1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lý thuyết “bộ ba bất khả thi”

3 320 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý thuyết này cho rằng tại cùng một thời điểm bất kỳ, mỗi quốc gia chỉ có thể đạt được 2 trong 3 điều kiện đó là: tự do hóa tài khoản vốn, ổn định tỷ giá hối đoái và chính sách tiền tệ đ

Trang 1

Lý thuyết “bộ ba bất khả thi” đóng vai trò nền tảng trong kinh tế học vĩ mô hiện đại Lý thuyết này cho rằng tại cùng một thời điểm bất kỳ, mỗi quốc gia chỉ có thể đạt được 2 trong 3 điều kiện đó là: tự do hóa tài khoản vốn, ổn định tỷ giá hối đoái và chính sách tiền tệ độc lập Trong khi các quốc gia châu Âu lựa chọn thực hiện tự do tài khoản vốn, áp dụng tỷ giá thả nổi và chính sách tiền tệ độc lập thì nhìn chung các nền kinh tế ở Châu Á đều có xu hướng không có hoặc thiếu một chính sách tiền tệ rõ ràng, đồng thời có sự kết hợp giữa việc kiểm soát vốn với tỷ giá hối đoái thiếu linh hoạt

Bài nghiên cứu này tập trung phân tích “ bộ ba bất khả thi” ở 11 nền kinh tế chủ yếu ở Châu

Á bao gồm: Ấn Độ, Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc), Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Phillipines, Việt Nam và Hàn Quốc( chúng tôi gọi những nước này là Asia -11) và tập trung vào phân tích số liệu của ba nền kinh tế lớn nhất trong số 11 nước này là Ấn Độ, Trung Quốc và Hàn Quốc

Vấn đề kiểm soát vốn

I.1 Kiểm soát vốn chính thức: từ dữ liệu của Chinn – Ito

Cơ sở dữ liệu này đã cho thấy chỉ số hàng năm của mỗi nền kinh tế, với giá trị tăng lên từ -1.81 đối với các nền kinh tế có tài khoản vốn đóng cửa hoàn toàn, lên +2.53 với những nền kinh tế

tự do hóa hoàn toàn tài khoản vốn

Trong khi nền kinh tế các nước Asia-11 đều khuyến khích thu hút những dòng vốn dài hạn như đầu tư trực tiếp nước ngoài, đã có một vài hạn chế được áp đặt cho những dòng vốn ngắn hạn

Cơ sở dữ liệu của Chinn-Ito đã chỉ ra rằng trong những năm qua, việc bãi bỏ sự kiểm soát các tài khoản vốn quan trọng đã được diễn ra trên toàn cầu Đặc biệt là trong những thập kỷ trước, các nước Asia-11 có xu hướng có những tỷ lệ bình quân mở cửa nhiều hơn tỷ lệ bình quân của thế giới, trong những năm gần đây tỷ lệ bình quân về việc kiểm soát vốn chính thức tại các nước Asia-11 đã

di chuyển gần đến tỷ lệ bình quân của thế giới Vì sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, việc

kiểm soát nguồn vốn chính thức ở các quốc gia châu Á lại bắt đầu nổi lên lại,

Tuy nhiên, phương pháp đo lường của Chinn-Ito không còn phù hợp trong hoàn cảnh hiện nay do sự bất lực của nó trong việc theo kịp sự sụt giảm của việc kiểm soát mà không liên quan đến việc xóa bỏ hoàn toàn những hạn chế

I.2 Tình trạng mở cửa tài khoản vốn phi chính thức.

Sự tăng tính linh hoạt trong hệ thống tài chính có xu hướng làm giảm sút hiệu quả của việc kiểm soát vốn theo thời gian Do đó, khi xem xét về hiệu quả của việc kiểm soát vốn, điều quan trọng là xem xét khả năng phát triển của hệ thống tài chính trong nước Để làm được điều này, chúng ta quay về với Dorrucci, Meyer-Circel, và Santabarbara (2009), những người đã phát triển cơ

sở dữ liệu với bảng dữ liệu của sự phát triển khu vực tài chính tại 26 nền kinh tế mới nổi, gồm các

Trang 2

nước Asia-11, trừ Việt Nam Giá trị của chỉ số này từ 0 ( hệ thống tài chính trong nước không phát triển ) tới 1 (hệ thống tài chính trong nước mạnh)

Phương pháp thứ hai để đo sự hội nhập trên thực tế vào kinh tế thế giới đó là sử dụng các thông tin từ cơ sở dữ liệu Lane và Milesi-Feretti đo lường mức độ tự do tài khoản vốn không chính thức cho tất cả các nền kinh tế Cơ sở dữ liệu này cho thấy trong những năm qua, việc bãi bỏ kiểm soát tài khoản vốn không chính thức diễn ra trên toàn thế giới

Như vậy, nhìn chung các nước Asia – 11 có xu hướng tự do tài khoản vốn phi chính thức hơn

là tự do tài khoản vốn chính thức, trong đó việc kiểm soát tài khoản vốn chính thức đang được ngày càng nới lỏng hơn.

