Phật giáo len lỏi vào từng địa phương, thôn xóm với những giá trị tốt đẹp “Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần của người Hà Nội hiện nay” của tác giả Đặng Trần
Trang 4Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đinh Thanh Xuân, có kế thừa một số kết quả nghiên cứu liên quan đã được công bố Các số liệu, tài liệu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Em hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về luận văn của mình
Hà Nội tháng 5 năm 2017
Tác giả
Hoàng Thị Hiệp
Trang 5Để hoàn thành luận văn này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô PGS.TS Đinh Thanh Xuân, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình viết luận văn
Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Triết học, Trường Đại học sư phạm Hà Nội đã tận tình truyền đạt kiến thức trong suốt những năm học trên ghế nhà trường Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu luận văn mà còn là hành trang quí báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin
Trang 6LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu 8
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 8
5 Giả thuyết khoa học 8
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 8
8 Phương pháp nghiên cứu 9
9 Kết cấu của luận văn 9
10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 9
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TRIẾT LÍ NHÂN SINH PHẬT GIÁO VÀ LỄ VU LAN 10
1.1 Triết lí nhân sinh và triết lí nhân sinh Phật giáo 10
1.1.1 Triết lí và triết lí nhân sinh 10
1.1.2 Triết lí nhân sinh của Phật giáo 15
1.2 Lễ Vu Lan của Phật giáo 33
1.2.1 Khái niệm nghi lễ 33
1.2.2 Lễ Vu Lan của Phật giáo 34
1.3 Lễ Vu Lan ở Châu Á và quá trình du nhập vào Việt Nam 41
1.3.1 Lễ Vu Lan ở một số quốc gia Châu Á 41
1.3.2 Quá trình du nhập và nghi lễ cúng Vu Lan ở Việt Nam 49
Tiểu kết chương 1 58
Trang 72.1 Quan niệm về nỗi khổ trong cuộc đời của con người 60
2.1.1 Cuộc đời bà Thanh Đề - biểu hiện của nỗi khổ vì tham, sân, si 60
2.1.2 Cuộc đời của Mục Kiền Liên - biểu hiện của nỗi khổ đi tìm chân lí và tu tập thành đạo .65
2.2 Tư tưởng nhân quả, nghiệp báo luân hồi và giải thoát thể hiện trong Lễ Vu Lan 69
2.3 Tư tưởng hiếu đạo trong Lễ Vu Lan 81
2.4 Triết lí nhân sinh trong Lễ Vu Lan - Giá trị và hạn chế 100
2.4.1 Giá trị của triết lí nhân sinh trong Lễ Vu Lan 100
2.4.2 Hạn chế của triết lí nhân sinh trong Lễ Vu Lan 104
Tiểu kết chương 2 106
KẾT LUẬN 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong cuộc sống con người luôn bị chi phối bởi hai mối quan hệ đó là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và mối quan hệ giữa con người với con người Những mối quan hệ đó đã hình thành cho con người những quan niệm, quan điểm về thế giới xung quanh, đặc biệt là về chính bản thân mình
Họ không ngừng đặt ra và trả lời câu hỏi: Lẽ sống của con người là gì? Mục đích, ý nghĩa và giá trị của cuộc sống con người là gì? Trả lời được những câu hỏi đó chính là đã lí giải được giá trị nhân sinh Điều đó có vai trò quan trọng trong việc hình thành cho con người một lăng kính để khám phá bản thân và thấy được lý tưởng, mục đích sống đúng đắn của chính mình
Phật giáo với triết lí nhân sinh mang đậm tính nhân văn, hướng thiện sâu sắc, nhiều giá trị phù hợp với văn hóa và truyền thống của nhiều dân tộc trên thế giới, đặc biệt ở các nước Châu Á Nó có ảnh hưởng rất sâu rộng từ lối sống của con người như: giao tiếp, sinh hoạt, giáo dục, cho tới những giá trị văn hóa lâu đời như tín ngưỡng dân gian, ca dao, tục ngữ, hay những hoạt động văn hóa như giỗ, tết, thậm chí các ngày lễ trong năm đều mang đậm dấu
ấn của nhân sinh quan Phật giáo
Vu Lan - là ngày lễ thể hiện tình người thắm thiết trong cuộc sống nhân sinh, mang tính văn hóa đạo đức tâm linh, văn hóa đạo đức của tình người Ngày lễ này đã ăn sâu trong lòng mỗi người, sự ảnh hưởng của nó đã lan tỏa khắp cộng đồng nhân loại, thấm đượm tinh thần từ bi của đạo Phật Ngày Vu Lan không chỉ dành riêng cho người Phật tử hay trong đạo Phật mà còn là mùa lễ hội để mở rộng tâm hồn để kết nối nhịp cầu yêu thương với mọi người
và tất cả chúng sinh trong cùng khắp pháp giới Tinh thần ảnh hưởng của ngày lễ hội có tác dụng rất mạnh mẽ trong xã hội, mang tính nhân văn cao cả, suy tiến mọi ân tình, ân nghĩa trong cuộc sống, khuyến khích mọi người sống
Trang 9có luân thường đạo lý Đặc biệt, một trong ý nghĩa to lớn của Lễ Vu Lan xuất phát từ mối quan hệ gắn bó giữa cha mẹ và con cái đã hình thành trong mỗi người lẽ sống cao đẹp đối với bậc sinh thành đó là “Hiếu đạo”
Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, con người giữ vị trí và vai trò quyết định đối sự tồn suy hay phát triển của đất nước Chính vì vậy, trong Hội nghị trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam để đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của đất nước, Đảng cộng sản
Việt Nam đã khẳng định: “Chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách, xây dựng và phát huy lối sống mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người Kết hợp hài hòa giữ tính tích cực cá nhân
và tính tích cực xã hội, đề cao trách nhiệm cá nhân đối với bản thân, gia đình
và xã hội, khẳng định tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng, nhân rộng các giá trị nhân văn cao đẹp và đạo đức con người” [60, tr.5]
Tuy nhiên, ở xã hội hiện đại - thế kỉ XXI, khi cả thế giới trong đó có Việt Nam bước vào xu thế hội nhập, hiện đại hóa, toàn cầu hóa, con người dường như sống vội, sống gấp, hòa mình vào nền văn minh thông tin, vô tình
đã lãng quên những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, những ý nghĩa nhân sinh sâu sắc về cuộc đời, về con người, về lẽ sống và lý tưởng sống cao đẹp,
về tình thân, tình người Thay vào đó là lối sống vị kỉ, thực dụng, chạy theo sức mạnh của vật chất, tiền tài, danh vọng, lãng quên mối quan hệ gia đình gắn bó Đặc biệt, “Hiếu đạo” - một giá trị nhân văn nền tảng, một phẩm chất đạo đức cơ bản nhất của mỗi con người, một công dân tốt của xã hội không thể không là một người con có hiếu trong gia đình Vậy mà giờ đây, trong một
số gia đình giá trị đó đang dần dần bị mai một
Trước thực trạng bối cảnh xã hội có nhiều chiều hướng suy thoái về đạo đức, lối sống, việc làm rõ tư tưởng triết lí nhân sinh trong Phật giáo nói
Trang 10chung và thông qua thực tiễn Lễ Vu Lan nói riêng góp phần khuyến khích con người làm việc thiện, tránh xa việc ác, tự chịu trách nhiệm với lối sống, mục đích sống và những hành vi của bản thân Hơn nữa, việc lấy gia đình với sự kính trọng và biết ơn đối với đấng sinh thành là nền tảng, là phẩm chất đạo đức đầu tiên cần có để góp phần hướng tới xây dựng một con người Việt Nam mới hoàn thiện cả về Tâm về Tài Khi đó, mỗi cá nhân đều
sẽ hiểu đời, hiểu người, sống an nhiên, thanh thản, không còn cô đơn trong chính bản thân mình
Với sự cấp thiết về mặt lí luận và thực tiễn như vậy, học viên đã lựa
chọn đề tài “Triết lí nhân sinh trong Lễ Vu Lan” để làm đề tài nghiên cứu cho
luận văn của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Mỗi một tôn giáo đều chứa đựng một giá trị tốt đẹp về đạo đức và văn hoá Các giáo lí của tôn giáo đều mang những ý nghĩa nhân bản to lớn góp phần hữu ích cho xây dựng đạo đức và nhân cách con người Phật giáo là một trong những tôn giáo như thế, nó mang giá trị nhân sinh sâu sắc với việc hướng con người đến lối sống tốt đẹp, không ngừng rèn luyện bản thân, tu dưỡng tâm tính, lấy lối sống trong sạch và một trái tim nhân hậu góp phần tạo quả “thiện”, nghiệp “thiện” Chính vì vậy, Phật giáo luôn luôn là đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học từ trước tới nay với những nội dung mang đậm giá trị lí luận và thực tiễn khác nhau
Thứ nhất: Về triết lí nhân sinh trong Phật giáo
Triết lí nhân sinh trong Phật giáo là một vấn đề được tập trung khai thác với một số lượng các đề tài và tác phẩm lớn Đối với phạm vi ảnh hưởng
rộng của Phật giáo đến nước ta trong tác phẩm “Việt Nam Phật giáo sử lược”
