1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Tài liệu Hóa trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa tại bệnh viện ung bướu TPHCM 2001-2002 pptx

11 934 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hóa trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa tại Bệnh viện Ung bướu TPHCM 2001-2002
Tác giả Vũ Văn Vũ, Đặng Thanh Hồng, Nguyễn Thị Minh Khang, Trần Quang Thuận, Nguyễn Mạnh Quốc, Trần Thị Ngọc Mai, Nguyễn Tuấn Khôi, Lê Thị Nhiều, Võ Thị Ngọc Điệp, Nguyễn Thị Bích Thủy
Trường học Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học
Thể loại Bài báo khoa học
Năm xuất bản 2005
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 247,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số yếu tố được xác lập có tương quan với thời gian sống còn bao gồm: có hóa trị, đáp ứng với hóa trị bước một, số chu kỳ hóa trị, tuổi, chỉ số hoạt động cơ thể, CEA/máu, các triệu ch

Trang 1

HÓA TRỊ UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN TIẾN XA

TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU TPHCM 2001 - 2002

Vũ Văn Vũ*, Đặng Thanh Hồng*, Nguyễn Thị Minh Khang*, Trần Quang Thuận*,

Nguyễn Mạnh Quốc*, Trần Thị Ngọc Mai*, Nguyễn Tuấn Khôi*, Lê Thị Nhiều*,

Võ Thị Ngọc Điệp*, Nguyễn Thị Bích Thủy*

TÓM TẮT

Trình bày kỹ thuật và đánh giá kết quả hóa trị 134 trường hợp ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) giai đoạn tiến xa tại BVUB TPHCM 2001 – 2002 Bệnh nhân có các đặc điểm nam chiếm đa số (64%), tuổi trung bình 59,3 Carcinôm tuyến chiếm tỉ lệ 80%, giai đoạn lâm sàng gồm IIIB và IV với tỉ lệ đồng đều Hóa trị bước một được thực hiện với các phối hợp kinh điển chiếm tỉ lệ cao (gần 80%), 42,5% bệnh nhân hóa trị bước hai, số chu kỳ hóa trị trung bình là 5,6

Kết quả ghi nhận tỉ lệ đáp ứng chủ quan 68,6%, tỉ lệ đáp ứng khách quan toàn bộ là 29,8% với tỉ lệ đáp ứng một phần 28,3%, tỉ lệ không thay đổi 58,9% và tiến triển bệnh 11,2% Trung vị thời gian sống còn bệnh nhân hóa trị là 9,3 tháng so với nhóm không hóa trị là 4,7 tháng 23,5% bệnh nhân hóa trị sống qua một năm so với 4,5% của nhóm không hóa trị Độc tính nghiêm trọng chủ yếu của hóa trị là giảm bạch cầu hạt grad 3/4 ghi nhận trong 4,5% số chu kỳ, có 4,4% bệnh nhân tử vong liên quan đến hóa trị Một số yếu tố được xác lập có tương quan với thời gian sống còn bao gồm: có hóa trị, đáp ứng với hóa trị bước một, số chu kỳ hóa trị, tuổi, chỉ số hoạt động cơ thể, CEA/máu, các triệu chứng tiên lượng nặng Hóa trị cần được cân nhắc áp dụng cho bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn tiến xa vì có ích lợi làm thuyên giảm triệu chứng và cải thiện thời gian sống còn

SUMMARY

CHEMOTHERAPY FOR ADVANCED NON-SMALL-CELL LUNG CANCER IN HO CHI

MINH CITY ONCOLOGY HOSPITAL 2001 – 2002

Vu Van Vu, Dang Thanh Hong, Nguyen Thi Minh Khang, Tran Quang Thuan, Nguyen Manh Quoc, Tran Thi Ngoc Mai, Nguyen Tuan Khoi, Le Thi Nhieu, Vo Thi Ngoc Diep, Nguyen Thi Bich Thuy

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 146 – 156

Review of technique and results of chemotherapy for 134 patients of NSCLC in HCMC Oncology Hospital 2001 – 2002 Patients’ characteristics are: predominant male (64%), average age 59.3, majority

of adenocarcinoma 80%, equal distribution of clinical stages of IIB and IV First line chemotherapies were given with the old drug combinations in approximately 80% of cases There were 42.5% patients treated

by second line chemotherapy The mean number of chemotherapy cycles was 5.6 Results noted a 68.6%

of subjective response rate The objective response rate is 29.8% with almost partial response in 28.3%, no change of disease seen in 58.9% patients and 11.2% of patients whose diseases progressed on chemotherapy The median survival is 9.3 months in chemotherapy group versus 4,7 months in chemotherapy one One-year overall survival rate is 23.5% in chemotherapy group versus 4.5% in non-chemotherapy one The most serious toxicity is grad 3/4 neutropenia observed in 4,5% of treatment cycles 4.4% chemotherapy patients died of treatment-relating complication

* Khoa Nội I, Bệnh viện Ung bướu TPHCM

Trang 2

There were some established factors have associations with survival including: chemotherapy, responsibility to first line chemotherapy, number of treatment cycles, age, performance status, serum CEA, poor prognostic factors

Chemotherapy should be considered in advanced NSCLC patients due to its benefits in palliation of

