1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Bài giảng kinh tế công cộng

156 267 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong môn học Kinh tế công cộng chúng tachỉ xem xét vai trò điều tiết kinh tế của Chính phủ nên Chính phủ được hiểu như sau: Chính phủ: Là một tổ chức được thiết lập để thực thi những qu

Trang 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ

TRƯỜNG VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA MÔN HỌC KINH TẾ

CÔNG CỘNG1.1 Chính phủ trong nền kinh tế thị trường

1.1.1 Chính phủ và vai trò của Chính phủ

a Khái niệm về Chính phủ

Tất cả chúng ta đều có một số ý tưởng chung nào đó về các cơ quan nhà nước như:Quốc hội và các cơ quan lập pháp tại chính quyền Trung ương cũng như địa phương, chủtịch nước, chủ tịch các tỉnh, huyện và toà án các cấp…

Một bộ máy đứng đầu và chịu trách nhiệm điều hành hoạt động của khu vực côngcộng được gọi chung là Chính phủ Tuỳ vào góc độ xem xét của người nghiên cứu màkhái niệm về Chính phủ được hiểu khác nhau Trong môn học Kinh tế công cộng chúng tachỉ xem xét vai trò điều tiết kinh tế của Chính phủ nên Chính phủ được hiểu như sau:

Chính phủ: Là một tổ chức được thiết lập để thực thi những quyền lực nhất định, điều

tiết hành vi của các cá nhân sống trong xã hội nhằm phục vụ cho lợi ích chung của xã hội đó

và tài trợ cho việc cung cấp những hàng hoá, dịch vụ thiết yếu mà xã hội đó có nhu cầu.

Ví dụ: Các hệ thống đường giao thông (đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa) nếu để tư

nhân xây dựng thì chất lượng tốt nhưng chi phí họ bỏ ra rất lớn, với mục tiêu bù đắp đượcchi phí và có lãi thì họ sẽ không đầu tư buộc Chính phủ phải đầu tư; Chính phủ kiểm soáthành vi của các hãng gây ô nhiễm bằng cách đánh thuế; Chính phủ trợ giá cho các cánhân, doanh nghiệp đầu tư vào vùng sâu vùng xa

Trang 2

Adam Smith cho ưu điểm của nền kinh tế hoàn toàn tự do cạnh tranh là “bàn tay

vô hình” Bàn tay vô hình của Adam Smith sẽ điều hành các công ty tư nhân cạnh tranh

và tạo ra hiệu quả kinh tế cho xã hội

Karl Mark là người có sức ảnh hưởng nhất trong số những người ủng hộ vai trò lớnhơn của nhà nước trong việc kiểm soát tư liệu sản xuất

Chúng ta sẽ nghiên cứu sau những thất bại của nền kinh tế hoàn toàn tự do cạnh

tranh do “bàn tay vô hình” điều khiển, những thất bại đó là cơ sở, minh chứng cho một

điều rằng có nhiều vấn đề mà nền kinh tế thị trường hoàn hảo không thể giải quyết đượcmột cách thoả đáng Hiệu quả Pareto mới chỉ giải quyết được vấn đề hiệu quả kinh tế, còncác vấn đề khác về công bằng và thất bại của nền kinh tế thị trường cạnh tranh hoàn hảo

thì “bàn tay vô hình” không thể giải quyết được.

Ngày nay, có rất nhiều quan điểm và mô hình quản lý nền kinh tế của một quốc

gia Nhưng quan điểm thịnh hành nhất hiện nay là, Chính phủ can thiệp có giới hạn làm giảm bớt (nhưng không giải quyết được) các vấn đề thất bại của nền kinh tế thị trường Chính phủ nên có vai trò tích cực trong việc sử dụng toàn vẹn vấn đề lao động và giảm những mặt xấu nhất của sự đói nghèo, nhưng doanh nghiệp tư nhân nên giữ vai trò trung tâm hiệu quả trong nền kinh tế.

Ngay từ khi hình thành nên Chính phủ người ta đã đặt ra nhiều câu hỏi như:Chính phủ hoạt động như thế nào? Vai trò của Chính phủ có từ bao giờ, và vai trò đó

có sự thay đổi như thế nào qua các thời kỳ? Tuỳ theo quan điểm có chấp nhận vai tròkinh tế của Chính phủ hay không mà các mô hình kinh tế đã ra đời Cụ thể chúng ta

có thể xem xét ba mô hình kinh tế điển hình sau:

Mô hình kinh tế thị trường thuần túy: Là nền kinh tế mà mọi hàng hoá và

dịch vụ đều do khu vực tư nhân sản xuất và mọi hoạt động mua bán giao dịch đềudiễn ra trên thị trường, với giá cả là sản phẩm của sự tương tác giữa cung và cầu Mọi

cá nhân đều có thể tự do mua bán mọi loại hàng hoá, tuỳ theo sở thích và năng lựckinh tế (thu nhập) của họ Trong một nền kình tế như thế thì vai trò của Chính phủ làtối thiểu

Trang 3

Ưu điểm: Người sản xuất và người tiêu dùng được quyền tự do lựa chọn và ra

quyết định trong sản xuất tiêu dùng nên tính năng động, chủ động sáng tạo cao Kíchthích nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh, côngnghệ kỹ thuật thường xuyên được đổi mới Phi tập trung hoá các quyền lực trên cácphương diện các quyết định cho các chủ thể sản xuất Khai thác sử dụng các nguồnlực có hiệu quả và thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế

Nhược điểm: Do cạnh tranh vì lợi nhuận và coi lợi nhuận là mục tiêu duy nhất

nên dẫn đến ô nhiễm môi trường (tự nhiên, kinh tế, xã hội) Phân hoá giàu nghèo vàbất công xã hội ngày càng tăng Mâu thuẫn quan hệ kinh tế với quan hệ truyền thống.Nhiều vấn đề xã hội hết sức nan giải nảy sinh Phát sinh nhiều rủi ro, tiêu cực

Mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung: Là mô hình kinh tế mà tất cả mọi quyết định về

sản xuất và phân phối sản phẩm đều do cơ quan trung ương của Chính phủ quyết định, thay vì đểcho các lực lượng thị trường quyết định như ở mô hình kinh tế thị trường thuần tuý.Điều này đã gây nên một sự tuỳ tiện, chủ quan trong việc áp đặt giá cả và sản lượng,làm cho động lực phấn đấu bị thủ tiêu gây ra sự phí phạm tài sản, không hiệu quảtrong việc phát triển đất nước

Ưu điểm của nền kinh tế tổ chức theo mô hình kế hoạch hoá tập trung là quản lý

tập trung thống nhất việc sử dụng nguồn lực nên đã giải quyết được nhu cầu công cộng,

xã hội và những cân đối lớn của nền kinh tế Hạn chế phân hoá giàu nghèo và đảm bảo sựcông bằng xã hội

Nhược điểm là bộ máy quản lý cồng kềnh, quan liêu và hoạt động kém hiệu quả.

Tất cả những vấn đề kinh tế cơ bản đều do các cơ quan kế hoạch của Chính phủ quyếtđịnh nên chỉ cần sai sót nhỏ của các nhà kế hoạch sẽ dẫn đến sự bất ổn định cho nền kinh

tế Trong thực tế, Chính phủ không đủ sức làm toàn bộ các công việc này và nếu có thìcũng không hoàn toàn có hiệu quả Người sản xuất và người tiêu dùng kém năng độngsáng tạo bởi họ không có quyền lựa chọn Phân phối mang tính chất bình quân không xuấtphát từ nhu cầu thị trường dẫn đến tình trạng thừa thiếu hàng hoá một cách giả tạo Dovậy việc khai thác sử dụng các nguồn lực kém hiệu quả, nền kinh tế phát triển chậm

Trang 4

Mô hình kinh tế này được các nước xã hội chủ nghĩa áp dụng trong thời gian dài từthập niên 60 của thế kỷ trước mà đi đầu là Liên Xô Nhưng mô hình này chỉ có hiệu quảtrong thời kỳ có chiến tranh Sau đó nó lại bộc lộ nhiều khuyết điểm đã gây kìm hãm sựphát triển của nền kinh tế Đứng trước tình hình đó Việt Nam và các nước đã có sự thayđổi về đường lối kinh tế và thay đổi mô hình kinh tế

Mô hình nền kinh tế hỗn hợp: Trong mô hình này vai trò của Chính phủ không

phải là cạnh tranh thay thế cho khu vực tư nhân, ngược lại Chính phủ thúc đẩy, hỗ trợ vàđiều tiết hoạt động cho khu vực này

Ưu điểm của mô hình này là phát huy được những ưu điểm và hạn chế đến mứcthấp nhất các tồn tại của hai mô hình trên nên việc khai thác sử dụng các nguồn lực cóhiệu quả hơn, nền kinh tế phát triển nhanh và ổn định Do vậy người ta cho rằng: đây là

mô hình có hiệu quả nhất và được nhiều nước trên thế giới áp dụng Tuy nhiên, tuỳ điềukiện cụ thể của mỗi nước mà vận dụng vai trò của thị trường và Chính phủ cho phù hợp

Ngày nay, một số nước tư bản phát triển có một nền kinh tế hỗn hợp như Mỹ, Anh,Nhật trong khi nhiều hoạt động kinh tế do các hãng tư nhân thực hiện, thì Chính phủcũng thực hiện nhiều hoạt động kinh tế khác Thêm vào đó Chính phủ còn làm thay đổihoặc tác động đến khu vực kinh tế tư nhân một cách cố ý hoặc không cố ý bằng nhiều loạiquy chế, thuế khoá và các khoản trợ cấp

Ví dụ : Một trăm năm trước đây, ở Mỹ đã có một số đường cao tốc và toàn bộ

đường sắt là của tư nhân Nhưng ngày nay không có con đường cao tốc lớn của tư nhântại Mỹ, và hầu hết hành khách đi lại trong các Bang tại Mỹ bằng đường của Amtrak, mộtdoanh nghiệp công được nhà nước trợ cấp

Ngược lại, ở một số nước xã hội chủ nghĩa trước đây, hầu hết các hoạt động đều donhà nước thực hiện

Do nền kinh tế hỗn hợp luôn gặp phải các vấn đề xác định ranh giới thích hợp giữacác hoạt động của Chính phủ và tư nhân cho nên việc nghiên cứu về kinh tế công cộng làmột điều cần thiết