tác giả Thích Mật Thể (Nxb Minh Đức, năm 1960) đã nghiên cứu khá nhiều nội dung quan trọng như: quá trình du nhập của Phật giáo vào Việt Nam, sự
Trang 11phát triển của Phật giáo ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử và các nội dung
cơ bản của Phật giáo như thế giới quan, nhân sinh quan
Phật giáo len lỏi vào từng địa phương, thôn xóm với những giá trị tốt đẹp
“Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần của người Hà Nội hiện nay” của tác giả Đặng Trần Ánh Tuyết (Nxb Đại học sư phạm Hà Nội,
năm 2011) là một tác phẩm như vậy Trong tác phẩm, tác giả đã lí giải cơ sở lí luận về triết lí, triết lí nhân sinh và những biểu hiện của triết lí nhân sinh Phật giáo ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Hà Nội hiện nay
Triết lí nhân sinh Phật giáo còn được khai thác trong văn học dân gian
Việt Nam với tác phẩm “Triết lí nhân sinh trong văn học dân gian Việt Nam”
của tác giả Phạm Thị Oanh (Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, năm 2013) Tác phẩm đã khái quát những triết lí nhân sinh trong văn học dân gian Việt Nam
Tác phẩm “Giải thoát luận Phật giáo” của tác giả Nguyễn Thị Toan
(Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2010) đã phân tích quan niệm giải thoát
- hạt nhân của Phật giáo và ảnh hưởng của quan niệm này tới đời sống người
Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử Tác phẩm “Phật giáo với văn hoá Việt Nam” của Nguyễn Đăng Duy (Nxb Hà Nội, năm 1999) đã đề cập đến vai trò
của Phật giáo trong đời sống văn hoá, đạo đức của người dân Việt Nam Tác
phẩm “Đại cương lịch sử triết học Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hùng Hậu
(Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2010) đã hệ thống hoá về sự hình thành và phát
triển tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam Trong tác phẩm “Cơ duyên tồn tại và phát triển của Phật giáo Việt Nam hiện nay” của Vũ Minh Tuyên (Nxb
Chính trị Quốc gia, năm 2010), tác giả đã nghiên cứu về 6 tỉnh thành ở đồng bằng Bắc Bộ, từ đó làm sáng tỏ những cơ sở quy định sự tồn tại và phát triển của Phật giáo Việt Nam
Ngoài ra còn có cuốn giáo trình “Tôn giáo học” của tác giả Trần Đăng
Sinh và Đào Đức Doãn (Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, năm 2011) Trong
Trang 12cuốn sách này tác giả không những làm rõ nguồn gốc, bản chất của tôn giáo nói chung mà còn cung cấp cho người đọc cái nhìn khái quát nhất về sự ra đời
và phát triển của các tôn giáo lớn trong đó có Phật giáo cũng như ảnh hưởng của chúng đến đời sống chính trị, xã hội, văn hóa của Việt Nam
Trong luận văn thạc sĩ triết học của Mai Thị Dung với đề tài “Ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam và sự biến đổi của nó trong quá trình đổi mới hiện nay” (Học viện chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2003), tác giả tập trung nghiên cứu sự biến đổi của ảnh hưởng triết lí nhân sinh trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Luận văn thạc sĩ triết học của Lưu Quang Bá với đề tài “Nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống tinh thần của người dân đồng bằng Bắc bộ hiện nay” (Học viện chính trị, hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, năm
2013) đã phân tích nội dung cơ bản trong triết lí nhân sinh Phật giáo và ảnh hưởng hai mặt tới đời sống tinh thần của nhân dân vùng đồng bằng Bắc Bộ
Bên cạnh đó còn một số công trình khác của Thích Thiện Siêu với
“Chữ Nghiệp trong đạo Phật” (Nxb Tôn giáo, năm 2002), Diệu Thanh, Đỗ Thanh Bình với “Đôi điều luận về luật nhân quả nghiệp báo” (Tạp chí nghiên cứu Phật học, số 4, tr40 - 41), Thích Quang Châu với “Luận về nhân quả” (Nxb Tôn giáo, năm 2005), Nguyễn Hùng Hậu với “Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam” (Nxb Khoa học xã hội, năm 2002)
Thông qua các công trình nghiên cứu này, tác giả đã thấy được những khái quát ban đầu, tổng hợp về Phật giáo với những khái niệm, phạm trù như
“Thiện - Ác”, “Nhân - Quả”, “Luân hồi - Nghiệp báo”, “Giải thoát”, “Niết Bàn” Đây là cơ sở để tác giả triển khai vào đề tài của mình trong chương 1 với những vấn đề lí luận như: Triết lí, triết lí nhân sinh, triết lí nhân sinh Phật giáo
Thứ hai: Về Lễ Vu Lan và triết lí nhân sinh trong Lễ Vu Lan
Bên cạnh những tư tưởng, quan điểm Phật giáo có thể trở thành đề tài khai thác một cách trực tiếp của các tác giả tâm huyết với mảng khoa học này
Trang 13thì những giáo lí, lễ nghi hay các ngày lễ trong năm mang đậm màu sắc Phật giáo cũng là vấn đề rất được quan tâm, trong đó có Lễ Vu Lan vào tháng bảy
âm lịch hàng năm Lễ Vu Lan là một trong những ngày lễ lớn mang đậm giá trị nhân bản của đạo Phật Xuất phát từ ý nghĩa đó mà nhiều tác giả đã nghiên cứu về Lễ Vu Lan với các tác phẩm và bài viết như sau:
Trong tạp chí nghiên cứu Phật học, tác giả Nguyễn Công Định đã có bài viết sâu sắc về “Ý nghĩa nhân bản về Lễ Vu Lan” hay ban biên tập của tập chí này có bài viết “Ý nghĩa Lễ Vu Lan” (năm 1997) đã đề cập những giá trị
mà Lễ Vu Lan của Phật giáo mang lại Tương đồng với các bài viết trên, các tác giả là Anh Sơn, Minh Nguyệt, Thanh Tàu đã có bài viết trên báo văn hóa
giáo dục “Mùa Vu Lan - chung tay làm việc thiện” đã góp phần làm lan tỏa
sức ảnh hưởng của Phật giáo trong việc hướng con người đến việc sống thiện, làm việc thiện, “thực thi” những tinh thần của đạo Phật
Tạp chí Vu Lan - báo hiếu, số 120 năm 2001, số 289 năm 2005, số 340
năm 2006, số 395 năm 2007 đã phần nào khái quát chung về nguồn gốc ra đời
về ngày Lễ Vu Lan, về chữ hiếu và đạo lí sống của con người Việt Nam
Tác giả Cao Hồng với bài viết “Mùa Vu Lan báo hiếu” đăng trên báo
công an nhân dân online ngày 1 tháng 9 năm 2012 đã khẳng định Vu Lan là lễ báo ân Theo thuyết nhà Phật, con người ta chịu bốn ơn sâu nặng đó là ơn quốc gia, xã hội, cha mẹ sinh thành, thầy cô dạy dỗ Từ đó hướng con người đến lối sống nhân nghĩa với con người, trách nhiệm với dân tộc và hiếu thảo với đấng sinh thành
Hòa thượng Thích Phước Đạt trong bài viết “Lễ Vu Lan và đạo lí sống của dân tộc Việt Nam” đăng ngày 31- 8- 2012 trên báo văn hóa giáo dục đã
nói về công hạnh Lễ Vu Lan và ảnh hưởng của lễ này đối với truyền thống văn hóa của dân tộc
Đặc biệt, thiền sư Thích Nhất Hạnh trong cuốn sách “Bông hồng cài áo” (Nxb Thanh niên, năm 2009) đã lí giải về ý nghĩa của bông hồng cài áo
Trang 14trong ngày Lễ Vu Lan, là một nét đặc trưng riêng trong ngày Lễ Vu Lan ở Việt Nam khác biệt so với các quốc gia trên thế giới
Lễ Vu Lan bên cạnh giá trị về ghi nhận và đền đáp công ơn của thế hệ con cái đối với đấng sinh thành còn gọi là ngày “xá tội vong nhân”, ngày trong cả tâm thức cho đến thực tế thực hiện hàng loạt những lễ nghi theo tinh thần Phật pháp với mong muốn các linh hồn vất vưởng không nơi nương tựa, chưa được giải thoát khỏi thế giới của khổ đau, sân hận đang bị đọa đày được
siêu thoát, tịnh độ Chính vì vậy, tác phẩm “Lễ Vu Lan và văn tế thập loại chúng sinh” của tác giả Vũ Thế Ngọc (Nxb Phương Đông, năm 2008) góp
phần làm rõ hơn ý nghĩa to lớn của ngày lễ này
Mục Kiền Liên, một nhân vật gắn liền với tích chuyện trong ngày Lễ
Vu Lan Một biểu trưng cho tấm lòng hiếu thảo của con cái với cha mẹ cũng
là đối tượng nghiên cứu của nhiều tác giả Tác phẩm “Cuộc đời tôn giả Mục Kiền Liên” của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Nxb thành phố Hồ Chí Minh,
năm 1999) đã khái quát toàn bộ cuộc đời của Tôn giả Mục Kiền Liên từ thời niên thiếu đến khi kết thúc cuộc đời Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng viết
tác phẩm “Mục Liên sám pháp” (Nxb Tôn giáo, năm 2003) đã cho thấy công
hạnh của Tôn giả Mục Kiền Liên chính là sám hối và báo ân
Như vậy, những tác phẩm, bài viết nghiên cứu về Lễ Vu Lan đã truyền tải giá trị nhân sinh sâu sắc của Phật giáo tuy nhiên chỉ mới dừng lại ở khía cạnh nhỏ đó là nội dung về hiếu đạo Nó hướng con người đến một lẽ sống đẹp đó là phải nhớ ơn công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ và rộng lớn hơn đó là tinh thần đền ơn đáp nghĩa của dân tộc được lan tỏa khi chúng ta tri niệm công ơn những người đã khuất như: Cửu huyền thất tổ, đa sanh phụ mẫu, thất thế phụ mẫu hay những chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn,