disease-relating symptoms and prolongement of survival

Ung thư phổi nguyên phát (UTPNP) là một trong

những ung thư hàng đầu về xuất độ và tử suất trên

phạm vi toàn cầu(3,4) Tại Việt nam cũng như tại nhiều

nước đang phát triển khác, ung thư phổi nguyên phát

(UTPNP) là loại bệnh lý ác tính có tầm quan trọng

đặc biệt vì xuất độ cao và có chiều hướng ngày càng

gia tăng liên quan đến sự tiêu thụ thuốc lá

Các kết quả ghi nhận ung thư quần thể bước đầu

ở nước ta cho thấy UTPNP có xuất độ cao ở cả hai

giới Tại Hà nội trong khoảng 1991-1995, UTPNP

được ghi nhận là loại ung thư thường gặp nhất ở giới

nam chiếm tỉ lệ 21,9% tổng số ung thư các loại và

xuất độ chuẩn theo tuổi là 34,9/100.000 Ở nữ giới Hà

nội được ghi nhận cùng khoảng thời gian trên,

UTPNP thường gặp hàng thứ ba chiếm 7,1% tổng số

ung thư các loại và xuất độ chuẩn theo tuổi là

7,1/100.000(1) Các kết quả bước đầu của ghi nhận

ung thư quần thể tại Thành phố Hồ Chí Minh cho

thấy UTPNP thường gặp hàng thứ hai ở nam (sau

ung thư gan; 16,5% tổng số ung thư các loại, xuất độ

chuẩn theo tuổi 23,7/100.000) và hàng thư sáu ở nữ

(5,4% % tổng số ung thư các loại, xuất độ chuẩn theo

tuổi là 5,6/100.000)(3) Như vậy ước tính mỗi năm có

khoảng 9.000 ca UTPNP mới xuất hiện trên phạm vi

cả nước, đây thật sự là gánh nặng cho ngành y tế và

cho cả xã hội

UTPNP là loại bệnh ác tính mà kết quả điều trị

hiện còn rất thấp Phần lớn UTPNP (80%) là loại

không tế bào nhỏ (UTPKTBN) tuy có mức độ ác tính

thấp hơn loại tế bào nhỏ nhưng bệnh nhân thường

được chẩn đoán vào giai đoạn trễ (giai đoạn III - IV)

do vị trí kín đáo về mặt giải phẫu học và diễn tiến âm

thầm Phương pháp điều trị chủ yếu hiện nay là phẫu

thuật, xạ trị và hóa liệu pháp Tính chung trên toàn

thế giới, hơn 70% ung thư phổi không tế bào nhỏ

(UTPKTBN) được chẩn đoán ở giai đoạn trễ không

còn khả năng phẫu thuật, việc điều trị ở giai đoạn này

chủ yếu nhằm vào xoa dịu làm nhẹ triệu chứng cũng như kéo dài thời gian sống còn cho người bệnh Hóa liệu pháp là vấn đề đã và đang được đẩy mạnh nghiên cứu để tăng hiệu quả điều trị xoa dịu cũng như tăng thời gian sống còn cho bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn tiến xa(5) Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển có nền kinh tế còn nhiều khó khăn như nước ta hiện nay

Bệnh viện Ung Bướu TPHCM tiếp nhận số lượng lớn bệnh nhân ung thư phổi nói chung và UTPKTBN nói riêng Trung bình mỗi năm có khoảng 400 bệnh nhân UTPNP đến khám và điều trị tại Bệnh viện với hơn 80% là loại UTPKTBN(5) Hóa liệu pháp được áp dụng trong điều trị triệu chứng các trường hợp UTPKTBN giai đoạn tiến xa từ năm 1990 Chúng tôi nghiên cứu các trường hợp bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn tiến xa được điều trị bằng hóa liệu pháp tại Bệnh viện Ung Bướu TPHCM với mong muốn rút ra được một số nhận định về vấn đề mới mẻ và còn nhiều bàn luận này

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Các trường hợp bệnh nhân được chẩn đoán UTPKTBN giai đoạn tiến xa điều trị tại Khoa Nội I Bệnh viện Ung Bướu TPHCM từ 30/6/2001 đến 30/6/2002

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Có xác định giải phẫu bệnh lý hoặc tế bào học Tuổi: mọi tuổi, cả hai giới

Không có những rối loạn chức năng nặng kèm theo

Có chỉ số hoạt động cơ thể theo Karnofski từ 60 trở lên

Có tổn thương đo được (tối thiểu theo hai chiều không gian)

Có điều kiện theo dõi được tình trạng bệnh và

Trang 3

sống còn cho đến ngày kết thúc ghi nhận

(30/7/2003)

Bệnh nhân chưa từng được điều trị đặc hiệu bằng

các phương pháp tại chỗ như phẫu thuật hoặc xạ trị

trước đó ngoại trừ phẫu thuật mổ đặt ống dẫn lưu

màng phổi

Bệnh nhân được điều trị bằng hóa liệu pháp hoặc

chăm sóc điều trị nội khoa triệu chứng theo chỉ định

lâm sàng

Tiêu chuẩn loại trừ

Các trường hợp tiến triển, tái phát hoặc di căn

sau điều trị tại chỗ tại vùng

Có những rối loạn chức năng nặng kèm theo

Không theo dõi đánh giá được

Phương pháp nghiên cứu chung: tiền cứu mở,

quan sát

KẾT QUẢ

Chúng tôi thu thập được tổng cộng 267 trường

hợp UTPKTBN giai đoạn tiến xa được điều trị và theo

dõi tại Khoa Nội 1 Bệnh viện Ung Bướu TPHCM từ

30/6/2001 đến 30/6/2002

Đặc điểm chung của nhóm khảo sát

Giới tính của nhóm bệnh nhân khảo sát đa số là

nam (64%), tuổi trung bình 59,3 Hơn phân nửa bệnh

nhân có chỉ số hoạt động cơ thể thấp <80 theo KPS)

Về giai đoạn bệnh lý, giai đoạn IV (có di căn xa) và

giai đoạn IIIB phân bố đồng đều (gần 50% trường

hợp), chỉ có 8 trường hợp ở giai đoạn IIIA Dạng mô

học chiếm ưu thế là carcinôm tuyến (79,4%),

carcinôm tế bào vảy chỉ chiếm 13,5%

Tuy thiết kế nghiên cứu không phải là phân bố

ngẫu nhiên mà chỉ là quan sát mở ghi nhận theo tình

huống chỉ định lâm sàng nhưng số trường hợp có can

thiệp hóa liệu pháp và không hóa liệu pháp được ghi

nhận đồng đều (49,8 và 50,2%) Có 24,3% bệnh nhân

được can thiệp dẫn lưu và xơ hoá màng phổi do có

tràn dịch màng phổi ác tính kèm theo

Khảo sát sự phân bố một số đặc điểm dân số học

và lâm sàng theo hai nhóm có hoặc không có can

thiệp hóa liệu pháp ghi nhận các đặc điểm được phân bố khá đồng đều theo giới, tuổi, nơi cư trú, giai đoạn lâm sàng, dạng giải phẫu bệnh, dấu hiệu tiên lượng nặng, tổn thương di căn xa và ngay cả biện pháp dẫn lưu xơ hóa màng phổi để xử lý tràn dịch màng phổi Tuy nhiên, nhóm hóa liệu pháp có chỉ số hoạt động

cơ thể tốt hơn (69% có chỉ số KPS 90 – 100 so với 39%, p<0,001)(Bảng 3.11)

