ĐỘC TÍNH CỦA HÓA TRỊ UNG THƯ- Các thuốc hóa trị ung thư đều gây những tác dụng phụ bên cạnh hiệu quả điều trị được trông đợi là ức chế tăng trưởng tế bào ung thư.. Các tế bào, tổ chức củ
Trang 1ĐỘC TÍNH CỦA HÓA TRỊ UNG THƯ
- Các thuốc hóa trị ung thư đều gây những tác dụng phụ bên cạnh hiệu quả điều trị được trông đợi là ức chế tăng trưởng tế bào ung thư Các tế bào, tổ chức của cơ thể có tốc độ tăng trưởng nhanh như niêm mạc ống tiêu hóa, hệ tạo
huyết, tế bào lớp đáy biểu mô, tế bào sinh dục …thường có biểu hiện độc tính hóa trị rõ nét nhất.
- Độc tính của hóa trị được phân độ theo mức độ nặng từ I đến IV hoặc theo
hệ cơ quan Có thể phân loại độc tính hóa trị theo thời điểm xảy ra như :
Phản ứng tức thời
Sốc phản vệ rất hiếm xảy ra Một vài thuốc như paclitaxel có thể gây phản ứng sốc phản vệ cần phải điều trị dự phòng trước.
Phản ứng sớm: xảy ra trong vòng vài ngày sau hóa trị gồm: nôn ói, mệt mỏi, sốt, phản ứng giả
cúm.
Trang 2
Phản ứng trễ: trong vòng vài ngày, vài tháng sau hóa trị.
+ Giảm sinh tủy: giảm bạch cầu, tiểu cầu, thiếu máu.
+ Rối loạn tiêu hóa: chán ăn, tiêu chảy, táo bón
+ Hệ da lông: rụng tóc, thay đổi màu sắc móng…
+ Hệ thần kinh: dị cảm đầu chi, giảm thính lực…
+ Hệ sinh dục: rối loạn king nguyệt, vô kinh, vô sinh.
+ Quái thai.
Phản ứng muộn: thường sau nhiều năm.
+ Vô sinh.
+ Đột biến di truyền cho thế hệ sau.
+ Ung thư mới (bệnh bạch cầu…)
+ Suy tim.
+ Xơ phổi.
Ngoài những tác dụng phụ chung thường gặp như: gây nôn ói, rụng tóc, giảm sản tủy…mỗi thuốc hóa trị có thể có những độc tính chuyên biệt cần lưu tâm khi sử dụng phối hợp với nhau Thường thì người ta tránh phối hợp các thuốc có cùng độc tính và tránh sử dụng thuốc vượt quá liều tích lũy tối đa cho phép để không gặp phải các độc tính muộn không hồi phục được.
•
Trang 3BIẾN CHỨNG TIA LÊN CƠ QUAN
Biến chứng của xạ trị lên hệ thống tạo máu, da và lồng ngực.
Hệ thống tạo máu
Xạ trị vào tủy xương, chứa tế bào mầm ảnh hưởng đến sự tạo máu Sau xạ trị toàn thân, sự giảm bạch cầu xảy ra tối đa vào ngày thứ 5, giảm tiểu cầu ngày thứ 10 và giảm hồng cầu vào tháng thứ 2
Da
Với những chùm tia năng lượng cao, da ít bị ảnh hưởng vì liều tối đa nằm dưới da Với những chùm tia năng lượng thấp hay khi
xạ trị các ung thư da, liều tối đa sẽ nằm ngay trên da Tia phóng xạ tác động lên da sẽ gây ra:
- Viêm da cấp: vào khoảng tuần lễ thứ 3 (# 25 Gy) gây rụng lông; tuần thứ 4 gây hồng ban, phù nề, giảm bài tiết mồ hôi; tuần thứ 5 gây tróc da khô, sau đó thành tróc da ướt để lộ lớp bì Các phản ứng viêm da cấp sẽ nặng hơn nếu sử dụng đồng thời với một số hóa chất như: Actinomycine D, Adriamycine
- Viêm da mạn: teo da, mất sắc tố, khô, mất lông, giãn mao mạch và thường đi kèm tình trạng xơ hóa mô dưới da Thường thấy với liều trên 60 Gy
Trang 4BIẾN CHỨNG TIA LÊN CƠ QUAN
Đường hô hấp trên và thực quản
Các phản ứng cấp
Viêm niêm mạc cấp do phóng xạ xuất hiện sớm khoảng tuần lễ thứ hai và hồi phục nhanh hơn ở da Sang thương lần lượt là mảng nội ban, mảng loét tiết dịch với màng giả Diễn tiến sẽ nhanh hơn nếu thực hiện hóa xạ đồng thời Đi kèm là triệu chứng nuốt đau, khó nuốt Tình trạng ăn uống khó trầm trọng thêm do mất khẩu vị và khô miệng (vĩnh viễn nếu xạ vào tuyến nước bọt trên 45 Gy, phục hồi sau 6 tháng nếu < 35 Gy) Tình trạng khô miệng tạo điều kiện cho sâu răng Do đó, trước khi xạ trị phải chăm sóc răng miệng cẩn thận.
