa, song lại có vai trò năng động sáng tạo của mỗi cá nhân người nghệ sĩ Ở các nhà văn, sự hình thành quan niệm nghệ thuật có một vai trò đặc biệt quan trọng trong cá tính sáng tạo, thế giới quan và tư tưởng nghệ thuật của nhà văn

Với mỗi nhà văn có quá trình sáng tác trải dài qua nhiều giai đoạn thì quan niệm nghệ thuật về con người c ng có nhiều biến đổi Quá trình này

Trang 24

diễn ra từ từ, thấm dần, ngấm dần trong tư tưởng, suy nghĩ và được thể hiện trên nhiều trang viết Quan niệm nghệ thuật về con người luôn hướng con người trong mọi chiều sâu của nó, cho nên đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất

để đánh giá giá trị nhân văn vốn có của văn học

Sáng tác của Trung Trung Đỉnh tập trung hầu hết từ sau đổi mới, nên tư duy sáng tạo của nhà văn đã có những thay đổi nhất là ở phương diện quan niệm nghệ thuật về con người Bên cạnh nhân vật người lính đã quá quen thuộc trong tác phẩm của ông thì những số phận con người thành bại, được mất, bất trắc, đổ vỡ trong cuộc sống đời thường, những tâm trạng gi ng xé, những khắc khoải nội tâm, những xung đột trong tư tưởng, nhận thức và tâm hồn, kể cả bi kịch nỗi đau mất mát cô đơn, tâm linh tiềm thức với tư cách là một con người

cá thể là những v ng đất mà Trung Trung Đỉnh tập trung thể hiện

1.2.2.1 Con người đa diện

Có lẽ xuất thân từ một người lính và trưởng thành trong chiến tranh nên hầu như tác phẩm nào của Trung Trung Đỉnh c ng có nhân vật người lính Chỉ có điều người lính chiến thắng, người anh h ng vẹn toàn của văn học trước đây giờ đã thay đổi Bây giờ người lính c ng chỉ là con người bình thường, thậm chí kém cỏi hơn người thường vì đã để lại phần tuổi trẻ ở chiến trường, đã chưa kịp học lấy một nghề thực sự ngoài việc cầm súng Và gay go hơn là họ đã quen với những chuẩn mực ứng xử trong thời chiến, chưa hề và không thể thích nghi ngay với cái thực tại phức tạp, gai góc nhiều cạm bẫy, với những con người tưởng quen thân mà đa đoan, đa sự Khi hiện thực không đơn giản xuôi chiều như trước thì quan niệm về con người c ng đa chiều và phức tạp hơn Do đó nhân vật người lính được khám phá, thể hiện toàn diện hơn với cả hai phần sáng và tối, cao cả và thấp hèn, mạnh mẽ và nhỏ bé

Nhân vật người lính trong cái nhìn thế sự đã được khám phá từ nhiều khía cạnh mới Sau năm 1975, từ một quan niệm phi sử thi, từ một cái nhìn đa

Trang 25

chiều về hiện thực, nhân vật người lính không còn được thể hiện với tinh thần lãng mạn, nguyên phiến như trước Cái nhìn phi sử thi đã đặt người lính trong mối quan hệ đa chiều với hiện thực để từ đó hiện ra những vấn đề mới nảy sinh từ cuộc sống

Không chỉ viết về những người lính trở về sau chiến tranh, tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh thời kỳ đổi mới còn đào xới biết bao vấn đề phức tạp của hiện thực Đó là những số phận bi kịch, là khát vọng vươn lên, là những lầm lẫn, những băn khoăn trăn trở về trạng thái sống của con người, những lỗ thủng về nhân cách mà không phải một sớm một chiều có thể hàn gắn được Con người là tổng hòa của những mối quan hệ xã hội Con người luôn phức tạp, lưỡng diện và không nhất quán Vì thế không thể d ng một tiêu chí giá trị cố định để đo đếm được Mọi sự lý tưởng hóa sẽ trở nên giả dối Văn xuôi sau năm 1975 đã đi đúng hướng trong việc khai thác và thể hiện số phận con người cá nhân Không hề lý tưởng hóa con người, Trung Trung Đỉnh đã cho ta thấy sự phức tạp, đa chiều của con người với cái nhìn ở nhiều tọa độ và chiều kích khác nhau

1.2.2.2 Con người từ chiều sâu tâm linh

Sau năm 1975, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới Những quy luật thời bình sớm muộn sẽ chi phối văn học Sự thức tỉnh ý thức cá nhân diễn ra mạnh

mẽ đòi hỏi phải nhìn nhận lại nhiều điều Diễn đạt điều này, văn xuôi sau năm

1975 vừa đề cao kinh nghiệm cá nhân, vừa mong muốn đối thoại với quan niệm còn giản đơn, phiến diện, chủ quan duy ý chí của văn xuôi thời kỳ trước “Con người là sản phẩm của tự nhiên” Con người hành động có khi theo ý thức, của lý trí tỉnh táo, có khi lại bị chi phối của tiếng nói tâm linh, của vô thức bản năng Rất khó để định tính hay định lượng cho con người mà không làm tổn thương đến bản chất người của nó

Con người trong tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh được khám phá ở nhiều bình diện, không chỉ là con người được ý thức ở bình diện xã hội mà còn