Bảng 1 Phân bố đặc điểm dân số học và lâm sàng

theo hai nhóm có hoặc không hóa liệu pháp

liệu pháp (134 bệnh nhân)

Nhóm không hóa liệu pháp (131 bệnh nhân)

Giới: nam nữ Tuổi trung bình Nơi cư trú: thành thị thôn quê Giai đoạn lâm sàng: IIIA

giai đoạn IIIB giai đoạn IV Giải phẫu bệnh:

carcinôm tuyến carcinôm tế bào vảy carcinôm kém biệt hóa không định loại Chỉ số hoạt động cơ thể

90 – 100

70 – 80

50 – 60 Triệu chứng tiên lượng nặng không có

sụt cân >10%

sốt bạch cầu hạt >10.000 cả ba

Tổn thương di căn: không

phổi xương não gan thượng thận hạch lymphô

vị trí khác nhiều vị trí Dẫn lưu, xơ hóa màng phổi

84

50 56,51

80

54

7

64

63

107

17

7

3

69

57

8

115

8

1

6

4

7

26

7

10

4

9

3

8

33

83

48 62,05

82

51

1

72

60

105

19

7

2

39

73

21

105

13

1

10

4

74

23

5

5

5

1

10

5

5

32

Kỹ thuật hóa liệu pháp

Trong tổng số 134 trường hợp bệnh nhân UTPKTBN được hóa liệu pháp, phân nửa trường hợp

Trang 4

bệnh nhân (50,7%) chỉ được hóa liệu pháp bước một

với một phác đồ Số bệnh nhân được thay đổi thuốc

chuyển sang hóa liệu pháp bước hai (phác đồ thứ hai)

chiếm 42,5% do không đáp ứng, do bệnh tiếp tục tiến

triển hoặc do độc tính của thuốc Tương tự, tỉ lệ bệnh

nhân chuyển sang hóa liệu pháp liệu bước ba và bốn

là 5,2% và 1,5%

Tổng số chu kỳ hóa liệu pháp cũng thay đổi trong

khoảng từ 1 đến 14 với số chu kỳ trung bình là 5,6

Phần nhiều bệnh nhân được điều trị từ 4 – 6 chu kỳ

Có 32,1% bệnh nhân được điều trị hơn 6 chu kỳ và

11,2% hơn 8 chu kỳ Số chu kỳ điều trị thay đổi tuỳ

thuộc vào tình trạng đáp ứng, độc tính của thuốc và

tình trạng dung nạp của bệnh nhân

Về phương diện sử dụng hóa liệu pháp liệu đơn

chất hay phối hợp, chúng tôi ghi nhận đại đa số

(96,3%) bệnh nhân được dùng hóa liệu pháp phối hợp

trong lần đầu tiên (bước một) và chỉ có 3,7% bệnh

nhân được dùng hóa liệu pháp đơn chất Tuy nhiên tỉ

lệ bệnh nhân được dùng hóa liệu pháp đơn chất có

khuynh hướng tăng dần trong các bước hóa liệu pháp

liệu tiếp theo (13,3% ở bước ba và 28,6% ở bước bốn)

Ghi nhận về các phối hợp thuốc sử dụng, phối

hợp cisplatin (hoặc carboplatin) và etoposide được

dùng nhiều nhất như là phối hợp đầu tay (bước một)

với tỉ lệ 66,4% Có 23,1% bệnh nhân được sử dụng

các phối hợp “thuốc mới” (paclitaxel hoặc

gemcitabine) trong hóa liệu pháp bước một Các phối

hợp khác như CAP (Cyclophosphamide, Adriamycine,

Cisplatin), MIC (Mitomycin C, Ifosfamide, Cisplatin)

hay các phối hợp khác có Ifosfamide thường được

dùng bước hai sau phối hợp platin/etoposide ở bước

một (Bảng 2)

Bảng 2 Các thuốc và phối hợp thuốc sử dụng

Phối hợp thuốc Số ca (%) Bước một Số ca (%) Bước hai Số ca (%) Bước ba

Cisplatin/Etoposide

Carboplatin/Etoposide

CAP

MIC

Paclitaxel/Carboplatin

Gemcitabine/Cisplatin

Phối hợp có IFM

59 (44)

30 (22,4)

8 (6)

16 (11,9)

15 (11,2)

1 (0,7)

4 (7)

2 (3,5)

16 (28)

1 (1,7)

13 (22,8)

4 (7)

8 (14)

2

2

Phối hợp thuốc Số ca (%) Bước một Số ca (%) Bước hai Số ca (%) Bước ba

Khác 5 (3,7) 9 (15,8) 3 Tổng cộng 134 (100) 57 (100) 7

(Ghi chú: CAP: Cyclophosphamide, Adriamycine, Cisplatin – MIC: Mitomycin C, Ifosfamide, Cisplatin – IFM: Ifosfamide)

Độc tính của thuốc dùng trong hóa liệu pháp

Kết quả ghi nhận về độc tính và các tác dụng phụ nghiêm trọng của hóa liệu pháp được trình bày trong bảng 3 theo số chu kỳ có độc tính trên tổng số 769 chu kỳ điều trị

Bảng 3 Độc tính grad 3 và 4 của hóa liệu pháp

Huyết học Giảm bạch cầu hạt Giảm tiểu cầu Thiếu máu Ngoài huyết học Nôn ói nặng Viêm thần kinh ngoại biên Tim mạch

35

12

16

62

6

3

4,5 1,5

2

8 4,5 (/134 bệnh nhân hoá liệu pháp) 2,2 (/134 bệnh nhân hoá liệu pháp)

Tỉ lệ giảm bạch cầu hạt grad 3 và 4 là 4,5% số chu kỳ điều trị nhưng trong đó chỉ có 1/3 trường hợp (13 trường hợp) phải nằm viện vì sốt giảm bạch cầu Độc tính ngoài hệ tạo huyết gặp chủ yếu là tình trạng nôn ói nặng xảy ra trong khoảng 8% số chu kỳ hóa liệu pháp Viêm thần kinh ngoại biên gặp ở 4,5% bệnh nhân sau một số chu kỳ hóa liệu pháp có thuốc thuộc nhóm platin

