1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu hình thái học của tổn thương dập não do tai nạn giao thông đường bộ qua giám định y pháp

107 662 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 3,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường hợp dập não đơn thuần, màng nhện ít bị tổn thương , nhưng khi có rách nhu mô não thì màng nhện và màng mềm đều có thể bị tổn thương và gây ra những ổ chảy máu trong não [3], [4]..

Trang 1

TRỊNH XUÂN HÀ

NGHI£N CøU H×NH TH¸I HäC CñA TæN TH¦¥NG DËP N·O

DO TAI N¹N GIAO TH¤NG §¦êNG Bé QUA GI¸M §ÞNH Y PH¸P

Trang 2

TRỊNH XUÂN HÀ

NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI HỌC CỦA TỔN THƯƠNG DẬP NÃO

DO TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ QUA GIÁM ĐỊNH Y PHÁP

Chuyên ngành: Giải phẫu bệnh

Mã số 60 72 0102

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC Giáo viên hướng dẫn: TS Lưu Sỹ Hùng

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

trường Đại học Y Hà Nội đã tạo mọi điều kiện giúp tôi học tập và hoàn

thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám Đốc, các phòng ban chức năng và tập thể Khoa Giải phẫu bệnh – Bệnh viện Việt Đức, Trung tâm Pháp y Hà Nội đã luôn giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi

về mọi mặt trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Lưu Sỹ Hùng – Trưởng bộ môn Y pháp Trường Đại học Y Hà Nội – Người thầy đã trực tiếp tận tình

hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Bác sỹ Phạm Kim Bình - Nguyên Trưởng khoa Giải phẫu bệnh - Y pháp Bệnh viện Việt Đức - Người thầy đã

luôn động viên, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Chủ nhiệm cùng các thầy

cô, cán bộ - Bộ môn Giải phẫu bệnh, Bộ môn Y Pháp đã dạy dỗ, giúp đỡ,

tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học Cao học cũng như quá trình hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong Hội đồng thông qua đề cương, đã đưa ra những đóng góp ý kiến quí báu và hữu ích giúp tôi hoàn

thành bản luận văn này

Cuối cùng, con xin bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đến bố, mẹ, anh, chị, em trong gia đình, đặc biệt là vợ và hai con trai đã luôn luôn quan tâm, động

viên, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập

Hà Nội, tháng 10 năm 2015

Tác giả Luận văn

Trịnh Xuân Hà

Trang 4

Tôi là Trịnh Xuân Hà, cao học khóa 22 Trường Đại học Y Hà Nội,

chuyên ngành Giải phẫu bệnh, xin cam đoan:

1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn

của Thầy TS Lưu Sỹ Hùng

2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã

được công bố tại Việt Nam

3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp nhận của cơ sở

nơi nghiên cứu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này

Hà Nội, ngày 01 tháng 10 năm 2015

Người viết cam đoan

Trịnh Xuân Hà

Trang 5

TNGT Tai nạn giao thông

TNGTĐB Tai nạn giao thông đường bộ

ATGT An toàn giao thông

CMDMN Chảy máu dưới màng nuôi

TTTTKLT Tổn thương trục thần kinh lan tỏa

Trang 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

1.2 GIẢI PHẪU SỌ NÃO

1.2.1 Hộp sọ

1.2.2 Não

1.2.3 Giải phẫu màng não - Dịch não tủy - Hệ thống não thất

1.2.4 Hệ thống động mạch não

1.2.5 Hệ thống tĩnh mạch não

1.2.6 Đặc điểm giải phẫu sọ não và cơ chế dập não

1.2.7 Đặc điểm mô học của đại não

1.2.7.1 Chất xám

1.2.7.2 Chất trắng

1.2.8 Đặc điểm mô học của tiểu não

1.2.8.1 Chất xám

1.2.8.2 Chất trắng

1.3 CƠ CHẾ BỆNH SINH CỦA DẬP NÃO

1.3.1 Yếu tố cơ học

1.3.2 Yếu tố xung động thần kinh

1.3.3 Yếu tố huyết quản

1.4 PHÂN LOẠI DẬP NÃO VÀ ĐẶC ĐIỂM BỆNH HỌC CỦA TỔN THƯƠNG DẬP NÃO

3

3

4

4

6

7

9

10

10

11

11

11

12

12

12

12

13

13

14

14

Trang 7

1.4.1.4 Dập não trung gian (trong não)

1.4.1.5 Dập não do tăng và giảm tốc độ đột ngột

1.4.1.6 Dập não do thoát vị

1.4.2 Đặc điểm bệnh học của tổn thương dập não

1.4.2.1 Dập não mới

1.4.2.2 Dập não cũ

1.4.3 Đặc điểm mô bệnh học của chấn thương sọ não

1.4.3.1 Các tổn thương thành ổ sau CTSN kín

1.4.3.2 Các tổn thương não sau CTSN hở

1.4.3.3 Đặc điểm mô bệnh học của xuất huyết dưới màng nhện

1.5 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

1.5.1 TRONG NƯỚC

1.5.2 NƯỚC NGOÀI

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn nạn nhân vào nhóm nghiên cứu

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

2.2.2 Ước lượng cỡ mẫu

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu

18

19

19

20

20

21

22

22

23

23

25

25

26

28

28

28

28

28

28

28

28

28

Trang 8

2.3 CÁCH THỨC TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU

2.3.1 Nghiên cứu hồi cứu

2.3.2 Nghiên cứu tiến cứu

2.3.2.1 Các bước thực hiện (theo quy trình khám nghiệm)

2.3.2.2 Gửi mẫu bệnh phẩm làm xét nghiệm

2.3.2.3 Tổng hợp kết luận bản giám định y pháp

2.3.2.4 Nhập thông tin vào bệnh án nghiên cứu

2.3.2.5 Nhập số liệu vào phần mềm xử lý

2.3.2.6 Phân tích kết quả

2.3.2.7 Phân tích các yếu tố liên quan dịch tễ CTSN và dập não

2.3.2.8 Phân tích các loại tổn thương dập não

2.4 SAI SỐ VÀ CÁCH KHỐNG CHẾ

2.5 Y ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 MỘT SỐ YẾU TỐ DỊCH TỄ

3.2 HÌNH THÁI TỔN THƯƠNG TRONG DẬP NÃO DO TNGT

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 4.1 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 4.1.1 Tuổi/giới

4.1.2 Loại hình tai nạn

4.1.3 Thời điểm xảy ra tai nạn

30

30

30

30

31

32

32

32

32

32

32

32

33

34

34

41

52

52

52

53

55

Trang 9

4.2 HÌNH THÁI TỔN THƯƠNG DẬP NÃO DO TNGT

4.2.1 Phân loại tổn thương dập não

4.2.2 Vị trí tổn thương dập não do TNGT

4.2.3 Đặc điểm dập não do TNGT

4.2.4 Phân loại dập não theo cơ chế tổn thương

4.2.5 Tổn thương phối hợp với dập não

4.2.6 Hình thái vỡ xương sọ trong dập não và mối liên quan giữa tổn thương xương sọ và dập não theo cơ chế đối bên

4.2.7 Đặc điểm tổn thương, tụ máu da đầu - hàm mặt và mối liên quan với dập não

4.2.8 Nguyên nhân tử vong thường gặp

4.2.9 Kết quả xét nghiệm mô bệnh học

KẾT LUẬN 1 Các yếu tố liên quan

2 Hình thái tổn thương dập não

KHUYẾN NGHỊ Một số hình ảnh dập não trong nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