Trang 5

1.1.2 Sự thay đổi vai trò Chính phủ trong thực tiễn phát triển của thế kỷ XX

Vấn đề được đặt ra từ những năm 50 của thế kỷ XX là Chính phủ cần đóng vai trònhư thế nào để thúc đẩy quá trình phát triển của đất nước, giúp quốc gia có thể đạt đượctốc độ tăng trưởng cao và bền vững Việc xác định vai trò thích hợp của Chính phủ là mộtquá trình lâu dài và nó được sơ lược như sau:

a Thập kỷ 50 – 70

Đây là thời kỳ mà nền kinh tế của các nước tư bản nói riêng và nền kinh tế thế giớilâm vào tình trạng khủng hoảng triền miên Vì thế, nhiều quốc gia có tham vọng xây dựngcho mình một nền kinh tế tự chủ, tự cường và vững mạnh Họ cho rằng Chính phủ có vaitrò quan trọng trong việc chỉ đạo con đường phát triển thông qua chức năng kế hoạch hoá

và các chính sách bảo hộ Nhiều nước xây dựng một nền kinh tế hướng nội với hy vọnggiảm bớt sự phụ thuộc từ bên ngoài Vai trò của Chính phủ lúc này là phân bổ các nguồnlực trong xã hội và xác định các ngành công nghiệp mang tính chiến lược để bảo hộ pháttriển Nền kinh tế rơi vào vòng kiểm soát của doanh nghiệp Nhà nước, nhưng kết quả đạtđược là một nền công nghiệp phi hiệu quả, một nền nông nghiệp què quặt, dẫn đến sựhoài nghi về vai trò của Chính phủ Trong khi đó một số nước công nghiệp mới lại có sựchuyển hướng chiến lược hướng ngoại với một nền kinh tế tự do hoá thúc đẩy tốc độ tăngtrưởng và đã đạt được một số kết quả đáng kể Do đó, vai trò của Chính phủ trong thậpniên 80 đã có sự thay đổi theo chiều hướng ngược lại

b Thập kỷ 80

Sự can thiệp quá sâu của Chính phủ vào việc phân bổ nguồn lực đã không đạt đượchiệu quả trong phát triển kinh tế, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng năng lượng năm 1979 vàkhủng hoảng nợ ở nhiều nước châu Mỹ La tinh đầu thập niên 80 Các nhà kinh tế đã đưa

ra quan điểm là thu hẹp sự can thiệp của Chính phủ và để cho thị trường vận hành tự dohơn Điều này thể hiện qua hàng loạt các chính sách như: giảm sự định giá quá cao củađồng bản tệ, tự do hoá lãi suất, thu hẹp khu vực công cộng, giảm điều tiết thị trường, xoá

bỏ sự can thiệp trực tiếp đối với thương mại và đầu tư Ở thời kỳ này mục tiêu hiệu quảkinh tế đã được đưa lên hàng đầu và mục tiêu công bằng bị đẩy xuống hàng thứ yếu.Chiến lược này đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, việc thu hẹp khu vực công cộng

Trang 6

sẽ làm giảm đi các phúc lợi xã hội nên đã gây phong trào phản đối mạnh mẽ quan điểmnày.

c Thập kỷ 90

Quan điểm về vai trò của Chính phủ đã thay đổi, lúc này Chính phủ có vai trò xâydựng một môi trường thể chế, khung pháp lý và kinh doanh thuận lợi trong nền kinh tế,tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, xây dựng kết cấu hạ tầng và bảo vệ giúp đỡ

người nghèo Tất cả những điều trên được gọi chung với thuật ngữ “quản trị quốc gia” hay “điều hành Nhà nước” Đến thập niên 90 vai trò của Chính phủ chỉ là bổ sung cho thị

trường và can thiệp vào đời sống kinh tế thông qua các chính sách và quản lý nền kinh tếbằng luật pháp

1.1.3 Chính phủ và khu vực công cộng

Khu công cộng là một thuật ngữ mà nhiều tài liệu dùng để chỉ khu vực của Chínhphủ Khu vực tư nhân là thuật ngữ chỉ các lĩnh vực không thuộc Chính phủ Để phân biệthai khu vực này phải dựa vào sự phân bổ nguồn lực trong xã hội

Trong nền kinh tế hỗn hợp hiện nay luôn có sự đan xen và kết hợp giữa hai hìnhthức phân bổ nguồn lực đó là phân bổ nguồn lực theo cơ chế thị trường và phân bổ nguồnlực theo cơ chế phi thị trường

* Phân bổ nguồn lực theo cơ chế thị trường: Là phải tuân theo các quy luật của

thị trường như quy luật về sự khan hiếm, quy luật cung - cầu, quy luật giá trị … để phân

bổ có hiệu quả các nguồn lực của xã hội Phương thức này lấy động cơ tối đa hoá lợi íchlàm mục tiêu phân bổ Là cơ sở hình thành khu vực tư nhân

* Phân bổ nguồn lực theo cơ chế phi thị trường: Là sử dụng các công cụ can

thiệp phổ biến của Chính phủ để điều tiết cách phân bổ của thị trường như: thuế, trợ cấp,mệnh lệnh hành chính…

Bộ phận của nền kinh tế cần phải và có thể được phân bổ nguồn lực bằng cơ chếphi thị trường được gọi là khu vực công cộng Khu vực này gồm một số lĩnh vực sau theocách hiểu trên:

Trang 7

- Hệ thống các cơ quan quyền lực của Nhà nước như: Quốc hội, Hội đồng nhândân các cấp, các cơ quan hành pháp (bộ máy Chính phủ, các bộ, viện, Ủy ban nhân dâncác cấp), các cơ quan tư pháp (tòa án, viện kiểm sát)…

- Hệ thống quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội…

- Các lực lượng kinh tế của Chính phủ (Doanh nghiệp Nhà nước, tập đoàn kinh tếNhà nước, lực lượng dự trữ quốc gia…) Điểm cần lưu ý là khu vực công cộng bao gồm

cả các doanh nghiệp Nhà nước, mặc dù các doanh nghiệp này ngày càng phải hoạt độngtheo những nguyên tắc, quy luật của thị trường, nhưng chúng vẫn là công cụ điều tiết kinh

tế của Chính phủ, thuộc sở hữu của Chính phủ và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ

- Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội (đường xá, bến cảng, mạng lướithông tin đại chúng, hệ thống cung cấp dịch vụ công, trường học, bệnh viện công…)

- Hệ thống an sinh xã hội (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ cấp xã hội như trợcấp khẩn cấp, trợ cấp cứu đói…)

1.1.4 Khu vực công cộng ở Việt Nam

a Trước năm 1986

Đây là thời kỳ mà nền kế hoạch hoá tập trung từ trung ương đang thống trị ở ViệtNam Trong thời kỳ này khu vực công cộng là khu vực chỉ đạo, chi phối mọi mặt của đờisống xã hội và Chính phủ can thiệp sâu vào đời sống kinh tế Trong nền kinh tế chỉ pháttriển kinh tế quốc doanh, bao cấp cho kinh tế tập thể, hạn chế kinh tế tư nhân và gia đình,lập kế hoạch sản xuất, thu mua và phân phối sản phẩm chi tiết đến tận người dân Chínhphủ quy định giá cho từng loại sản phẩm, sử dụng một phần ngân sách để trợ giá cho cácloại sản phẩm vì thế đã giúp cho giá cả ổn định nhưng lại không mang đúng giá trị củasản phẩm Doanh nghiệp Nhà nước giữ vị trí độc quyền cao trong nền kinh tế Khu vực tưnhân nhỏ bé, bị khu vực công cộng chèn ép khó phát triển Thị trường và người tiêu dùngkhông có tiếng nói đối với doanh nghiệp và cơ quan Nhà nước Nhìn chung trước năm

1986 khu vực tư nhân bị khu vực công cộng chèn ép và thay thế

b Sau năm 1986

Trang 8

Giai đoạn này khu vực công cộng đã có nhiều thay đổi Đại hội Đảng lần thứ VI(12/1986) là mốc quan trọng trong sự phát triển kinh tế của nước ta Đảng và Nhà nước đãquyết định chuyển nền kinh tế sang vận hành theo cơ chế thị trường, dần dần đã có sựphân định ngày càng rõ nét trong vai trò của khu vực công cộng và khu vực tư nhân.Chính phủ không cần thiết phải xuất hiện như một lực lượng kinh doanh nữa, mà chuyểnsang là người định mục tiêu, tổ chức, điều tiết, hỗ trợ, hướng dẫn và tạo môi trường kinh tế vàpháp luật thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh Khu vực tư nhân đã được thừa nhận

và đồng hành cùng khu vực công cộng trong phát triển kinh tế Chính phủ thúc đẩy hàng loạtcải cách về thể chế kinh tế để tạo điều kiện thúc đẩy khu vực tư nhân như: khoán sản phẩm,phát triển các thành phần kinh tế… Đặc biệt Chính phủ đã cải tiến hệ thống doanh nghiệpNhà nước: giải thể các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhànước, giữ lại các doanh nghiệp chủ chốt nhằm bình ổn thị trường…Tuy nhiên khu vực côngcộng Việt Nam vẫn còn bộc lộ những yếu kém, chưa theo kịp yêu cầu của đổi mới

Những yếu kém của khu vực công cộng Việt Nam:

- Về bộ máy hành chính vẫn còn mang nặng tính quan liêu: hệ thống thể chế hành

chính chưa đồng bộ còn chồng chéo và thiếu thống nhất, thủ tục hành chính còn rườm rà,phức tạp, trật tự kỷ cương chưa nghiêm… dẫn đến gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế;đội ngũ cán bộ còn nhiều yếu kém về phẩm chất, trình độ, chuyên môn, tinh thần tráchnhiệm chưa cao; bộ máy hành chính ở các địa phương và cơ sở chưa thực sự gắn bó vớingười dân, không đáp ứng các nhu cầu, bức xúc của người dân, lúng túng, bị động khi xử

lý các tình huống phức tạp

- Hệ thống kết cấu hạ tầng tuy có những chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn thiếu

về số lượng, yếu về chất lượng; tình trạng mất cân đối vẫn còn diễn ra khắp nơi giữa đồngbằng với miền núi, giữa thành thị với nông thôn; nguồn vốn chủ yếu vẫn từ ngân sáchNhà nước

- Hệ thống doanh nghiệp Nhà nước bộc lộ những yếu kém chưa khắc phục được

như: hiệu quả sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước, tốc độphát triển chưa cao, nhiều doanh nghiệp nhà nước vẫn còn ỷ lại vào sự bảo hộ của Nhà

Trang 9

nước Bên cạnh đó quy mô doanh nghiệp nhà nước còn nhỏ, cơ cấu bất hợp lý, công nợngày càng tăng, lao động thiếu việc làm…

- Hệ thống an sinh xã hội chủ yếu mới tiếp cận được các doanh nghiệp Nhà nước,

các doanh nghiệp tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Các hình thức bảo hiểmcòn nghèo nàn, hoạt động chưa linh hoạt…

Nguyên nhân của những yếu kém

- Xuất phát điểm của nước ta quá thấp, ngân sách Nhà nước quy mô nhỏ, mất cânđối kéo dài, vì thế ngân sách chủ yếu đáp ứng các nhu cầu thiết yếu, chưa có điều kiệnđầu tư cho khu vực công cộng

- Bộ máy hành chính một thời gian đã quen với cung cách quản lý quan liêu baocấp trong khi đó cải cách hành chính lại đi chậm hơn so với cải cách kinh tế nên đã gâykìm hãm kinh tế phát triển

- Cơ chế thu hút vốn đầu tư vào khu vực công cộng từ các thành phần kinh tế khácchưa được định hình rõ ràng, bên cạnh đó là tâm lý thụ động, trông chờ vào Nhà nước vàchính quyền cấp trên vẫn còn nặng nề, thói quen được bảo hộ vẫn chưa được thay đổi

1.1.5 Chính phủ trong vòng tuần hoàn kinh tế

Đầu tiên ta xét quan hệ giữa hộ gia đình và doanh nghiệp Khi chưa có Chính phủ,

doanh nghiệp mua các yếu tố đầu vào từ các hộ gia đình (đường 1) để sản xuất các đầu ra.

Còn các hộ gia đình sử dụng thu nhập từ việc bán các yếu tố nguồn lực mà mình sở hữu

để mua các đầu ra đó trên thị trường hàng hoá (đường 4) Như vậy, vòng tuần hoàn đơn

giản nhất đã khép kín

Khi có thêm Chính phủ, cần nhớ rằng khu vực công cộng cũng mua các yếu tố sản xuất

(đường 2) như khu vực tư nhân và cũng mua hàng hoá đầu ra như các hộ gia đình (đường 7).