Độc tính của thuốc dùng trong hóa liệu pháp có ảnh hưởng đến việc điều trị và là một trong những lý

do ngưng hóa liệu pháp Có 7,4% bệnh nhân phải ngưng hóa liệu pháp bước một vì độc tính và tác dụng phụ của thuốc Tỉ lệ này lần lượt là 2,2% đối với hóa liệu pháp bước hai và 11% đối với hóa liệu pháp bước

ba Ngoài ra có 6 trường hợp tử vong do độc tính của hóa liệu pháp (4,4% số bệnh nhân hóa liệu pháp) bao gồm 5 trường hợp giảm bạch cầu hạt và một biến chứng tim mạch

Trang 5

Thời gian sống còn

Kết quả hóa liệu pháp

Thời gian sống còn toàn bộ của hai nhóm bệnh nhân có và không có hóa liệu pháp được trình bày trong bảng 5 và biểu đồ 1 dưới đây

Các tỉ lệ đáp ứng

Các tỉ lệ đáp ứng của 134 bệnh nhân hóa liệu

pháp được ghi nhận trong bảng 4 Tỉ lệ đáp ứng chủ

quan là 68,6% Các tỉ lệ đáp ứng khách quan gồm:

1,5% đáp ứng hoàn toàn, 28,3% đáp ứng một phần,

58,9% bệnh không thay đổi (ổn định) và có 11,2%

bệnh tiến triển

Bảng 5 Thời gian sống còn toàn bộ hai nhóm bệnh

nhân (tháng)

hai nhóm

Hóa liệu pháp

Không hóa liệu pháp

Trung bình Độ lệch chuẩn Khoảng Trung vị

Tỉ lệ % sống trên 1 năm

7,03 4,78

1 – 24

6 13,9

9,33 4,67

1 – 24

10 23,1

4,71 3,65

1 – 17

4 4,5

Thời gian đáp ứng trung bình 5,1 tháng (độ lệch

chuẩn 2,9 tháng)

Ghi nhận các tỉ lệ đáp ứng theo hai nhóm bệnh

nhân dùng các phối hợp “thuốc cũ” và “thuốc mới”,

các tỉ lệ đáp ứng cao hơn ở nhóm “thuốc mới” nhưng

không đủ ý nghĩa thống kê

Trung vị thời gian sống còn toàn bộ của cả nhóm bệnh nhân là 6 tháng Nhóm bệnh nhân có hóa liệu pháp có trung vị thời gian sống còn toàn bộ dài hơn nhóm không can thiệp đáng kể (9,3 tháng so với 4,7 tháng, p < 0,05) Tỉ lệ bệnh nhân sống qua một năm của nhóm hóa liệu pháp là 23,1% so với 4,5% của nhóm không can thiệp

Bảng 4 Các tỉ lệ đáp ứng

Đáp ứng chủ quan

Đáp ứng khách quan

đáp ứng hoàn toàn

đáp ứng một phần

không thay đổi

bệnh tiến triển

Thời gian đáp ứng (tháng)

trung bình

lệch chuẩn

92

2

38

79

15 5,1 2,9

68,6 1,5 28,3 58,9 11,2

Survival Functions

30 20

10 0

1.2

1.0

.8

.6

.4

.2

0.0

-.2

Tỉ lệ sống còn

Có hóa liệu pháp

CDHOATRI co

khong

Không hóa liệu pháp

thang

tháng

Biểu đồ 1 Thời gian sống còn toàn bộ của hai nhóm bệnh nhân

Trang 6

Tổng hợp tương quan của các yếu tố

khảo sát với thời gian sống còn

Bảng 6 Tương quan của các yếu tố khảo sát với thời

gian sống còn

Giới

Tuổi

Triệu chứng nặng

KPS

Tổn thương di căn

Giai đoạn lâm sàng

Giải phẫu bệnh

CEA/máu

Có hoá liệu pháp

Loại phối hợp bước

một

Đáp ứng hóa liệu

pháp bước một

Số bước hóa liệu

pháp

Số chu kỳ điều trị

0,027 (Spearman) 0,217 (Pearson) -0,190 (Spearman) Tương quan mức 0,01 0,213 (Pearson)

-0,116 (Spearman) -0,083 (Spearman) 0,010 (Spearman) -0,289 (Pearson) 0,497 (Spearman) 0,092 (Spearman) 0,361 (Spearman) 0,148 (Pearson) 0,702 (Pearson)

Không tương quan Tương quan mức 0,05 Tương quan mức 0,05 Không tương quan Không tương quan Không tương quan Tương quan mức 0,05 Tương quan mức 0,01 Không tương quan Tương quan mức 0,01 Không tương quan Tương quan mức 0,01

Như vậy qua khảo sát này, thời gian sống còn của

bệnh nhân UTPKTBN có tương quan thuận lợi với các

yếu tố được xác lập như sau:

-có hóa liệu pháp (mức tương quan 0,01)

-đáp ứng với hóa liệu pháp bước một tốt (mức

tương quan 0,01)

-có số chu kỳ điều trị nhiều, phù hợp (mức tương

quan 0,01)

-không có các triệu chứng tiên lượng nặng (mức

tương quan 0,01)

-không có CEA/máu cao (mức tương quan 0,05)

-chỉ số hoạt động cơ thể tốt (mức tương quan

0,05)

-không ở hai “đầu mút” của nhóm tuổi (mức

tương quan 0,05)

Các yếu tố không xác lập được tương quan với

thời gian sống còn:

-giới

-giai đoạn lâm sàng

-tổn thương di căn

-dạng giải phẫu bệnh

-loại phối hợp thuốc sử dụng bước một

-số bước hóa liệu pháp sử dụng

BÀN LUẬN Độc tính của hóa liệu pháp

Độc tính trên hệ tạo huyết nghiêm trọng và thường gặp nhất là tình trạng giảm bạch cầu Tỉ lệ giảm bạch cầu hạt grad 3 và 4 là 4,5% số chu kỳ điều trị nhưng trong đó chỉ có 1/3 trường hợp (13 trường hợp) phải nhập viện vì sốt giảm bạch cầu Việc điều trị chủ yếu dựa vào kháng sinh toàn thân, nâng đỡ cơ thể và dùng các thuốc trợ tủy kích thích tăng bạch cầu trong một số trường hợp Tỉ lệ giảm bạch cầu này khá thấp so với nhiều công trình nghiên cứu ở nước ngoài nhưng tương tự như kết quả khảo sát tại cùng Bệnh viện vào thời điểm trước có thể do việc dùng liều thường thấp(4,7,8,9)

Tỉ lệ giảm bạch cầu hạt grad 3 hoặc 4 ghi nhận được trong loạt khảo sát của chúng tôi cũng ở mức độ thấp (4,5% số chu kỳ) do dùng liều thấp Tuy nhiên đây lại là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong liên quan đến điều trị Trong số 6 bệnh nhân tử vong liên quan đến điều trị (chiếm 4,4% bệnh nhân) có đến 5 trường hợp là do biến chứng giảm bạch cầu

Tình trạng giảm tiểu cầu grad 3 hoặc 4 chỉ được ghi nhận trong 1,5% số chu kỳ hóa liệu pháp và liên quan đến dùng carboplatin Tuy vậy giảm tiểu cầu không đưa đến biến chứng nghiêm trọng nào, bệnh nhân phần nhiều tự hồi phục, có hai trường hợp phải nhập viện truyền tiểu cầu vì xuất huyết dưới da Trên bệnh nhân hóa liệu pháp UTPKTBN giai đoạn tiến xa, việc đánh giá tình trạng thiếu máu có hay không liên quan đến điều trị là điều rất khó khăn Dù các dẫn chất platin (cisplatin, carboplatin) thường được dùng trong các phối hợp có độc tính tích tụ trên tủy xương nhưng các yếu tố khác như tình trạng chán ăn, nôn ói, đau nhức, tâm lý lo lắng của bệnh nhân cũng có thể ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng và góp phần gây thiếu máu

Độc tính ngoài hệ tạo huyết gặp chủ yếu là tình trạng nôn ói nặng xảy ra trong khoảng 8% số chu kỳ hóa liệu pháp Cisplatin là thuốc có khả năng gây nôn ói mạnh và có đặc tính là nôn ói muộn xảy ra nhiều