59

59

60

61

63

65

67

68

69

70

73

73

73

75

76

Trang 10

Hình 1.2 Não nhìn bên

Hình 1.3 Thân não

Hình 1.4: Tiểu não

Hình 1.5 : Giải phẫu màng não, các tĩnh mạch và xoang tĩnh mạch

Hình 1.6 : Thiết đồ ngang qua xoang tĩnh mạch dọc trên

Hình 1.7 : Hệ thống não thất và sự lưu thông dịch não tủy

Hình 1.8 : Đa giác Willis

Hình 1.9 : Các động mạch của não

Hình 1.10: Sơ đồ cấu tạo vi thể vỏ đại não

Hình 1.11: Tiểu não

Hình 1.12: Tiểu não

Hình 1.13: Đụng dập não đơn giản cấp tính

Hình 1.14: Đụng dập nhu mô não – dập nát nhu mô não ở thùy trán và thùy thái dương, kết hợp với máu tụ dưới màng cứng

Hình 1.15: Đụng dập nhu mô não cấp tính

Hình 1.16: Dập não thùy thái dương

Hình 1.17: Cơ chế dập não

Hình1.18: Giập /xé rách nhu mô não đối bên

Hình 1.19: Dập não rộng vùng thái dương đối bên

Hình1.20: Dập não trán đối bên

Hình 1.21: Dập tiểu não do vỡ xương chẩm

6

7

7

8

8

9

9

9

11

12

12

15

16

16

17

18

18

18

18

18

Trang 11

Hình 1.25: Dập 2 thùy thái dương

Hình 1.26: Dập não cấp tính

Hình 1.27: Xuất huyết quanh mạch giai đoạn sớm

Hình 1.28: Dập não cũ vùng trán và vùng thái dương

Hình 1.29: Các dạng bạch cầu xuất hiện tại ổ dập não sau 2 ngày

Hình 1.30: (CD 68): Đại thực bào sau chấn thương đụng dập nhiều ngày Hình 1.31: Giập não cũ

Hình 1.32: Xuất huyết mới dưới màng nhện

Hình 1.33: Đại thực bào Hemosiderin-laden

Hình 4.2.1: Dập não do vỡ xương sọ

Hình 4.2.2: Dập não tại vị trí tác động

Hình 4.2.3: Dập não do tăng giảm tốc độ đột ngột

Hình 4.2.4: Dập não bên đối diện

Hình 4.2.5: Dập não bên đối diện

Hình 4.2.6: Dập não cũ

Hình 4.2.7: Dập não cũ (PY31.14)

Hình 4.2.8: Dập não đa ổ (PY 46.14)

Hình 4.2.9: Máu tụ trong não (PY102.13)

Hình 4.2.10: Dập não bên đối diện (PY 23.13)

Hình 4.2.11: Dập não do trượt (PY 151.12)

Hình 4.2.12: Tụt kẹt hạnh nhân tiểu não

Hình 4.2.13: Dập não trung gian

21

21

21

22

22

22

22

25

25

59

59

60

60

60

61

61

62

63

65

65

70

70

Trang 12

Hình 4.2.17: Phù não, xâm nhập viêm (PY22.12)

Hình 4.2.18: Chảy máu quanh mạch (PY 148.14)

Hình 4.2.19: Phù não (khoảng sáng quanh Neuron) (PY 146.14)

Hình 4.2.20: Chảy máu quanh mạch (PY 116.14)

Hình 4.2.21: Khoảng sáng quanh mạch và quanh NR (PY84.14)

Hình 4.2.22: Phản ứng viêm (PY74.14)

Hình 4.2.23: DN kèm tụ máu (PY156.13)

71

71

71

72

72

72

72

Trang 13

Biểu đồ 3.2: Phương tiện đang sử dụng khi bị TNGT

Bảng 3.3: Loại hình tai nạn giao thông

Bảng 3.4: Phân bố thời điểm xảy ra TNGT

Biểu đồ 3.5: Nơi xảy ra TNGT

Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ đội mũ bảo hiểm

Bảng 3.7: Tỷ lệ đội mũ bảo hiểm đối với người tham gia giao thông bằng xe máy

Biểu đồ 3.8: Thời gian sống sau tai nạn

Bảng 3.9: Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu

Biểu đồ 3.10: Phân loại tổn thương dập não

Bảng 3.11: Vị trí của thương tổn dập não

Bảng 3.12: Đặc điểm dập não

Bảng 3.13: Phân loại dập não theo cơ chế tổn thương

Bảng 3.14: Tổn thương phối hợp với dập não

Biểu đồ 3.15: Hình thái vỡ xương sọ trong dập não

Biểu đồ 3.16: Đặc điểm tổn thương, tụ máu da đầu - hàm mặt

Bảng 3.17: Mối liên quan giữa vỡ xương sọ và dập não đối bên

Bảng 3.18: Mối liên quan giữa dập não và tổn thương da đầu -mặt

Biểu đồ 3.19: Nhóm nguyên nhân tử vong thường gặp

Bảng 3.20: Kết quả xét nghiệm mô bệnh học

35

36

37

38

38

39

39

40

41

42

43

44

45

46

46

47

49

50

51

Trang 14

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dập não là những ổ dập, tụ máu trong mô não với kích thước khác nhau

phụ thuộc mức độ sang chấn, là tổn thương đặc trưng của chấn thương sọ não (CTSN) do vật tày [1], [2] Trường hợp dập não đơn thuần, màng nhện ít bị tổn thương , nhưng khi có rách nhu mô não thì màng nhện và màng mềm đều

có thể bị tổn thương và gây ra những ổ chảy máu trong não [3], [4]

Có nhiều nguyên nhân gây dập não như tác động trực tiếp, gián tiếp, tăng giảm tốc độ đột ngột do tai nạn giao thông hoặc do ngã cao…Dập não để lại nhiều hậu quả cho nạn nhân như rối loạn tâm thần, hội chứng suy nhược sau chấn thương, bệnh não sau chấn thương, động kinh, sa sút trí tuệ … Nặng hơn nữa dập não có thể gây tử vong [5]

Dập não do tai nạn giao thông là một vấn nạn của xã hội, gây tổn hại về sức khỏe, kinh tế và khả năng lao động Theo báo cáo năm 2013 của Tổ chức

y tế Thế giới (WHO) thì mỗi năm, trên thế giới có khoảng 1,24 triệu người chết và 50 triệu người bị thương do tai nạn giao thông đường bộ [6] Hàng năm tại Mỹ có 1,7 triệu nạn nhân CTSN trong số đó 50.000 trường hợp tử vong, 80.000 người tàn phế suốt đời, thiệt hại hơn 77 tỷ USD mỗi năm[7]

Ở Việt Nam, theo thống kê của Ủy ban an toàn giao thông, tỷ lệ tử vong liên quan tới CTSN là 25/100.000 dân Theo số liệu chưa chính thức tại Bệnh viện Việt Đức hàng năm số TNGT tới khám và điều trị từ 5.000 - 8.000, trong

đó số tử vong liên quan tới CTSN khoảng 500 - 700 Bệnh viện Chợ Rẫy (Thành phố Hồ Chí Minh) cũng ghi nhận có 15.000 - 20.000 nạn nhân CTSN hàng năm và số bệnh nhân tử vong giao động 1.000 - 1.500 [8] Theo báo cáo của Bộ Y tế từ năm 2008 đến năm 2009 mỗi năm có khoảng 18.000 trường hợp tử vong do TNGT gấp 3 lần năm 1998 là 6.394 trường hợp, trong đó nguyên nhân tử vong do CTSN là 76,5% [9], [10]

Trang 15

Giám định y pháp đối với các trường hợp dập não có vai trò quan trọng, một mặt giúp các cơ quan chức năng giải quyết vụ việc, mặt khác cung cấp các thông tin cho lâm sàng như cơ chế, vị trí và mức độ tổn thương nhằm nâng cao chất lượng điều trị Hiện nay, ngành y pháp chưa có nhiều nghiên cứu liên quan đến hình thái học của tổn thương dập não do TNGTĐB Vì vậy

đề tài: “Nghiên cứu hình thái học của tổn thương dập não do tai nạn giao

thông đường bộ qua giám định y pháp” được thực hiện với 2 mục tiêu:

1 Khảo sát một số yếu tố liên quan của dập não trên nạn nhân bị tai nạn giao thông đường bộ tử vong tại Bệnh viện Việt Đức qua giám định y pháp