Có thể nói, “Triết lí nhân sinh trong Lễ Vu Lan” là một đề tài mới trong
kho tàng nghiên cứu các khía cạnh của Phật giáo Tác giả mong muốn hệ
Trang 15thống hóa những triết lí nhân sinh của Phật giáo trong Lễ Vu Lan, phân tích những giá trị và hạn chế của nó Từ đó góp phần làm phong phú hơn ý nghĩa
mà một tôn giáo lớn như đạo Phật mang lại Đồng thời góp phần vào việc cung cấp tài liệu nghiên cứu khoa học cho các thế hệ sau
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài hướng đến làm rõ triết lí nhân sinh trong Lễ Vu Lan nhằm kế thừa những giá trị tích cực trong triết lí đó, góp phần giáo dục tư tưởng đạo đức, lối sống cho con người
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Triết lí nhân sinh Phật giáo
Đối tượng nghiên cứu: Triết lí nhân sinh trong Lễ Vu Lan
5 Giả thuyết khoa học
Nếu nghiên cứu và đánh giá đúng đắn, khái quát triết lí nhân sinh trong
Lễ Vu Lan của Phật giáo sẽ thấy được những giá trị tích cực trong triết lí đó, góp phần giáo dục tư tưởng đạo đức, lối sống cho con người
6 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài tập
trung nghiên cứu làm rõ các nội dung sau:
Một là, làm rõ một số khái niệm chung về triết lí, triết lí nhân sinh,
những nét cơ bản của Lễ Vu Lan Phật giáo cùng những nét đặc trưng của Lễ
Vu Lan ở các quốc gia trên thế giới
Hai là, phân tích những triết lí nhân sinh cơ bản trong Lễ Vu Lan của
Phật giáo
Ba là, làm rõ những giá trị tích cực và hạn chế của triết lí nhân sinh
trong Lễ Vu Lan
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là triết lí nhân sinh trong Lễ Vu Lan của Phật giáo ở một số nước Châu Á, từ đó thấy được những giá trị tích cực
Trang 16trong triết lí đó, góp phần giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại trong thời đại toàn cầu hóa
8 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp quan sát, phương pháp so sánh đối chiếu,
9 Kết cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn gồm 2 chương, 7 tiết
10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
10.1 Những luận điểm cơ bản của luận văn
- Lễ Vu Lan thể hiện đậm nét triết lí nhân sinh của Phật giáo
- Triết lí nhân sinh trong Lễ Vu Lan mặc dù còn tồn tại những hạn chế song chứa đựng những giá trị to lớn
10.2 Những đóng góp mới của luận văn
- Đóng góp về mặt lí luận: Đề tài bước đầu đã hệ thống hóa những tư tưởng triết lí nhân sinh cơ bản trong Lễ Vu Lan của Phật giáo từ đó góp phần
kế thừa và phát huy những giá trị nhân văn của tư tưởng Phật giáo nói chung
và triết lí nhân sinh trong Lễ Vu Lan Phật giáo nói riêng
- Đóng góp về mặt thực tiễn: Nghiên cứu thành công đề tài “Triết lí nhân sinh trong Lễ Vu Lan”, luận văn góp phần làm tài liệu tham khảo cho
công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học nói chung và triết học Phật giáo nói riêng Đồng thời, luận văn cũng là tài liệu tham khảo phục vụ cho công cuộc hoạch định chính sách đối với Phật giáo của Đảng và nhà nước, xây dựng con người Việt Nam mới trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 17Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TRIẾT LÍ
NHÂN SINH PHẬT GIÁO VÀ LỄ VU LAN
1.1 Triết lí nhân sinh và triết lí nhân sinh Phật giáo
1.1.1 Triết lí và triết lí nhân sinh
- Khái niệm về triết lí:
Trước hết, "triết lí" là thuật ngữ thường được đề cập nhiều trong triết học phương Đông, thể hiện những đặc thù trong văn hóa của khu vực này
Trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, năm
1988) có giải thích "triết lí” là sáng suốt, lí lẽ [52, tr.21]
Theo Từ điển Tiếng Việt (Nxb Từ điển Bách khoa, năm 2007) Triết lí
được hiểu theo hai nghĩa: Khi “Triết lý” là danh từ nó được hiểu là ý niệm của nhân loại Triết lí cũng như bao nhiêu giá trị khác cũng biến đổi theo hoàn cảnh của xã hội, theo phương tiện sinh hoạt của con người Khi “triết lí” là một động
từ được hiểu là ý niệm của cá nhân con người về một vấn đề nào đó [53, tr.7]
Trong cuốn "Triết lí phát triển ở Việt Nam - mấy vấn đề cốt yếu", tác giả Phạm Xuân Nam định nghĩa: "Triết lí là kết quả của sự suy ngẫm, chiêm nghiệm và đúc kết thành những quan điểm, luận điểm, phương châm cơ bản
và cốt lõi nhất về cuộc sống cũng như về hoạt động thực tiễn rất đa dạng của con người trong xã hội Chúng có vai trò định hướng trực tiếp ngược trở lại đối với cuộc sống và những hoạt động thực tiễn rất đa dạng ấy” [34, tr.12]
Tác giả cuốn sách: "Triết lí phát triển C.Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin
và Hồ Chí Minh" viết: "Triết lí có thể thể hiện bằng một mệnh đề hàm súc những ý nghĩa về nhân tình thế thái, về tự nhiên, về xã hội, nó cũng có thể là một mệnh đề tạo thành một quan niệm, một luận thuyết Triết lí đúng vào khoa học thì nó sẽ trở thành cơ sở lí luận khoa học cho một hệ thống quan
Trang 18điểm, học thuyết, nó làm công cụ lí thuyết cho hành động hiệu quả của con người" [27, tr.9]
Theo giáo sư Vũ Khiêu thì: “Triết lí là triết học khiêm tốn nói về mình, triết lí không thể hiện tầm khái quát vũ trụ quan và nhân sinh quan mà thể hiện ý nghĩ và hành vi có ý nghĩa chỉ đạo cuộc sống con người” [34, tr.3]
Trong khi đó giáo sư Hoàng Trinh quan niệm: “Triết lí là những nguyên lí đầu tiên, những ý tưởng cơ bản được dùng làm nền tảng cho sự tìm tòi và suy lý của con người về cội nguồn, bản chất và các hình thái tự nhiên,
xã hội và bản thân, làm phương châm cho sự xử thế và xử sự của con người trong các hành động sống hàng ngày [34, tr.8]
Trong quá trình nghiên cứu, mối quan hệ giữa triết lí và triết học luôn
được các tác giả quan tâm Trong bài viết: “Mấy suy nghĩ về triết học và triết lí” của tác giả Hồ Sỹ Quý trên tạp chí triết học số 3/1998, tác giả cho rằng:
Dù quan niệm khác nhau đến mấy, trước hết chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, nếu đã tồn tại với tính cách triết học thì đương nhiên triết học nào cũng trực tiếp hoặc kín đáo bộc lộ tính hệ thống của nó, tức là phải tồn tại ở trình độ một hệ thống, hoặc tiểu hệ thống những quan điểm, những quan niệm hoặc tư tưởng, có ý nghĩa phương pháp luận và thế giới quan và những vấn đề chung nhất của mọi tồn tại và
sự nhận thức cũng như đánh giá về sự tồn tại đó Như vậy, đụng đến triết học là đụng đến tính hệ thống của nó [39, tr.5]
Còn không phải triết học khi: “Những tư tưởng, quan điểm, quan niệm nào đó không hoặc chưa đạt tới trình độ tồn tại trong cấu trúc của một hệ thống xác định” [39, tr.7]
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, so với triết học, triết lí có thể được hiểu ở trình độ thấp hơn, chỉ là cơ sở cho một hệ thống quan điểm, một học
thuyết: “Nếu có thể đem so sánh với triết học thì triết lý luôn ở trình độ thấp
Trang 19hơn về tính hệ thống, độ toàn vẹn và khả năng nhất quán trong việc giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy” Một số khác lại cho rằng, triết
lí là những quan niệm, tư tưởng sâu sắc nhất của con người về các lĩnh vực của đời sống xã hội
Như vậy, mặc dù có những quan niệm khác nhau nhưng về cơ bản
"Triết lí" được hiểu là kết quả của sự suy ngẫm, chiêm nghiệm và đúc kết thành những quan điểm, quan niệm, luận điểm, phương châm cơ bản và cốt lõi nhất về các lĩnh vực của đời sống xã hội Đồng thời, có vai trò định hướng, tác động trở lại đối với thực tiễn ấy
Triết lí không phải là triết học nhưng triết lí có quan hệ mật thiết với triết học Từ hệ thống những nguyên lý, những luận điểm của một học thuyết triết học nhất định, người ta có thể rút ra triết lí về cách ứng xử, phương châm sống và hành động Tuy nhiên, không phải mọi triết lí đều được rút ra từ học thuyết triết học mà trước hết triết lí được đúc kết từ thực tiễn, từ những mối quan hệ trong đời sống và được xem như nguyên tắc xử thế, phương châm sống của con người Những tư tưởng có ý nghĩa triết lí ấy có thể tìm thấy được trong kho tàng tri thức bác học và cả trong kho tàng văn hóa dân gian của các quốc gia khác nhau trên thế giới