Trang 7

ngày sau điều trị Đây là điều gây khó khăn cho nhiều

bệnh nhân đặc biệt là bệnh nhân ngoại trú ở các tỉnh

xa Việc xử trí thường đòi hỏi phải nhập việc, bù hoàn

nước điện giải, năng lượng, dùng thuốc chống nôn

(corticoid và metoclopramide liều cao) Đối với bệnh

nhân được đánh giá kém khả năng dung nạp với tác

dụng phụ này, carboplatin thường được chỉ định

dùng thay thế

Viêm thần kinh ngoại biên gặp ở 4,5% bệnh nhân

sau một số chu kỳ hóa liệu pháp có nhóm platin

Bệnh nhân thường biểu hiện tê, dị cảm đầu tay, chân

đưa đến cản trở ít nhiều khi cằm nắm, đi đứng

Triệu chứng đau cơ khớp rất đặc thù cho

paclitaxel được ghi nhận xảy ra với tỉ lệ 5 – 10% bệnh

nhân đau cơ khớp grad 3 hoặc 4(15,16) Chúng tôi ghi

nhận tác dụng phụ này rất hiếm gặp (dưới 5% số chu

kỳ hóa liệu pháp với paclitaxel) và thường nhẹ (grad 1,

2), thoáng qua Các tác dụng phụ khác tuy ít nghiêm

trọng hơn nhưng rất thông thường là rụng tóc, thay

đổi màu sắc da, móng, táo bón hay tiêu chảy, giả cúm

v.v cũng được ghi nhận ở nhóm bệnh nhân khảo

sát này

Độc tính của hóa liệu pháp có ảnh hưởng đến

việc điều trị và là một trong những lý do ngưng hóa

liệu pháp: 7,4% trong ngưng hóa liệu pháp bước một,

2,2% hóa liệu pháp bước hai và 11% đối với hóa liệu

pháp bước ba Ngoài ra có 6 trường hợp tử vong do

độc tính của hóa liệu pháp (4,4% số bệnh nhân điều

trị) bao gồm 5 trường hợp giảm bạch cầu hạt và một

biến chứng tim mạch Tỉ lệ tử vong liên quan đến

điều trị tuy thấp nhưng có ảnh hưởng đến kết quả

sống còn của toàn bộ nhóm bệnh nhân nghiên cứu

và làm mờ nhạt đi ích lợi sống còn của hóa liệu pháp

trên nhóm bệnh nhân có đáp ứng(23,) Đây cũng là

điều cần ghi nhận để cân nhắc chỉ định hóa liệu pháp

cho phù hợp với từng trường hợp bệnh nhân cụ thể

Kết quả hóa liệu pháp

Các tỉ lệ đáp ứng

Các tỉ lệ đáp ứng khách quan gồm: 1,5% đáp ứng

hoàn toàn, 28,3% đáp ứng một phần, 58,9% bệnh

không thay đổi (ổn định) và có 11,2% bệnh tiến triển

Như vậy tỉ lệ đáp ứng toàn bộ là 29,8% So sánh với

kết quả ghi nhận cũng tại Bệnh viện Ung Bướu TPHCM thời điểm 1995-1997, các tỉ lệ đáp ứng đều cao hơn rõ rệt(9) Chúng tôi cho rằng điều này phản ảnh sự khác biệt trong phương pháp ghi nhận Trong tổng kết trước, tỉ lệ bệnh nhân hóa liệu pháp bước hai và bước ba là 18,8 và 4,9%, số chu kỳ điều trị trung bình chỉ là 2,6(9) Nghiên cứu này ghi nhận số bệnh nhân hóa liệu pháp các bước hai và ba cao hơn rõ rệt (42,5 và 5,2%), số chu kỳ điều trị trung bình là 5,6 Do vậy tỉ lệ đáp ứng một phần có cải thiện hơn (28,3% so với 10,5%)(9) So sánh với nhiều công trình hóa liệu pháp UTPKTBN giai đoạn tiến xa bằng nhiều phối hợp khác nhau, tỉ lệ đáp ứng của nghiên cứu này cũng nằm trong khoảng y văn đề cập đến(17,19,43,45) Các phối hợp thuốc mới thường cho tỉ lệ đáp ứng toàn bộ cao hơn so với các phối hợp thuốc “chuẩn” cũ như PE (cisplatin - etoposide hoặc carboplatin – etoposide), CAP (cyclophosphamide – doxorubicin – cisplatin), MIC (mitomycin C – ifosfamide – cisplatin) với kết quả được ghi nhận qua các nghiên cứu pha III thay đổi từ 17 – 47%(15,25,29,31,) Khi so sánh tỉ lệ đáp ứng toàn bộ của hai nhóm bệnh nhân hóa liệu pháp bước một với các phối hợp “thuốc cũ” và “mới”, chúng tôi ghi nhận không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê (27,2% cho nhóm thuốc cũ so với 38,7% của nhóm thuốc mới, p > 0,05) Điều này có thể giải thích do số lượng bệnh nhân được sử dụng nhóm thuốc mới không nhiều và liều lượng thuốc sử dụng thường ở mức thấp, không cao

Phân tích chi tiết tỉ lệ đáp ứng cho thấy đại đa số các bệnh nhân có đáp ứng với hóa liệu pháp chỉ ớ mức độ đáp ứng một phần, tỉ lệ đáp ứng hoàn toàn là rất thấp (1,5%) Ghi nhận này cũng phù hợp với nhận định của hầu hết các tác giả

Thời gian đáp ứng trung bình 5,1 tháng (độ lệch chuẩn 2,9 tháng) có dài hơn kết quả ghi nhận thời gian trước (3,8 tháng)(9), lý do có thể giải thích bằng số chu kỳ điều trị nhiều hơn rõ rệt Kết quả ghi nhận này của chúng tôi cũng phù hợp với số liệu của các tác giả khác(15,25,29,31)

Đáp ứng chủ quan được ghi nhận trong 68,6% bệnh nhân Kết quả này cũng cao hơn tổng kết cũ(9)

Trang 8

và nằm trong khoảng các ghi nhận của y

văn(4,8,9,22,23,45) Đây cũng là điều liên quan trực tiếp

đến khái niệm “ích lợi lâm sàng” của hóa liệu pháp

mà các tác giả hay đề cập đến Tuy đáp ứng khách

quan không cao (20 – 40%) nhưng một tỉ lệ quan

trọng bệnh nhân (60 – 80%) UTPKTBN giai đoạn tiến

xa được giảm nhẹ các triệu chứng như khó thở, đau

ngực, khó chịu trong một thời gian nhờ hóa liệu

pháp Sự giảm nhẹ các triệu chứng này bằng hóa liệu

pháp lâu bền hơn so với bằng các biện pháp điều trị

chăm sóc nâng đỡ làm tăng thêm chất lượng sống

của bệnh nhân(30,33)

Thời gian sống còn

Trung vị thời gian sống còn toàn bộ của cả nhóm

bệnh nhân là 6 tháng Nhóm bệnh nhân được điều trị

hóa liệu pháp có trung vị thời gian sống còn toàn bộ

dài hơn nhóm không can thiệp một cách có ý nghĩa

thống kê (9,3 tháng so với 4,7 tháng, p < 0,05) Tỉ lệ

bệnh nhân sống qua một năm của nhóm hóa liệu

pháp là 23,1% so với 4,5% nhóm không can thiệp

Kết quả ghi nhận này cũng phù hợp với nhiều

công trình so sánh ngẫu nhiên giữa hóa liệu pháp và

điều trị nội khoa nâng đỡ Các công trình tiền cứu so

sánh ngẫu nhiên thời gian sống còn của bệnh nhân

UTPKTBN giai đoạn tiến xa có hoặc không có hóa liệu

pháp thường cho thấy nhóm bệnh nhân hóa liệu

pháp được hưởng thêm trung bình khoảng 1,5 – 2,5

tháng dài hơn nhóm bệnh nhân không hóa liệu

pháp(19,23,33)

Với phần lớn bệnh nhân (77%) được hóa liệu

pháp bước một với các thuốc “kinh điển” thì trung vị

thời gian sống còn 9,3 tháng và 23,1% bệnh nhân

sống qua một năm là các kết quả rất phấn khởi

Trong hai thập niên 70 và 80 với sự áp dụng các dẫn

chất platin và các thuốc kinh điển như: mitomycin C,

ifosfamide, vindesine, vinblastine, etoposide , kết

quả hoá liệu pháp UTPKTBN giai đoạn tiến xa qua các

thử nghiệm pha II vẫn hết sức khiêm tốn, đặc biệt là

trong việc cải thiện thời gian sống còn với trung vị

thời gian sống còn từ 6 – 8 tháng và tỉ lệ bệnh nhân

sống qua một năm chỉ ở mức 10 – 12% Các nghiên

cứu pha III dùng nhiều phối hợp thuốc khác nhau dựa

trên dẫn chất platin được thiết kế bởi nhiều nhóm tác giả khác nhau như: Bonomi (1989), Ruckdeschel (1986), Eihorn (1986) đem lại cho người bệnh nhiều kết quả hứa hẹn với trung vị thời gian sống còn là 6 tháng và tỉ lệ sống qua một năm là 15 – 20% Kết quả trung vị thời gian sống còn của chúng tôi là 9,3 tháng được tính chung cho toàn bộ nhóm bệnh nhân hóa liệu pháp, không phân biệt loại phối hợp thuốc sử dụng bước một Kết quả này ở mức cao nếu

so với các ghi nhận của các tác giả khác Chúng tôi cho rằng điều này có thể do ảnh hưởng của yếu tố chọn lựa khi chỉ định hóa liệu pháp cho bệnh nhân Thường bệnh nhân hóa liệu pháp có nhiều thuận lợi như thể trạng tốt, chỉ số hoạt động cơ thể cao, không rối loạn chức năng nặng, điều kiện kinh tế xã hội cao, chăm sóc tốt Bên cạnh đó bệnh nhân còn được theo dõi và hóa liệu pháp các bước sau nếu không đáp ứng với phới hợp đầu Kỹ thuật dùng thuốc cũng được cân nhắc với mức liều thích hợp Tổng hợp nhiều yếu tố trên đưa đến kết quả khả quan về thời gian sống còn