Trang 26

được ý thức ở bình diện tâm linh Từ cách nhìn con người qua quan hệ một chiều với lịch sử, con người đã được nhìn trong nhiều mối quan hệ nhiều chiều với xã hội, với tự nhiên, với con người và với chính mình Trước đây với cảm hứng sử thi, văn học chủ yếu quan tâm đến con người với vai trò xã hội trong tư cách là động lực cách mạng Giờ đây vẫn là những con người xã hội song hiện thực xã hội đã thay đổi, đa chiều và chưa hoàn kết Khoa học ngày càng phát triển, nhu cầu khám phá về con người ngày càng lớn Và trong hành trình tự tìm hiểu, khám phá bản thân dường như con người chưa bao giờ dừng lại

Với Trung Trung Đỉnh, trước sau ông c ng không thoát nổi cuộc chiến tranh, viết gì rồi c ng quay về cái đó Đó là nỗi ám ảnh lớn nhất trong đời ông Bởi toàn bộ tuổi trẻ của ông đã n m lại nơi chiến trường Các nhân vật của ông dường như lúc nào c ng sống b ng nhiều chiều của thời gian: hư - thực, quá khứ - hiện tại - tương lai Thường thì khi con người rơi vào trạng thái khủng hoảng về niềm tin hay ý thức được về điều ác, nó sẽ bắt gặp tiếng nói của tâm linh Con người luôn sống với hiện tại nhưng quá khứ c ng là một phần cuộc sống không thể tách rời Nhân vật đồng tiền và nhà văn trong hành trình đi khám phá lòng tốt của con người, đi đến tận c ng của những số phận mà vẫn không thể lý giải nổi, để rồi cuối c ng của cuộc hành trình ấy họ lại quay về với quá khứ như một bản năng vô thức

Sức mạnh tâm linh có khi có tác dụng làm thanh lọc tâm hồn con người, làm cho nó đẹp đẽ hơn, cao quý hơn Chính những nhân vật trong tiểu tuyết Trung Trung Đỉnh mỗi khi bế tắc, hụt hẫng, tuyệt vọng, đều tìm về với ký ức của một thời oanh liệt Ở đó họ thấy nhẹ nhõm, an bình, tĩnh lặng và có dịp để chiêm nghiệm về bản thân và cuộc đời Điều đó giúp họ có thêm sức mạnh cho cuộc sống hiện tại nhiều cám dỗ, để giữ mình đừng trượt Phát hiện bình diện con người ở bên kia bờ lý tính, con người vô thức, tâm linh là một thành tựu và

Trang 27

đóng góp rất quan trọng của văn học sau năm 1975 trong nỗ lực đổi mới và cách tân của nhà văn

1.2.3 Tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới

1.2.3.1.Một vài nét về tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới

Thời kỳ đổi mới mở ra một không gian sáng tác mới cho tiểu thuyết

Cơ chế mở cửa của nền kinh tế thị trường đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của báo chí, in ấn, xuất bản, truyền thông, quảng cáo, giới thiệu tác phẩm tạo điều kiện cho tiểu thuyết phát triển Sự hội nhập và giao lưu văn hóa với các nước trên thế giới đem lại điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu và

xử lý nguồn thông tin khổng lồ trên toàn cầu Internet bắt đầu phát triển làm giảm dần khoảng cách con người với tri thức, giúp con người tiếp nhận tri thức một cách dễ dàng, nhanh chóng, thuận lợi Công tác dịch thuật phát triển góp phần đưa lại cho công chúng những tác phẩm văn xuôi có giá trị của tinh hoa văn học thế giới

Phê bình văn học phát triển và nhanh chóng trưởng thành Những điều kiện thuận lợi đó đã đem lại một chất lượng mới trong công tác thẩm định, đánh giá văn học, đã có tác dụng tích cực vào sự định hướng tiếp nhận của độc giả c ng như thúc đẩy quá trình sáng tác của nhà văn

Văn chương được các nhà văn nhìn nhận linh hoạt, với nhiều quan niệm “Văn chương sẽ sống cái sức sống tự nhiên của nó Nhưng như tất cả mọi việc trên đời này, văn chương c ng có giới hạn, có sự sáng lên, có sự mất

đi, có cái cao cả và c ng có cái bình thường” (Lê Minh Khuê) Từ hệ quả đó nảy sinh một hiện thực mới: văn chương thực sự đã gây ra những phản ứng bên trong và làm thay đổi con người nhà văn Mỗi nhà văn dần dần xác lập một quan điểm rõ ràng về nghề nghiệp của mình Văn chương d ng để “suy ngẫm hiện thực” (Lê Ngọc Trà); “Cần phải tạo ra cái nhìn mới về thế giới và

Trang 28

mở mang tầm nhãn quan cho nhân loại”(Lê Đạt); “Tôi không thích những lối mòn” (Võ Thi Hảo); “Nhiệm vụ của nhà văn do đó không phải nói ra chân lý

mà là thức tỉnh ý hướng về chân lý hoặc chí ít c ng là thức tỉnh về tình cảm,

về phẩm giá con người trong họ Văn học thể hiện tinh thần nhân đạo không chỉ b ng sự xót thương, cảm phục, biểu dương con người mà có thể b ng cả

sự quở trách phê phán” (Đặng Anh Đào)

Sự trở lại đời thường với những số phận riêng là chủ đề chính của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới Đó là một sự tất yếu “và được đánh giá như đã có một

hoạt động đổi mới” Với: Đứng trước biển, Cù lao tràm (Nguyễn Minh Tuấn); Mùa lá rụng trong vườn( Ma văn Kháng), Thời xa vắng (Lê Lựu); Sao

đổi ngôi (Chu Văn); Chim én bay (Nguyễn Trí Huân) cuộc đời, con người,

xã hội được miêu tả chân thực hơn, không phải chỉ có hạnh phúc, chiến thắng

mà còn có thất bại, rủi ro, đau khổ Nỗi đau, sự mất mát, được thừa nhận “như những phạm tr của văn học không sợ bị bài bác hay gán ghép về quan điểm lập trường” Và “sự tìm đến con người, đến đời thường đã làm thăng b ng nền văn học nhiều năm qua thiên về cái vĩ đại cái chung”

Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới phơi bày những mặt trái còn bị che khuất,

lên án những tư tưởng và thói quen đã lỗi thời Thời xa vắng của Lê Lựu là

tác phẩm mở đầu cho khuynh hướng này Tiếp đó là hàng loạt tiểu thuyết

xuất hiện như: Bến không chồng của Dương Hướng, Đám cưới không có giấy

giá thú của Ma Văn Kháng, Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh Vấn đề

nhận thức lại chiến tranh c ng được đặt ra với bao bi kịch xót xa, dai dẳng

với Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam của Nguyễn Minh Châu, Ăn mày dĩ

vãng của Chu Lai, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh

Tiểu thuyết thời kỳ tiền đổi mới đi sâu vào cuộc sống thế sự đời tư với khuynh hướng đấu tranh phê phán xã hội, nhận thức lại quá khứ với một cái nhìn khách quan, thành thực hơn Từ cuối những năm 90, văn học cơ bản trở

Trang 29

lại quy luật bình thường, đồng thời có ý thức hơn về nhu cầu đổi mới hình thức nghệ thuật và phương thức thể hiện

Đổi mới cái nhìn hiện thực về con người

Sự đổi mới quan niệm về cuộc sống, con người làm cho văn học dần dần thoát ra khỏi khuôn khổ của văn học viết theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn cách mạng Cuộc sống của con người với tất cả những gì phức tạp nhất là yêu cầu phản ánh của giai đoạn này

Văn học thời kỳ đổi mới phải đáp ứng nhu cầu tiếp nhận và thưởng thức văn học ngày càng cao của độc giả Đồng thời phải phản ánh được những biến động, những tồn tại, những khuất tất, những bí ẩn đ ng sau tấm rèm của cuộc sống, ở đó xuất hiện nhiều con người bản năng, con người cá nhân với những thẩm định và suy xét lại giá trị và vị trí của mình trong xã hội Mỗi con người, mỗi cá nhân là một tiểu v trụ bí ẩn sau cái vỏ lốt của diện mạo Và các tiểu v trụ đó đòi hỏi phải có một sự tự do dân chủ nhất định, điều này song hành c ng sự vận động và phát triển của thời đại Ph hợp với điều đó là con ngưòi được soi ngắm từ nhiều chiều, nhiều góc cạnh

Số phận con người trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà văn Nhiều cuốn tiểu thuyết đã hướng tới miêu tả số phận của những con người bình thường với những bi kịch cá nhân Đó là bi kịch giữa khát vọng và thực trạng, giữa cái muốn vươn lên và cái kìm hãm, giữa thanh lọc và tha hóa, giữa nhân bản và phi nhân bản Ở đây, số phận cá nhân được giải quyết tương đối thỏa đáng trong mối liên hệ mật thiết với cộng đồng, xã hội Các tiểu thuyết gia đã nhìn nhận con người như một cá thể bình thường trong môi trường đời sống bình thường

Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới không chỉ đi sâu vào số phận con người mà còn đề cập đến khát vọng sống, hạnh phúc cá nhân, tình yêu đôi lứa Các nhà văn khai thác con ngưòi tự nhiên trước nhu cầu của hạnh phúc đời thường

Trang 30

Trong nhiều cuốn tiểu thuyết, các nhà văn không ngại miêu tả sắc dục, tình yêu nhục thể, góp phần đưa lại cái nhìn nhân bản hơn về con người

Con người trong tiểu thuyết thời kỳ đổi mới được nhìn nhận trong cái nhìn đa diện, phức tạp, sâu sắc, khác với cái nhìn “đơn phiến”, tĩnh tại trước đây Để nhận diện hình ảnh con người đích thực, các nhà tiểu thuyết thời kỳ đổi mới đã đi sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật để khám phá chiều sâu tâm linh nhân vật Thế giói siêu thực đ ng sau thế giói thực được mở rộng trong không gian tiểu thuyết Đó là thế giới của tâm linh, vô thức, tiềm thức, giấc mơ Và trong thế giới này, con người trần thế hiện lên sinh động với tất

cả chất người tự nhiên của nó: ánh sáng và bóng tối, cao cả và thấp hèn, ý

thức và vô thức Con người “bao hàm cả con ngưòi tự nhiên và xã hội Sự

tìm hiểu hai con người đó, lý giải quan hệ giữa chúng là nhiệm vụ hàng đầu của văn học” (Nguyễn Huy Thiệp)

Đổi mới về thi pháp thể loại

Khi mô hình tiểu thuyết c không còn hữu hiệu trong việc minh giải các mâu thuẫn trong cuộc sống đương đại, yêu cầu đổi mới hình thức nghệ thuật tiểu thuyết được đặt lên hàng đầu Mỗi cuốn tiểu thuyết phải chọn hình thức đặc th cho mình, mỗi câu chuyện có thể tìm kiếm - và tìm thấy - cơ thể thích hợp của nó

Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới phá vỡ đặc điểm “tính cách lớn” của tiểu thuyết truyền thống Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới viết tự do hơn, gần g i hơn, đời thường hơn, quy mô vì thế mà nhỏ bé đi Chính điều này đã thúc đẩy sự

ra đời của loại tiểu thuyết có dung lượng ngắn, có số nhân vật, sự kiện ít, cốt truyện lỏng lẻo, nhiều khi không tóm tắt được