2 Mô tả hình thái học của tổn thương dập não do tai nạn giao thông đường bộ

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

Tai nạn giao thông là sự việc bất ngờ xảy ra ngoài ý muốn chủ quan

của người điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông, do vi phạm các quy tắc an toàn hay do gặp những tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, gây nên thiệt hại nhất định về người và tài sản [11] Theo số liệu thống

kê của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, trong năm 2014 (tính từ ngày 16/12/2013 đến 15/12/2014) toàn quốc xảy ra 25.322 vụ, làm chết 8.996 người, bị thương 24.417 người [12]

Liên quan tới cơ sở hạ tầng :

Đường xá, cầu, cống xuống cấp nghiêm trọng, nhiều ổ gà, ổ voi…biển báo không hợp lý, không có hệ thống đèn chiếu sáng, lối rẽ không hợp lý, không có rào chắn khi cắt ngang đường sắt… Ngoài ra các yếu tố kỹ thuật như yếu tố hình học, độ bằng phẳng, độ nhám (độ bám), chiếu sáng, sự hợp lý trong bố trí biển báo…ảnh hưởng không nhỏ tới tai nạn Phân tích 8.272 vụ TNGTĐB năm 2004 của Ủy ban An toàn giao thông quốc gia cho thấy các tuyến đường xảy ra tai nạn như sau: Quốc lộ 46,8%, tỉnh lộ 15,4 %, nội thành thị 25%, đường khác 12,8%

Liên quan tới phương tiện tham gia giao thông:

Thế kỷ 20 và đặc biệt những năm đầu thế kỷ 21 đã chứng kiến sự bùng

nổ các loại phương tiện giao thông Từ những chiếc ô tô, xe gắn máy đầu tiên cuối thế kỷ trước, ngày nay trên thế giới có hàng tỷ phương tiện giao thông các loại, từ xe đạp, xe gắn máy, ô tô cho tới những chiếc máy bay tối tân

Trang 17

Việt Nam là một trong những quốc gia có số lượng xe gắn máy tham gia giao thông đứng đầu trên thế giới Các thống kê qua nhiều năm TNGTĐB liên quan tới xe gắn máy chiếm 91% [13]

Liên quan tới người điều khiển:

Nguyên nhân hàng đầu là yếu kém về ý thức của người tham gia giao thông không tuân thủ luật giao thông đường bộ như: Đi xe quá tốc độ, phóng nhanh, vượt ẩu, lạng lách, chở quá số người quy định, chuyển hướng không quan sát, đi không đúng làn đường đặc biệt không đội mũ bảo hiểm hoặc đội

mũ bảo hiểm không đúng quy cách…Hiện nay, một nguyên nhân khác góp phần làm tăng tính nghiêm trọng và gia tăng TNGT là tình trạng sử dụng rượu bia và các chất kích thích khác khi tham gia giao thông, tình trạng lái xe liên tục trong thời gian dài Kết quả nghiên cứu của Dương Chạm Uyên, Nguyễn Thế Hào, Vũ Ngọc Tú cho thấy nạn nhân bị TNGT tập trung trong độ tuổi lao động giao động từ 75% - 88% [14], [15]

Liên quan đến yếu tố môi trường: [16]

Cảnh quan đơn điệu hoặc không gây sự chú ý cho lái xe, nhiều pano quảng cáo tấm lớn gây che khuất tầm nhìn Thời tiết mưa lũ vùng núi gây lũ lụt, ngập úng, cầu cống không đảm bảo là một trong những nguyên nhân gây tai nạn thảm khốc, đặc biệt trên các tuyến đường cao tốc

1.2 GIẢI PHẪU SỌ NÃO

1.2.1 Hộp sọ (Hình 1.1):

Hộp sọ (Cranium) được cấu tạo bởi 22 xương hợp lại, trong đó có 21 xương gắn lại với nhau thành khối bằng các đường khớp bất động [17]

Trang 18

Hình 1.1 : Hệ thống xương sọ nhìn bên [18]

xương đỉnh, xương trán, xương chẩm, xương bướm, xương sàng và hai xương thái dương [19], [20]

Ngoại trừ xương hàm dưới các xương còn lại dính chặt với nhau thành một khối dễ gây tăng áp lực nội sọ khi có tổn thương não[21]

Xương sọ có một số hốc (hốc mắt, hốc mũi) và một số xoang trong xương, các xoang này được lợp biểu mô thông với mũi [20], [22]

Do cấu tạo giải phẫu, ở người trưởng thành các khớp xương không còn khả năng dãn nở là nguyên nhân tăng áp lực khi có tổn thương nội sọ[23] Mặt khác, mặt trong hộp sọ không trơn láng, đặc biệt ở các thùy trán, thùy thái dương và sàng hốc mắt dễ bị dập não khi có sang chấn mạnh[24], [25]

Khi có va chạm vào hộp sọ, đầu ngưng di chuyển đột ngột, não trượt vào mặt trong của hộp sọ gây tổn thương nhu mô não phía trực tiếp có va chạm Ngoài ra, khi hộp sọ di chuyển theo hướng ngược với lực tác động có thể làm cho não di chuyển và va chạm vào hộp sọ ở bên đối diện Không những tổ chức não, dịch não tủy cũng bị ảnh hưởng trong dạng tổn thương này

Trang 19

1.2.2 Não (Hình 1.2)

Não gồm hai bán cầu đại não, gian não, thân não và 2 bán cầu tiểu não [22], [26]

Đại não là phần lớn nhất của não, chiếm toàn bộ tầng trước và tầng giữa

hộp sọ Đại não ngăn cách với trung não và tiểu não bằng khe não ngang Liềm não chia đại não thành hai bán cầu phải và trái

Bề mặt của các bán cầu có nhiều nếp nhăn, dựa vào chức năng và giải phẫu người ta chia đại não thành 5 thùy: Thùy trán, thùy đỉnh, thùy thái dương, thủy chẩm và thùy đảo [19], [22] Cấu tạo mô học bán cầu đại não và tiểu não được bao quanh bởi chất xám (vỏ não) và chất trắng[27]

Gian não nằm trên trung não và giữa hai bán cầu đại não; bao gồm: Đồi

thị, các vùng quanh đồi thị và não thất III

Hình 1.2 Não nhìn bên[18]

Thân não (Hình 1.3): Gồm trung não, cầu não và hành não Thân não là

cơ sở của các phản xạ có điều kiện: Vùng não trung gian là trung tâm vận mạch, trung tâm điều hòa nhiệt độ Hành tủy là trung tâm điều hòa hô hấp và tim mạch Thương tổn ở thân não có nguy cơ tử vong cao [22], [27]

Tiểu não (Hình 1.4): Nằm ở hố sọ sau, ngăn cách với đại não bằng lều

tiểu não, gồm 2 bán cầu tiểu não và thùy giun ở giữa Thùy hạnh nhân nằm ở

Trang 20

phần dưới 2 bán cầu tiểu não, tăng áp lực nội sọ do bất kỳ nguyên nhân nào là nguyên nhân gây tụt kẹt hạnh nhân tiểu não (thùy hạnh nhân chèn ép hành não khi chui vào lỗ chẩm) [19], [22]

1.2.3 Giải phẫu màng não - Dịch não tủy - Hệ thống não thất (Hình 1.5; Hình 1.6)

Não và tủy sống được bao bọc và bảo vệ bởi hệ thống màng não và dịch não tủy Màng não gồm 3 lớp từ ngoài vào gồm: [27]

Màng cứng: Là mô liên kết, dai, không đàn hồi Mặt ngoài xù xì dính

với cốt mạc mặt trong xương sọ Màng cứng được nhiều mạch máu nuôi dưỡng Mặt trong màng cứng tách ra năm vách đi vào trong ngăn các phần của não: Liềm đại não, vách lều tiểu não, liềm tiểu não, lều tuyến yên và lều hành khứu [22]