- Khái niệm về nhân sinh
Trong "Từ và ngữ Việt Nam"giải nghĩa: "nhân" là người, "sinh" là sư sống Theo nghĩa đó, nhân sinh là sự sống của con người Từ điển Lạc Việt
cũng giải nghĩa tương tự
Trong cuốn "triết lí nhân sinh" tác giả Lê Kiến Cầu (Đại học Phụ Nhân, Trung Quốc) đã đề cập đến khái niệm nhân sinh và xem xét khái niệm này theo 3 nghĩa: Sinh mệnh, cuộc sống và phương hướng của con người
Sinh mệnh của con người: Xét theo khía cạnh nhân tố tự nhiên, sinh mệnh chính là yếu tố cơ bản duy trì sự sinh tồn của con người, nhưng sinh
Trang 20mệnh của con người không giới hạn ở sinh tồn của cá nhân hoặc chủng tộc,
mà phải xét đến cả ý nghĩa nội tại của sinh mệnh, đó là sinh mệnh của con người do vật chất và tinh thần tạo thành, con người phải là sự tổng hợp của tinh thần và vật chất Trong sinh mệnh vật chất của mình, con người phải nhờ vào nguồn tài nguyên của vạn vật để duy trì sự phát triển của sinh mệnh Sinh mệnh của con người được nuôi dưỡng bởi lí tưởng, tri thức và phẩm hạnh Muốn cho sinh mệnh được phát triển hoàn thiện thì phải làm cho hai mặt vật chất và tinh thần có một cơ sở tốt
Về cuộc sống của con người: Tùy vào quan niệm sống, hoàn cảnh sống của từng người mà mỗi người có mục địch sống khác nhau, có những người sống chỉ để cống hiến, sống để yêu thương nhưng có người sống chỉ quen hưởng thụ, mong muốn mọi thứ tốt đẹp sẽ đến với mình Mục đích sống khác nhau dẫn đến động cơ làm việc, lối sống cũng khác nhau, động cơ làm việc hay lối sống của con người chính là cái "nhân" quyết định con người sẽ sướng hay khổ, đó là thành quả của quá trình sống của con người
Phương hướng sống của con người: Trong cuộc sống đó chính là hướng
đi của mỗi người, cách thức mà họ chọn trên con đường họ đang đi, có mục tiêu, mục đích nhất định Sinh ra ở đời ai trong chúng ta cũng khao khát được hạnh phúc, lòng khao khát đó thúc giục con người đi kiếm tìm hạnh phúc Hơn thế nữa, tự đáy lòng mỗi người luôn ước ao có một cuộc sống bình an, vui tươi, không lo âu buồn phiền, không đau khổ oán than, muốn an hưởng sự
an lành hơn bất hạnh, giàu sang hơn là nghèo nàn Để đạt được khát vọng đó, người ta luôn tìm cho mình một hướng đi trong cuộc đời, hướng đi đó được thể hiện ở lí tưởng sống của mỗi người Lí tưởng này sẽ hướng dẫn đời họ vượt qua mọi chông gai, can đảm chấp nhận mọi nghịch cảnh và cho họ sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn, thử thách
Từ những sự phân tích trên có thể thấy nhân sinh là sinh mệnh của con người, cuộc sống của con người và phương hướng của con người trong cuộc sống
Trang 21- Khái niệm về Triết lí nhân sinh
Triết lí nhân sinh là quan niệm về cuộc sống của con người: Lẽ sống của con người là gì? Tự vấn con người sống để làm gì? Đời sống con người
có giá trị và ý nghĩa không? Đời sống có đáng sống không? Tự giải thoát ra khỏi cuộc đời hay dấn thân vào cuộc đời, đó là hai thái độ căn bản của con người trước đời sống Trả lời những câu hỏi đó chính là tìm thấy và lí giải những giá trị về nhân sinh
Triết lí nhân sinh phản ánh tồn tại xã hội của con người, nội dung của
nó biểu hiện những nhu cầu, lợi ích, khát vọng và hoài bão của con người trong xã hội Trong xã hội có những quan điểm sống lạc quan, tích cực, tiến
bộ cũng có những quan điểm sống bi quan, tiêu cực Song triết lí nhân sinh đã tác động đến hoạt động sống của con người, nó trở thành niềm tin lối sống, tạo ra phương hướng mục tiêu cho hoạt động thực tiễn Nếu phản ánh đúng phương hướng khách quan của lịch sử thì nó là nhân tố mạnh mẽ để cải tạo xã hội một cách hợp lí, nếu phản ánh không đúng thì nó có tác dụng ngược lại cản trở xã hội tiến lên
Chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học về các quy luật phát triển của lịch
sử Mục đích cuối cùng của chủ nghĩa Mác không chỉ dừng lại ở giải thích thế giới mà trên cơ sở đó còn hướng tới cải tạo thế giới, xã hội và nhấn mạnh vai trò quan trọng của con người trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội Trong quá trình thực hiện sáng tạo để đem lại một xã hội tốt đẹp, ấm no, hạnh phúc đồng thời con người hình thành những quan niệm, quan điểm tự nhiên đúng đắn về cuộc sống, sinh mệnh, tự nâng mình lên, tự tìm thấy lí tưởng, mục đích sống đúng đắn của bản thân, qua đó hoàn thiện năng lực thể chất và trí tuệ của mình
Theo đó có thể hiểu, triết lí nhân sinh là những quan điểm, quan niệm của con người về cuộc sống, sinh mệnh, phương hướng của con người, mục đích, ý nghĩa, giá trị của cuộc sống con người hướng tới, có vai trò định
Trang 22hướng với cuộc sống của con người Vì vậy, triết lí nhân sinh trong Lễ Vu Lan chính là triết lí, những quan niệm qua thời gian, qua các thế hệ trên cơ sở giáo lý của đạo Phật đã đúc kết được về sinh mệnh con người, về nỗi khổ trong cuộc đời con người, về lí tưởng, mục đích sống thiện, về con đường thoát khỏi luân hồi hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn không có khổ đau, sân hận đó là Niết bàn
1.1.2 Triết lí nhân sinh của Phật giáo
Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào cuối thế kỉ VI trước công nguyên, ở miền bắc Ấn Độ Ngay từ khi ra đời Phật giáo đã trở thành ngọn cờ của phong trào đòi tự do tư tưởng và bình đẳng của xã hội Ấn
Độ cổ đại Không dừng ở đó, Phật giáo với những giáo lý sâu sắc thuận theo
“lòng người” đã trở thành một tôn giáo lớn, ảnh hưởng tới tư tưởng của nhân dân ở nhiều quốc gia, đặc biệt ở phương Đông Triết lí nhân sinh mà Phật giáo hướng tới bao gồm:
1.1.2.1 Triết lí về con người
Triết lí của Phật giáo về con người thể hiện chủ yếu tập trung ở tư tưởng về cấu tạo con người, về sự xuất hiện và tái sinh
- Về cấu tạo con người hay các yếu tố cấu thành con người:
Nếu như Thiên chúa giáo cho rằng con người là do Thiên chúa tạo ra thì Phật giáo cho rằng không có đấng sáng tạo ra con người, mà con người là một pháp đặc biệt của thế giới Về cấu tạo con người trong Phật giáo có nhiều thuyết: Thuyết Danh sắc, thuyết Lục đại, thuyết Ngũ uẩn nhưng phổ biến hơn
cả là thuyết Ngũ uẩn
Thuyết Danh sắc cho rằng con người được cấu tạo từ hai yếu tố là vật chất và tinh thần, trong đó danh là yếu tố tinh thần, sắc là yếu tố vật chất Sự hình thành con người là do danh và sắc kết hợp
Theo thuyết Lục đại, con người được cấu tạo bởi sáu yếu tố gồm:
1 Địa (đất, xương thit)
Trang 232 Thủy (nước, máu, chất lỏng)
3 Hỏa (lửa, nhiệt khí)
4 Phong (gió, hô hấp)
5 Không (các lỗ trống trong cơ thể)
1 Sắc: Vật chất bao gồm tứ đại (địa, thủy, hỏa, phong)
2 Thụ: Những cái cái cảm tính, tình cảm, cảm giác, biết do cảm mà biết, thụ hơi nghiêng về tình
3 Tưởng: Đó là biểu tưởng, tưởng tượng, trí giác và kí ức
4 Hành: Đó là ý chí, những yếu tố khiến cho tâm hoạt động
5 Thức: Là ý thức, cái biết phân biệt
Con người gồm hai phần: Phần sinh lí và phần tâm lí Phần sinh lí "sắc uẩn" là thân sắc, hình tướng được thể hiện thành xương, thịt, da Phần sinh lí của con người là sự kết hợp của 4 yếu tố vật chất đó là tứ đại gồm “địa, thủy, hỏa, phong” Tứ đại tạo nên thân, tướng, hình, sắc Cụ thể: Đất tạo ra phần cứng như xương, lông, tóc, lục phủ, ngũ tạng; nước tạo ra chất lỏng như máu,
mỡ, mồ hôi; lửa tạo nên thân nhiệt; gió tạo thành hơi thở, khí trong cơ thể con người Phần tâm lí, hay ý thức, tinh thần gồm: Thụ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn, biểu hiện bảy trạng thái tinh thần, tình cảm của con người: Ái (yêu),
ố (ghét), nộ (giận), hỉ (vui), lạc (sướng), ai (thương), dục (muốn) Phần tâm lí bao giờ cũng gắn chặt với phần sinh lí, mọi biểu hiện dựa trên phần sinh lí Nói cách khác sự hình thành con người là do "Danh - Sắc" hợp tác, con người mất đi chẳng qua là sự tan rã của Ngũ uẩn
Trang 24- Về thân thể con người:
Quan niệm vô thường của Phật giáo cho rằng mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động, biến đổi, không có gì là thường hằng, mãi mãi Thân thể con người cũng nằm trong quy luật đó, nên nó cũng vô thường:
“Khi là đứa trẻ sinh ra/ Cuối đời tất yếu, tuổi già hoại tan/ Hoa kia nở
để rồi tàn/ Thành, trụ, hoại, diệt hợp tan vô thường” [Dẫn theo:16, tr.1]
Bên cạnh đó Phật giáo cũng cho rằng thân là gốc của khổ (thân vi khổ bản), nếu không có thân thì không có chỗ cho sợ sệt, nóng giận, dâm dục, Mọi khổ đau của con người như đói khát, nóng lạnh, mệt mỏi, sinh, lão, bệnh,
tử đều tồn tại trong thân thể Con người là sự kết hợp động của những yếu tố động (ngũ uẩn) nên không có gì định hình có thể gọi nó là nó được và suy cho cùng nó là vô ngã Vô thường mà tưởng là thường, vô ngã, mà tưởng có ngã,
đó là cái mê lầm lớn nhất của con người
“Dòng đời chảy qua nhiều năm kiểm nghiệm/ Kiếp vô thường còn tiếp mãi vô biên/ Khuyết lại tròn trăng vẫn sáng vô miền/ Nhân gian hỡi ! biến thiên vô thường mãi” [4, tr.3]
Với cách nhìn như vậy, mọi sự vật, hiện tượng chỉ là giả danh, không
có thực Con người chỉ là giả hợp của ngũ uẩn mà thành, nên nó hư vọng, huyễn hóa Đủ nhân duyên hợp lại thì gọi là sống, hết duyên tan thì gọi là chết Sống, chết của con người chỉ là sự hợp, tan của ngũ uẩn Vì vậy hãy sống an nhiên cho tâm thanh thản:
“Kiếp luân hồi có sinh có diệt/ Đời vô thường giả tạm hư không/ Ngũ uẩn Sắc bất dị không/ An nhiên tự tại cho lòng thảnh thơi” [17, tr.1]
- Về sự xuất hiện con người
Phật giáo giải thích sự xuất hiện, mất đi của con người bằng thuyết nghiệp, nhân quả, luân hồi Theo Phật giáo, con người xuất hiện do nghiệp (Karma) Tất cả những hành động, cử chỉ, hành vi, suy nghĩ của con người
Trang 25mỗi ngày tích lũy một chút ít, dần dần thành luật vô hình - nghiệp Nhưng trong từng Satna, các yếu tố đều biến đổi, bởi vậy, nghiệp còn có chức năng kết dính, kết hợp, sắp xếp các yếu tố mới lại, hình thành một sinh linh mới trong khoảnh khắc đó, thay thế cho các yếu tố cũ bị giải thể
Nghiệp báo nói đầy đủ là nghiệp quả bảo ứng Nghiệp dịch nghĩa là
Karma tiếng Phạn, chỉ hành động tạo tác theo thói quen mỗi người, nghiệp có nghiệp thiện, nghiệp ác, định nghiệp, bất định nghiệp Nghiệp thiện là hành động lành đem lại sự an lạc cho chúng sinh Nghiệp ác là hành động dữ làm
đau khổ cho chúng sinh Báo là đền trả một cách công bằng, không sai lệch,
không tiêu mất, chúng ta có hành động lành hay dữ, kết quả của hành động ấy
sẽ đến sớm hay muộn
Trong vòng bánh xe sinh tử đó, kiếp sau sẽ gặt hái những hậu quả mà kiếp trước để rồi lại gieo nhân cho những kiếp sống kế tiếp Bức tranh hậu kiếp đã được hình thành bởi những nét vẽ từ tiền kiếp Nghiệp gắn bó với đời sống, chi phối đời sống và gắn liền với đời sống như hình với bóng: "Người ta gieo nhân nào thì hưởng quả ấy, làm lành được quả lành, làm ác nhận quả ác, người trồng thì người hưởng" [30, tr.10]
Luân hồi là một cơ cấu trong tâm trong Phật pháp Luân hồi là sự đảo lên,
lộn xuống xoay vần trong vòng tròn khép kín Mọi sự thay đổi biến chuyển không đứng yên ở một vị trí nào (vô thường) Mọi sự vật xê dịch, biến thiên từ trạng thái này sang trạng thái khác, từ hình tướng này sang hình tướng khác, tất
cả sự biến thiên đều tùy điều kiện thăng trầm trong kiếp luân hồi
Mọi thao tác của thân, khẩu, ý đều gây nghiệp Nghiệp tích tụ càng lâu, ngày càng nặng Nghiệp có khả năng biến đổi dần dần ngũ uẩn (cơ thể cũ) đồng thời cũng hình thành ngũ uẩn mới để thay thế ngũ uẩn cũ đang bị giải thể
Tái sinh là sự kế thừa ngũ uẩn biến hóa của tiền kiếp, lấy giao hợp làm nơi nương tựa để hiện thực hóa sinh mệnh trong không gian và thời gian
Trang 26Xuất phát từ quan niệm vô thường, vô ngã, Phật giáo nguyên thủy phủ nhận một linh hồn bất tử đầu thai vào các kiếp sống Bào thai được hình thành là do
dự kết hợp của tinh trùng của cha, trứng của mẹ và năng lượng tạo nghiệp Năng lượng của nghiệp được phóng ra từ lòng khao khát sự sống mãnh liệt của người sắp chết Năng lượng này là sự tích tụ những gì đã làm trong cuộc đời Sự kết hợp của ba yếu tố trên dẫn đến sự ra đời của một kiếp sống mới mang đặc điểm tâm sinh lí đã được quy định từ kiếp trước Mối liên hệ giữa các đời giống như những con xúc xắc chồng lên nhau, mỗi con xúc xắc là một thành phần riêng biệt nhưng con phía dưới nâng đỡ con phía trên Năng lượng của nghiệp nâng đỡ các đời sống khác nhau mà thế đứng của đời sau phụ thuộc vào thế đứng của đời trước
Khi người chết, ngũ uẩn tan ra, nhưng nghiệp vẫn tiếp tục hoạt động, nhằm hoàn tất quá trình hình thành ngũ uẩn mới và kết hợp chúng lại theo một trình tự nhất định, kể cả trong trạng thái trung gian để hình thành nên một sinh linh mới Sinh linh mới này chịu quả ở kiếp trước và tạo nhân cho kiếp sau Cứ như thế vòng luân hồi lại tiếp tục quay chừng nào nghiệp tiếp tục còn tồn tại, con người lại phải quay trở về với kiếp sống mới để trả giá cho những hành động, cử chỉ, suy nghĩ ở kiếp trước, tức lại phải theo luân hồi, gieo nhân nào gặp quả ấy, ác giả ác báo xoay vần Tự mình gây nghiệp, tự mình gánh hậu quả Chủ thể của luân hồi là nghiệp:
“Nam mô nam mô tại Tâm/ Biển khổ mênh mông bởi lỗi lầm/ Chớ gieo tai
vạ thành nghiệp chướng/ Phúc họa trong đời kiếp hồi luân” [Dẫn theo:5, tr.2]
Đức Phật chỉ ra: "Trong các Pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác Nếu nói hoặc làm với tâm ô nhiễm, sự khổ sẽ theo nghiệp dẫn đến bánh
xe lăn theo xe con vật kéo" [7, tr.21] Nghiệp thực ra chỉ là sự tích tụ kinh nghiệm, tuy vô thức nhưng là cơ sở của tính cách con người hiện tại và đến lượt mình tính cách hiện tại lại quy định những hành vi tương lai Sinh mệnh
Trang 27không phải là nghiệp nhưng cũng không rời nghiệp trong quá trình sống Phương hướng của sinh mệnh là nghiệp quy định, đồng thời nghiệp lại tác động vào nội dung hoạt động của sinh mệnh để tạo nghiệp mới
Như vậy, sự sống, chết của con người là sự hợp tan của ngũ uẩn, của các yếu tố Khi sống tất cả mọi hành động, cử chỉ, suy nghĩ đều ghi lại dấu ấn trong tàng thức, dần dần trải qua thời gian, hình thành nên luật vô hình, đó là nghiệp Khi chết các yếu tố này tan ra nhưng luật vô hình vẫn tiếp tục quay, gặp nhân duyên và điều kiện thuận lợi, luật vô hình lại nhóm các yếu tố để tạo một sinh linh mới Sinh linh này phải trả giá cho kiếp trước và đồng thời tạo nhân cho kiếp sau Cứ như thế, cuộc đời con người chỉ là một mắt xích trong một chuỗi dài hầu như vô tận nếu không bước trên đường đạo để diệt trừ nghiệp chướng và luân hồi Cũng xuất phát từ những quan điểm trên mà Phật giáo phủ nhận linh hồn bất tử và thấy được vị trí và vai trò của con người trong vũ trụ Kinh Phật cho rằng bản chất con người là giống nhau, khác nhau
là do nghiệp Không có cách nào phán xét công bằng hơn nghiệp Tự mình gây nghiệp, tự mình thực hiện và tự mình nhận quả báo Cái đó không chỉ bắt đầu ở kiếp này mà nó nối tiếp ở những kiếp trước đó
“Sống kiếp đời chớ nên gây nghiệp/ Để tái sinh tạo kiếp luân hồi/ Bà
Ta là cõi tạm thôi/ Phước tu cực lạc cõi trời Tây Thiên” [Dẫn theo:2, tr.5]
Quan niệm nghiệp báo - luân hồi của Phật giáo thể hiện tư tưởng nhân văn, hướng thiện, trừ ác làm cho con người sống tốt đời đẹp đạo, tu nhân tích đức nhiều hơn để thoát khỏi sự trầm luân của thế gian hướng tới Niết bàn:
“Kiếp người chẳng phải vấn vương/ Tu được phước huệ rộng đường
về Thiên” [Dẫn theo:2, tr.5]
Như vậy, triết lí nhân sinh của Phật giáo trước hết thể hiện ở triết lí về con người Trong đó cấu tạo nên con người có nhiều quan điểm dựa trên các thuyết: Thuyết Danh sắc, Lục đại, Ngũ uẩn Mặc dù có sự khác biệt song các
Trang 28học thuyết này đều có điểm chung đó là nhấn mạnh con người được cấu tạo từ các yếu tố vật chất và tinh thần Đồng thời, Phật giáo cũng cho rằng thân thể con người cũng chỉ là vô thường, là giả hợp của ngũ uẩn Và sự xuất hiện của con người quy định bởi nghiệp và chịu sự chi phối của thuyết nhân quả, luân hồi
1.1.2.2 Triết lí về cuộc đời
Đạo Phật quan niệm cuộc đời con người là bể khổ Mục đích cuối cùng