Tiểu thuyết ngắn là sự phá cách so với tiểu thuyết sử thi truyền thống Thể loại này biểu hiện nỗ lực tìm tòi, đổi mới nghệ thuật của các nhà văn đương đại và “minh chứng cho một quan niệm về tính toàn thể của thế giói

Trang 31

chỉ có thể được biểu hiện và nhìn nhận ra trong phân mảnh của thực tại và tham vọng miêu tả toàn bộ hoặc phần lớn thế giới trong một tác phẩm tiểu thuyết là siêu hình và trên thực tế là không thể đạt được” Qua các trang viết, các nhà văn gửi đến cho thế giới những thông điệp về cuộc sống vốn đĩ bấp bênh, phức tạp đang chuyển động dưới nhiều vỉa tầng và những mối quan hệ phức tạp Đồng thời thể hiện một cách nhìn mới mẻ về cuộc đời, con người sống trong thế giới hỗn mang đó Có rất nhiều tiểu thuyết ngắn tiêu biểu, có

thể kể đến Thiên sứ (Phạm Thi Hoài), Trí nhớ suy tàn, Thoạt kỳ thủy (Nguyễn Bình Phương), Đi tìm nhân vật, Lão Khổ, Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh),

Thời của những tiên tri giả (Nguyễn Viện)

Sự xuất hiện loại tiểu thuyết ngắn đánh dấu những đổi mới về kết cấu tiểu thuyết Sự lắp ghép thời gian, đặc biệt là thời gian tâm lý làm cho cấu trúc tác phẩm chỉ là những mảnh ghép “đóng” hay “mở”, “đơn” hoặc “kép” hoặc “lồng” Cấu trúc của tiểu thuyết là sự pha trộn nhanh chóng, hỗn độn và chuyển đổi đột ngột nhờ các pha đảo lộn có sử dụng kỹ xảo của nhiếp ảnh và điện ảnh Cấu trúc phân mảnh là kiểu cấu trúc chủ yếu trong tiểu thuyết thời

kỳ đổi mới Với phương pháp chia các tác phẩm ra thành các phân đoạn không đều nhau, kết hợp với việc sử dụng nhiều thể loại, nhiều kiểu tự sự trong tác phẩm tạo nên tính đa thanh phức điệu Mỗi chương của tiểu thuyết

là một mạch đoạn được triển khai b ng ý thức của người kể chuyện, tạo ra kiểu cấu trúc lắp ghép xáo trộn về không gian và thời gian Mạch văn bản của tác phẩm bố trí theo phương thức phi tuyến tính, phi nhân quả làm cho tác phẩm biến hóa linh hoạt Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới một mặt vẫn kế thừa và phát triển những đặc trưng của cốt truyện truyền thống, mặt khác đã tiếp cận với tiểu thuyết hiện đại thế giới ở những nét tiêu biểu Nghệ thuật đồng hiện,

kỹ thuật độc thoại nội tâm, dòng ý thức, lắp ghép, sử dựng huyền thoại, nghệ thuật gián cách, đa giọng điệu là những yếu tố khiến cho cốt truyện không

Trang 32

biến mất mà co giãn theo cấu trúc của từng tác phẩm cụ thể Mỗi chủ thể nhà văn có thể sáng tạo ra nó b ng nhiều hình thức, kiểu dạng để thể hiện ý đổ nghệ thuật một cách có hiệu quả Sự tan rã của các cốt truyện trong tác phẩm

tự sự thông qua cấu trúc lắp ghép, chắp nối từ những mảnh vụn hiện thực làm thay đổi cảm quan của nhà văn về cuộc đời Bên cạnh đó tiểu thuyết không tạo ra những tình huống kịch hoặc lối kể chuyện có trước có sau, các yếu tố

sự kiện, tình tiết nhân vật được triển khai theo sự vận động của cảm xúc, suy nghĩ Chính vì thế, tiểu thuyết vừa là tiếng nói của ý thức, vừa là tiếng nói của tiềm thức, của giấc mơ, thể hiện cái hiện tại đang vận động, biến chuyển, không khép kín

Sự xâm nhập các thể loại khác vào tiểu thuyết là một nhân tố làm co giãn cốt truyện Tiểu thuyết có thể chứa trong chính nó hình thức nhật ký, chuyện kể, thơ, thư từ, huyền thoại, điển cố, điển tích Những hình thức văn bản trong văn bản này góp phần tạo thành tiếng nói khác nhau trong tiểu thuyết, nới rộng cấu trúc thể loại, mở rộng trường nhìn

Cấu trúc tiểu thuyết theo kiểu luận đề và xu hướng kết thúc mở c ng góp phần làm thay đổi diện mạo tiểu thuyết thời kỳ đổi mới Mỗi tác phẩm là một mô hình động của một chuỗi bất đối xứng gồm nhiều tuyến, nhiều chiều kích với nhiều lối vào nhưng lại không có một trục giữa hay một trung tâm;

nó giống như một cơ thể sống để mở, liên tục lớn lên, liên tục phập phồng rung động, sự trương nở các lối vào ươm mầm cho sự nhân bội nghĩa; nó là

sự liên hệ thẳng hàng với chính mình, nhưng đồng thời c ng với những gì bên ngoài nó Xu hướng kết thúc mở đem lại sự đồng sáng tạo cho người đọc Lối kết cấu này được xem như “là một sự khước từ việc chọn một quan điểm mang tính ý thức hệ của nhà văn đương đại”

Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới đã phát huy được khả năng tiếp cận và