Ngoài mua các yếu tố đầu vào và đầu ra, Chính phủ còn tiến hành các khoản thanh toán chuyển

nhượng (đường 8) Chính phủ tạo nguồn thu bằng cách đánh thuế (đường 9) và đi vay (đường 10).

Trang 10

Hình 1.1 cho thấy khu vực công cộng và khu vực tư nhân có quan hệ bện xoắn vàonhau Lưu ý rằng, khu vực công cộng tham gia với tư cách là người mua trên cả thị trườngđầu vào lẫn đầu ra Nó hoạt động như một bộ phận không thể tách rời trong hệ thống địnhgiá Chính vì vậy, khi hoạch định các chính sách tài khoá, Chính phủ cần dự kiến trướcnhững phản ứng của khu vực tư nhân Đánh thuế vào bất kỳ điểm nào trong hệ thốngcũng có thể dẫn đến những phản ứng rất khác nhau, khiến cho gánh nặng thuế có thểchuyển được đến những điểm rất xa so với điểm ban đầu trong vòng tuần hoàn Ngoài ra,Chính phủ không chỉ chuyển một phần của khu vực tư nhân sang sử dụng công cộng, màthông qua việc mua sắm trên thị trường các yếu tố sản xuất và thị trường hàng hoá, Chính

3

10 9

9

Hình 1.1: Chính phủ trong vòng tuần hoàn kinh tế

DOANH NGHIỆP

Trang 11

phủ cũng tạo thêm luồng thu nhập cho các hộ gia đình Vì thế, sẽ hoàn toàn hiểu sai nếu

cho rằng khu vực công cộng là một khu vực “thống trị hoàn toàn” khu vực tư nhân Trái

lại, chúng liên kết và tác động qua lại với nhau trong mô hình mà chúng ta gọi là nền kinh

tế hỗn hợp

Hình 1.1 không chỉ phân tích dưới dạng các luồng thu nhập và chi tiêu, mà còn cóthể được xem xét dưới góc độ luồng nhân tố và sản phẩm Quay ngược chiều các mũi têntrong hình và di chuyển theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, chúng ta thấy các đường 1

và 2 thể hiện luồng các yếu tố đầu vào được “chảy vào” khu vực tư nhân và công cộng,

còn các đường 4, 6, 7 là luồng sản phẩm đầu ra của các doanh nghiệp được chuyển lầnlượt đến người mua tư nhân và Chính phủ Còn đường 11 cho biết luồng hàng hoá và dịch

vụ công cộng được cung cấp miễn phí hoặc thu phí trực tiếp người sử dụng Cần lưu ý

rằng các hàng hoá và dịch vụ mà Chính phủ cung cấp (đường 11) chỉ một phần là do Chính phủ sản xuất (từ các yếu tố đầu vào huy động được ở đường 2); phần còn lại là do

các doanh nghiệp tư nhân sản xuất nhưng bán cho Chính phủ để Chính phủ cung cấp (như

đã thể hiện qua đường 7).

1.2 Cơ sở khách quan cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế

Theo các nhà kinh tế thì cạnh tranh sẽ đem đến hiệu quả cao và đó là động lực kíchthích sự đổi mới và sáng tạo Tuy nhiên không phải lúc nào thị trường cạnh tranh cũngđem lại hiệu quả vì thế cần phải có sự can thiệp cần thiết của Chính phủ để tạo sự ổn địnhcho thị trường

1.2.1 Các tiêu chuẩn về hiệu quả sử dụng nguồn lực

a Hiệu quả Pareto và cải thiện Pareto (Hoàn thiện Pareto)

Khi nói đến hiệu quả kinh tế các nhà kinh tế thường dùng khái niệm hiệuquả pareto

* Hiệu quả Pareto: Đạt được khi một sự phân bổ nguồn lực làm tăng phúc lợi của

bất kỳ thành viên nào trong xã hội thì buộc phải giảm phúc lợi của người khác

Nếu một sự phân bố nào đó trong xã hội vẫn có thể được thay đổi để có thể làmtăng mức hữu dụng của bất kỳ một cá nhân nào mà không hề làm giảm mức hữu dụng củabất kỳ cá nhân nào khác thì sự phân bố đó chưa đạt tối ưu pareto

Trang 12

Khi tăng phúc lợi của thành viên này mà không phải giảm phúc lợi của thành viênkhác, điều đó có nghĩa là hoặc sản xuất, hoặc tiêu dùng hoặc hỗn hợp giữa tiêu dùng và

sản xuất chưa đạt được hiệu quả tối đa Như vậy Chính phủ cần can thiệp để “cải thiện pareto” (nếu chính sách phù hợp, thường là khắc phục một thất bại nào đó của thị trường), ngược lại nếu chính sách không phù hợp sẽ “cải lùi pareto”

Hiệu quả Pareto thường được dùng như một tiêu chuẩn để đánh giá mức độ đáng cócủa các cách phân bổ nguồn lực khác nhau Khi sự phân bổ chưa đạt hiệu quả Pareto thì nócòn có thể cải thiện lợi ích cho người nào đó mà không làm giảm lợi ích của người khác

* Cải thiện Pareto: Nếu còn tồn tại một cách phân bổ lại các nguồn lực làm cho ít

nhất một người được hưởng lợi hơn mà không phải làm thiệt hại cho bất kỳ ai khác thìcách phân bổ lại các nguồn lực đó là cải thiện Pareto so với cách phân bổ ban đầu

Hiệu quả Pareto và cải thiện Pareto có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

b Điều kiện đạt hiệu quả Pareto.

* Hiệu quả trong sản xuất

Giả sử hàm sản xuất X = F (LX,KX) và Y = F (LY,KY)

Trong đó: X và Y là lượng hàng hoá

LX là lượng lao động sử dụng để sản xuất hàng hoá X

KX là lượng vốn để sử dụng sản xuất hàng hoá X

LY là lượng lao động sử dụng để sản xuất hàng hoá Y

KY là lượng vốn để sử dụng sản xuất hàng hoá Y

Để đạt được hiệu quả trong quá trình sản xuất đòi hỏi quá trình sản xuất hàng hoá

X và Y phải thoả mãn các điều kiện sau:

Trang 13

Trong đó:

MRTSKLX là tỉ lệ thay thế cận biên kỹ thuật giữa vốn và lao động để sản xuất hàng hoá X MRTSKLY là tỉ lệ thay thế cận biên kỹ thuật giữa vốn và lao động để sản xuất hàng hoá Y

MPLX là sản phẩm biên của hàng hoá X khi sử dụng thêm một đầu vào lao động

MPKX là sản phẩm biên của hàng hoá X khi sử dụng thêm một đầu vào vốn

MPLY là sản phẩm biên của hàng hoá Y khi sử dụng thêm một đầu vào lao động

MPKY là sản phẩm biên của hàng hoá Y khi sử dụng thêm một đầu vào vốn

w là tiền lương đơn vị, r là lãi suất vốn vay

Để đạt được hiệu quả trong quá trình sản xuất đòi hỏi tỉ lệ thay thế biên (marginal rate technology sustitution) giữa vốn và lao động sản xuất hàng hoá X bằng với tỉ lệ thay thế biên giữa vốn và lao động của hàng hoá Y đồng thời bằng với tỉ lệ giữa tiền lương và giá của vốn (lãi suất).

w MRTSKL X = MRTSKL Y = - (*) r

OX

OYK

Trang 14

Các đường Ixi và Iyi là các đường đồng lượng sản xuất hàng hóa X và Y khiphối hợp tỷ lệ các đầu vào vốn, lao động khác nhau Tại điểm A, xã hội sản xuấtlượng hàng hóa X nằm trên đường đồng lượng Ix2; đồng thời xã hội sản xuất lượnghàng hóa Y nằm trên đường đồng lượng Iy4 Tại điểm A và các điểm nằm dọc theođường OXOY thỏa mãn điều kiện của phương trình (*) Tại điểm F (giả sử là điểm nốigiữa đường Ix3 và Iy2) hiệu quả trong sản xuất không đạt được vì tại F hệ số góc củahai đường đồng lượng Ix3 và Iy2 bằng nhau nhưng lại không bằng với hệ số góc củađường đồng phí Chính vì vậy nếu chúng ta dịch chuyển đường Ix3 từ F về B, chúng

ta có thể tăng lượng hàng hóa Y mà không giảm lượng hàng hóa X Hoặc chúng tadịch chuyển trên đường Iy2 từ F về C, chúng ta tăng sản lượng sản xuất hàng hóa X

từ đường đồng lượng Ix3 lên Ix4 mà không phải tăng thêm vốn và lao động Như vậyđây là trường hợp cải thiện Pareto trong sản xuất

* Hiệu quả trong quá trình tiêu dùng

Giả sử hàm hữu dụng U = U (X,Y)

Trong đó: U là hàm hữu dụng khi người tiêu dùng sử dụng hai loại hàng hoá X và Y

Để đạt được hiệu quả tối đa trong sử dụng hai loại hàng hoá X và Y đối với haingười tiêu dùng A và B đòi hỏi phải thoả mãn các điều kiện sau:

PY

Trang 15

MUX là hữu dụng biên của người tiêu dùng A khi sử dụng hàng hoá X

MUYA là hữu dụng biên của người tiêu dùng A khi sử dụng hàng hoá Y

MUXB là hữu dụng biên của người tiêu dùng B khi sử dụng hàng hoá X

MUYB là hữu dụng biên của người tiêu dùng B khi sử dụng hàng hoá Y

PX là giá của hàng hoá X, PY là giá của hàng hoá Y

Để đạt được hiệu quả trong tiêu dùng tỉ lệ thay thế biên (marginal rate sustitution) giữa hai loại hàng hoá X và Y (MRS XY ) đối với người tiêu dùng A phải bằng tỉ lệ thay thế biên của X

và Y của người tiêu dùng B và bằng tỉ số giá của hàng hoá X (P X ) và giá hàng hoá Y (P Y )

A

BY

X

C

U 2 1

A

B

U 3 1

Trang 16

dùng 2 sử dụng X2 và Y2, tại điểm A tiêu dùng đạt mức hiệu quả nhất vì hệ số góc của các đường

U3 bằng hệ số góc của đường U3 và bằng hệ số góc của đường ngân sách (thỏa mãn phương

trình (2*) Tại điểm F (giả sử là điểm nối giữa U4

1 và U1

2) hiệu quả tiêu dùng chưa đạt được vìnếu ta giữ nguyên mức hữu dụng của người tiêu dùng thứ nhất là U4

1 nhưng chúng ta có thể tăngmức thỏa dụng của người tiêu dùng 2 từ U1 lên U2

2 mà không cần giảm mức thỏa dụng củangười tiêu dùng 1 Đây là trường hợp cải thiện Pareto trong tiêu dùng

* Hiệu quả hỗn hợp (tiêu dùng và sản xuất)

Hiệu quả trong phân phối sản phẩm và tài nguyên đạt được khi tỉ lệ thay thế biên giữa

hai loại hàng hoá X và Y (MRS XY ) bằng với tỉ lệ chuyển đổi biên giữa hai hàng hoá X và Y

(MRT XY ) và bằng với tỉ số giá giữ hai loại hàng hoá.