Màng nhện có hai lá, giữa hai lá là khoang nhện (khoang ảo) Giữa

màng nhện và màng cứng có khoang dưới màng cứng, nơi có nhiều hạt Pacchioni tập trung thành đám dọc hai bên xoang tĩnh mạch dọc trên, tạo vết hằn lên mặt trong xương sọ

Màng mềm là mô liên kết thưa nằm trong cùng, bao phủ mặt ngoài và

len lỏi vào khe cuốn não Ngoài chức năng nuôi dưỡng còn là nơi trao đổi chất giữa máu và dịch não tủy

Trang 21

Khoang ngoài màng cứng là khoang giữa mặt trong xương sọ và mặt

ngoài màng cứng Khi có CTSN máu từ các mạch máu bị tổn thương (thường gặp là động mạch màng não giữa) máu tụ trong khoang này tạo hình ảnh máu

tụ ngoài màng cứng (MTNMC) Tổn thương thường không vượt qua rãnh khớp

Khoang dưới màng cứng là khoang giữa màng cứng và màng nhện

Chảy máu khoang này thường lan tỏa vào các phần sâu nhất của màng cứng

Khoang dưới nhện và các não thất nơi dịch não tủy lưu thông có tác

dụng bảo vệ và nuôi dưỡng Những chỗ rộng của nó được gọi là bể dưới nhện[22]

Hệ thống não thất và sự lưu thông của dịch não tủy (Hình 1.7): Từ

thấp lên cao gồm có não thất IV, cống trung não, não thất III và các não thất bên Mỗi não thất bên ở trong một bán cầu đại não có các phần: Sừng trán, phần trung tâm, tam giác bên, sừng thái dương và sừng chẩm [22], [18] Dịch não tủy được đám rối mạch mạc (trong 2 não thất bên và não thất III) tiết ra với số lượng khoảng 180ml/ngày và được hấp thu vào xoang tĩnh mạch dọc trên bởi các hạt Pachioni và các nhung mao của màng nhện và được tái hấp thu vào các xoang tĩnh mạch lớn

Trang 22

Hình 1.7 : Hệ thống não thất và sự lưu thông dịch não tủy [18]

1.2.4 Hệ thống động mạch não (Hình 1.8; Hình 1.9)

Não và màng não được nuôi dưỡng chủ yếu bởi hệ thống mạch máu hình thành từ các cuống mạch chính: Hai động mạch (ĐM) cảnh ngoài, hai ĐM cảnh trong và hệ ĐM thân nền [22] Ở vùng nền não các động mạch nối nhau thành vòng hình đa giác (đa giác Willis) Trong CTSN có vỡ nền sọ đặc biệt

có vỡ xương đá cần nghĩ tới có tổn thương mạch [28], [29]

Nhánh ĐM màng não giữa bắt nguồn từ ĐM cảnh ngoài chạy dọc vùng thái dương vì vậy rất dễ bị tổn thương khi có tổn thương nứt vỡ xương thái dương và gây MTNMC [30], [31]

ĐM màng cứng là hợp lưu của ba động mạch là ĐM màng não trước,

ĐM màng não giữa và động mạch màng não sau [22]

Hình 1.8 : Đa giác Willis [18] Hình 1.9 : Các động mạch của não [18]

Trang 23

1.2.5 Hệ thống tĩnh mạch não:

Hệ tĩnh mạch (TM) não bao gồm các xoang TM màng cứng và các TM não Xoang TM là xoang thu nhận máu từ: Xoang tĩnh mạch dọc trên, xoang thẳng, xoang dọc dưới Các xoang TM tập trung máu về xoang hang ở nền sọ

và hội lưu Herophilie ở vòm sọ [22], [32], [33]

1.2.6 Đặc điểm giải phẫu sọ não và cơ chế dập não

Khoang nội sọ được chia làm hai khoang chính là khoang trên lều và dưới lều giới hạn bởi lều tiểu não Khoang trên lều được ngăn đôi bởi liềm não mỗi bên chứa 1 bán cầu đại não (bán cầu đại não phải và bán cầu đại não trái) Khoang dưới lều hay còn gọi là hố sau chứa 2 bán cầu tiểu não, cầu não

và một phần hành não Liềm đại não và lều tiểu não đều có các khe hở trung tâm và các gờ lồi lên ở phần viền của các khe này Khi tăng áp lực nội sọ (ALNS) do khối choán chỗ bất thường đủ lớn hoặc phù não hậu quả là mô não có thể chui qua các khe hở gây tình trạng thoát vị não [15], [23]

Hệ thần kinh nói chung và não nói riêng đều được bao quanh bởi khoảng trống hẹp chứa dịch não tủy có tính chất “giảm chấn” giúp não và tủy sống không bị tổn thương khi có di lệch, biến dạng hoặc chấn thương ở mức độ nhất định [34]

ĐM màng não giữa xuất nguồn từ ĐM hàm trong chia nhánh hằn sâu vào mặt trong xương thái dương tạo hình ảnh như gân lá vì vậy khi có chấn thương rất dễ gây MTNMC [15]

Tĩnh mạch thu máu vào các xoang tĩnh mạch sọ và đổ vào tĩnh mạch màng cứng Việc ứ trệ lưu thông của hệ tĩnh mạch cũng có thể gây phù não Dịch não tủy lưu thông từ não thất bên qua não thất III, não thất IV và vào khoang dưới nhện qua lỗ Monro theo nguyên tắc chênh lệch áp suất Mọi

ứ trệ lưu thông lưu thông dịch não tủy ở bất kỳ vị trí nào đều là bệnh lý (não

Trang 24

úng thủy trong ứ dịch não tuỷ trong não thất bên, tăng áp lực dịch não tủy trong viêm màng não )[35]

1.2.7 Đặc điểm mô học của đại não[36] (Hình 1.10)

Đại não có kích thước lớn nhất của hệ thần kinh trung ương Bên ngoài

là vỏ não hay chất xám, phía dưới là chất trắng Các khe rãnh hay cuốn não một mặt làm tăng diện tích mặt khác là ranh giới phân chia các thùy

1.2.7.1 Chất xám: Tập trung ở 2 nơi là vỏ não và các nhân xám dưới vỏ

- Vỏ đại não: Lớp chất xám có chiều dày trung bình 3 - 4 mm, gồm 6 lớp

từ ngoài vào trong dựa theo thành phần các loại tế bào: Lớp phân tử; Lớp hạt ngoài; Lớp tháp ngoài; Lớp hạt trong; Lớp tháp trong; Lớp đa hình

- Các nhân xám dưới vỏ: Đồi thị; Vùng dưới đồi; Thể vân

1.2.7.2 Chất trắng: Gồm những sợi thần kinh có Myelin Có thể chia

Hình 1.10: Sơ đồ cấu tạo vi thể vỏ đại não [36]

1.Lớp phân tử; 2.Lớp hạt ngoài; 3.Lớp tháp ngoài; 4.Lớp hạt trong;

5.Lớp tháp trong; 6.Lớp đa hình

Trang 25

1.2.8 Đặc điểm mô học của tiểu não (Hình 1.11; Hình 1.12)

Bề mặt tiểu não có các rãnh nông và sâu chia tiểu não ra thành các thùy, các lá Có 2 vùng: Vùng ngoài màu xám là chất xám, vùng trong màu trắng ngà đó là chất trắng

1.2.8.1 Chất xám: Phân bố ở 2 nơi là vỏ tiểu não và nhân xám dưới vỏ

- Vỏ tiểu não: Từ ngoài vào trong có 3 lớp: Lớp phân tử; Hàng tế bào quả lê (Purkinje); Lớp hạt

- Các nhân xám dưới vỏ: Có 4 cặp nhân xám vùi trong chất trắng của tiểu não là: Nhân răng, nhân mái, nhân cầu, nhân nút