Trang 33

phản ánh hiện thực qua những quan niệm nghệ thuật mới về con người Con người với tất cả các mối quan hệ, ứng xử, thân phận, và cuộc đời của nó là đối tượng c ng là đặc trưng cơ bản của thể loại Các nhà tiểu thuyết xây dựng tác phẩm theo dòng tâm trạng nhân vật, bao gồm cả ý thức lẫn vô thức, sáng tạo dựa trên trực giác, linh cảm để ngòi bút phiêu lưu trong thế giới tâm linh con người

Trong tiểu thuyết thời kỳ đổi mới, nhân vật rất đa dạng, có loại nhân vật bi kịch, nhân vật tự nhận thức, nhân vật bị tha hóa, nhân vật tìm kiếm…Thế giới nội tâm là mối quan tâm hàng đầu của các nhà văn Thế giới nội tâm thường được phức điệu hóa qua thủ pháp đồng hiện và kỹ thuật dòng

ý thức Nhân vật được đặt trong vô vàn mối quan hệ phức tạp giữa cá nhân với cộng đồng; cá nhân với hôn nhân, gia đình; cá nhân trong tương quan với chính mình

Sự trần thuật từ nhiều điểm nhìn đã tạo nên tính phức điệu cho tiểu thuyết thời kỳ đổi mái Nhà văn chuyển dịch điểm nhìn vào nhân vật để nhân vật tự phát biểu quan điểm, thái độ, c ng đối thoại, c ng phát ngôn tạo ra nhiều tiếng nói khác nhau trong tác phẩm, đồng thời giúp cho nhà văn có điều kiện khám phá cuộc sống từ nhiều góc độ Trần thuật với: điểm nhìn bên trong, điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn của người trần thuật, điểm nhìn của nhân vật… Chính điều này đã góp phần vào việc phá vỡ cái nhìn biết trước nội dung tác phẩm, đưa ra khả năng đồng sáng tạo ở tác giả c ng như tạo ra những bất ngờ thú vị cho người thưởng thức, tiếp nhận tác phẩm

1.2.3.2 Tiểu thuyết của nhà văn Trung Trung Đỉnh

Trung Trung Đỉnh thuộc vào thế hệ nhà văn trưởng thành từ sau 1975

và trở nên quen thuộc trên văn đàn hơn 10 năm trở lại đây Là người con của

v ng đất Vĩnh Bảo (Hải Phòng), ông nổi tiếng đi nhiều, viết nhiều và gắn bó sâu sắc với đồng bào Tây Nguyên

Trang 34

Sự nghiệp văn học của Trung Trung Đỉnh được khẳng định với 5 truyện ngắn, 5 cuốn tiểu thuyết đã được xuất bản trong đó cuốn tiểu thuyết

Lạc rừng đạt liền hai giải: một của Bộ Quốc phòng và giải A cuộc thi tiểu

thuyết của hội nhà văn Việt Nam (1998-2000) Năm 2007, Trung Trung Đỉnh

là một trong những nhà văn được vinh dự nhận giải thưởng nhà nước Hai

tiểu thuyết Ngõ lỗ thủng và Tiễn biệt những ngày buồn của ông năm 2008

được Trung tâm sản xuất phim truyền hình - Đài truyền hình Việt Nam

chuyển thể thành phim Ngõ lỗ thủng (29 tập), đã công chiếu trên kênh VTV1

và nhận được sự hoan nghênh của công chúng

Các tiểu thuyết đã xuất bản của Trung Trung Đỉnh gồm có: Ngược

Cảm hứng nổi bật trong sáng tác Trung Trung Đỉnh

Với sự mở rộng biên độ sáng tạo, Trung Trung Đỉnh đã bao quát được hệ đề tài tương đối rộng, mang tính thời sự Tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh thường được triển khai theo hướng đi từ cuộc đời thực, rồi ngược chiều thời gian tìm về những tháng ngày xưa, trong đó có những tháng ngày gian khổ của cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước Viết về chiến tranh,

cụ thể là mảng hiện thực ở Tây Nguyên và cuộc sống đời thường là hai nguồn cảm hứng sáng tạo nổi bật trong tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh Trong những trang viết của nhà văn, hiện tại và quá khứ luôn hiện hữu sinh động, giàu ý nghĩa nhân sinh

Điều dễ dàng nhận thấy trong tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh là những chiêm nghiệm, suy tư Đọc tiểu thuyết của ông đôi lúc ta thấy mình như bị lẫn quất trong những suy tưởng về quá khứ - cái quá khứ tràn đầy sức sống thanh xuân của ông c ng như các đồng đội - những con ngưòi ý thức được cái giá phải trả của mình trong chiến tranh giữ nước Ta c ng dễ dàng nhận ra bóng

Trang 35

dáng của làng Sưa quê hương ông qua những hồi ức và hoài niệm với những mảnh đời đang trôi chảy theo dòng thời gian, đầy ắp những kỷ niệm thời thơ

ấu “Toàn bộ những tác phẩm của tôi chủ yếu viết b ng ký ức, hư cấu từ kí

ức Những ký ức Tây Nguyên và cả những ký ức tuổi thơ ở quê hương”

Bên cạnh đó, ngòi bút Trung Trung Đỉnh c ng không ngần ngại tái hiện thực trạng xã hội trong giai đoạn giao thời chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường Trong đó có những con người đã kịp thích nghi với thời cuộc

và c ng có những con người dường như bị loại ra khỏi cuộc đời với mặc cảm

“lạc thời”