Các phản ứng mạn
Viêm niêm mạc mạn xuất hiện sau liều tia trên 65 Gy dưới dạng niêm mạc trắng, teo với những mảng giãn mao mạch Nguy cơ chính là sự hoại tử niêm mạc.
Phổi
Bệnh phổi cấp xảy ra 2-4 tháng sau xạ trị với liều > 40 Gy và biến mất sau vài tuần Các triệu chứng khi đang điều trị là ho khan, khó thở khi gắng sức, sốt và đôi khi trên phim phổi có những đốm mờ nhẹ Trường hợp nặng kèm bội nhiễm, các triệu chứng xuất hiện dưới dạng bệnh phổi kẽ lan tỏa Xơ phổi thường xuất hiện chậm.
Tim
Xạ trị vào tim và trung thất có thể gây các sang thương ở màng tim và cơ tim Viêm màng tim cấp biểu hiện bằng triệu chứng đau ngực, sốt hoặc tràn dịch Viêm màng tim mạn xảy ra khoảng 1 năm sau xạ trị, thường là viêm màng tim tiết dịch Viêm màng tim có thể kết hợp với viêm cơ tim, thường nhẹ, chỉ biểu hiện bằng các dấu chứng trên điện tâm đồ.
Trang 5BIẾN CHỨNG TIA LÊN CƠ QUAN
Biến chứng của xạ trị lên ông tiêu hóa, gan, hệ tiết niệu
Ống tiêu hóa
Sự dung nạp ruột non là yếu tố chính hạn chế xạ trị vùng bụng chậu
Phản ứng cấp
Cơ chế của các phản ứng cấp là sự loại bỏ các tế bào của lớp nhung mao ruột, giảm diện tích toàn phần lớp niêm mạc, sự xuất hiện các vết loét cho phép vi khuẩn trong lòng ruột xâm nhập vào máu Các phản ứng cấp biểu hiện bằng các cơn đau quặn ruột, nôn ói, tiêu chảy, suy dinh dưỡng do giảm hấp thu, rối loạn điện giải và sốt
Các phản ứng mạn
Dạ dày có thể bị xơ chai môn vị hay loét Ruột non bị teo hẹp hay dính Trực tràng có thể bị viêm xuất huyết Trên lâm sàng bệnh nhân
có những cơn đau bụng, giảm hấp thu chất béo hay có những đợt tiêu chảy và táo bón xen kẻ Các biến chứng nặng như tắc ruột, thủng, dò Sự kết hợp các liệu pháp phẫu thuật hay hóa trị làm gia tăng đáng kể các biến chứng ở ruột
•
Trang 6Gan
Thời gian sống trung bình của các tế bào gan là 1 năm và sự phát triển tế bào của gan rất kém nên rất hiếm khi gặp các phản ứng cấp Tác dụng trên gan thường xuất hiện 4 tháng sau xạ trị toàn thể gan với triệu chứng: mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, sốt, gan to có thể xuất hiện báng bụng không vàng da và lách to.
Viêm gan đưa đến tử vong xảy ra với liều tia > 35 Gy/4 tuần Với liều thấp hơn, các triệu chứng biến mất sau vài tháng hoặc có thể thành mạn tính.