Trang 17

c Điều kiện biên về hiệu quả

Điều kiện cần thiết để có mức sản lượng hiệu quả về một hàng hoá nào đó trong mộtthời gian nhất định có thể đễ dàng suy ra từ tiêu chuẩn Pareto Để xác định xem hiệu quảnguồn lực phân bổ cho việc sản xuất một loại hàng hoá nào đó đã hiệu quả hay chưa, người

ta thường so sánh giữa lợi ích biên (MB) khi sản xuất thêm một đơn vị hàng hoá với chi phíphát sinh thêm để sản xuất đơn vị hàng hoá đó (MC) Lợi ích biên này có thể được đo bằnglượng tiền tối đa mà người tiêu dùng sẵn sàng từ bỏ để có thêm đơn vị hàng hoá

Điều kiện biên về hiệu quả nói rằng, nếu lợi ích biên để sản xuất một đơn vị hànghoá lớn hơn chi phí biên thì đơn vị hàng hoá đó cần được sản xuất thêm Trái lại, nếu lợiích biên nhỏ hơn chi phí biên thì sản xuất đơn vị hàng hoá đó là sự lãng phí nguồn lực.Mức sản xuất hiệu quả nhất về hàng hoá này sẽ đạt khi lợi ích biên bằng chi phí biên (MB

= MC), hay lợi ích biên ròng bằng 0

Ví dụ: Hàng hoá X có đường chi phí cận biên là MC, đường lợi ích cận biên là

MB Nhìn vào hình dưới ta thấy:

-Tại mức sản lượng Q1 lợi ích biên (MB) > chi phí biên (MC) Doanh nghiệp tăngcường sản xuất

- Tại mức sản lượng Q2 lợi ích biên (MB) < chi phí biên (MC) Gây ra tình trạnglãng phí và phản ứng của doanh nghiệp là phải giảm sản xuất nếu không muốn rơi vàotình trạng lãng phí nguồn lực

C

Trang 18

- Tại mức sản lượng Q* lợi ích biên (MB) = chi phí biên (MC) Đây là mức sảnlượng tối ưu.

Nguyên tắc biên về hiệu quả thực chất là một cách phát biểu khác đi của tiêu chuẩnhiệu quả Pareto và được áp dụng rất rộng rãi trong phân tích các quyết định về chính sáchcông Đó cũng là cơ sở để cân nhắc các quyết định đầu tư Trong suốt các chương sau củacuốn sách này, nó cũng được dùng như một nguyên tắc chủ đạo để đánh giá tính hiệu quảtrong hoạt động của Chính phủ

d Tối đa hoá phúc lợi xã hội

Điều kiện tối đa hóa phúc lợi xã hội

Hiệu quả Pareto có thể đạt được với 3 điều kiện đầu của phúc lợi xã hội, đó là hiệuquả trong sản xuất, hiệu quả trong tiêu dùng và hiệu quả hỗn hợp giữa tiêu dùng và sản

Hiệu quả trong sản xuất

Hiệu quả trong tiêu dùng

Hiệu quả hỗn hợp

(4) Công bằng xã hội

Tối đa hóa phúc lợi xã hội Hiệu quả Pareto

Lý thuyết của sự chọn lựa

U 1

U 2

Điểm phúc lợi xã hội cao nhất

Hình 1.4B: Điểm tối đa hoá phúc lợi xã hội

Trang 19

xuất Như vậy, bất kỳ điểm nào trền đường YX của hình 1.4A cũng cho phép đạt đượchiệu quả Pareto Với mỗi điểm đó chúng ta lại có thể tìm được một đường OA hoặc OB(hình 1.4A), tương đương với các đường này chúng ta có thể tìm được vô số các đường

U1U2 Nhưng điểm nào trên đường YX (hình 1.4A) sẽ cho hiệu quả xã hội cao nhất (hình1.4B) là chức năng của lý thuyết chọn lựa, hay sự thể hiện vai trò của Chính phủ trongphân phối thu nhập quốc dân (điều kiện 4)

Cải thiện Pareto là việc làm cho một người nào đó trong xã hội có lợi hơn màkhông làm giảm phúc lợi của bất kỳ người nào Đây là cơ sở lý luận cho các chính sáchcan thiệp vào thị trường của Chính phủ ngoài nhiệm vụ phân phối lại và hàng hoá khuyếndụng Nếu nền kinh tế đã đạt được hiệu quả Pareto thì coi như Chính phủ không cần canthiệp vào làm tăng hiệu quả kinh tế mà lúc đó chỉ có hai vai trò duy nhất là phân phối lại

và hàng hoá khuyến dụng

Trên hình 1.4C, việc ra chính sách làm chuyển dịch từ điểm A đến B hoặc đến Cchỉ mang chức năng phân phối lại, không có ý nghĩa gì trong cải thiện Pareto Bởi vì việctăng phúc lợi cuả U2 sẽ làm giảm phúc lợi của U1 Điểm D là điểm chưa đạt được hiệu

Hình 1.4C: Cải thiện pareto và

phân phối lại

Trang 20

quả Pareto, vai trò của Chính phủ là làm dịch chuyển từ D đến A hoặc đến C, động tháinày làm cho một trong hai phúc lợi của người này tăng lên mà không làm giảm phúc lợi

của người khác “cải thiện Pareto” Chính sách làm dịch chuyển từ D đến B sẽ làm phúc

lợi của hai cá nhân cùng tăng lên đây cũng là cải thiện Pareto

Hiệu quả pareto chỉ đạt được trong điều kiện sử dụng các nguồn lực (con người, tựnhiên) hiệu quả, hiệu quả pareto (chỉ làm to cái bánh) chưa đề cập tới việc phân phối thẳng

dư xã hội (không đề cập tới việc phân chia cái bánh xã hội đó cho các thành viên xã hội thếnào) Để đạt được phúc lợi tối đa, nền kinh tế phải đạt hiệu quả pareto và kết hợp với lýthuyết của sự chọn lựa trong phân phối thẳng dư xã hội

1.2.2 Định lý cơ bản của Kinh tế học Phúc lợi

a Nội dung Định lý cơ bản của Kinh tế học Phúc lợi.

- Kinh tế học Phúc lợi: Là một nhánh của lý thuyết kinh tế quan tâm đến sự mong

muốn của xã hội đối với các trạng thái kinh tế khác nhau

- Định lý học Phúc lợi phát biểu rằng: Chừng nào nền kinh tế còn cạnh tranh

hoàn hảo, tức là những người sản xuất và tiêu dùng còn chấp nhận giá, thì chừng đó, trongnhững điều kiện nhất định, nền kinh tế sẽ tất yếu chuyển tới một cách phân bổ nguồn lựcđạt hiệu quả Pareto

Thật vậy trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì mọi cá nhân đều đứngtrước những mức giá như nhau và họ không có khả năng thay đổi giá cả thị trường

Đối với các hãng sản xuất đều chọn phương án sản xuất có tổng chi phí nhỏ nhấtbằng cách để đường đặng lượng tiếp xúc với đường đẳng phí Khi đó độ dốc của đườngđẳng lượng (MRTSLK) sẽ bằng độ dốc với đường đẳng phí (PL/PK, với PL và PK lần lượt làgiá lao động và giá vốn) Vì PL và PK không đổi nên hiển nhiên MRTSX

LK = MRTSY

LK =

PL/PK, hay điều kiện hiệu quả sản xuất được thoả mãn

Đối với các cá nhân đều muốn tối đa hoá lợi ích tiêu dùng bằng cách để đườngbàng quang tiếp xúc với đường ngân sách, hay để độ dốc đường bàng quang (MRSXY)bằng độ dốc đường ngân sách (PX/PY, với PX và PY là giá lương thực và quần áo) Vì PX,

PY không đổi nên MRSA

XY = MRSB

XY = PX/PY hay điều kiện hiệu quả phân phối được thoảmãn

Trang 21

Do cạnh tranh hoàn hảo nên các hãng tối đa hoá lợi nhuận sẽ sản xuất tại điểm chiphí biên bằng giá tức là MCX = PX , MCY = PY Thay kết quả vào điều kiện thứ 3 của hiệuquả Pareto ta có điều kiện hỗn hợp được thoả mãn.

MRS A

XY = MRS B

XY = P X /P Y = MC X /MC Y = MRT XY

b Hạn chế của tiêu chuẩn Pareto và Định lý cơ bản của Kinh tế học Phúc lợi

Mặc dù là một chỉ dẫn quan trọng cho sự phân bổ nguồn lực có hiệu quả, nhưngtiêu chuẩn Pareto nói chung và Định lý cơ bản của Kinh tế học Phúc lợi nói riêng đã bộc

lộ rõ bốn hạn chế chủ yếu sau:

Thứ nhất, Định lý cơ bản của Kinh tế học Phúc lợi chỉ đúng trong môi trường

cạnh tranh hoàn hảo

Thứ hai, hiệu quả chỉ là một tiêu chuẩn để quyết định xem một sự phân bổ nguồn

lực cụ thể là tốt hay xấu, chứ không phải tiêu chuẩn duy nhất Bởi nó chưa quan tâm đến

sự bất bình đẳng

Thứ ba, tiêu chuẩn Pareto chỉ đưa ra một dấu hiệu tốt về hiệu quả phân bổ nguồn

lực trong điều kiện nền kinh tế ổn định

Thứ tư, định lý cơ bản của kinh tế học Phúc lợi được nghiên cứu trong bối cảnh

- Chính phủ đại diện cho quyền lợi quốc gia trên trường quốc tế

1.2.3 Thất bại thị trường – Cơ sở để Chính phủ can thiệp vào nền kinh tế

Thất bại thị trường: Là những trường hợp mà thị trường cạnh tranh không thể sản

xuất ra hàng hoá và dịch vụ ở mức như xã hội mong muốn

Trang 22

a Độc quyền thị trường

Nếu như trên thị trường chỉ có một hoặc một số ít các hãng thống trị thì dễ dàng dẫn đếnhiện tượng độc quyền và chi phối thị trường Các hãng có quyền lực độc quyền có thể tạo thêmlợi nhuận siêu ngạch cho mình bằng cách tăng giá mà không sợ có những đối thủ mới gia nhậpthị trường Do đó cần phải có sự can thiệp của Chính phủ nhằm kiểm soát thị trường một cáchchặt chẽ để đảm bảo rằng các rào cản đối với sự gia nhập thị trường không trở thành nhữngphương tiện khuyến khích quyền lực độc quyền

b Ngoại ứng

Đây là trường hợp xảy ra khi tác động của một giao dịch trên thị trường gây ảnh hưởngđến một đối tượng thứ ba ngoài người bán và người mua, nhưng tác động đó không được tínhđến Trong những trường hợp như vậy, cân bằng thị trường sẽ không đạt hiệu quả xã hội, vì lợiích biên hoặc chi phí biên của tư nhân không đồng nhất với lợi ích biên hoặc chi phí biên của

xã hội Để giúp cho các hoạt động của thị trường đạt mức tối ưu xã hội thì Chính phủ phải canthiệp để buộc các bên tham gia giao dịch thị trường phải tính đến tác động mà mình gây ra chođối tượng thứ ba, nhằm điều chỉnh các hoạt động của thị trường đạt tới mức tối ưu xã hội

c Hàng hoá công cộng

Có nhiều loại hàng hoá và dịch vụ mà thị trường không thể cung cấp cho xã hội, đơngiản là vì không thể hoặc rất khó khăn để chia nhỏ hàng hoá đó thành từng đơn vị tiêu dùng.Lợi ích tiêu dùng hàng hóa này chỉ có thể được thủ hưởng chung giữa tất cả mọi người Nhữnghàng đó được gọi là những hàng hóa công cộng (HHCC)