và tư tưởng chủ đạo có tính xuyên suốt toàn bộ học thuyết nhân sinh của đạo Phật là giải thoát chúng sinh khỏi bể khổ Điều đó được thể hiện ngay ở lời Phật dạy "Này các đệ tử Ta nói cho mà biết, nước ở ngoài biển khơi chỉ có một vị mặn, đạo của ta dạy chỉ có một vị đó là vị giải thoát” [7, tr.14]
Triết lí về cuộc đời của Phật giáo tập trung trong “Tứ diệu đế” Phật giáo
quan niệm tứ diệu đế là bốn sự thật chắc chắn quý báu giúp cho con người đi từ
mê mờ đến giác ngộ, như ngọn đuốc thiêng soi đường cho người bộ hành đi trong đêm tối tới đích Tứ diệu đế bao gồm: khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế
Trong thuyết tứ diệu đế này, Phật giáo đã cho chúng sinh thấy cái thảm cảnh của cõi đời Thảm cảnh ấy chúng sinh hoàn toàn có thể cảm nhận được bằng mắt thấy tai nghe, đó là không ai có thể thoát khỏi mọi sinh, lão, bệnh,
tử Khi chỉ cho chúng ta thấy bể khổ cuộc đời và chỉ ra đâu là nguyên nhân của mọi sự khổ ấy, làm thế nào để thoát khỏi nguyên nhân của nỗi khổ và rằng có thể tiêu diệt được hết nỗi khổ ấy hay không và đưa ra con đường diệt khổ cho chúng sinh
Khổ để - triết lí về nỗi khổ của cuộc đời con người
Triết lí nhân sinh Phật giáo cho rằng cuộc đời con người là bể khổ Kinh Phật có câu: "Nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển", “vị mặn của máu và nước mắt chúng sinh mặn hơn nước biển” Cõi đời này là một bể khổ, niềm vui cũng có nhưng chỉ là thoáng qua, là tạm bờ mà thôi Cõi đời là biển đầy mồ hôi và nước mắt mà chúng sinh lặn ngụp trong đó
Trang 29Khổ đế tiếng Phạn là Dukhha: Du có nghĩa là khó, khha có nghĩa là chịu đựng hay còn có nghĩa là đắng, nghĩa rộng là những gì làm cho con người ta khó chịu, đau đớn như ốm đau, bệnh tật, buồn rầu, sợ hãi, Do vô minh, con người không nhận thức được điều đó, do đó cứ lặn lội mãi trong biển sinh tử, luôn hồi Cuộc đời con người đầy rẫy những đau khổ nhưng không ai nhìn thấy tường tận rõ ràng
Theo kinh Phật, thường chia nỗi khổ của con người thành hai loại sau đây:
Thứ nhất: Xét theo nguyên nhân và mức độ gây khổ thì có tam khổ (ba loại khổ)
+ Khổ khổ: Muốn nói đến cái khổ chồng chất, nối tiếp cái khổ Mỗi chúng sinh là nạn nhân của bao nhiêu đau khổ Cái khổ ở ngay trong tâm (khổ tâm) hay ở trong thể xác như bệnh tật hiểm nghèo, lại có cải khổ bên ngoài như chiến tranh, thiên tai, bệnh dịch, áp bức đói khát, Tất cả những cái khổ
ấy liên tiếp dồn dập lên cuộc sống của con người
+ Hoại khổ: Trong kinh Phật có chép: "Phàm là vật có hình tướng đều phải hoại diệt" Thực tế trong vũ trụ vạn vật đều bị luật vô thường chi phối, không tồn tại mãi được, không có gì vĩnh hằng Ca dao có câu: "Nước chảy đã mòn" để nói đến sự vật cứng rắn như đá nhưng cùng với thời gian chịu tác động của ngoại cảnh cũng bị thay đổi rồi bị hủy diệt tan biến, không thể nằm ngoài quy luật chung đó Như vậy, theo hoại khổ, tất cả mọi sự tồn tại trong cuộc sống này luôn luôn vận động và biến đổi, có sinh, có diệt, không nằm ngoài sự chi phối của luật vô thường
+ Hành khổ: Những nỗi khổ về tinh thần của con người do không làm chủ được mình, bị lôi kéo vào những dục vọng làm cho tâm bị dằn vặt sinh ra buồn vui, yêu ghét Nếu xét sâu xa hơn nữa, sẽ thấy con người bi cái phần bên trong sâu kín, nằm dưới ý thức, là phần tiềm thức sâu kín chi phối mãnh liệt trong mỗi ý nghĩ, cử chỉ hành động lúc giận, lúc thương, lúc ghét, lúc muốn
Trang 30thứ này, lúc muốn thứ kia, phần nhiều là do tiềm thức ta sai khiến, ra mệnh lệnh Con người không được tự do, con người bị chi phối bởi những ý tưởng, dục vọng, tiềm thức và luôn chịu mệnh lệnh của chúng Đó là hành khổ - nỗi khổ của ngũ uẩn trong đời ảo ảnh Đây là nỗi khổ tổng hợp và bao trùm lên các nỗi khổ khác Ngũ uẩn là năm yếu tố cấu thành nên thân tâm của con người Ngũ uẩn còn được gọi là ngũ ấm, ấm là bóng râm, là màng che, chướng ngại, ngăn che chúng sinh không nhận ra được bản tính chân thực của mình Ngũ uẩn được ví như năm lớp màng nhện che khuất ánh sáng chân lí khiến cho con người ta mê mờ, lao đao, khốn khổ trong cả cuộc đời
Thứ hai: Xét theo hình thức sự việc thì có bát khổ (tám loại khổ)
Phật giáo phân tích cụ thể hơn nỗi khổ của con người trong tám nỗi khổ (bát khổ) Tám nỗi khổ này là sự thể hiện cụ thể của ba nỗi khổ trên bao gồm sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt li khổ, oán tăng hội khổ, sở cầu bất đắc khổ, ngũ thụ uẩn khổ
+ Sinh khổ: Sự sinh sống của con người có hai phần là khổ trong lúc sinh ra và khổ trong đời sống Khổ trong lúc sinh ra, người sinh và người bị sinh đều khổ Người mẹ từ khi mang thai cho đến khi sinh con ra chịu bao nhiêu khổ cực Khi người mẹ có thai là biếng ăn, mất ngủ, bất thần, Thai mỗi ngày một lớn, người mẹ mỗi ngày một mệt mỏi, nặng nề, đi đứng khó khăn, làm lụng chậm chạp Đến khi sinh, sự đau đớn của người mẹ không kể sao hết Còn đứa trẻ khi còn trong bào thai cho tới khi được sinh ra cũng chịu bao khổ cực Trải qua chín tháng mười ngày trong bào thai chật hẹp đến khi được sinh ra bị chen qua chỗ hẹp như bị đá ép bốn bề, nên khi vừa ra ngoài đã thét tiếng khóc vang
Trong cuộc sống hàng ngày con người phải đối mặt với sự khó khăn, vất vả của cuộc sống mưu sinh Con người phải lao động khó khăn gian khổ mới có được miếng cơm manh áo Chẳng phải đợi đến cảnh khó mới là khổ,
Trang 31chẳng phải đợi đến cảnh màn trời chiếu đất mới là khổ, mà quần áo không đủ
ấm, nhà không đủ che nắng mưa đã là khổ rồi Để có được đồng tiền cũng phải thức khuya dậy sớm, đổ mồ hôi sôi nước mắt, bon chen trong cuộc sống hàng ngày Đó chưa kể những nỗi khổ vật chất khác không thể tránh khỏi trong cuộc sống hàng ngày Tất cả đều mang lại nỗi khổ cho con người Về phương diện tinh thần, con người cũng chịu nhiều khổ cực, nhiều khi còn đau khổ hơn những thiếu thốn về mặt vật chất
+ Lão khổ: Con người luôn mong được trẻ mãi không già, nhưng làm sao tránh được tuổi già, cái già tiến đến đâu làm cho con người suy yếu đến đấy và làm cho con người phiền não Càng già khí huyết càng hao mòn, tinh thần càng kém Các giác quan bên ngoài hầu như hư hoại như mắt mờ, tai kém, chân tay run, đi đứng khó khăn, làm việc gì cũng phải nhờ người khác
đó là khổ cả về vật chất lẫn tinh thần
+ Bệnh khổ: Bệnh tật hành hạ thể xác con người, làm cho nó khổ sở không gì hơn cái đau Đã đau, bất kể là đau gì đều khiến cho con người rên xiết vì khó chịu
+ Tử khổ: Trong bốn hiện tượng của vô thường đó là sinh, lão, bệnh, tử thì tử khiến cho con người ta sợ hãi nhất Về thể xác: Người bệnh hấp hối về thể xác thì mới biết cái chết là đáng sợ, trong lúc ấy tai hết nghe, mắt hết thấy, mũi hết thở, miệng hết nói Về tinh thần: Khi sắp chết tinh thần con người sợ hãi vô cùng Cái chết khiến cho thân thể tan rã, thần thức theo nghiệp dẫn đi thọ sinh ở một cõi nào chưa rõ
+ Ái biệt li: Trong tình yêu thương giữa vợ chồng, con cái, anh em đang thắm thiết mà phải chia xa Chia li có hai loại sinh li và tử biệt
+ Oán tăng hội: Ghét nhau mà vẫn phải ở với nhau, làm việc với nhau cũng là khổ
+ Sở cầu bất đắc: Ở đời hi vọng càng nhiều thì thất vọng càng lớn Muốn đạt được kết quả tốt đẹp người ta phải vận dụng biết bao nhiêu năng lực, hao
Trang 32tâm tổn trí, mất ăn mất ngủ cho tới ngày gặt hái được thành công, chẳng may những điều ấy lại không thành, sự đau khổ không biết đâu là bến bờ
+ Ngũ thụ uẩn khổ: Là khổ gây ra bởi sắc, thụ, tưởng, hành thức làm cho thân tâm phải khổ Với cái thân ngũ uẩn ấy con người phải chịu không biết bao nhiêu điều đau khổ, giữa ngũ uẩn ấy luôn có sự xung đột, mâu thuẫn chi phối nhau, vì sự xung đột ấy làm cho con người ta phải lo sợ
Quan niệm về khổ của Phật giáo còn mang ý nghĩa triết lí sâu xa hơi nhiều, nó còn bao hàm khổ do sự thay đổi (vô thường), không hoàn thiện, xung đột trống rỗng, không bản chất Đức Phật không phủ nhận những hạnh phúc mà con người ta gặp phải trong đời, những cái đó suy cho cùng cũng nằm trong Dukkha Nhưng Dukkha còn được hiểu như trạng thái bị quy định Con người (thực thể) bị quy định, ràng buộc bởi sắc (vật chất), thụ (tình cảm), tưởng(trí), hành (ý), thức, bởi sự kết hợp giữa chúng Các yếu tố đó là vô thường Sự kết hợp những cái vô thường lại càng vô thường Bởi vậy, ngũ uẩn