Chế độ tỷ giá

Thực tế cho thấy tỷ giá chính thức được ngân hàng trung ương công bố khác rất nhiều với tỷ giá thực trong hoạt động giao dịch tài chính Điều đó đã thúc đẩy một nghiên cứu nhỏ về phương pháp xử lý dữ liệu để phân loại các chế độ tỷ giá hối đoái

Một công cụ giá trị cho việc tìm hiểu tỷ giá thực là một mô hình hồi quy tuyến tính dựa trên các tỷ giá trao đổi tiền tệ chéo Trong phương pháp này, một đồng tiền độc lập ví dụ như Franc Thuỵ Sĩ (CHF) được chọn là đơn vị tiền tệ tính toán mua bán song hành Nếu sử dụng rupee Ấn Độ (INR) thì dự đoán mô hình là:

dlogINR/CHF=β1+β2dlogUSD/CHF+β3dlogJPY/CHF+β4dlogDEM/CHF+ε

Mô hình hồi quy này cho thấy phạm vi mà tỷ giá INR/CHF dao động trong sự dao động của

tỷ giá USD/CHF Giá trị R2 gần bằng 1 sẽ cho thấy tính linh hoạt trong tỷ giá giảm xuống Các giá trị R2 gần bằng 1 cho thấy tính cố định chặt chẽ của tỷ giá Tỷ giá thả nổi có giá trị R2 trong khoảng 0,4-0,5

Sử dụng mô hình hồi quy cho các nước Asia -11 đã cho thấy hầu hết các quốc gia này đều thực hiện cố định tỷ giá, ngoại trừ Hàn Quốc có tỷ giá có phần linh hoạt hơn Tỷ giá hối đoái cố định này, kết hợp với sự gia tăng thực tế của sự mở rộng tài khoản vốn, là nhân tố góp phần gây ra cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, có liên quan đến các công ty và các ngân hàng trong việc vay bằng ngoại tệ dựa trên kỳ vọng của sự cố định tỷ giá hối đoái Trong suốt cuộc khủng hoảng, tính linh hoạt của tỷ giá các nước Asia -11 có phần tăng lên, tuy nhiên ngay sau đó, sự cố định tỷ giá lại tăng trở lại Sự cố định tỷ giá hối đoái ở châu Á đã không đi hết con đường quay trở lại các mức trước khủng hoảng Trong khi Asia-11 tiếp tục cố định chặt chẽ tỷ giá hối đoái, thì đã có một chuyển động từng bước theo hướng linh hoạt hơn

Việc thực hiện tự do hóa tài khoản vốn không chính thức trong khi duy trì một tỷ giá cố định

sẽ gây ra hai hậu quả sau:

♦ Nhằm đạt được các mục tiêu tỷ giá, các Ngân hàng trung ương cố gắng duy trì tỷ giá cố định có thể làm bóp méo chính sách lãi suất Dòng vốn có tính thuận chu kỳ trong khi tỷ giá bị neo cố định kéo theo chính sách tiền tệ có tính thuận chu kỳ - chính sách được xem

là kém hiệu quả và là nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng ở châu Á

♦ Các cuộc khủng hoảng có hệ thống có thể xảy ra

Trang 3

Do đó, bước cải cách đầu tiên là cần tập trung vào tính linh hoạt của tỷ giá và phát triển thị trường phái sinh tiền tệ

Chính sách tiền tệ

Trong bối cảnh một số nước châu Á điển hình, sự gia tăng tự do hóa không chính thức sẽ dẫn đến tự do hóa chính thức đi đôi với phát triển khu vực tài chính trong nước Trong điều kiện này, sự thiếu linh hoạt của tỷ giá hối đoái có thể dẫn đến sai lệch trong chính sách tiền tệ

Mặc dù quốc gia có cố gắng độc lập trong chính sách tiền tệ thông qua áp chế tài chính, áp đặt kiểm soát vốn, hoặc chính sách vô hiệu hóa, lập luận của bộ ba bất khả thi cho thấy rằng để có tỷ giá hối đoái cố định phải đánh đổi sự độc lập trong chính sách tiền tệ Bằng chứng thực tế đã cho thấy hầu hết các nước Asia -11 đã không có một chính sách tiền tệ rõ ràng

Kết luận :

Chính sách tiền tệ phản chu kỳ là một trong những chiến lược được nhà điều hành chính sách tiền tệ áp dụng để đạt được mục tiêu cân bằng lạm phát, ổn định sản lượng/thu nhập quốc gia góp phần giúp các quốc gia có thể tránh được cuộc khủng hoảng tương tự Tuy nhiên, việc theo đuổi một chính sách tiền tệ phản chu kỳ gặp nhiều khó khăn khi các nền kinh tế tiến hành neo tỷ giá tiếp cận dòng vốn thuận chu kỳ Tự do hóa tài khoản vốn đã trở thành xu hướng không thể tránh khỏi trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập tài chính thế giới, do đó để tránh “ bộ ba bất khả thi”, các quốc gia có xu hướng dung hòa hai mục tiêu : Cố định tỷ giá hối đoái và chính sách tiền tệ độc lập, trong đó tỷ giá hơi hướng linh hoạt hơn

Ngày đăng: 23/06/2017, 09:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w