1.2.8.2 Chất trắng:

Chất trắng gồm những sợi thần kinh có myelin, đó là các sợi trục của tế bào Purkinje và sợi trục của các nơron từ những vùng khác nhau của trục não tuỷ điểm tận cùng ở tiểu não Dựa vào hướng đi và nơi dừng người ta chia các sợi này thành hai loại: Sợi rêu và sợi leo Sợi rêu thường tận cùng ở lớp hạt bằng cách tạo synap với các tế bào hạt Sợi leo đi xa hơn, tận cùng ở lớp phân

tử bằng cách tạo synap với sợi nhánh của các tế bào Purkinje và thân tế bào

1.3 CƠ CHẾ BỆNH SINH CỦA DẬP NÃO

Dập não là hậu quả của tác động cơ học gây tổn thương mạch máu hoặc xung động đột ngột [37]

Trang 26

1.3.1 Yếu tố cơ học

Yếu tố cơ học là nguyên nhân hàng đầu gây dập não [38]:

- Tổn thương do va đập: Đầu nạn nhân tác động trực tiếp với vật

cứng phắng hoặc không phẳng [39]

+ Tại vị trí bị tác động : Vỡ, lún, nứt xương sọ và nền sọ nếu vị trí tổn thương vùng xương thái dương có thể gây MTNMC hoặc dập não tại vùng vỡ xương

+ Tại vị trí ở xa nơi tiếp xúc: Gây biến dạng một phần hay toàn bộ xương hộp sọ Các đường vỡ xương ở xa vị trí bị tác động như vỡ nền sọ Thay đổi thể tích đột ngột trong biến dạng hộp sọ tạo áp lực âm, tại vị trí tách giãn sọ - não gây dập não, chảy máu dạng chấm nhỏ trong mô não

+ Sóng lực truyền từ điểm tiếp xúc trực tiếp qua não sang bên đối diện của hộp sọ và phản hồi lại, là nguyên nhân xuất hiện các vùng áp suất âm trong não (tạo hốc nhỏ) được coi là cơ chế giải thích sự hình thành các điểm chảy máu nhỏ rải rác trong nhu mô và máu tụ trong não khi kích thước đủ lớn

- Tổn thương do tăng giảm tốc độ đột ngột:

Bình thường não chuyển động tự do một cách tương đối trong hộp sọ Khi có tình trạng tăng và giảm tốc độ đột ngột, theo quán tính não sẽ chuyển động ngược chiều với phương tiện, mô não va đập vào các gờ, nếp ở mặt trong xương sọ bên đối diện gây kéo, giằng, xé các mạch máu cầu nối giữa vỏ não và màng cứng gây máu tụ dưới màng cứng và dập não Mặt khác, khi đầu nạn nhân chuyển động nhanh đột ngột cũng tác động tới não gây rối loạn chức năng và cấu trúc não Nếu lực va chạm mạnh sẽ gây nên TTTTKLT do các điểm chảy máu sâu trong não và dập não [40]

1.3.2 Yếu tố xung động thần kinh

Chấn thương sọ não có thể gây rối loạn dẫn truyền xung động thần kinh của hệ thống vỏ não - thể lưới - dưới vỏ Biểu hiện lâm sàng là mất ý thức

Trang 27

ngay sau chấn thương (không nhớ sự việc); Nếu nhẹ thì gây rối loạn cơ năng, nặng hơn có thể gây tổn thương thực thể Tổn thương xung động TK được xem như yếu tố khởi đầu cho nhiều phản ứng phức tạp trong giai đoạn cấp của CTSN

Trong chấn thương sọ não có 2 khái niệm cần phân biệt là đụng dập não

và chấn động não [41], [42]:

- Đụng dập não là khu trú, trong khi chấn động não lan rộng

- Đụng dập não là vĩ mô, trong khi chấn động não rất nhỏ

Về lý thuyết, đụng giập não là một vết bầm tụ máu của mô não Đụng dập não khi nhiều và đủ lớn sẽ tạo hình ảnh đặc trưng trên phim chụp cắt lớp

vi tính Các ổ đụng dập sát nhau có thể kết hợp lại tạo thành ổ chảy máu lớn hơn gây chèn ép, biến dạng não, tăng áp lực nội sọ, khi đó cần có chỉ định can thiệp của y học

Chấn động não: Có tính khuếch tán, lan rộng, tổn thương nhu mô ở cấp

vi thể Chấn động não phá vỡ chức năng sinh lý của các tế bào não (neuron),

ít thay đổi về giải phẫu, Khi chấn động não đủ mạnh gây tổn thương một lượng lớn tế bào não làm cho nạn nhân bị mất ý thức hoặc trở nên bối rối hay khóc, khó chịu, hành vi bất thường…do mất sự tương tác giữa các tế bào thần kinh vỏ não

1.3.3 Yếu tố huyết quản

Tổn thương mạch trong CTSN là tình trạng máu thoát ra ngoài mạch cấp tính, tùy vị trí giải phẫu có thể gây tụ máu NMC, DMC, trong nhu mô Có thể gặp CTSN trên bệnh nhân có tổn thương mạch (dị dạng mạch, xơ vữa mạch, phình mạch, u mạch ) Co thắt mạch, vỡ mạch bệnh lý thường được

gọi “tai biến mạch não” và không được xếp vào CTSN

1.4 PHÂN LOẠI DẬP NÃO VÀ ĐẶC ĐIỂM BỆNH HỌC CỦA TỔN THƯƠNG DẬP NÃO [43]

Trang 28

Tổn thương nhu mô não thường gặp hai loại là đụng dập nhu mô não (contusion) và dập nát nhu mô não (laceration) [44], [45]

- Đụng dập nhu mô não: Bao gồm tổn thương nhu mô não và tủy sống

+ Đụng dập nhu mô não đơn giản: Tổn thương dưới dạng chấm hoặc đường xuất huyết nhỏ

+ Đụng dập nhu mô não – dập nát nhu mô não: Tổn thương thường rộng, lan tỏa, màng mềm bị rách rõ rệt

+ Đụng dập nhu mô não – kèm máu tụ: Nhu mô bị dập kèm chảy máu, tùy vị trí và tổn thương mạch tạo khối máu tụ (trong-ngoài màng cứng)

+ Dập nát nhu mô não diện rộng: Có thể quan sát trực tiếp bằng mắt thường Tổn thương này là hậu quả của vỡ xương sọ phức tạp hoặc vết thương xuyên sọ

Hình 1.13: Đụng dập não đơn

giản cấp tính[48]

A Vùng mờ tối ở đuôi vùng trán – hốc mắt (mũi tên đen) (một đụng dập nhu mô não – dập nát nhu mô não ở đầu mũi tên màu đen)

B Một đụng dập nhu mô não đơn giản ở cuộn não (mũi tên màu đen) Hai tổn thương chảy máu chất trắng (mũi tên màu trắng)

Trang 29

Hình 1.14: Đụng dập nhu mô não – dập nát nhu mô não ở thùy trán và thùy

thái dương, kết hợp với máu tụ dưới màng cứng[24]

1.4.1 Phân loại dập não [43]

Theo Michael J.Shkrum và David A.Ramsay dập não bao gồm:

1.4.1.1 Dập não tại nơi bị tác động (Hình 1.16)

Mô não bị dập ngay dưới vị trí xương sọ bị tác động được gọi là dập não tại nơi tác động, do sự biến dạng của xương sọ gây biến dạng mô não phía dưới (bị đè ép hoặc giãn căng ra) [49] Tùy vị trí và cấu tạo xương sọ (có hoặc không vỡ xương sọ), lực bị hấp thụ khác nhau dẫn tới tổn thương não khác nhau:

- Thể nhẹ (dập não nông): Mặt ngoài vỏ não dập nhẹ xen kẽ là các ổ chảy máu Kích thước ổ dập não phụ thuộc lực và vật gây thương tích

- Thể nặng (dập não sâu): Ổ dập não vượt qua lớp vỏ tới chất trắng, chảy máu nhu mô lan tỏa với nhiều chấm, đám chảy máu bao quanh ổ dập não

Trang 30

Hình 1.16: Dập não thùy thái dương[3]

1.4.1.2 Dập não bên đối diện (contrecoup injuries) (Hình 1.17; 1.18;

1.19; 1.20)