Một trong những điểm rất đáng lưu ý là về tỉ lệ bệnh nhân sống qua một năm Loạt khảo sát của chúng tôi ghi nhận có 23,1% bệnh nhân sống qua một năm so với tỉ lệ 4,5% của nhóm bệnh nhân không can thiệp hóa liệu pháp Tỉ lệ sống qua một năm chúng tôi ghi nhận được tương đương với kết quả của các công trình hóa liệu pháp với các phối hợp

“thuốc cũ” Các phối hợp thuốc mới tuy chỉ cải thiện được tỉ lệ đáp ứng ở mức vừa phải, thay đổi thời gian sống còn mức khiêm tốn nhưng lại làm tăng tỉ lệ bệnh nhân sống qua một năm một cách rất rõ ràng Các nghiên cứu pha III cho thấy tỉ lệ sống qua một năm của bệnh nhân UTPKTBN được hóa liệu pháp với các phối hợp thuốc mới thay đổi từ 27 – 45%(15,25,29,31,)

Như vậy qua khảo sát này, thời gian sống còn của bệnh nhân UTPKTBN có tương quan thuận lợi với các yếu tố được xác lập như sau:

-có hóa liệu pháp (mức tương quan 0,01) -đáp ứng với hóa liệu pháp bước một tốt (mức tương quan 0,01)

-có số chu kỳ điều trị nhiều, phù hợp (mức tương

Trang 9

quan 0,01)

-Chỉ số hoạt động cơ thể tốt (mức tương quan

0,05)

-Không có CEA/máu cao (mức tương quan 0,05)

-Không có các triệu chứng tiên lượng nặng (mức

tương quan 0,05)

-Không ở hai “đầu mút” của nhóm tuổi

Các yếu tố không xác lập được tương quan với

thời gian sống còn:

-Giới

-Giai đoạn lâm sàng

-Tổn thương di căn

-Dạng giải phẫu bệnh

-Loại phối hợp thuốc sử dụng bước một

-Số bước hóa liệu pháp sử dụng

Những ghi nhận trên có thể giúp nhà lâm sàng

thêm dữ kiện để cân nhắc chỉ định điều trị theo từng

trường hợp bệnh nhân

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu hóa liệu pháp các trường hợp

UTPKTBN giai đoạn tiến xa điều trị tại Bệnh viện Ung

Bướu TPHCM, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

Hóa liệu pháp cho các tỉ lệ đáp ứng

Đáp ứng khách quan toàn bộ là 29,8% (1,5% đáp

ứng hoàn toàn và 28,3% đáp ứng một phần)

58,9% bệnh nhân ổn định

11,2% bệnh tiến triển

Đáp ứng chủ quan 68,6%

Thời gian đáp ứng trung bình 5,1 tháng

Hóa liệu pháp cho kết quả về thời

gian sống còn

Trung vị thời gian sống còn là 9,3 tháng

Tỉ lệ bệnh nhân sống một năm là 23,1%

Các kết quả thời gian sống còn đều cao hơn có ý

nghĩa thống kê với nhóm không hóa liệu pháp

(p<0,05)

Độc tính chủ yếu ghi nhận là giảm bạch cầu (4,5% số chu kỳ), có 4,4% bệnh nhân tử vong liên quan điều trị

Các yếu tố tương quan với thời gian sống còn gồm

Hóa liệu pháp Đáp ứng với hóa liệu pháp bước một Số chu kỳ hóa liệu pháp

Tuổi Chỉ số hoạt động cơ thể CEA/máu

Các triệu chứng tiên lượng nặng: sụt cân, sốt, tăng bạch cầu

Các yếu tố không xác lập có tương quan

Giới Giai đoạn lâm sàng Tổn thương di căn Dạng giải phẫu bệnh Loại phối hợp thuốc sử dụng Số bước hóa liệu pháp Việc cân nhắc áp dụng chỉ định hóa liệu pháp nên cân nhắc kỹ càng tùy thuộc vào từng bệnh nhân để đem lại hiệu quả lâm sàng tốt nhất Chúng tôi đề xuất nên cân nhắc áp dụng hóa liệu pháp cho những bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn tiến xa có các tính chất sau:

Chỉ số hoạt động cơ thể tốt Các chức năng cơ thể tốt Điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi

Về kỹ thuật nên chú trọng lựa chọn thuốc phù hợp với sức chịu đựng của bệnh nhân, duy trì số chu kỳ hóa liệu pháp thích hợp và chú trọng các biện pháp chăm sóc nâng đỡ toàn thân

Sự đánh giá hiệu quả của hóa liệu pháp trên UTPKTBN giai đoạn tiến xa còn cần phải dựa thêm vào chất lượng sống của bệnh nhân Chúng tôi kiến

Trang 10

nghị nên có các khảo sát tiền cứu tiếp tục về vấn đề

này bên cạnh khía cạnh kinh tế (chi phí – hiệu quả)