Thận
Biến chứng trên thận do xạ trị thường xuất hiện sau nhiều tháng hoặc nhiều năm Đầu tiên là tình trạng đạm niệu và cao huyết áp nhẹ, có thể tiến dần đến suy thận, cao huyết áp ác tính Liều dung nạp cho 2 thận không vượt quá 20 Gy/2 tuần Về mặt mô học, có tình trạng xơ chai và teo ở các cầu thận và ống thận, sang thương động mạch
Trang 7BIẾN CHỨNG TIA LÊN CƠ QUAN
Bàng quang
Thời gian tăng trưởng của bàng quang rất dài (khoảng 200 ngày), triệu chứng do
xạ trị thường xuất hiện muộn như tiểu nhiều, sau đó là các triệu chứng viêm bàng quang Các biến chứng muộn gồm xơ chai và giảm dung tích bàng quang, các vết loét bề mặt, tiểu máu hay teo hẹp niệu quản.
Tuyến sinh dục
Đối với tinh hòan, liều xạ duy nhất # 2 Gy có thể dẫn đến vô tinh, kéo dài 1-2 năm Liều 6 Gy có thể gây vô tinh vĩnh viễn Ngược lại, xạ trị với liều vài chục
Gy vẫn không làm giảm lượng testosterone bao nhiêu Như vậy, xạ trị gây vô sinh nhưng không gây bất lực.
Buồng trứng cũng rất nhạy với tia xạ nhưng khác tinh hoàn, cả hai chức năng đều
hị ảnh hưởng chỉ cần liều 12-15 Gy trên người nữ 20 tuổi đã tạo nên tình trạng mất kinh Ở người 45 tuổi, chỉ cần 5-7 Gy Chỉ cần vài Gy đủ để dẫn đến vô kinh tạm thời và các rối loạn kích tố Sự nhạy tia của buồng trứng được sử dụng để cắt buồng trứng bằng xạ trị.
Trang 8Biến chứng của xạ trị lên xương sụn, thần kinh và thủy tin thể
Xương và sụn
Sụn tăng trưởng rất nhạy với tia xạ Liều 10 Gy làm chậm hoặc ngưng tạm thời sự tăng trưởng, liều > 20 Gy đưa đến ngừng tăng trưởng vĩnh viễn.
Ở người lớn, hoại tử xương hàm dưới gặp ở 20% trường hợp với liều 60-70 Gy Suất độ và độ nặng liên quan với kích thước trường chiếu và tình trạng răng miệng.
Gãy cổ xương đùi tự nhiên sau liều 65 Gy, nặng thêm với việc sử dụng corticoide và loãng xương ở người mãn kinh Gãy xương sường và xương đòn gặp
ở các trường hợp sau xạ trị ung thư vú.
Não
Tia phóng xạ không tác động trực tiếp lên tế bào thần kinh vì chúng không phân chia mà gián tiếp qua tác động lên các tế bào ít nhánh, Schwann, các tế bào nội mạc mạch máu và các sao bào.
Các biến chứng sớm là tình trạng tăng áp lực nội sọ do phù nề não và giảm nhanh khi sử dụng corticoide 6-8 tuần sau khi xạ vào não với liều cao và trường chiếu rộng có thể thấy triệu chứng giảm thông minh, buồn ngủ và tình trạng lơ mơ Các triệu chứng này sẽ biến mất sau 4-6 tuần.
Các biến chứng muộn xảy ra trong khoảng 5% các trường hợp sau 1-3 năm khi toàn bộ não chịu liều xạ >50 Gy/5 tuần Chúng xuất hiện dần và không hồi phục các triệu chứng rối loạn trí nhớ, đôi khi suy nhược thần kinh.
Trang 9BIẾN CHỨNG TIA LÊN CƠ QUAN
Tủy sống
Bệnh tủy mạn rất hiếmnhưng rất nặng và không hồi phục với các rối loạn vận động, cảm giác hay rối loạn cơ vòng Tần suất liên quan đến tổng liều, phân liều và độ dài đoạn tủy bị chiếu xạ
Thần kinh ngoại biên
Biến chứng muộn trên các thần kinh ngoại biên rất hiếm, thường là tình trạng viêm mạn cánh tay với các triệu chứng đau hoặc suy giảm vận động cảm giác sau xạ trị với liều 55 Gy/5,5 tuần
Thủy tinh thể
Đục thủy tinh thể đưa đến mù hoàn toàn xuất hiện sau một lần tia duy nhất với liều > 2 Gy và chắc chắn với liều 7,5 Gy