Là tổn thương hay gặp trong CTSN Cơ chế hình thành tổn thương này

là theo quán tính não chuyển động ngược chiều với lực tác động va đập với

mặt trong xương sọ gây dập não (contrecoup injuries) Ví dụ: Nạn nhân ngã

ngửa, chẩm đập xuống nền đường gây dập não vùng trán Thái dương bị chấn thương sẽ dập não thái dương đối diện Tổn thương dập não bên đối diện hầu như không gặp ở thùy chẩm mặc dù nạn nhân bị va đập mạnh vùng hàm mặt Trong giám định y pháp, có thể gặp đa chấn thương phối hợp như dập não tại chỗ., tổn thương bên đối diện thường tổn thương phía đối diện thường nặng hơn (là cơ sở để xác định chiều hướng, lực và vật tác động)

Trong tai nạn sinh hoạt hoặc các vụ án hình sự cần lưu ý : Với các vật vật tày nhẵn, mềm (tay chân ) thường gây tổn thương não tại chỗ, mặc dù về nguyên tắc có thể gặp tổn thương não phía đối diện Trong trường hợp đặc biệt có thể gặp tổn thương phối hợp nhưng ngược với TNGT tổn thương phía đối diện thường nhẹ hơn

Nhiều nghiên cứu đều cho kết quả trong trường hợp nạn nhân bị đánh đấm vào đầu, nếu không có tổn thương tại chỗ thì cũng sẽ không có tổn thương bên đối diện Tuy nhiên, trên thực tế trong TNGT nạn nhân ngã ngửa chẩm tác động trực tiếp với nền đường thường gây dập não trán (bên đối diện), não vùng chẩm không có tổn thương

Trang 31

dương đối bên[3]

Hình 1.20: Dập não trán đối bên[3]

1.4.1.3 Dập não do vỡ xương sọ

Tổn thương này thường gặp trong TNGT hoặc TNLĐ, xương sọ vỡ phức tạp tạo một hoặc nhiều mảnh rời Các mảnh xương vỡ xuyên qua màng cứng xuyên cắm vào nhu nhu gây dập nát nhu mô Có thể gặp tổn thương phối hợp thường là MTNMC [50]

Hình 1.21: Dập tiểu não do vỡ xương chẩm[3]

1.4.1.4 Dập não trung gian (trong não)

Là tổn thương đụng dập chảy máu trong nhu mô (chất trắng, đáy não, thể chai, thân não…) vị trí thường tương ứng với tổn thương vỏ não (chất xám), thường gặp trong ngã cao

Trang 32

1.4.1.5 Dập não do tăng và giảm tốc độ đột ngột

Tổn thương dưới dạng những điểm, chấm chảy máu ở vỏ não, chất trắng thường gặp ở bề mặt 2 bán cầu đại não do rung lắc mạnh đột ngột hay gặp trong trường hợp ngã cao hoặc tai nạn giao thông dừng đỗ đột ngột

Hình 1.22: Chảy máu dập não trong mô não do

tăng giảm tốc độ đột ngột[3]

1.4.1.6 Dập não do thoát vị

Thoát vị não là sự chuyển dịch cơ học của não, dịch não tủy và các mạch máu lớn của não từ khoang này sang khoang khác trong hộp sọ là hậu quả của tăng áp lực nội sọ (TALNS) do khối máu tụ, dập não, phù não

Do sự dịch chuyển các vùng, thùy trong não như thùy thái dương bị va trượt vào gờ tiểu não (edge of tentorium) hoặc hạnh nhân tiểu não trượt vào lỗ chẩm Các hình thức thoát vị thường gặp trong CTSN [51] (Hình 1.23):

+ Thoát vị hạnh nhân tiểu não: Thường được gọi tụt hạnh nhân tiểu não, thùy hạnh nhân tiểu não chui vào lỗ chẩm chèn ép trực tiếp vào hành não + Thoát vị dưới liềm đại não: Thể trai dịch chuyển dưới bờ tự do của liềm đại não vượt qua đường giữa ĐM não trước cùng bên và các TM sâu cũng bị đẩy qua đường giữa bị liềm não chèn ép gây nhồi máu não

+ Thoát vị qua khe bướm: Xảy ra khi đại não và trung não dịch chuyển xuống dưới Các nhánh ĐM não giữa, nhân đậu - vân bị tổn thương

+ Thoát vị qua lều tiểu não (thoát vị thùy thái dương): Móc hồi hải mã và cạnh hải mã của thùy thái dương bị đẩy về phía đường giữa chui qua khe Bichat Các tổn thương vùng hố não giữa thường gây thoát vị loại này ĐM

Trang 33

não sau và nhánh ĐM thông sau cũng có thể bị tổn thương gây tình trạng nhồi máu thùy chẩm cùng bên

Hình 1.23: Thoát vị gây dập nhu mô não [24]

Trong giám định pháp y, giám định viên cần phân biệt rõ các loại tổn thương trong sọ đặc biệt là dập não Việc xác định tổn thương nguyên phát, tổn thương thứ phát, dập não tại chỗ hoặc dập não bên đối diện có ý nghĩa hết sức quan trọng Qua đó một mặt giải thích, kết luận nguyên nhân tử vong, mặt khác giải đáp được cơ chế hình thành tổn thương, tư thế nạn nhân, chiều hướng, lực tác động thậm trí vật gây thương tích

1.4.2 Đặc điểm bệnh học của tổn thương dập não [52]

1.4.2.1 Dập não mới

Đại thể: Tổn thương do dập não cấp mới xuất hiện ở đỉnh các cuộn não, hình quạt, đáy nằm ở bề mặt não, đỉnh nằm ở phía trong mô não (Hình 1.24) Tổn thương có màu đỏ hoặc đỏ tím khi còn mới Dập não rộng tổn thương có

xu hướng đi sâu vào chất trắng và tạo nên dấu hiệu chảy máu trong mô não, thường có kết hợp với chảy máu khoang dưới nhện [53]

Vi thể: Xuất huyết quanh mạch với các vùng xuất huyết lớn hơn được nhìn thấy ở giai đoạn đầu (hình 1.26) Sự thâm nhiễm tế bào viêm/ bạch cầu

đa nhân trung tính ban đầu ở trong lòng mạch, nhưng sau đó xuất hiện ở quanh mạch [54] [55]

Trang 34

Hình 1.24: Dập não thùy thái dương

cấp tính[3]

Hình 1.25: Dập 2 thùy thái dương[3]

Hình 1.26: Dập não cấp tính[3] Hình 1.27: Xuất huyết quanh mạch

giai đoạn sớm [3]

1.4.2.2 Dập não cũ

Đại thể: Giống với các cơ quan bộ phận khác trong cơ thể, những ổ dập,

tụ máu hoặc ổ hoại tử não có thể tồn tại từ vài tuần đến vài tháng Các giai đoạn của quá trình hàn gắn, sửa chữa thể hiện bằng nhiều nhiều hình ảnh khác nhau như hốc hóa (nang hóa), sẹo xơ, lắng đọng canxi thậm chí mất chức năng do mất khuyết một vùng vỏ não và tổn thương dây thần kinh trong chất trắng [56]

Dập não đã cũ hay lâu ngày vùng tổn thương có màu vàng nâu (Hình 1.28), hiếm gặp, có khi chỉ là tình cờ phát hiện được khi khám nghiệm [53]

Vi thể: Tăng sinh mao mạch và tế bào hình sao, tập trung nhiều các đại thực bào ăn sắc tố với số lượng ngày càng tăng, sau khoảng 4-5 ngày Sự thay đổi tế bào thần kinh được thấy trong các chấn thương do thiếu oxy, thiếu máu cục bộ Mô học dập não cũ giống với các khu vực của nhồi máu trước đó với

xơ hóa màng não, tăng sinh mô đệm và các đại thực bào ăn sắc tố Các chất trắng biến đổi mất myelin