Cảm hứng về cuộc sống đô thị thời hậu chiến

Viết về đô thị thời hậu chiến là cảm hứng chủ đạo trong các sáng tác

của Trung Trung Đỉnh Ngõ lỗ thủng và Tiễn biệt những ngày buồn là hai

cuốn tiểu thuyết thể hiện rất rõ điều này Qua hai tiểu thuyết, Trung Trung Đỉnh đã khái quát không khí của đô thị thời hậu chiến và những mâu thuẫn nảy sinh trong thời kỳ đổi mới với ngổn ngang những bi hài Những thay đổi của xã hội trong cơ chế thị trường đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhận thức con người, làm thay đổi mối quan hệ và nảy sinh những mâu thuẫn trong xã hội như: mâu thuẫn giữa tốt - xấu; thiện - ác; chân thật - thực dụng; ngay thẳng, thật thà - toan tính, ích kỷ,

Hướng về nhân cách con người với những tranh tối tranh sáng vẫn là một điểm mạnh trong tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh Đặt ra vấn đề nhân cách, tác giả đã truy tìm đến tận c ng những khuất nẻo cuộc đời Tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh khắc họa rõ nét hai loại người đại diện cho hai lối sống tiêu biểu của cuộc sống đô thị thời hậu chiến Đó là lối sống đạo đức giả và lối sống thực dụng

Hình tượng nhân vật trong tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh được khái quát ở nhiều khía cạnh Mặc d mỗi hình tượng được khoác một số phận

Trang 36

riêng, một hoàn cảnh riêng, một cách thể hiện riêng nhưng họ đều có chung những giá trị thuần nhất về phẩm chất và lòng tốt Chính những giá trị này đã góp phần xoa dịu bớt sự ngột ngạt của không khí xã hội c ng như tạo niềm tin

để họ tiếp tục vượt lên những khó khăn trắc trở của cuộc sống

Cảm hứng về chiến tranh

Chiến tranh luôn là đề tài mở đối với người cầm bút Đó là nơi ký thác tâm sự của người đã kinh qua chiến tranh và là một sự tưởng niệm đối với linh hồn những người lính chưa một ngày được thấy hòa bình

Trung Trung Đỉnh đã viết về cuộc chiến tranh chống Mỹ của dân tộc với cảm quan của người trong cuộc và một ngòi bút nhạy cảm Sự gian khổ

và tính chất khốc liệt của cuộc chiến là hai nhân tố được Trung Trung Đỉnh tập trung miêu tả trong tiểu thuyết của mình Điều này hoàn toàn đối lập với cách viết “tô hồng”, “minh họa một chiều” trước đây Chiến tranh vì thế mà

hiện ra rất rõ ràng, sắc nét và vô c ng chân thực: “Chiến trường ở phía trước,

bom đạn ở phía trước, vượt qua hàng ngàn cây số để rồi nằm xuống giữa rừng Có thể rồi đi ra phía trước cái chết cũng đang chờ ở đó, nhưng thà chết

ở chiến trường còn hơn phải nằm lại giữa rừng” Hai nhân vật mà tôi (Bỉnh

còi) nhớ mãi, trở đi trở lại trong suốt tác phẩm Lạc rừng là anh Tíu và Xuyên

con Cả hai người này đều đột ngột ngã xuống trên đường hành quân Cả hai người đều ra đi trong sự ngỡ ngàng của cả đơn vị Sau này, về cuối cuốn sách, Bỉnh còi còn chứng kiến hàng trăm cái chết khác của đồng đội, của đồng bào Tây Nguyên nhưng dường như mỗi cái chết đó đều nhắc anh nhớ lại Xuyên con và anh Tíu, những người đầu tiên vĩnh viễn lìa xa đồng đội

Như vậy có thể nhận thấy, trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới, Trung Trung Đỉnh đã khẳng định được vị trí của mình với những đóng góp không nhỏ, tạo được những dấu ấn riêng khá sâu sắc trong lòng độc giả

Trang 37

Chương 2 CỐT TRUYỆN VÀ NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT

CỦA TRUNG TRUNG ĐỈNH

2.1 Cốt truyện

2.1.1 Cốt truyện tiểu thuyết

Trong bức tranh thể loại của văn học Việt Nam hiện đại, những năm đầu thế kỷ XX, tiểu thuyết chính thức có mặt và trở thành nhân vật chính trong tiến trình văn học dân tộc, bước đầu có những cách tân hiện đại so với truyện Nôm trước đó trên một số phương diện: ngôn ngữ, nhân vật, cốt truyện… Trên phương diện chức năng, cốt truyện đảm bảo ba chức năng cơ bản: là phương tiện bộc lộ tính cách của các nhân vật; phản ánh những mâu thuẫn và xung đột điển hình của hoàn cảnh xã hội mà nhà văn miêu tả; giúp cho tư tưởng chủ đề và nội dung nghệ thuật có điều kiện bộc lộ một cách đầy

đủ nhất

Trong cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm, c ng như những yếu tố khác, cốt truyện đã trải qua những chặng đường khác nhau trong tiến trình văn học Nghiên cứu sự vận động của cốt truyện sẽ góp phần lý giải sự chuyển đổi của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới Tuy nhiên trong mỗi giai đoạn lịch sử, trong mỗi trào lưu, khuynh hướng, hoặc trong thi pháp sáng tạo của nhà văn, vai trò của cốt truyện trong tiểu thuyết nói riêng và trong thể tự sự nói chung có những cách thể hiện khác nhau Trong một số tiểu thuyết trước đây, người ta có thể

kể lại cốt truyện, chỉ chú ý đến cốt truyện mà ít để ý đến cách viết của nhà văn Theo các tiểu thuyết gia của trào lưu tiểu thuyết mới (Pháp) thì càng

ngày vai trò của cốt truyện càng giảm: Cái làm nên sức mạnh cho tiểu thuyết

gia chính là ở chỗ anh ta sáng tạo, anh ta hoàn toàn tự do sáng tạo, không có

mô hình mẫu Thực chất trong tác phẩm tự sự, cốt truyện là sợi dây liên kết

các mối quan hệ của nhân vật, tổ chức, sắp xếp các sự việc diễn ra trong đó, bộc lộ chủ đề tư tưởng của tác phẩm