là khổ, con người, cuộc đời con người là khổ Sự hình thành của con người chỉ là giả hợp của ngũ uẩn, là ảo ảnh Suy cho cùng, đời là bể khổ, nhân gian, con người cũng chỉ là tạm bợ
Nếu như Đức Phật chỉ trình bày những khổ đau của cuộc sống thì giá trị nhân sinh của Phật giáo chỉ mang một màu sắc bi quan Và nếu chỉ dừng lại như vậy thì hầu như mọi người bình thường đều nhận thấy được sự thực đau khổ của kiếp nhân sinh Mục kích sự đau khổ ấy, cụ Nguyễn Du đã than:
“Trăm năm trong cõi người ta/ Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau/ Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” [Dẫn theo:1, tr.24]
Nguyễn Gia Thiều thì ảo não hơn:
“Nghĩ thân phù thế mà đau/ Bọt trong bể khổ, bèo ngoài bến mê” [Dẫn theo:1, tr.20]
Trang 33Và bi đát, da diết hơn:
“Phong trần đến cả sơn khê/ Tang thương đến cả hoa kia cỏ này/ Tuồng huyễn hóa ai bày ra đấy/ Kiếp phù sinh trông thấy mà đau” [Dẫn theo:1, tr.12]
Thực chất quan niệm về khổ của Phật giáo vừa có khía cạnh bi quan, tiêu cực lại có ý nghĩa tích cực Quan niệm này có phần tiêu cực yếm thế, duy tâm khi cho rằng cõi đời chỉ là ảo hóa, tạm bợ Mặt khác, Phật giáo cho rằng, mọi nỗi khổ đều có nguyên nhân của nó, chỉ ra con đường để thoát khỏi khổ đau cho chúng sinh Điều đó được thể hiện qua Tập đế trong “Tứ diệu đế”
Tập đế - triết lí về nguyên nhân nỗi khổ của con người
Nếu như khổ đế khẳng định đời là bể khổ thì tập đế lại chỉ ra nguyên nhân của mọi nỗi đau Theo Phật giáo có nhiều nguyên nhân dẫn đến bể khổ trầm luân Những nguyên nhân ấy kết hợp với duyên khởi hình thành nên thập nhị nhân duyên Mười hai cái vừa là nhân vừa là duyên nguồn gốc của sự khổ (vô minh, hành, sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão, bệnh, tử)
Mười hai nhân duyên được sắp xếp theo chiều thời gian đó là:
12 Già chết - khâu cuối cùng của sinh mệnh, già do 11 Sinh , sinh do
10 Hữu hay ý muốn sinh tồn, hiện hữu, hữu do 9 Thủ hay sức bám víu, níu kéo vào sự sống, thủ do 8 Ái hay lòng khao khát, ham muốn dục vọng, ái do
7 Thụ hay cảm giác, tình cảm nảy sinh do thâm tâm tiếp xúc với ngoại cảnh, thụ do 6 Xúc hay sự tiếp xúc của sáu căn (các giác quan của con người) với sáu trần (những thuộc tính của ngoại giới), xúc do 5 Lục nhập - tên gọi khác của sáu căn, sáu căn tiếp xúc với sáu trần khiến cho ngoại cảnh rơi vào tâm thức, sáu căn có được là do 4 Danh sắc là cơ chế tâm linh, hình hài hay sự hội họp của các yếu tố vật chất và tinh thần, danh sắc lại do 3 Thức, ý thức ban sơ của thai nhi, thức do 2 Hành là hoạt động mù quáng hướng đến sự sống, hành do 1 Vô minh: hay sự mê lầm, không sáng suốt
Trang 34Trong mười hai nhân duyên, nguyên nhân cơ bản của khổ là vô minh
và ái dục Vô minh là mê lầm, không sáng suốt, lẫn lộn, thật giả, thực hư không hiểu lẽ vô thường, vô ngã và tứ diệu đế Kinh Tạp A hàm giải thích "vô minh là không biết Đối với năm thọ ấm này, không thấy, không biết như thật, không có giác tuệ tương tục, ngu si, không sáng suốt gọi là vô minh" Vô minh là nguyên nhân của ý chí, của động lực sinh tồn, gọi cách khác là dục Dục là ham muốn, là lòng tham Dục gắn liền với niềm đam mê (ái) Chính lòng đam mê khiến con người bám víu vào sự sống dưới mọi hình thức, dẫn con người phiêu bạt trong vòng sinh tử luân hồi Sự tồn tại của sinh mệnh là biểu hiện của lòng dục gắn liền với ái nền thường được gọi là ái dục Vô minh
là nguyên nhân của ái dục bởi vì vô mình khiến con người không nhận thấy ngoại giới vô thường, nội giới vô ngã nên cố gắng níu giữ một cái ngã thường hằng, bất biến (ngã chấp) Lòng yêu bản thân đã thúc đẩy con người hành động sai lầm Cũng vì quá yêu bản thân nên các yếu tố sắc, thụ, tưởng, hành, thức bị hoại diệt, con người mới cảm thấy đau đớn, khổ sở và sầu bi Trong thơ ca Phật giáo, tác phẩm “Bản ngã dục vọng” đã khái quát mê lầm của con người do vô minh như sau:
“Chúng sinh đắm đuối si mê/ Sống trong ảo vọng háo danh buồn phiền/ Ganh đua giành giật đồng tiền/ Tham lam sắc dục đảo điên mê mờ.” [5, tr.2]
Như vậy, vô minh là nguyên nhân của ái dục Hợp cả vô minh và ái dục lại
sẽ thành ý chí sinh tồn hay bản năng sinh tồn mù quáng - động lực cơ bản đẩy con người tái sinh qua các kiếp luân hồi để gánh chịu sự trầm luân của nghiệp báo
Mười hai nhân duyên xét theo cả hai chiều thuận nghịch sẽ tạo thành vòng tròn nghiệp báo luân hồi Nếu như nhiều tôn giáo cho rằng hạnh phúc hay bất hạnh của con người là do sự định đoạt của một thế lực siêu nhiên nào
đó thì trái lại Phật giáo cho rằng con người chính là chủ thể của cuộc đời mình phải chịu trách nhiệm trước những hành vi và hậu quả của chính mình
Trang 35Nói đến luân hồi là nói đến vòng quay của mười hai nhân duyên qua ba đời mà sức nặng của vòng quay đó là năng lượng của nghiệp Dù sống thiện hay sống ác thì con người cũng không thể thoát khỏi vòng quay ấy nếu vẫn còn ảo tưởng vào sự trường tồn của cái ngã cá nhân biệt lập (chấp ngã) Tình yêu cuộc sống, sự tha thiết đối với bản thân khiến cho con người không thoát khỏi ý chí về sự trở thành hay lòng ham muốn tiếp tục sinh thành Vì thế họ mãi trôi nổi trong vòng sinh tử luân hồi để gánh những hậu quả đã tạo từ kiếp trước rồi lại tạo nhân cho một kiếp sống tiếp theo Tóm lại, con người khổ là bởi vì mê mẩn, không hiểu chân bản cuộc đời con người là vô thường, vô ngã
từ đó mắc vào cái ngã cá nhân biệt lập với dục vọng sinh tồn mãi mãi Chấp ngã, ái dục tạo nghiệp, khiến con ngươi rơi vào vòng sinh tử luân hồi và chỉ thoát khỏi vòng quay đó khi nào chấm dứt được vô minh, ái dục, đoạn diệt tham, sân, si
Phật giáo cũng cho rằng: Về nguyên nhân của nỗi khổ, đó là có ba nguyên nhân cơ bản, nằm trong bản thân con người gây nên nỗi khổ cho chính mình đó là tham, sân, si
• Tham: Biểu hiện sự tham của con người dẫn đến hành động để thỏa mãn lòng tham ấy Lòng tham của con người không có giới hạn là nguyên nhân của mọi nỗi khổ đau của con người
• Sân: Là sự cáu gắt, bực tức, nóng giận khi con người không hài lòng
về một điều gì đó, làm cho con người không kiểm soát được bản thân mình, làm cho con người mất hết ý chí, dẫn đến những hành động sai trái, đem lại khổ đau, không hay cho mình và cho người khác
• Si: Là sự mu muội, si mê làm cho con người mù quáng, không phân biệt được điều hay, điều dở, từ đó gây ra tội lỗi, đau khổ cho con người
“Vô minh, vọng tưởng xa vời/ Cái thân giả tạo một thời khổ đau/ Tham, sân, si muôn kiếp sầu/ Bến bờ giác ngộ hãy mau quay về/ Xa lìa biển khổ sông mê/ Con đường hạnh phúc tìm về thiên tai” [5, tr.1]
Trang 36Như vậy, tập đế đã chỉ ra nguyên nhân nỗi khổ của con người Bên cạnh đó, Phật giáo cũng cho rằng mọi nỗi khổ đều có thể tiêu diệt được để đạt tới trạng thái Niết bàn Muốn diệt khổ phải đi ngược lại mười hai nhân duyên bắt đầu từ diệt trừ vô minh Một khi gốc của mọi sự tham ái được tận diệt thì
sự khổ cũng được tận diệt
Diệt đế: Triết lí về việc diệt khổ
Quan niệm đời là bể khổ nhưng Thích ca không khuyên con người chấp nhận đau khổ mà khẳng định nỗi khổ có thể tiêu diệt được qua luận đề - Diệt
đế Sở dĩ con người có thể diệt khổ được là bởi vì không có cái gì tồn tại vĩnh viễn, cả niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc và bất hạnh Mặt khác, cái gì mà người ta tìm được nguyên nhân thì cũng sẽ tìm được biện pháp để diệt trừ Hiểu được những nguyên nhân của khổ, diệt những nguyên nhân đó sẽ hết khổ đau Khi giảng về mười hai nhân duyên, Thích ca chỉ rõ: vì cái này có nên cái kia có, cái này không thì cái kia không, cái này hết thì cái kia cũng
hết, từ đó có thể diệt trừ được dukkha từ việc diệt vô minh và khát ái, chặt đứt