Đặc điểm nổi bật của HHCC là nó không có tính cạnh tranh có nghĩa là cùng một lượnghàng hóa này có thể do nhiều người cùng thủ hưởng, mà không làm giảm lợi ích của nhữngngười tiêu dùng hiện tại Một đặc điểm nữa là nó không có tính loại trừ nghĩa là không dễ gìngăn cản nhiều người không chịu bỏ tiền ra để thanh toán cho loại hàng hoá hay dịch vụ đặcbiệt này tiêu dùng nó

Nếu không có Chính phủ đứng ra cung cấp thì không thể có một doanh nghiệp tư nhâncung cấp hàng hoá công cộng khi mà doanh thu của họ không đủ để bù đắp chi phí

Trang 23

d Thông tin không đối xứng

Người tiêu dùng và người sản xuất thường yêu cầu Chính phủ phải can thiệp vào thịtrường vì họ không có đủ thông tin về việc mua sắm hoặc sản xuất hàng hoá và tham gia nhữngcông việc nhất định Đôi khi, trong thị trường xuất hiện trường hợp một bên nào đó tham giathị trường có thông tin đầy đủ về các đặc tính sản phẩm hơn bên kia Đó được gọi là hiện tượngthông tin không đối xứng

Ví dụ: Những người bán thường có nhiều thông tin về sản phẩm hơn so với người

mua, các bác sĩ thường có nhiều thông tin về nhu cầu cần thiết chăm sóc hơn là bệnhnhân, chủ thường có nhiều thông tin hơn là người làm công

Khó khăn trong trong việc thu thập thông tin có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động củathị trường, khiến các nguồn lực được phân bổ quá nhiều hoặc quá ít cho thị trường đó so vớimức hiệu quả xã hội Ngoài ra, nó còn tạo động cơ cho bên có thông tin đầy đủ hơn lợi dụnglợi thế này để thu lợi cho mình trên thiệt thòi của bên kia Sự can thiệp của Chính phủ trong cácthị trường như vậy sẽ giúp bổ sung thông tin cho thị trường, hoặc kiểm soát hành vi của nhữngbên có lợi thế về thông tin để đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả

e Bất ổn định kinh tế

Sự vận hành mang tính chu kỳ của nền kinh tế đã khiến lạm phát và thất nghiệp trởthành căn bệnh kinh niên của nền kinh tế thị trường và gây nhiều tổn thất cho xã hội ViệcChính phủ chủ động sử dụng các chính sách tài khoá và tiền tệ để cố gắng làm ổn định nềnkinh tế chính là những nỗ lực để đạt tình trạng toàn dụng nhân công Mặc dù các chính sách ổnđịnh hóa của Chính phủ nhiều khi không tiêu hao nhiều nguồn lực của xã hội, nhưng đó lại là

sự trợ giúp đắc lực để giúp thị trường hoạt động hiệu quả hơn

Toàn bộ những nguyên nhân trên làm cho nền kinh tế thị trường vận hành mộtcách không hiệu quả và không đạt được hiệu quả Pareto Nhưng ngay cả khi nền kinh tếđạt được hiệu quả Pareto thì cũng vẫn có hai nguyên nhân cơ bản sau là cơ sở cho sự canthiệp của Chính phủ, đó là phân phối thu nhập và hàng hoá khuyến dụng

f Mất công bằng xã hội

Thị trường cạnh tranh và hiệu quả Pareto chỉ nói về hiệu quả kinh tế chưa nói đượcđiều gì về phân phối thu nhập; thị trường cạnh tranh có thể gây ra sự phân phối không

Trang 24

công bằng; nó có thể dành cho một số đông các nhóm người nghèo quá ít nguồn để họ cóthể sống Chính phủ có trách nhiệm phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, đồng thờitrợ giúp cho các đối tượng dễ bị tổn thương như người già, người nghèo, trẻ em, người tàn tật.Chính phủ thông qua các chương trình trợ cấp trực tiếp cho các đối tượng, bên cạnh đó Chínhphủ còn giúp đỡ họ qua nhiều chương trình khác như xây dựng điện, đường xá, trường học vàtrạm xá

g Hàng hoá khuyến dụng, phi khuyến dụng

- Hàng hoá khuyến dụng: là những hàng hoá và dịch vụ mà việc tiêu dùng chúng có

lợi cho cá nhân và xã hội, nhưng cá nhân không tự nguyện tiêu dùng, khiến Chính phủ phải bắtbuộc họ sử dụng

- Hàng hoá phi khuyến dụng: những hàng hoá và dịch vụ mà việc tiêu dùng

chúng có hại cho cá nhân và xã hội, nhưng cá nhân lại không tự nguyện từ bỏ, khiếnChính phủ phải có biện pháp không khuyến khích hoặc ngăn cấm việc sử dụng những loạihàng hoá và dịch vụ đó

Một số hàng hoá gây nghiện có quy luật riêng trong tiêu dùng, khác với hàng hoáthông thường, hàng hoá gây nghiện thường làm cho người tiêu dùng sau khi sử dụngchúng sẽ có đường hữu dụng biên tăng dần chứ không giảm dần nếu sử dụng nhiều nhưhàng hoá thông thường Mọi người vẫn hút thuốc lá, thuốc phiện, không đội mũ bảo hiểm,không thắt dây an toàn khi đi ra đường; mặc dù họ biết điều đó là có lợi cho chính bảnthân họ và cộng đồng Những hàng hoá mà Chính phủ bắt buộc mọi người phải sử dụngnhư thắt dây an toàn, giáo dục cơ sở, không hút thuốc, đội mũ bảo hiểm khi đi ra đườngđược gọi là hàng hoá khuyến dụng

Một số lập luận cho rằng, Chính phủ không thể hiểu được sự hữu dụng của mỗi cánhân bằng chính bản thân họ Nhưng chúng ta biết rằng, hút thuốc, không đeo dây antoàn, say rượu khi đi xe vv không những ảnh hưởng tới chính bản thân họ mà còn làmthiệt hại cho những người xung quanh khi xảy ra tai nạn, điều này sẽ gây thiệt hại chokhông những chính bản thân họ mà còn gây thiệt hại lớn cho xã hội (chi phí ngoại ứngtiêu cực) Nhằm hạn chế những trường hợp này xảy ra, hao phí tài nguyên vật lực củaquốc gia, Chính phủ phải can thiệp vào khu vực này

Trang 25

Cơ sở ủng hộ sự can thiệp của Chính phủ trong trường hợp hàng hóa khuyến dụng

và phi khuyến dụng bắt nguồn từ chức năng phụ quyền của Chính phủ Sự can thiệp này có

thể chỉ ở mức độ giáo dục, giải thích, nhưng nếu cần có thể biến thành mệnh lệnh, bắt buộc

1.3 Chức năng, nguyên tắc và những hạn chế trong sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế thị trường

1.3.1 Chức năng của Chính phủ

a Phân bổ nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế

Mục tiêu trọng tâm của Chính phủ là hỗ trợ việc phân bổ nguồn lực nhằm nâng caohiệu quả kinh tế để đạt mức như xã hội mong muốn Biểu hiện của việc thực hiện chứcnăng này là Chính phủ đứng ra cung cấp các loại hàng hoá công cộng, điều tiết các luồngđầu tư vào các ngành, các vùng theo quy hoạch chung, khắc phục các thất bại của thịtrường như độc quyền, ngoại ứng hay thông tin không đối xứng

b Phân phối lại thu nhập và đảm bảo công bằng xã hội

Ngay cả khi bàn tay vô hình của thị trường có hiệu quả thì nó vẫn có thể tạo ranhững sự phân phối thu nhập không bình đẳng giữa mọi người trong xã hội Vì thế, Chínhphủ đứng ra phân phối lại thu nhập cho bình đẳng hơn, phân phối lại thu nhập thườngđược thực hiện thông qua chính sách thuế khoá và chi tiêu, đôi khi Chính phủ điều tiếttrực tiếp bằng các mệnh lệnh hành chính

c Ổn định hoá kinh tế vĩ mô

Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kinh tế như hiện nay Chính phủ có tráchnhiệm không để tái diễn các cuộc suy thoái hoặc khủng hoảng trầm trọng như những năm

30, năm 70 của thế kỷ XX Chính phủ sử dụng các công cụ để thực hiện chức năng nàynhư chính sách tài khoá, tiền tệ và sự giám sát chặt chẽ thị trường tài chính Ngoài ra,Chính phủ còn tập trung vào việc hoạch định các chính sách thúc đẩy tăng trưởng Thôngqua các chính sách đó Chính phủ sẽ giúp cho thị trường được ổn định hơn, phát triển hơntránh được những thất bại do thị trường gây ra

Trang 26

d Đại diện cho quốc gia trên trường quốc tế

Trong những năm gần đây, thương mại và tài chính quốc tế đã trở nên hết sức quantrọng Do đó, Chính phủ đóng vai trò là đại diện cho quyền lợi quốc gia trên các diễn đànquốc tế và đàm phán các hiệp định cùng có lợi với các quốc gia khác trên thế giới Cáclĩnh vực thường xuất hiện trên các diễn đàn kinh tế quốc tế đó là:

- Tự do hoá thương mại

- Các chương trình hỗ trợ quốc tế

- Phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô giữa các quốc gia

- Bảo vệ môi trường thế giới

e Xây dựng và bảo vệ khuôn khổ pháp luật

Chính phủ quy định khung pháp luật, trên cơ sở đó đặt ra những điều luật cơ bản

về quyền sở hữu tài sản và sự hoạt động của thị trường

1.3.2 Nguyên tắc cơ bản cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế thị trường

a Nguyên tắc hỗ trợ

Nội dung của nguyên tắc này là: Sự can thiệp của Chính phủ phải nhằm mục đích

cuối cùng, dài hạn là hỗ trợ, tạo điều kiện cho thị trường hoạt động hiệu quả hơn

Khu vực công cộng trong nền kinh tế thị trường phải là chất xúc tác tạo thuận lợicho sự phát triển của khu vực tư nhân, vì lợi ích của toàn xã hội Do đó, Chính phủ phảitôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, thúc đẩy môi trường cạnh tranh lành mạnhtrong khuôn khổ pháp luật, đảm bảo sự ổn định kinh tế, an ninh chính trị và trật tự, côngbằng xã hội

b Nguyên tắc tương hợp

Nếu như nguyên tắc hỗ trợ nhằm xác định khi nào Chính phủ nên can thiệp vào thịtrường thì nguyên tắc tương hợp nhằm lựa chọn hình thức can thiệp tối ưu của Chính phủvào thị trường

Trang 27

Nội dung của nguyên tắc: Trong hàng loạt các cách thức có thể can thiệp vào thị

trường, Chính phủ cần ưu tiên sử dụng những biện pháp nào tương hợp với thị trường haynói cách khác là không làm méo mó thị trường

Tuy nhiên trên thực tế, khó có thể tìm được cách can thiệp nào không gây méo móthị trường (ví dụ: đánh thuế sẽ làm giá người mua phải trả cho hàng hóa và giá người bánnhận được có sự chênh lệch Người mua thường phải trả giá cao hơn, còn người bán nhậnđược giá thấp hơn so với khi chưa đánh thuế Do đó nó làm cho cả lượng cầu và cung vềhàng hóa đều giảm thấp hơn mức hiệu quả xã hội, dẫn đến những tổn thất vô ích mà xãhội phải gánh chịu) Vì thế, áp dụng nguyên tắc này trong thực tế có nghĩa là phải lựachọn hình thức can thiệp nào đó mà nó ít gây méo mó cho thị trường nhất

1.3.3 Những hạn chế của Chính phủ khi can thiệp

Trong khi những thất bại của thị trường đã dẫn đến việc đề ra những chương trìnhlớn của Chính phủ, những khiếm khuyết của những chương trình đó lại dẫn các nhà khoahọc và kinh tế đến việc nghiên cứu sự thất bại cuả Chính phủ Trong những điều kiện nào

đó thì các chương trình của Chính phủ thực hiện không tốt? Những thất bại của cácchương trình đó có phải thuần tuý và tình cờ hay không, hay chúng là những kết quả cóthể dự đoán trước, do bản chất vốn có của Chính phủ? Có thể rút ra được những bài họccho tương lai về các chương trình này được không?