Trang 38

Ở giai đoạn văn học 1932-1945, cốt truyện đóng vai trò đáng kể trong

tiểu thuyết Các tiểu thuyết Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Bỉ vỏ (Nguyên Hồng),

Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan) tiêu biểu cho loại tiểu thuyết có cốt

truyện rõ ràng, với những xung đột căng thẳng, diễn biến hành động tuần tự

theo thi pháp truyền thống Tiểu thuyết Sống mòn (Nam Cao) đã vượt ra ngoài

khuôn khổ Tác phẩm không có tình huống, sự kiện gì đặc biệt mà chỉ là một chuỗi tâm trạng và suy nghĩ của nhân vật Nam Cao là một trong những nhà văn đương thời có sự cách tân thể loại với dạng cốt truyện tâm lý

Ở giai đoạn cách mạng và kháng chiến (1945-1975), tiểu thuyết bội thu vào thời điểm những năm 60 và những năm chống Mỹ Ở đây, cốt truyện là phương tiện thể hiện cuộc sống và tính cách con người, ít nhiều đã chịu “áp lực sử thi” Để phản ánh những vấn đề lớn lao của lịch sử và dân tộc, cốt truyện tiểu thuyết thường dựa trên hai tuyến đối lập địch-ta, tốt-xấu, cảm hứng chủ đạo là ngợi ca, khẳng định Cốt truyện chủ yếu dựa trên mô thức trần thuật của “đại tự sự”

Từ sau 1975, nhất là trong thời kỳ đổi mới, thực tiễn văn học đã vận hành theo sự chi phối chung của quy luật thời bình, nghiêng về thể tài thế sự, đời tư Trong tác phẩm văn học không phải cốt truyện nào c ng chứa đựng những tình huống gay cấn với những xung đột gay gắt mà có những câu chuyện về những cái bình thường, nhỏ nhặt, gây cảm giác như là không có chuyện Chính những bước ngoặt của trạng thái tâm linh, những xung đột cá nhân đã trở thành yếu tố thúc đẩy sự hình thành cốt truyện Tiểu thuyết từ sau đổi mới đa dạng hơn trong nội dung phản ánh, phong phú hơn trong hình thức diễn đạt, tự do hơn ở cách thức dựng truyện Bên cạnh những cốt truyện giàu kịch tính là những cốt truyện giàu tâm trạng Có những kết cấu cốt truyện rõ ràng, mạch lạc, có mở đầu, có kết thúc, c ng có những tiểu thuyết cấu trúc lỏng lẻo, lắp ghép, kết thúc mở Bên cạnh những tiểu thuyết tuân thủ cốt

Trang 39

truyện truyền thống là những cốt truyện dựa trên thi pháp hiện đại Cốt truyện

đã vận động thay đổi trong sự phát triển của thể loại Về đoạn kết của tiểu thuyết, có mô hình kết thúc có hậu, các vấn đề được giải quyết một cách hoàn tất, trọn vẹn Có đoạn kết với kiểu kết thúc bỏ ngỏ, không hoàn kết Tất cả các dạng thức trên đều nh m phân tích, lý giải những vấn đề phức tạp và bí ẩn của con người, cuộc sống đương đại Nghệ thuật đồng hiện, kỹ thuật độc thoại nội tâm, dòng ý thức, lắp ghép, sử dụng huyền thoại, nghệ thuật gián cách, đa giọng điệu là những vấn đề còn mới mẻ trong văn xuôi Việt Nam đã được tiểu thuyết vận dụng, biến hoá một cách linh hoạt và uyển chuyển trên tinh thần dân tộc, hiện đại

Xu hướng lắp ghép liên văn bản là một trong những yếu tố không thể không kể đến của thi pháp cốt truyện tiểu thuyết hiện đại Tiểu thuyết được viết một cách tự nhiên, không bị ràng buộc bởi thi pháp truyền thống Tiểu thuyết hình thành b ng cách lắp ghép, tạo dựng các mảnh cốt truyện, các mảnh tâm trạng không theo trình tự thời gian mà ngổn ngang, đảo ngược theo

ý đồ của tác giả, tạo ra “truyện trong truyện” Những tình huống, cảnh ngộ, biến cố như không quan hệ, liên đới được xích lại gần nhau C ng với sự lắp ghép đó là sự di chuyển các điểm nhìn, là tư duy nghệ thuật trong sự qui ước

vừa chặt chẽ, vừa co giãn của cấu trúc thể loại (Cõi người rung chuông tận

thế - Hồ Anh Thái, Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh, Đi tìm nhân vật - Tạ

Duy Anh),

Sự thâm nhập các thể loại khác vào tiểu thuyết c ng là một nhân tố làm

co giãn cốt truyện Tiểu thuyết có thể chứa trong chính nó: nhật ký, chuyện

kể, thơ, thư từ, tham luận khoa học, huyền thoại, điển tích, cổ tích,… Những hình thức văn bản trong văn bản góp phần tạo thành những tiếng nói khác

nhau trong tiểu thuyết, nới rộng cấu trúc thể loại, mở rộng trường nhìn (Lời

nguyền hai trăm năm - Khôi V , Người đi vắng - Nguyễn Bình Phương,

Trang 40

Ngược dòng nước lũ - Ma Văn Kháng, Cơ hội của Chúa - Nguyễn Việt

Hà, Cơn giông - Lê Văn Thảo, Người sông Mê - Châu Diên, Paris 11 tháng 8

- Thuận),

Như vậy cốt truyện tiểu thuyết Việt Nam hiện đại không biến mất mà

co giãn theo cấu trúc của từng tác phẩm cụ thể, mỗi chủ thể nhà văn có thể sáng tạo ra nó b ng nhiều cách thức, kiểu dạng mà mục đích cuối c ng là thể hiện ý đồ nghệ thuật một cách có hiệu quả