Trang 35

Hình 1.28: Dập não cũ vùng trán và

vùng thái dương[3]

Hình 1.29: Các dạng bạch cầu xuất

hiện tại ổ dập não sau 2 ngày[3]

Hình 1.30 (CD 68): Đại thực bào sau

chấn thương đụng dập nhiều ngày[3]

Hình 1.31: Giập não cũ [3]

1.4.3 Đặc điểm mô bệnh học của chấn thương sọ não[57]

1.4.3.1 Các tổn thương thành ổ sau CTSN kín

Phù não là tổn thương phổ biến phối hợp trong mội loại tổn thương não

Về đại thể: Não phù lan tỏa rõ nhất là ở vùng tổn thương, bề mặt có các chấm chảy máu rải rác hoặc lan tỏa dưới màng mềm, mất bóng Mô não mềm nhũn, khe rãnh cuốn não nông hoặc mất (phù nặng) Cảm giác có một lớp dịch mỏng đục dưới màng mạch

Về vi thể: Cấu trúc mô não ít thay đổi, dễ dàng phân biệt chất trắng và chất xám Xuất hiện khoảng sáng rộng quanh neuron và mạch máu, bình thường là khoang ảo (khoảng Virchow-Robin), có thể gặp sự xâm nhập một vài lymho bào quanh mạch Mạch máu sung huyết mạnh, một vài hồng cấu thoát mạch Phù não đơn thuần thường gặp trong các bệnh nội khoa, trong CTSN thường kết hợp với các tổn thương khác như chảy máu ổ nhỏ, chảy

máu màng mềm, máu tụ nội sọ hoặc dập não…

Trang 36

1.4.3.2 Các tổn thương não sau CTSN hở

Thuật ngữ CTSN hở để chỉ những tổn thương có rách màng cứng, tổn thương nhu mô não thường rất nặng nề do tác động trực tiếp của chấn thương

và các tổn thương thứ phát (thường xuất hiện muộn) [58]

Đại thể: CTSN hở do vật tày, kích thước, mức độ tổn thương da, xương

sọ phụ thuộc kích thước và lực của vật gây thương Não phù kèm những vùng dập não rộng, có thể thấy xương sọ hoặc dị vật trong các ổ dập não Vết thương hở do hỏa khí có nhiều dạng khác nhau Tổn thương não do hỏa khí có những đặc điểm riêng biệt, các vết thương nông thì não dập có hình phễu trong khi đó tổn thương tiếp tuyến có hình phễu, vết thương xuyên qua có hình ống (đường hầm)

Vi thể: Hoại tử mất cấu trúc mô não, nhiều hồng cầu thoái hóa trong chất hoại tử, hầu như không thấy tế bào viêm Mô não quanh vùng tổn thương phản ứng phù, mạch máu sung huyết, khoảng Virchow-Robin rộng, phản ứng viêm xuất hiện tùy giai đoạn Giai đoạn muộn sẽ có nhiều tế bào viêm chủ yếu mạn tính (lympho bào) quanh neuron (thực thần kinh) và quanh mạch và đại thực bào…quanh ổ hoại tử Tế bào khổng lồ dị vật chỉ thường xuất hiện khi có dị vật (xương sọ, tóc nạn nhân, đất cát…) Khi có tình trạng nhiễm trùng sẽ xuất hiện bạch cầu đa nhân trung tính Tổn thương thứ phát (xa ổ dập não) thường ở chất trắng có hình ảnh phù não, tế bào viêm mạn tính quanh mạch sung huyết mạnh Tiên lượng thường dè dặt tùy thuộc mức độ thương tổn và vị trí Sẹo hóa mô não là giai đoạn kết thúc của quá trình loại bỏ tổn thương, mô não quanh các ổ sẹo thường teo đét, nhiều khi mất chức năng (sẹo vùng vỏ) chính những ổ sẹo là nguyên nhân gây nhiều triệu chứng lâm sàng như động kinh, liệt…

1.4.3.3 Đặc điểm mô học của xuất huyết dưới màng nhện (Hình 1.32)

Trang 37

<1 giờ - Hồng cầu thoát mạch, lan tỏa trong khoang dưới nhện

- Bạch cầu đa nhân trung tính xen kẽ

- Hồng cầu lan xuống khoang Virchow-robin

- Xuất hiện lympho bào quanh mạch

- Hiếm đại thực bào

- Lympho và đại thực bào tăng

- Lắng đọng Hemosiderin rõ

- Lympho bào tăng

- Tăng sợi huyết gây lắng đọng tạo đảo-đám hồng cầu

- Một số sợi collagen bắt đầu hình thành

Hemosiderin-laden) (Hình 1.33)

- Bạch cầu trung tính giảm

- Một số ít hồng cầu còn nguyên vẹn

- Hồng cầu thoái hóa hoàn toàn (20 ngày)

- Nhiều đại thực bào ăn sắc tố máu

- Tăng cường thêm vào tổ chức fibrin, collagen và thực bào

Trang 38

Đến 4 tuần - Diễn biến xấu Rebleeding (chảy máu lại)

- Màng não dầy chắc

- Tế bào viêm giảm, tỷ lệ các TB thay đổi (chủ yếu viêm mạn)

Hình 1.32: Xuất huyết mới dưới

màng nhện: Không có phản ứng viêm

cấp tính và ranh giới tế bào chất của

hồng cầu còn nguyên vẹn Tuổi của

tổn thương này ước tính chưa đến

Nguyễn Phương Hoa, Phạm Thị Lan (2009) nghiên cứu tử vong do TNGT đường bộ tại một số tỉnh (192 xã thuộc 16 tỉnh) trên 1061 trường hợp

Trang 39

Kết quả cho thấy phần lớn trường hợp tử vong là nam giới (79%), phương tiện chủ yếu sử dụng khi bị tai nạn là xe máy (58%) và độ tuổi 15 – 49 chiếm

tỷ lệ cao (73%) Nguyên nhân trực tiếp gây tử vong là CTSN chiếm tỷ lệ cao nhất (77%) [13]

Nguyễn Hồng Long, Đinh Gia Đức (2011) nghiên cứu trên 100 nạn nhân

tử vong do TNGT có nồng độ cồn trong máu thấy tỷ lệ tử vong do CTSN chiếm 70%, độ tuổi từ 15 – 29 chiếm 59 % và chủ yếu là tai nạn ô tô – xe máy chiếm 64% Thương tổn chủ yếu là chảy máu màng mềm chiếm 49% [62] Trần Ngọc Vang (2005) nghiên cứu 192 trường hợp MTDMC cấp tính được điều trị tại khoa Phẫu thuật thần kinh bệnh viện Việt Đức thấy tỷ lệ tử vong là 66,7 % trong đó nguyên nhân chủ yếu là do TNGT chiếm 87,5 % [63]

Nguyễn Ngọc Bá và cộng sự (2005) nghiên cứu tình trạng CTSN do TNGT năm 2003 – 2004 tại thành phố Đà Nẵng cho thấy tỷ lệ CTSN là 357/

100 000 dân với độ tuổi nguy cơ cao là 18 – 35 chiếm 58 %, tỷ lệ tử vong chung là 7,26% và đưa ra giải pháp giảm thiểu CTSN tại thành phố [64]

Trần Như Tú (2012) nghiên cứu giá trị tiên lượng nạn nhân qua chụp CLVT trên 1100 nạn nhân CTSN có tuổi trung bình 36 ± 17,1 ,76,4% nam, 23,6% nữ, 81% do TNG [60]

1.5.2 NƯỚC NGOÀI

Trong các năm gần đây, cùng với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật trong y học hiện đại, dập não đang có xu hướng nghiên cứu trong Labo trung tâm để tìm ra các nguyên lý căn bản khoa học cơ bản, giải thích và định hướng trong chẩn đoán và điều trị