Có bốn lý do cơ bản gây ra các thất bại có tính chất hệ thống của các chương trìnhcủa Chính phủ đó là:

a Hạn chế do thiếu thông tin

Trong các hoạt động kinh tế của Chính phủ cũng như của các hãng tư nhân, mụcđích chính của các hoạt động kinh tế là lợi nhuận Các hoạt động kinh tế của Chính phủngoài mục tiêu chính là lợi nhuận còn chú ý tới vấn đề công bằng của xã hội Nhưng cáchãng tư nhân thì cơ chế cạnh tranh sẽ tạo cho họ một mục tiêu chính duy nhất là lợinhuận Chính vì vậy mà bằng mọi giá, ngay cả việc bưng bít thông tin, đưa ra nhữngthông tin sai lệch các hãng cũng giám làm (để trốn thuế, hoặc đánh bại đối thủ v.v)

Trang 28

Kết quả và hậu quả của các chính sách, hoạt động của Chính phủ là rất phức tạp vàrất khó thấy trước Do tình trạng thông tin không đầy đủ hoặc các thông tin sai lệch khiếncho nhiều khi sự can thiệp của Chính phủ không chính xác, thiếu thực tiễn Điều này sẽgây ảnh hưởng xấu cho xã hội.

b Hạn chế do thiếu khả năng kiểm soát phản ứng của cá nhân

Chính phủ nhiều khi không thể lường hết được cá nhân sẽ phản ứng như thế nàotrước những thay đổi về chính sách do Chính phủ đề ra Một khi sự phản ứng của tư nhân

đi theo chiều hướng mà người hoạch định chính sách chưa dự kiến được thì chính sách đó

có thể không đạt được hiệu quả như mong muốn, hoặc thất bại

Ví dụ : Khi UBND thành phố ra một văn bản pháp luật về kiểm soát tiền thuê nhà

của thành phố, những người ra văn bản này đã bỏ qua một thực tế là nếu lợi nhuận bịgiảm thì chủ tư nhân đang cho thuê nhà có thể quay sang đầu tư vào nơi khác Nhữngngười ra văn bản đã không dự đoán được rằng số lượng nhà cho thuê sẽ bị giảm, và chấtlượng dịch vụ của chủ cho thuê cũng có thể bị xuống cấp Mặc dù chỉnh phủ đã nỗ lựckiểm soát sự xuống cấp này bằng cách áp đặt các tiêu chuẩn phục vụ đối với các chủ chothuê nhà, nhưng những áp đặt này chỉ thành công một phần, nhưng lại tốn kém và khônglâu dài

c Hạn chế do thiếu khả năng kiểm soát bộ máy hành chính

Quốc hội và các cơ quan lập pháp xây dựng luật pháp, việc thực hiện luật pháp nàybằng các văn bản dưới luật lại được giao quyền cho một số cơ quan chức năng bên dưới.Các cơ quan chức năng này bỏ ra khá nhiều thời gian để viết các văn bản chi tiết dướiluật Trong nhiều trường hợp, việc không thực hiện được ý định của Quốc hội không phải

là những ý định nhằm tránh ý muốn của quốc hội; mà là do kết quả thiếu rõ ràng trong ýđịnh của Quốc hội Ngoài ra, còn một vấn đề nữa là việc đảm bảo để những người thihành pháp luật làm việc một cách công minh và hiệu quả Những yếu tố này làm cho việcthực thi các chính sách của quốc hội và các cơ quan lập pháp đôi khi không hoàn toàn đi

đúng ý định, mục tiêu cơ bản, nguyên gốc của quốc hội và các cơ quan lập pháp đề ra Sự

Trang 29

phối hợp thiếu đồng bộ giữa các cơ quan Nhà nước đã khiến chính sách của Chính phủkhông có sức sống trong thực tiễn.

d Hạn chế do quá trình ra quyết định công cộng

Việc ra quyết định công cộng là một quá trình phức tạp, phải tuân theo những quytắc bỏ phiếu nhất định mà không phải lúc nào cũng đem lại một kết quả có hiệu quả Ngay

cả khi Chính phủ có đầy đủ thông tin về các hậu quả của các chương trình trong dài hạn

và trong ngắn hạn, thì việc chọn lựa trong số những phương pháp thực hiện chương trình

đó cũng có thể gây ra những khó khăn nhất định Hành động, thực hiện của Chính phủảnh hưởng tới toàn dân, nhưng lại chỉ có một nhóm người quyết định Những người raquyết định chịu sự chi phối của các cử tri, mà không phải lúc nào cử tri cũng có lợi íchthống nhất với nhau Điều này đặt người ra quyết định trước tình thế khó khăn khi phảiđiều hoà những lợi ích này

Bốn hạn chế trên trong hành động của Chính phủ là tiền đề để xây dựng các chínhsách thành công của Chính phủ

1.4 Đối tượng, nội dung và phương pháp luận nghiên cứu môn học

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu của môn học

Kinh tế học nghiên cứu sự khan hiếm nguồn lực và cách thức xã hội lựa chọn việcphân bổ và sử dụng các nguồn lực khan hiếm đó Kinh tế học trả lời bốn câu hỏi sau:

- Sản xuất cái gì?

- Sản xuất như thế nào?

- Sản xuất cho ai?

- Các quyết định kinh tế được đưa ra như thế nào?

Kinh tế công cộng nghiên cứu hành vi của khu vực công cộng, hay của Chính phủ,khi can thiệp vào nền kinh tế thị trường, nhằm giải quyết các câu hỏi cơ bản của kinh tếhọc từ giác độ lợi ích xã hội

a Sản xuất cái gì?

Hầu hết các loại hàng hoá và dịch vụ trên thị trường đều do khu vực tư nhân cungcấp và ở khu vực này các hãng cũng sẽ sản xuất hàng hoá và dịch vụ mà thị trường yêucầu Tuy nhiên, một nền kinh tế không thể thiếu đường xá, sân bay, hải cảng, y tế…

Trang 30

những sản phẩm này được khu vực công cộng mà chủ yếu là từ Chính phủ có chấp nhận

cung cấp hay không Chính phủ sẽ quyết định cung cấp dựa trên sự cân nhắc về lợi ích và

chi phí xã hội

b Sản xuất như thế nào?

Tạo lập những cơ chế, chính sách đặc biệt để thu hút tư nhân tham gia và khai thác,

thu lợi nhuận như: miễn giảm thuế, trợ cấp một phần, Nhà nước và nhân dân cùng làm…

hoặc là Chính phủ sử dụng hình thức BOT (sản xuất, khai thác, chuyển giao) để thu hút

đầu tư tư nhân, cách làm này thường có hiệu quả đối với loại hàng hoá mà tư nhân có khả

năng thu lợi nhuận bằng cách khai thác dịch vụ của chúng Bằng cách đó thì Chính phủ

vẫn có được hàng hoá như mong muốn, nhưng lại đa dạng hoá được nguồn vốn đầu tư và

giảm bới gánh nặng cho ngân sách quốc gia

Ký hợp đồng với khu vực tư nhân để sản xuất theo đơn đặt hàng của Chính phủ

Hình thức này sử dụng ngân sách Nhà nước, nhưng sẽ có hiệu quả hơn, nếu những hàng

hoá mà Chính phủ ký hợp đồng thuộc lĩnh vực mà tư nhân tỏ ra sản xuất có hiệu quả hơn

doanh nghiệp Nhà nước

Chính phủ đứng ra trực tiếp sản xuất, thông qua doanh nghiệp Nhà nước Trường

hợp này nên áp dụng khi khu vực công cộng tỏ ra ưu thế hơn so với khu vực tư nhân

Hình 1.5: Đường giới hạn năng lực sản xuất của xã hội giữa HHCN & HHCC

AB

CD

Đường khả năng sản xuất HHCN

HHCC

Trang 31

c Sản xuất cho ai?

Nếu trong khu vực tư nhân thì các hãng không quan tâm đến vấn đề này khi màcông bằng xã hội không trực tiếp làm tăng lợi nhuận cho họ Do đó, để đảm bảo côngbằng xã hội là trách nhiệm của Chính phủ Vì thế trong nhiều chính sách của Chính phủvấn đề công bằng luôn được đặt lên hàng đầu

d Các quyết định kinh tế được đưa ra như thế nào?

Nếu như ở khu vực tư nhân thì các quyết định mang tính cá nhân hoặc tập thể (vớiquy mô nhỏ) nhằm thực hiện mục đích cuối cùng là lợi nhuận Trong khi đó ở khu vựccông cộng thì quyết định là do chủ sở hữu xã hội (người dân) hoặc đại diện được bầu của

họ (các nhà chính trị điều hành Chính phủ hoặc những người được các nhà chính trị đóchỉ định) đưa ra Nhưng khác với khu vực tư nhân thì tính tập thể trong việc ra quyết định

ở khu vực công cộng rất cao, nhưng các quyết định này lại ảnh hưởng đến quyền lợi củanhiều người nên quyết định của khu vực công cộng là một lựa chọn công cộng rất phứctạp, thường xuyên có xung đột về lợi ích, đòi hỏi phải có cơ chế điều hoà

1.4.2 Nội dung nghiên cứu môn học

Kinh tế công cộng tập trung vào ba khía cạnh chính sau:

- Tìm hiểu xem khu vực công cộng tham gia vào những hoạt động kinh tế nào vàchúng được tổ chức ra sao? Môn học cần phân tích các hình thức can thiệp của Chính phủ

và đánh giá sự hợp lý của chúng trong nền kinh tế thị trường

- Tìm hiểu và dự đoán trước tác động mà một chính sách của Chính phủ có thể gây

ra Vì chính sách của Chính phủ sẽ gây ảnh hưởng đến toàn bộ các hoạt động khác nhautrong đời sống xã hội nên việc dự kiến trước phản ứng của các thành viên trong xã hộitrước sự thay đổi môi trường luật pháp như thế nào rất quan trọng

- Đánh giá các phương án chính sách Để làm được điều này, không chỉ cần hiểubiết về tác động của các chính sách mà còn đưa ra được các tiêu chuẩn đánh giá Trướchết, cần nắm được mục tiêu của chính sách, sau đó mức độ đạt được mục tiêu của phương

án đề xuất, bên cạnh đó còn phải đề cập đến những dự kiến về các tác động phụ mà mỗiphương án chính sách đề ra

Trang 32

1.4.3 Phương pháp luận nghiên cứu

a Phương pháp phân tích chuẩn tắc

Khái niệm: Là phương pháp phân tích dựa trên những nhận định chủ quan cơ bản

về điều gì đáng có hoặc cần làm để đạt được những kết quả mong muốn

Ưu điểm: Người phân tích chuẩn tắc sẽ dựa trên các tiêu chuẩn, giá trị cho trước

để lập luận xem có những chính sách nào tốt nhất có thể đạt các tiêu chuẩn đó Như vậy,phân tích chuẩn tắc cho phép đưa ra các giải pháp giải quyết các vấn đề

Nhược điểm: Do phân tích dựa trên những chuẩn mực chủ quan nên phân tích

chuẩn tắc khác nhau có thể đưa ra những nhận định chuẩn tắc không giống nhau, thậm chítrái ngược nhau

Ví dụ: Khi xem xét dự án mở đường vào khu công nghiệp, người phân tích chuẩn

tắc sẽ cố gắng trả lời những câu hỏi: Nếu việc mở đường là tạo điều kiện thuận lợi hơncho sự phát triển kinh tế ở khu công nghiệp đó thì liệu còn có phương án nào khác có hiệuquả hơn không?