2.1.2 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện trong tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh

Mỗi tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh đều được xây dựng theo cốt truyện giản đơn đến mức như không có cốt truyện, hay nói cách khác đó là nỗ lực làm mờ hóa cốt truyện của ông Nhà văn thường sử dụng những yếu tố huyền ảo hoặc thay đổi điểm nhìn trần thuật để tạo ra tình huống có phần kịch tính và tình huống c ng là một yếu tố góp phần quan trọng trong việc phát triển cốt truyện Tình huống là một trạng thái có tính chất riêng biệt và trở thành được quy định Ở trong thuộc tính này của nó, tình huống góp phần biểu lộ nội dung, là phần có được sự tồn tại bên ngoài b ng sự biểu hiện nghệ

thuật Do vậy trong khi sáng tác, nhà văn đều cố gắng tạo ra những tình huống tiêu biểu Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã từng khắng định: Người cầm

bút có biệt tài có thể chọn ra trong cái dòng đời xuôi chảy một khoảnh khắc thời gian mà ở đó cuộc sống đậm đặc nhất, chứa đựng nhiều ý nghĩa nhất, một khoảnh khắc cuộc sống bắt buộc con người ở vào một tình thế phải bộc

lộ cái phần cam tâm nhất, cái phần ẩn náu sâu kín nhất, thậm chí đủ là khoảnh khắc chứa đựng cả một đời người, một đời nhân loại

Như vậy, việc lựa chọn được tình huống tiêu biểu là cần thiết và quan trọng, mỗi nhà văn phải làm sao để trong rất nhiều cách trình bày, lựa chọn được cách tối ưu nhất, có khả năng thể hiện sinh động nhất nội dung và tư tưởng của tác phâm

Ngày đăng: 17/08/2016, 14:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Tâm An (2008), “Phải, sống khó hơn là chết!”, Tuần Vietnam.net, ngày 09/10/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phải, s"ống khó hơn là chết"!”, "Tuần Vietnam.net
Tác giả: Tâm An
Năm: 2008
[2] Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
[3] M.Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Bộ Văn Hóa Thông Tin và Thể Thao, Trường Viết văn Nguyễn Du Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Năm: 1992
[4] Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975-1995 những đổi mới cơ bản, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975-1995 những đổi mới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
[5] Nguyễn Thị Bình (1996), “Mấy nhận xét về nhân vật của văn xuôi Việt Nam sau 1975”, in trong 50 năm Văn học Việt Nam sau cách mạng tháng tám, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy nhận xét về nhân vật của văn xuôi Việt Nam sau 1975”, in trong "50 năm Văn học Việt Nam sau cách mạng tháng tám
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 1996
[6] Nguyễn Minh Châu (1978), “Viết về chiến tranh”, Văn Nghệ Quân đội, tháng 11 năm 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết về chiến tranh”," Văn Nghệ Quân đội
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1978
[7] Đặng Anh Đào (1995), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết Phương tây hiện đại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết Phương tây hiện đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
[8] Trần Thanh Đạm (1989), “Nghĩ về một xu thế đổi mới trong đời sống văn chương hiện nay”, Báo Văn Nghệ, (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ về một xu thế đổi mới trong đời sống văn chương hiện nay”, "Báo Văn Nghệ
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Năm: 1989
[9] Phạm Quang Đẩu (1999), “Một tác phẩm đậm nét Tây Nguyên”, Báo Văn nghệ, số ra 17/10/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một tác phẩm đậm nét Tây Nguyên”, "Báo Văn nghệ
Tác giả: Phạm Quang Đẩu
Năm: 1999
[10] Phan Cự Đệ (2000), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
[11] Phan Cự Đệ (2001), “Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, (số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thời kỳ đổi mới”, "Tạp chí Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Phan Cự Đệ
Năm: 2001
[12] Phan Cự Đệ (2001), “Mấy vấn đề phương pháp luận khi nghiên cứu thể loại tiểu thuyết”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề phương pháp luận khi nghiên cứu thể loại tiểu thuyết”, "Tạp chí Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Phan Cự Đệ
Năm: 2001
[13] Trung Trung Đỉnh (1982), Những người không chịu thiệt thòi, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những người không chịu thiệt thòi
Tác giả: Trung Trung Đỉnh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1982
[14] Trung Trung Đỉnh (1989), Ngược chiều cái chết, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngược chiều cái chết
Tác giả: Trung Trung Đỉnh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1989
[15] Trung Trung Đỉnh (1990), Ngõ lỗ thủng, Tiễn biệt những ngày buồn Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngõ lỗ thủng, Tiễn biệt những ngày buồn
Tác giả: Trung Trung Đỉnh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1990
[16] Trung Trung Đỉnh (1999), Lạc rừng, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạc rừng
Tác giả: Trung Trung Đỉnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
[17] Trung Trung Đỉnh (2008), Sống khó hơn là chết, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống khó hơn là chết
Tác giả: Trung Trung Đỉnh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2008
[18] Trung Trung Đỉnh (2010), Lính trận, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lính trận
Tác giả: Trung Trung Đỉnh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2010
[19] Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn T ng (2010), Thi pháp học ở Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn T ng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
[20] Hà Minh Đức (1994), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w