của hóa liệu pháp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

“Ung thư ở người Hà nội 1991-1995 (1998)”, Báo cáo

tại Hội nghị Quốc tế về Ung thư: Chẩn đoán, điều trị,

nghiên cứu và quản lý 27-28 tháng 4/1998, Hà nội

Việt Nam

thư, Nhà xuất bản Y học, Hà nội, tr 64 – 74

nang ung bướu học lâm sàng, Lần xuất bản thứ sáu,

Bản dịch tiếng Việt, Nhà Xuất bản Y Học TPHCM, tr

405 – 426

nhận bước đầu điều trị ung thư phổi không phải tế bào

nhỏ giai đoạn tiến xa với Gemzar-carboplatin”, Tạp

chí Thông tin Y Dược, (Số chuyên đề ung thư 8/2000),

tr 146 – 149

II, Trường Đại Học Y Dược TPHCM, tr.43 – 54

(1998), “Kết quả ghi nhận ung thư quần thể tại Thành

Phố Hồ Chí Minh 1997”, Y Học Thành Phố Hồ Chí

Minh, (Phụ bản số 3, tập 2), tr 11-19

cộng sự (1999), “Chẩn đoán và điều trị ung thư phổi

nguyên phát tại Trung Tâm Ung Bướu TPHCM

1995-1997”, Tạp chí Thông tin Y Dược, (Số chuyên đề ung

thư 11/1999), tr 104 – 111

nhận bước đầu điều trị ung thư phổi không phải tế bào

nhỏ giai đoạn tiến xa với Taxol-carboplatin”, Tạp chí

Thông tin Y Dược, (Số chuyên đề ung thư 8/2000), tr

150 – 154

“Hóa trị ung thư phổi nguyên phát tại Trung Tâm Ung

Bướu TPHCM”, Y học Thành phố Hồ Chí Minh, (Số

chuyên đề ung thư 12/2001), tr 249 – 253

10 American Society of Clinical Oncology (1997),

“Clinical practice guidelines for the treatment of

unresectable non-small-cell lung cancer”, J Clin Oncol,

15, pp 2996 – 3018

11 Breathnach O.S et al (2001), “Twenty-two years of

phase III trials for patients with advanced

non-small-cell lung cancer: sobering results”, J Clin Oncol, 19

(6), pp 1734 – 1742

12 Brundage M.D et al (2002), “Prognostic factors in

Chest, 122, pp 1037-1057

13 Bunn P.A Jr et al (1998), “An update on North

American randomized studies in non-small-cell lung

cancer”, Semin Oncol, 25 (suppl 9), pp 2 – 10

14 Bunn P.A Jr (2001), “Triplet combination

chemotherapy and targeted therapy regimens”,

Oncology, 15 (3, suppl 6), pp 26 – 32

15 Bunn P.A Jr (2002), “Novel targeted agents for the

treatment of lung cancer”, ASCO Educational Book

38th Annual Meeting 2002, pp 683 – 692

16 Bunn P.A Jr (2002), “Treatment of advanced

non-small-cell lung cancer with two-drug combinations”, J

Clin Oncol, 20 (17), pp 3565 – 3567

17 Bunn P.A Jr (2002), “Chemotherapy for Advanced Non–Small-Cell Lung Cancer: Who, What, When,

Why?”, J Clin Oncol, 20 (17), pp 23s – 33s

18 Bunn P.A Jr., Lilenbaum R (2002),”Chemotherapy for elderly patients with advanced non-small-cell lung

cancer”, Journal of the National Cancer Institute, 95

(5), pp 341 – 343

19 Carney D N (2000), “ Non–small-cell lung cancer —

stalemate or progress?”, N Engl J Med, 343 (17), pp

1260 – 1262

20 Carney DN (2002), “Lung Cancer — time to move on

from chemotherapy”, N Engl J Med, 346 (2), pp 126 –

128

21 Fossella F.V (2000), “Second-line chemotherapy for

non-small-cell lung cancer”, Current Oncology Reports,

2 (1), pp.96 – 101

22 Fukuoka M (2001), “State of the art of non-small-cell

lung cancer in the new millennium”, Oncology, 15 (3,

supplement no 6), pp 9 – 11

23 Gandara D.R (1999), “Current status and novel therapeutic approaches in advanced non-small-cell

meeting 1999, pp 362 – 369

24 Ginsberg R J (1997), “Non-Small Cell Lung Cancer”,

De Vita, Cancer: Principles and Practice of Oncology,

5th Edition Lippincott Williams & Wilkins, Copyright, pp 858 – 910

25 Ginsberg R J (2001), “Non-Small Cell Lung Cancer”,

De Vita, Cancer: Principles and Practice of Oncology,

6th Edition Lippincott Williams & Wilkins,

Copyright CD Rom

26 Hansen H.H., Bunn P.A Jr (2002), Lung cancer

therapy annual 2, Martin Dunitz, United Kingdom

27 Herbst R.S (2003), “Novel therapeutic options for non-small-cell lung cancer (second-line and subsequent

Meeting 2003, pp 654 – 666

28 Huisman C et al (2000), “Second-line chemotherapy

in relapsing or refractory non-small-cell lung cancer: a

review”, J Clin Oncol, 18 (21), pp 3722 – 3730

29 Johnson B.E et al (2000), “Integration of new agents into the treatment of advanced non-small-cell lung

2000, pp 354 – 356

30 Johnson D.H et al (1998), “Recent advances with chemotherapy for NSCLC: the ECOG experience”,

Oncology, 12 (1, suppl 2), pp 67 – 70

31 Kelly K (2000), “Future direction for new cytotoxic agents in the treatment of advanced stage

Meeting 2000, pp 357 – 357

32 Khuri FR (2000), “Non-small-cell Lung Cancer and

mesothelioma”, Pazdur, Cancer Management: A

multidisciplinary Approach PRR 4 th, pp 91 – 124

Ngày đăng: 20/12/2013, 19:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Phân bố đặc điểm dân số học và lâm sàng  theo hai nhóm có hoặc không hóa liệu pháp - Tài liệu Hóa trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa tại bệnh viện ung bướu TPHCM 2001-2002 pptx
Bảng 1. Phân bố đặc điểm dân số học và lâm sàng theo hai nhóm có hoặc không hóa liệu pháp (Trang 3)
Bảng 3. Độc tính grad 3 và 4 của hóa liệu pháp - Tài liệu Hóa trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa tại bệnh viện ung bướu TPHCM 2001-2002 pptx
Bảng 3. Độc tính grad 3 và 4 của hóa liệu pháp (Trang 4)
Bảng 4. Các tỉ lệ đáp ứng - Tài liệu Hóa trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa tại bệnh viện ung bướu TPHCM 2001-2002 pptx
Bảng 4. Các tỉ lệ đáp ứng (Trang 5)
Bảng 5. Thời gian sống còn toàn bộ hai nhóm bệnh  nhân (tháng) - Tài liệu Hóa trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa tại bệnh viện ung bướu TPHCM 2001-2002 pptx
Bảng 5. Thời gian sống còn toàn bộ hai nhóm bệnh nhân (tháng) (Trang 5)
Bảng 6. Tương quan của các yếu tố khảo sát với thời - Tài liệu Hóa trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa tại bệnh viện ung bướu TPHCM 2001-2002 pptx
Bảng 6. Tương quan của các yếu tố khảo sát với thời (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w