Cơ sở lý thuyết thường dùng để phân tích chuẩn tắc là “kinh tế học phúc lợi” với

các công cụ kinh tế cơ bản là đồ thị với các đường khả năng sản xuất, đường khả nănghữu dụng…

b Phương pháp phân tích thực chứng

Khái niệm: Phương pháp phân tích thực chứng là phương pháp phân tích khoa học

nhằm tìm ra mối quan hệ nhân quả giữa các biến số kinh tế

Phương pháp này mang tính khách quan, người phân tích không áp đặt trước quanđiểm của mình về cái gì là tốt hoặc xấu, hoặc cái gì cần phải làm Nó chỉ đơn thuần là tạo

ra những giả thuyết dưới dạng “nếu… thì…”, mà những giả thuyết đó có thể kiểm chứngđược bằng thực tế

Ví dụ: Khi phân tích tác động của chính sách trợ cấp cho người có thu nhập thấp

thì phân tích thực chứng sẽ cố gắng tìm hiểu tác động của chương trình này đến giá cả vàlượng tiêu dùng thực phẩm của các đối tượng được nhận trợ cấp Tất cả các dự báo nàyđều có thể được kiểm chứng bằng thực tiễn

Trang 33

Tuy nhiên kiểm chứng bằng thực tiễn luôn là một vấn đề hết sức phức tạp và cónhiều khó khăn về tính chính xác Thông thường người ta phải chấp nhận một độ sai sốtrong quá trình phân tích Một số phương pháp phân tích thực chứng như: Phỏng vấn,thực nghiệm, nghiên cứu kinh tế lượng…

Hai phương pháp này luôn có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau Phân tích thựcchứng sẽ tạo thêm những cơ sở lập luận vững chắc để các nhận định chuẩn tắc đưa ra cóthêm căn cứ Ngược lại, phân tích chuẩn tắc lại hữu ích đối với phân tích thực chứng ởchỗ nó xác định các vấn đề và những khía cạnh mà phân tích thực chứng cần tập trungnghiên cứu để kiểm định tác động của các thay đổi chính sách dự kiến đến mục tiêu đề ra

Ví dụ: Chính phủ xem xét việc tăng thuế đánh vào hàng hóa phi khuyến dụng như

Rượu, thuốc lá

Theo phương pháp phân tích thực chứng chúng ta sẽ giải quyết các vấn đề:

- Giá Rượu và thuốc lá phải tăng bao nhiêu?

- Hậu quả của tăng thuế đối với ngành sản xuất Rượu và Thuốc lá như thế nào?

- Cầu về Rượu và Thuốc lá sẽ thay đổi như thế nào khi đánh thuế?

- Chính sách này đã ảnh hưởng đến người nông dân trồng nguyên liệu để sản xuấtRượu và Thuốc lá như thế nào?

- Tác động của chính sách này đến y tế ra sao?

- Tác động của chính sách này đến ổn định xã hội ra sao?

Theo phân tích chuẩn tắc, chúng ta sẽ quan tâm hơn đến việc đánh giá các hậu quảcủa chính sách này, từ đó đánh giá sự mong muốn của xã hội đối với vấn đề tăng thuế đốivới mặt hàng Rượu và Thuốc lá

- Nếu mục tiêu quan tâm của chúng ta tập trung vào sự ảnh hưởng của thuế đến sự

ổn định xã hội, thì vấn đề giải quyết là lựa chọn thuế nào thích hợp hơn để không làmméo mó các hành vi của các thành viên trong xã hội

- Nếu mục tiêu quan tâm của chúng ta chủ yếu là vấn đề tác động của thuế đếngiảm chi tiêu cho y tế thì vấn đề giải quyết là lựa chọn thuế Rượu hay thuế Thuốc lá làthích hợp hơn

Trang 34

CHƯƠNG 2 CHÍNH PHỦ VỚI VAI TRÒ PHÂN BỔ NGUỒN LỰC NHẰM NÂNG CAO

HIỆU QUẢ KINH TẾ2.1 Độc quyền

Độc quyền mua, hay độc quyền bán đều dẫn tới thiệt hại cho người tiêu dùng vàthiệt hại cho nền kinh tế và xã hội Trong phạm vi bài giảng này chúng tôi chỉ nêu môhình độc quyền bán, trong cơ chế độc quyền tự nhiên Một số đặc điểm cơ bản của độcquyền và độc quyền tự nhiên đó là: đường doanh thu biên (MR) bao giờ cũng nằm dướiđường cầu của nhà độc quyền; độ dốc của đường doanh thu biên (MR) và chi phí biên(MC) quyết định lượng bán ra của nhà độc quyền; đối với độc quyền tự nhiên thì đườngchi phí biên (MC) của nhà độc quyền luôn nằm dưới đường chi phí trung bình (AC)

2.1.1 Độc quyền thường

Độc quyền thường là trạng thái thị trường chỉ có duy nhất một người bán và sảnxuất ra sản phẩm không có loại hàng hoá nào thay thế gần gũi Tuy nhiên, trên thực tế thìkhông có độc quyền thường, vì hàng hoá nói chung ít nhiều có sản phẩm thay thế

a Nguyên nhân xuất hiện độc quyền

- Độc quyền xuất hiện là kết quả của quá trình cạnh tranh Quá trình cạnh

tranh sẽ làm cho doanh nghiệp nào kém hiệu quả, có những quyết định kinh doanh sai lầm

sẽ bị những doanh nghiệp khác làm ăn hiệu quả hơn thôn tính, chiếm lĩnh thị phần và cuốicùng sẽ bị đào thải ra khỏi cuộc chơi Nếu như trong cuộc đua trên thị trường giữa cácdoanh nghiệp có một doanh nghiệp nào đó đánh bại các doanh nghiệp khác dành vị ví tríthống trị thì hiện tượng độc quyền xảy ra

- Do được Chính phủ nhượng quyền khai thác thị trường Nhiều hãng trở thành

độc quyền nhờ Chính phủ nhượng quyền khai thác một thị trường nào nào đó Với nhữngngành được coi là chủ đạo của nền kinh tế, Chính phủ thường tạo cho nó một cơ chế cóthể tồn tại dưới dạng độc quyền Nhà nước

Trang 35

- Do chế độ bản quyền đối với phát minh, sáng chế và sở hữu trí tuệ Chế độ

bản quyền là một cơ chế bảo vệ quyền lợi của những nhà phát minh, khuyến khích họ đầu

tư công sức, thời gian và tiền của vào hoạt động nghiên cứu và triển khai góp phần nângcao năng suất lao động và đời sống tinh thần cho xã hội Nhưng chính những quy địnhnày đã tạo cho người có bản quyền một vị thế độc quyền lớn, tuy không phải vĩnh cửu

- Do sở hữu nguồn lực đặc biệt Việc nắm giữ một nguồn lực hay một khả năng

đặc biệt nào đó cũng sẽ giúp người sở hữu có được vị thế độc quyền trên thị trường Vídụ: Phần lớn kim cương của thế giới tập trung tại các mỏ ở Nam phi, biến quốc gia nàygần như độc quyền về kim cương

- Do khả năng giảm giá thành khi mở rộng sản xuất Do tính chất đặc biệt của

ngành có lợi tức tăng dần theo quy mô đã khiến việc có nhiều hãng cùng cung cấp mộtdịch vụ trở nên không có hiệu quả và hãng nào đã có mặt trong thị trường từ trước thì cóthể liên tục giảm giá khi mở rộng sản xuất và biến nó thành hàng rào hữu hiệu ngăn cản

sự xâm nhập thị trường của những hãng mới Đây được gọi là độc quyền tự nhiên Ví dụ:Nước, điện, ngành đường sắt…

b Tổn thất phúc lợi do độc quyền thường gây ra

Ở thị trường có độc quyền, các hãng độc quyền thường hạn chế sản lượng sản xuất

ra nhằm nâng giá sản phẩm, ép người tiêu dùng mua với giá cao hơn so với thị trườngcạnh tranh hoàn hảo nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch Chính vì vậy các hãng độc quyền tối

đa hoá lợi nhuận khi họ sản xuất tại điểm MC = MR trong khi đó đường doanh thu biêncủa các nhà độc quyền luôn luôn nằm dưới đường cầu (giá bán) ở mọi điểm trừ điểm đầutiên (vì lượng hàng hóa được bán thêm chỉ khi giá hạ) Chính vì vậy, giá của các nhà độcquyền được định đoạt theo quy luật riêng khác với các hãng sản xuất, cung cấp trong thịtrường cạnh tranh hoàn hảo (trong cạnh tranh hoàn hảo điểm sản xuất hiệu quả là MR =P) Tăng số lượng bán ra của các nhà độc quyền sẽ dẫn tới giảm doanh thu bởi vì sảnphẩm của các nhà độc quyền thường có đường cầu ít co dãn chính vì vậy sẽ làm hạ giábán của tất cả các đơn vị hàng hoá

Trang 36

Như vậy, nếu doanh nghiệp độc quyền quyết định sản xuất tại mức sản lượng Q0thì sẽ gây tổn thất cho xã hội là diện tích tam giác ABC Cụ thể được thể hiện ở bảng sau:

Chỉ tiêu Thị trường cạnh tranh

c Các giải pháp can thiệp của Chính phủ

- Ban hành luật pháp và chính sách chống độc quyền Biện pháp chủ yếu để cạnh

tranh với các nguy cơ xuất hiện hành vi độc quyền trên thị trường là sử dụng các chínhsách chống độc quyền Đó là các điều luật nhằm ngăn cấm những hành vi nhất định (nhưcấm các hãng cấu kết để cùng nâng giá), hoặc hạn chế một số cơ cấu thị trường nhất định.Biện pháp này thường được sử dụng ở những nước có thị trường phát triển, nhằm điều tiếtnhững hãng lớn, chiếm một thị phần rất lớn

- Sở hữu Nhà nước đối với độc quyền cũng là một giải pháp thường được áp

dụng trong các ngành trọng điểm quốc gia như khí đốt, điện năng Trong nhiều trường

Hình 2.1: Độc quyền thường

P

C

QF

B

MC

DMR

AP

Trang 37

hợp, vẫn còn sự tranh cãi lớn giữa các nhà kinh tế là Chính phủ nên sở hữu hay chỉ cần cóquy định điều tiết những ngành này là đủ.