Năm 2007, C Werner và K Engelhard đã nghiên cứu đặc điểm sinh lý bệnh của chấn thương sọ não (TBI) từ công tác lâm sàng với sự nhấn mạnh đặc biệt vào sự mất cân bằng lưu lượng máu não (CBF), sự trao đổi chất, oxy não, và excitotoxicity (Excitotoxicity là quá trình bệnh lý mà theo đó các tế

Trang 40

bào thần kinh bị tổn thương hoặc bị kích thích quá mức bởi dẫn truyền thần kinh như glutamate và các chất tương tự), phù nề, quá trình viêm và chết theo chương trình (apoptosis)

Năm 2009, Hernando Alvis-Miranda, Gabriel Alcala-Cerra, Luis Rafael Moscote-Salazar sử dụng hình ảnh cộng hưởng từ khi theo dõi ở bệnh nhân hồi phục sau chấn thương đầu Đặc điểm chuyển hóa sớm ở những vùng quan tâm (ROIs) được so sánh với sinh lý học ở người tình nguyện khỏe mạnh Từ

đó cho thấy ROIs có liên quan chặt chẽ với chảy máu não (CBF), thể tích máu (CBV), và lượng oxy (CMRO 2)

Tóm lại CTSN nói chung và dập não do TNGT nói riêng được toàn xã hội quan tâm, liên quan tới nhiều chuyên ngành Nghiên cứu của chúng tôi mong muốn góp phần miêu tả một số hình thái học và một số thuật ngữ về tổn thương dập não trong CTSN với hy vọng phần nào giúp các bác sỹ pháp y hiểu biết thêm loại hình tổn thương này

Ngày đăng: 20/06/2017, 21:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. From Wikipedia the free encyclopedia (2015), Cerebral contusion, truy cập ngày 01-10-2015, tại trang web https://en.wikipedia.org/wiki/Cerebral_contusion Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cerebral contusion
Nhà XB: Wikipedia
Năm: 2015
2. BS CKI Nguyễn Nam Chung (2013), Dập não, tụ máu trong não, truy cập ngày 15/8/2014, tại trang web http://ngoaithankinh.com/dap-nao-tu-mau-trong-nao/dap-nao-tu-mau-trong-nao.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dập não, tụ máu trong não
Tác giả: BS CKI Nguyễn Nam Chung
Năm: 2013
3. "Contusional brain injury and intracerebral haemorrhage" (2005), Forensic Neuropathology, CRC Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Contusional brain injury and intracerebral haemorrhage
Tác giả: Contusional brain injury and intracerebral haemorrhage
Năm: 2005
5. Nguyễn Văn Dũng (2015), Rối loạn tâm thần sau chấn thương sọ não, truy cập ngày 1-10-2015, tại trang web http://drdung.com/kien-thuc/kien-thuc-giao-khoa/roi-loan-thuc-ton/418-roi-loan-tam-than-sau-chan-thuong-so-nao.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn tâm thần sau chấn thương sọ não
Tác giả: Nguyễn Văn Dũng
Năm: 2015
6. Nguyễn Trần Hiệp (2015), Tình hình tai nạn giao thông trên thế giới trong những năm gần đây, truy cập ngày 1-10-2015, tại trang web http://www.hvcsnd.edu.vn/vn/Acedemy/Tin-An-toan-giao-thong/207/4357/Tinh-hinh-tai-nan-giao-thong-tren-the-gioi-trong-nhung-nam-gan-day.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình tai nạn giao thông trên thế giới trong những năm gần đây
Tác giả: Nguyễn Trần Hiệp
Năm: 2015
7. Mayumi Prins, Tiffany Greco, Daya Alexander et al (2013). The pathophysiology of traumatic brain injury at a glance, The Company of Biologists Ltd Sách, tạp chí
Tiêu đề: The pathophysiology of traumatic brain injury at a glance
Tác giả: Mayumi Prins, Tiffany Greco, Daya Alexander
Nhà XB: The Company of Biologists Ltd
Năm: 2013
8. Đồng Văn Hệ, Trần Trường Giang, Phạm Tân Thành et al (2005). Đặc điểm dịch tễ học chấn thương sọ não tại Bệnh viện Việt Đức, Tạp chí nghiên cứu Y học, 39(6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm dịch tễ học chấn thương sọ não tại Bệnh viện Việt Đức
Tác giả: Đồng Văn Hệ, Trần Trường Giang, Phạm Tân Thành
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu Y học
Năm: 2005
11. Wikipedia (2014), Tai nạn giao thông, truy cập ngày 10/9/2014, tại trang web http://vi.wikipedia.org/wiki/Tai_n%E1%BA%A1n_giao_th%C3%B4ng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tai nạn giao thông
Tác giả: Wikipedia
Nhà XB: Wikipedia
Năm: 2014
12. Việt Hùng (2014), Năm 2014: Gần 9.000 người tử vong vì tai nạn giao thông, truy cập ngày 13-10-2015, tại trang web http://www.vietnamplus.vn/nam-2014-gan-9000-nguoi-tu-vong-vi-tai-nan-giao-thong/298693.vnp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm 2014: Gần 9.000 người tử vong vì tai nạn giao thông
Tác giả: Việt Hùng
Năm: 2014
13. Nguyễn Phương Hoa và Phạm Thị Lan (2009). Tử vong do tai nạn giao thông đường bộ tại một số tỉnh, Tạp chí nghiên cứu Y học, phụ trương 80 (3C) – 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu Y học
Tác giả: Nguyễn Phương Hoa và Phạm Thị Lan
Năm: 2009
14. Vũ Ngọc Tú và Đồng Văn Hệ (2004). Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng chấn thương sọ não nặng, Tạp chí Y học thực hành, 491, tr. 298 - 303 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Vũ Ngọc Tú và Đồng Văn Hệ
Năm: 2004
15. Dương Chạm Uyên (1996), Sinh lý bệnh trong tăng áp lực sọ não do chấn thương, Cấp cứu chấn thương sọ não, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý bệnh trong tăng áp lực sọ não do chấn thương
Tác giả: Dương Chạm Uyên
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1996
16. Lưu Sỹ Hùng (2001), Nghiên cứu tổn thương và một số nguyên nhân của 206 trường hợp tử vong do tai nạn xe máy qua giám định pháp y, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tổn thương và một số nguyên nhân của 206 trường hợp tử vong do tai nạn xe máy qua giám định pháp y
Tác giả: Lưu Sỹ Hùng
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2001
17. Hirsch C. S và Kaufman B (1975). Contrecoup skull fractures, J. Neurosurg, 42, tr. 530–534 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. Neurosurg
Tác giả: Hirsch C. S và Kaufman B
Năm: 1975
18. Netter F.H (1997), Atlas giải phẫu người, Bản dịch của Nguyễn Quang Quyền, Phạm Đăng Diệu, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Atlas giải phẫu người
Tác giả: Netter F.H
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1997
19. Nguyễn Văn Huy và Hoàng Văn Cúc (2006), Giải phẫu người, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải phẫu người
Tác giả: Nguyễn Văn Huy và Hoàng Văn Cúc
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
20. Nguyễn Quang Quyền (1998), Bài giảng giải phẫu học, Vol. 2, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng giải phẫu học
Tác giả: Nguyễn Quang Quyền
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1998
22. Đỗ Xuân Hợp (1971), Giải phẫu đại cương, giải phẫu đầu mặt cổ, Vol. 71 - 146, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải phẫu đại cương, giải phẫu đầu mặt cổ
Tác giả: Đỗ Xuân Hợp
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1971
23. Dương Minh Mẫn (1997), Hội chứng tăng áp lực nội sọ, Bệnh học Ngoại Thần kinh, Vol. 1, Nhà xuất bản Y học, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội chứng tăng áp lực nội sọ
Tác giả: Dương Minh Mẫn
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1997
25. Ersahin Y, Gulmen V, Palali I et al (2000). Growing skull fractures (craniocerebral erosion), Neurosurg. Rev, 23, tr. 139-144 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Growing skull fractures (craniocerebral erosion)
Tác giả: Ersahin Y, Gulmen V, Palali I
Nhà XB: Neurosurg. Rev
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w