mắt xích trọng yếu nhất trong chuối xích mười hai nhân duyên, bắt đầu từ sự phủ định vô minh để giải thoát Xa lìa được nguyên nhân thì hết thảy là không Đạt tới trạng thái không tức là đạt tới trạng thái Niết bàn, giải thoát Vậy Niết bàn là gì? Thuật ngữ Niết bàn trong tiếng phạn là nirvana Phần lớn các nhà Phật học giải thích: "nir" là phủ định, vana là ngọn lửa tam độc, nirvana là chẳng còn phun ra ngọn lửa tam độc nữa Mặc dù các cách giải thích có khác nhau song đều chung ý nghĩa đó là: Niết bàn là sự đoạn trừ dục vọng, dứt nghiệp luân hồi, thanh tịnh tuyệt đối Ở Niết bàn không có sự trôi chảy của thời gian tuyến tính mà là sự ngưng đọng vĩnh cửu của không - thời gian trong tâm thức con người Như vậy, Niết bàn trong Phật giáo là một trạng thái tâm thức hoàn toàn thanh thản, yên tĩnh, sáng suốt, không vọng động, diệt ái dục, xóa vô minh, chấm dứt mọi khổ đau phiền não
Trang 37Đạo đế: Triết lí về con đường diệt khổ
Phật giáo khẳng định cái khổ có thể tiêu diệt được, có thể chấm dứt luôn hồi Muốn thoát khổ thì phải diệt trừ được nguyên nhân gây ra khổ và đạt tới Niết bàn Nguồn gốc của khổ là do sự vận hành của "thập nhị nhân duyên", trong đó gốc rễ sâu xa đó là "vô minh" Khi vô minh bị diệt, trí tuệ được bừng sáng, hiểu rõ được bản chất của tồn tại, con người không còn tham dục và kéo theo những hành động tạo nghiệp nữa Tức là thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử
Đạo đế là chân lí chỉ ra cách thức, giải pháp diệt khổ Đạo đế hướng con người đến sự giải thoát khỏi vòng luân hồi hay con đường cụ thể để diệt trừ nguyên nhân của sự khổ, thực chất là diệt vô minh, dẫn đến Niết bàn an lạc Trong Phật giáo có nhiều con đường dẫn đến Niết bàn Tiêu biểu như con người phải sống từ bi, hỉ xả
Từ là lòng thành giúp ích cho người, lòng thương yêu, thường đem vui cho tất cả chúng sinh “Tâm từ” là cái gì làm cho lòng êm dịu, là lòng mong ước cho tất cả chúng sinh đều được an lành vui vẻ Tâm từ là sự mong mỏi chân thành của người bạn hiền muốn cho bằng hữu mình được an vui hạnh phúc Ngược lại với tâm từ là lòng “sân hận” Trong “Pháp cú thí dụ kinh”, Đức Phật có viết:
“Ở ngay giữa đám nhân sinh / Dù người hờn oán, nếu mình thảnh thơi/ Sống không thù hận cùng người / Thật là sung sướng, cuộc đời thơm hương
[Dẫn theo:6, tr.12]
Bi là lòng thương xót cứu khổ, trừ đau khổ cho hết thảy chúng sinh Bi
là động lực làm cho tâm rung động trước sự đau khổ của kẻ khác Đặc tính của “tâm bi” là ý muốn giúp người khác thoát khỏi cảnh khổ
“Khắp nơi trong cõi dương gian / Hận thù đâu thể xua tan hận thù / Chỉ tình thương với tâm từ / Làm tiêu oán hận, giải trừ hờn căm / Đó là định luật ngàn năm” [Dẫn theo:6, tr.21]
Trang 38Hỉ là tâm hoan hỉ, vui thích với hạnh phúc của người khác trước sự thành công của mọi chúng sinh, là một trạng thái bình tĩnh và hạnh phúc của tâm Tâm hỉ đối nghịch với lo âu phiền não, loại trừ lòng ganh tị, đố kị
“Chỉ riêng người hiểu pháp mầu/ Nên lòng ganh ghét trước sau diệt trừ / Ngày đêm hương đạo thơm đưa/ Cõi lòng an tịnh, tâm tư thanh nhàn” [Dẫn theo:6, tr.15]
Xả là bố thí, bỏ đi, không chấp, không ghi giữ trong lòng Xả là trông thấy đúng đắn, nhận định chân chính, suy luận vô tư, tức là không ghét bỏ cũng không luyến ái, không ưa thích cũng không bất mãn Phản nghĩa của
“tâm xả” là “cố chấp” Trong tác phẩm “Từ - bi - hỷ xả” của tác giả Phạm Thái Vinh đã viết:
“Ơi người quảng đại sống từ tâm/ Gạt hết phiền ưu xả lỗi lầm/ Để những canh dài vui mộng thắm/ Cho ngày tháng rộng bớt sầu thâm” [Dẫn theo: 2, tr.3]
Con đường giải thoát theo Đạo đế còn là tùy vào căn cơ của từng người
mà có những con đường giải thoát khác nhau, nhưng con đường phổ biến hơn
cả là Bát chính đạo đó là tám giải pháp để giải thoát con ngươi khỏi nỗi khổ của cuộc đời: Chính kiến, chính tư duy, chính nghiệp, chính ngữ, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm, chính định
Để thoát khỏi nỗi khổ cho con người Phật giáo còn đề ra ngũ giới Ngũ giới trong Phật giáo là năm điều cấm mà Đức Phật chỉ ra để mong muốn người Phật tử tại gia hưởng được quả báo tốt đẹp Người Phật tử không thể chỉ theo tam quy mà không theo ngũ giới Năm giới này không để tiến bước trên con đường giải thoát mà còn đem lại trật tự, an vui cho gia đình và xã hội Người Phật tử tại gia đã quy y giữ từ một đến năm giới sau: Không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không dùng chất gây nghiện Người Phật tử còn phải tu luyện theo lục độ: Bố thí, trì giới, tinh tấn,
Trang 39nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ, lục hòa (sáu điều hòa hợp), thập thiện (mười điều thành thiện), tứ ân (bốn ân không được quên: Ân Tam bảo, ân người giúp
đỡ, ân cha mẹ, ân quốc gia) Ngoài những giới luật trên, đạo Phật còn nhiều quy định khác về đạo hạnh tín đồ
Như vậy, tìm hiểu nội dung cơ bản của triết lí nhân sinh Phật giáo chúng ta thấy hạn chế của nó là không thấy được cái khổ về vật chất gắn liền với nguyên nhân kinh tế của con người, mà chỉ đi sâu vào khẳng định và tìm
ra nguyên nhân của nỗi khổ tinh thần Con người trong Phật giáo là con người
nô lệ bị chi phối bởi những sở cầu tham vọng, những ham muốn của bản thân,
đề cao cái tôi, luôn mang trong mình “chấp ngã” Vì vậy con người đau khổ, con người vướng mắc bởi sự mâu thuẫn giữa con người với thiên nhiên, giữa tình cảm và lí trí nhưng Phật giáo cũng chỉ ra rằng bằng sức mạnh trí tuệ con người có thể giải quyết được những mâu thuẫn ấy trở thành thuận hòa thì tất
cả những mầm đau khổ sẽ không còn tồn tại Như chính Phật giáo đã khẳng định, bên cạnh những nguyên nhân khách quan thì chính sự chủ quan của con người là nguyên nhân gây đau khổ cho chính mình và cũng chính cá nhân mỗi người mới có thể phá bỏ được xiềng xích trong tâm tư, suy nghĩ nghĩa là chúng ta phải phát huy lí trí lẫn tình cảm đến khi lí trí hoàn toàn làm chủ tình cảm thì khi ấy chúng ta sẽ hết đau khổ để giải thoát và định hướng cho hành động đúng đắn của mình Thực chất con đường cứu khổ, giải thoát mà Đức Phật chỉ ra chính là đấu tranh để vượt lên chính mình để thoát khổ Triết lí nhân sinh Phật giáo cũng thể hiện quan niệm vô thần, phủ nhận đấng sáng thế
và tư tưởng biện chứng về "vô thường", "duyên khởi", đồng thời nêu cao thiện tâm, từ bi bác ái, nhân - quả như là những tiêu chuẩn đạo đức cơ bản của đời sống xã hội, hướng con người tới lối sống thiện, làm việc thiện xuất phát từ tâm trong sáng
Trang 401.2 Lễ Vu Lan của Phật giáo
1.2.1 Khái niệm nghi lễ
Nghi lễ thường được thể hiện qua sự ứng xử, giao tiếp trong xã hội, trong tín ngưỡng, trong sinh hoạt tôn giáo thông qua đời sống tâm linh, mang đậm sắc thái văn hóa dân tộc Nghi lễ là một từ chung, mang ý nghĩa qua sự
tổ chức, thể hiện các khuôn mẫu giao tiếp đã được đặt ra của một hay nhiều người đối với một hay nhiều người khác và đối với một hay nhiều thần linh, đấng cao cả siêu nhiên Nghi lễ (rite gốc từ la tinh ritualis) gồm nhiều nghi thức (rituals) hành lễ hợp lại Cắt nghĩa và lí giải sâu hơn và khoa học hơn về khái niệm nghi lễ ta thấy:
Nghi có nghĩa là uy nghi, dáng vẻ, cung cách Nghi cũng được hiểu là mẫu mực, là tiêu chuẩn đo lường, ví dụ: Nghi khí (dụng cụ để đo lường)
Lễ là sự thực hiện các phép tắc, khuôn mẫu mà người xưa đã thực hiện,
là hình thức thể hiện việc tổ chức giao tế xã hội, ví dụ: các cử chỉ, ngôn ngữ trong giao tiếp, cách ứng xử trong cuộc sống đời thường; các hình thức cúng bái, tế lễ, cầu nguyện, v.v Như vậy, nghi lễ được hiểu là nghi thức khi hành
lễ, hội đủ các yếu tố mang tính văn hóa tâm linh
Nghi lễ được hình thành từ rất sớm trong đời sống con người Các nhà nghiên cứu xác định các nghi lễ xã hội vốn đã được thể hiện khởi đầu từ thời đại đồ đá mới cách đây khoảng 10.000 năm Theo sách Chu Lễ (Thiên Thu Quan, Tư Nghi), sách Công Dương truyện (Thiên Hy Công nhị niên), sách Hán Thư (Chu Bột truyện) nói về cách thực hiện nghi lễ rất chi tiết từ giao tế đến đối nhân xử thế và vô số nghi lễ kể cả nghi thức tôn giáo Như vậy, nó đã
có một lịch sử lâu dài, đa dạng phong phú, tạo nên một nền văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo của từng dân tộc
Nghi lễ được thực hiện trong tín ngưỡng, tôn giáo thường gồm các bài tán, tụng, được phụ họa bằng các khí cụ âm nhạc như chuông, trống,