- Can thiệp về giá: Chính phủ sẽ can thiệp vào giá của doanh nghiệp để hạ giá từ P

xuống P1 và quy định nhà độc quyền bán xung quanh mức giá P1 Nhưng muốn làm đượcđiều trên thì Chính phủ phải biết được chi phí biên của doanh nghiệp, vì thế việc xác địnhmức giá cho doanh nghiệp là không dễ dàng

- Đánh thuế được sử dụng để giảm bớt lợi nhuận siêu ngạch do độc quyền, góp

phần phân phối lại thu nhập, của cải trong xã hội Tuy nhiên nếu đánh thuế cao thì doanhnghiệp sẽ tăng giá bán và phần thiệt thòi lại thuộc về người tiêu dùng Do đó, thực chấtngười tiêu dùng sẽ phải san sẻ một phần gánh nặng thuế với hãng độc quyền

2.1.2 Độc quyền tự nhiên - trường hợp của các ngành dịch vụ công

Độc quyền tự nhiên là tình trạng trong đó các yếu tố hàm chứa trong quá trình sảnxuất đã cho phép hãng có thể liên tục giảm chi phí sản xuất khi quy mô sản xuất mở rộng,

do đó đã dẫn đến cách tổ chức sản xuất hiệu quả nhất là chỉ thông qua một hãng duy nhất

a Sự phi hiệu quả của độc quyền tự nhiên khi chưa bị điều tiết

D

Hình 2.2: Độc quyền tự nhiên

Trang 38

Theo định nghĩa, đường chi phí trung bình AC của hãng độc quyền sẽ giảm dầnkhi quy mô tăng lên, do đó đường chi phí biên MC cũng đi xuống và luôn nằm dướiđường AC Nếu không có sự điều tiết của Nhà nước thì các hãng sẽ sản xuất ở mức Q1 lànơi MR = MC theo nguyên tắc thông thường và đặt giá tại P1 Lợi nhuận siêu ngạch màhãng nhận được là hình chữ nhật P1EGF Nhưng mức Q1 không hiệu quả, mức hiệu quảphải đạt ở mức Q0 khi đó P = MC hay MB = MC Nhưng nếu đặt giá ở P0 thì một khókhăn đặt ra là tại Q0 mức giá (P0) thấp hơn chi phí sản xuất trung bình Như vậy, hãngkhông đủ bù đắp các chi phí sản xuất và không thể tồn tại được trong thị trường Tổngmức lỗ của hãng khi sản xuất tại mức sản lượng Q0 sẽ bằng chênh lệch giữa chi phí trungbình và giá (NP0) nhân với mức sản lượng (Q0), nó bằng diện tích hình chữ nhật P0NMA.

b Các điều tiết của Chính phủ

* Định giá bằng chi phí trung bình Các hãng sẽ phải tính tất cả mọi chi phí sản

xuất của mình (cả chi phí cố định và biến đổi), rồi chia bình quân cho từng đơn vị sảnphẩm Khách hàng sẽ phải trả đúng bằng mức chi phí bình quân đã phân bổ

Về mặt kinh tế, nó là một sự cải tiến đáng kể so với khi hãng không bị điều tiết Nó

đã loại bỏ hoàn toàn lợi nhuận siêu ngạch của hãng độc quyền vì thế đã góp phần tạo ramột kết cục công bằng hơn Đồng thời khi buộc hãng độc quyền giảm giá xuống P2,Chính phủ đã thu hẹp được khoảng cách giữa giá và chi phí biên Tuy nhiên Q2 nhỏ hơn

Q0 nên tuy giải pháp làm hãng độc quyền sản xuất nhiều hơn, nhưng vẫn chưa đạt mứcsản lượng hiệu quả Lúc nay tổn thất phúc lợi xã hội là diện tích hình MBA

* Định giá bằng cách chi phí biên cộng với một khoảng thuế Đó là đặt ra giá P

= MC rồi bù đắp thêm phần thiếu hụt bằng một khoản thuế Khoản thuế này sẽ được đánhđại trà kể cả người tiêu dùng Về ưu điểm nó không gây méo mó của thuế vì vậy nó sẽkhông tạo thêm sự phi hiệu quả kinh tế Tuy nhiên hình thức này khó áp dụng vào thực tế.Bởi vì, nó không biết được người chịu thuế nên bị coi là thiếu công bằng

* Định giá hai phần: Sẽ gồm một khoản phí để được quyền sử dụng dịch vụ của

hãng độc quyền, cộng với mức giá bằng chi phí biên với mỗi đơn vị dịch vụ mà ngườitiêu dùng sử dụng

Trang 39

Ví dụ: Nếu có 1.000 người sử dụng dịch vụ điện thoại của hãng thì mỗi người sử

dụng trước hết sẽ phải trả một mức phí bằng 1/1.000 tổng khoản lỗ mà hãng phải chịu khisản xuất tại P = MC để được sử dụng dịch vụ của hãng Sau đó tùy theo thời gian gọi điện

mà cá nhân sẽ phải thanh toán theo mức giá bằng MC

2.2 Ngoại ứng (ngoại lai, ngoại vi)

2.2.1 Khái niệm, phân loại và đặc điểm

a Khái niệm: Khi hành động của một đối tượng (có thể là cá nhân hoặc một công ty) có

ảnh hưởng trực tiếp đến phúc lợi của một đối tượng khác, nhưng những ảnh hưởng đó lạikhông được phản ánh trong giá cả thị trường thì ảnh hưởng đó được gọi là ngoại ứng

b Phân loại

Ngoại ứng có hai loại là tiêu cực và tích cực

* Ngoại ứng tiêu cực: là những chi phí áp đặt lên một đối tượng thứ ba (ngoài

người mua và người bán trên thị trường), nhưng chi phí đó lại không được phản ánh tronggiá cả thị trường:

Ví dụ: Nước thải từ các nhà máy hóa chất gây ô nhiễm dòng sông, ảnh hưởng đến

sức khỏe của những người dân sống xung quanh đó song không ai là người chịu tráchnhiệm về vấn đề này trong thị trường tự do, việc gây ô nhiễm này không được phản ánhthông qua giá cả thị trường do nó không làm tăng chi phí cho nhà sản xuất

* Ngoại ứng tích cực: là những lợi ích mang lại cho bên thứ ba (ngoài người bán

và người mua) và lợi ích đó cũng không được phản ánh vào giá cả trên thị trường

Ví dụ: sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ thông tin không chỉ mang lại những

khoản lợi nhuận khổng lồ cho các công ty máy tính và sự tiện lợi cho người sử dụng màcòn góp phần nâng cao năng suất lao động hoặc tạo ra những cuộc cách mạng trong mọimặt đời sống của nhân dân

c Đặc điểm của ngoại ứng

- Chúng có thể do cả hoạt động sản xuất và tiêu dùng gây ra

Trang 40

- Trong ngoại ứng việc ai là người gây tác hại (hay lợi ích) cho ai nhiều khi chỉmang tính tương đối (hay còn gọi là tính tương hộ của ngoại ứng).

- Sự phân biệt giữa tính chất tích cực và tiêu cực của ngoại ứng chỉ là tương đối

- Xét dưới quan điểm xã hội tất cả ngoại ứng đều phi hiệu quả

2.2.2 Ngoại ứng tiêu cực

a Sự phi hiệu quả của ngoại ứng tiêu cực

Ví dụ: Nhà máy hóa chất A thải nước thải xuống dòng sông làm ô nhiễm nguồn nước

ảnh hưởng đến cư dân sống xung quanh dòng sông đó Ta có:

Trục hoành cho biết sản lượng nhà máy sản xuất ra

Trục tung đo đường chi phí và lợi ích, phản ánh bằng tiền

Q: Sản lượng sản xuất của nhà máy

MSC: là đường chi phí biên của xã hội bao gồm chi phí tư nhân biên MPC và chiphí thiệt hại xã hội phải gánh chịu MEC (MSC = MPC + MEC)

MPC: là chi phí tư nhân biên mà nhà máy A bỏ ra để sản xuất thêm một đơn vị sảnlượng

MEC: là chi phí ngoại ứng biên phản ánh mức thiệt hại mà doanh nghiệp A gây racho cư dân sống quanh dòng sông khi sản xuất thêm một đơn vị sản lượng Mức thiệt hạinày giả định tăng dần khi sản xuất của nhà máy mở rộng, vì thế đường MEC có chiềuhướng đi lên giống như đường MPC)

MB: là lợi ích biên của nhà máy A thu được ứng với từng mức sản lượng

Q0: là sản lượng tối ưu của thị trường (MB = MPC)

Q*: là sản lượng tối ưu của xã hội (MB = MSC)

Để đạt tối ưu về thị trường doanh nghiệp sẽ sản xuất ở mức sản lượng Q0 ứng vớimức giá là P0, điểm cân bằng là A (MPC = MB) Nhưng mức sản lượng tối ưu về xã hội là

Q*ứng với mức giá là P*, điểm cân bằng là B (MSC = MB) Vì vậy tại mức Q0 sẽ gây tổnthất cho xã hội một lượng bằng diện tích hình ABC Như vậy khi ngoại ứng tiêu cực xảy rathị trường có xu hướng sản xuất nhiều hơn so với mức hiệu quả tối ưu pareto (Q*< Q0)

Ngày đăng: 12/06/2017, 15:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS Phạm Văn Vận - TH.S Vũ Cương, 2006, Giáo trình Kinh tế Công cộng, NXB Thống Kê Khác
2. PGS.TS Nguyễn Văn Song, 2008, Bài giảng kinh tế Công cộng Khác
3. Nguyễn Hữu Xuân, 2008, Bài giảng kinh tế Công cộng Khác
4. Nguyễn Văn Ngọc, 2007, Bài giảng nguyên lý kinh tế Vi mô, NXB Đại học Kinh tế quốc dân Khác
5. Nguyễn Văn Ngọc, 2007, Bài giảng kinh tế Vĩ mô, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
6. TS. Vũ Kim Dũng, 2006, Giáo trình Nguyên lý kinh tế học Vi mô, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
7. PGS.TS, Phạm Văn Minh, 2007, Kinh tế Vi mô 2, NXB Lao động Khác
8. Phạm Thị Thanh Xuân, 2005, Bài giảng Tài chính công Khác
9. TH.S. Vũ Cương, 2002, Kinh tế và Tài chính công, NXB Thống kê Khác
10. PGS. TS Nguyễn Văn Công, 2006, Bài giảng và thực hành kinh tế Vĩ mô 2, NXB Lao động Khác
11. PGS. TS Nguyễn Văn Công, 2006, Nguyên lý kinh tế học Vĩ mô, NXB Lao động Khác
12. TS. Đinh Phi Hổ - TS Lê Ngọc Uyển - TH.S Lê Thị Thanh Tùng, 200, Kinh tế Phát triển, NXB Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh Khác
13. PGS. TS Nguyễn Thế Chinh, 2003, Giáo trình kinh tế và quản lý môi trường, NXB Thống kê Khác
14. Josept E. Stiglitz, 1995, Kinh tế học Công cộng, NXB Khoa học &amp; Kỹ thuật Khác
15. David Begg - Stanley Fischer - Rudiger Dornbusch, 1992, Kinh tế học, tập I, II, NXB Giáo dục Khác
16. Paul A. Samuelson - William D. Nordhaus, dịch giả: Vũ Cương - Đinh Xuân Hà - Nguyễn Xuân Nguyên - Trần Đình Toàn. Kinh tế học, tập I, II, NXB Thống Kê Khác
17. Josept E. Stiglitz, Economics of the Public Sector Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w